Chương 19
Đêm rằm tháng mười một, giờ Tuất hai khắc.
Tầm này vốn chẳng phải lúc để ra ngoài, vậy mà Minh Di vẫn chỉnh tề xiêm y, ôm theo một chiếc lò sưởi nhỏ bước ra khỏi Trường Xuân Đường.
Người quản gia đang túc trực ở cửa, vừa thấy nàng dẫn theo Thanh Hòa đi vòng qua hành lang gấp khúc thì giật bắn mình: “Muộn thế này rồi, Thiếu phu nhân định đi đâu ạ?”
Đêm nay trời đổ tuyết, Thiếu phu nhân lại không có thân thích hay bằng hữu lâu năm ở kinh thành, ra ngoài vào giờ này thật khiến người ta chẳng thể yên tâm.
Đáng tiếc, Minh Di lại là kiểu người như thế: khi ôn hòa thì dịu dàng hơn bất cứ ai, nhưng một khi đã quyết đoán thì chẳng một ai dám thốt lên nửa lời phản đối. Nàng đưa mắt nhìn thẳng, bước qua ngưỡng cửa, thanh âm hờ hững vang lên: “Chuẩn bị xe ngựa.”
Thấy nàng giữ thái độ dứt khoát, nói một là một hai là hai. Hầu quản gia chẳng dám hé răng nửa lời. Ông vội vã sai người dắt chiếc xe ngựa chuyên dụng của nàng tới, lại cẩn thận chọn thêm vài thị vệ và bà tử thân tín để hộ tống nàng ra ngoài.
Nhìn theo bóng xe khuất dần, lòng Hầu quản gia vẫn bồn chồn không yên, ông liền quay người hướng về phía Sơn Thạch Viện. Vừa tới lối hành lang xuyên đường, ông đã thấy Thẩm Kỳ đang thong thả ngồi cắn hạt dưa dưới mái hiên.
“Gia chủ có ở trong thư phòng không?” Hầu quản gia đứng dưới bậc thềm, hơi cúi mình hỏi khẽ. Tuyết lấm tấm tạt vào mặt khiến ông nhất thời không mở nổi mắt.
Thẩm Kỳ vẫn ngồi bất động tại chỗ, miệng lười biếng nhai hạt dưa, chỉ hờ hững hỏi ngược lại: “Có chuyện gì sao?”
Hầu quản gia nở một nụ cười khổ sở, đáp lời: “Vừa nãy thấy Thiếu phu nhân vội vàng ra ngoài, lòng ta cảm thấy không yên nên định tới bẩm báo với Gia chủ một tiếng.”
Thẩm Kỳ hơi nhướng mày một chút, trong lòng đã rõ mười mươi nhưng vẫn giữ vẻ mặt dửng dưng: “Ngay cả hoàng cung Thiếu phu nhân còn dám xông vào, thì chút việc ra ngoài đêm hôm này có đáng là bao. Ta khuyên lão quản gia ngài tốt nhất nên bớt lo chuyện bao đồng đi.”
Hầu quản gia nghe vậy thì tức đến mức suýt chút nữa là ngã ngửa, ông hậm hực nhổ một bãi nước bọt về phía hắn: “Ngươi tưởng ta ham quản chuyện của chủ tử lắm đấy à? Chẳng qua là lo Thiếu phu nhân gặp trắc trở, lòng ta bồn chồn không dứt thôi. Đến lúc Gia chủ trách tội xuống, cái thân già này gánh sao cho nổi!”
Thẩm Kỳ cũng hiểu cho nỗi lòng của ông ấy, bèn nhét thêm một hạt đậu phộng vào miệng rồi lười nhác chỉ tay về phía chính viện phía sau, miệng phân bua: “Ngặt nỗi Gia chủ đang cùng Tề đại nhân bàn bạc chính sự, lệnh cho không một ai được phép lại gần. Tin này của ông, hiện tại ta cũng lực bất tòng tâm, chưa thể chuyển vào ngay được. Dẫu sao ông đã cắt cử người theo hầu sát sao rồi, chắc cũng chẳng có gì đáng ngại đâu. Đợi lát nữa Gia chủ xong việc, ta sẽ đích thân bẩm báo lại.”
Nghe vậy, Hầu quản gia cũng chẳng nói thêm lời nào. Trách nhiệm của ông đến đây coi như đã xong khi tin tức được truyền tới Sơn Thạch Viện, còn những chuyện sau đó đã nằm ngoài tầm kiểm soát của ông. Nghĩ đến đây, ông liền quay gót trở về phía phòng gác cổng.
Thẩm Kỳ liếc nhìn theo bóng lưng già nua của quản gia, rồi vô thức quay đầu về phía thư phòng. Nơi đông thư phòng ấy, đèn đuốc vẫn đang thắp sáng trưng, nhưng hai tiểu thư đồng hầu hạ trước cửa đều đã bị đuổi đi từ sớm, chẳng ai dám bén mảng lại gần dù chỉ nửa bước. Nhìn cảnh tượng ấy, hắn thầm đoán định, việc trọng đại mà Gia chủ đang đàm luận cùng Tề đại nhân lần này, chắc chắn không hề tầm thường.
Trong thư phòng, do không có thư đồng túc trực nên Bùi Việt tự mình đứng dậy, lẳng lặng nhặt những mảnh chén trà vỡ dưới đất ném vào giỏ. Vốn là người mắc chứng ưa sạch sẽ đến mức cực đoan, chàng tuyệt đối không thể chịu đựng nổi bất kỳ sự bừa bộn nào hiện hữu trong tầm mắt.
Trái ngược với vẻ điềm tĩnh của Bùi Việt, lúc này Tề Tuấn Lương dường như vẫn chưa thể hoàn hồn sau cơn kinh hoàng. Y ngồi phịch xuống chiếc ghế bành, cả người rệu rã như vừa mất hết hồn vía, giọng run rẩy lạc đi: “… Ông ấy vẫn còn sống thật sao? Năm đó… ông ấy thực sự đã phản bội và đầu quân cho Bắc Yên rồi sao?”
“Đó chính là Bắc Định Hầu… vị trấn thủ biên cương lừng danh nhất của Đại Tấn…” Tề Tuấn Lương dường như không thể đối diện với sự thật nghiệt ngã này. Tinh thần của y suy sụp hẳn, bàn tay run rẩy vuốt nhẹ lên tay vịn chiếc ghế bành, nước mắt cứ thế tuôn rơi không kìm nén được.
Nhắc đến Đại Tấn, không ai không biết tới bốn vị quân hầu danh tiếng lẫy lừng: Viễn Sơn Hầu Tiêu Trấn, Tĩnh Tây Hầu Lương Cẩn Trung, Bình Xương Hầu Vương Kiêu và cuối cùng là Bắc Định Hầu Lý Tương. Trong số đó, Bắc Định Hầu có địa vị tôn quý bậc nhất; không chỉ bởi muội muội ruột của ông là bậc mẫu nghi thiên hạ, mà còn vì ông xuất thân từ danh gia vọng tộc Lý thị vùng Lũng Tây có từ thời tiền triều. Nhà họ Lý vốn con cháu đề huề, đời đời đều rạng danh nhờ truyền thống văn võ song toàn.
Bắc Định Hầu Lý Tương vốn xuất thân từ hàng tiến sĩ, sớm đã tinh thông binh pháp. Năm ấy, khi quân Bắc Yên rầm rộ tràn xuống phương Nam, ông đang giữ chức Lang trung Bộ Binh nhưng đã chẳng ngần ngại dấn thân nơi lằn ranh sinh tử. Bước chân ra tiền tuyến ngày ấy cũng là lúc ông rẽ lối sang con đường võ tướng và không bao giờ quay đầu lại. Suốt hai mươi lăm năm bền bỉ trấn thủ biên thùy, ông đã trở thành đối thủ truyền kiếp của Nam Tĩnh Vương nước Bắc Yên.
Vào những năm tháng Nam Tĩnh Vương lộng hành và kiêu ngạo nhất, chính Lý Tương là người đã đứng vững như bàn thạch nơi biên giới, gánh chịu mọi áp lực kinh người để bảo vệ từng tấc đất quê hương, tuyệt đối không lùi bước.
Dẫu vậy, nếu luận về chiến tích, Lý Tương vẫn có phần mờ nhạt trước một Nam Tĩnh Vương lẫy lừng. Với binh phong dũng mãnh, đánh đâu thắng đó, Nam Tĩnh Vương tựa như một tầng mây mù u ám bao phủ lên danh dự của giới võ tướng cả hai triều Bắc Tề và Đại Tấn. Thế cục ấy chỉ thực sự xoay chuyển khi Lý Lận Chiêu, trưởng tử của Lý Tương đột ngột xuất hiện.
Vị thiếu tướng quân này từ nhỏ đã theo phụ thân lớn lên nơi biên ải, hành sự tiêu sái bất kham, võ công bá đạo mãnh liệt. Bảy tám tuổi đã theo cha ra trận, người này nắm rõ như lòng bàn tay mọi đường đi nước bước của Nam Tĩnh Vương. Năm mười ba tuổi, thiếu tướng quân băng rừng lội suối, dẫn một cánh quân lẻ tập kích thành công Nam Tĩnh Vương. Sau đó, vào năm mười lăm tuổi, lần đầu tiên ngài ấy giao phong trực diện với Nam Tĩnh Vương mà không hề thất thế, từ đó danh tiếng nổi như cồn, trở thành một ngôi sao tướng lĩnh mới đang từ từ tỏa sáng nơi biên thùy.
Nếu Lý Tương là bậc thầy trong việc phòng thủ, giữ vững từng tấc đất quê hương, thì Lý Lận Chiêu lại là mũi giáo sắc lẹm, thiên biến vạn hóa với những đòn công kích bất ngờ. Hai cha con, một tĩnh một động, phối hợp nhịp nhàng tựa như một bức trường thành bằng thép vững chãi, bảo bọc cho sự thái bình của Đại Tấn suốt bao năm qua.
“Thế nhưng, bức tường thép ấy đã sụp đổ một cách thảm khốc vào ba năm trước…” Mỗi khi nhắc lại trận đại chiến Túc Châu năm ấy, giới quan lại trong triều đều không nén nổi những tiếng thở dài đầy xót xa. “Đông Đình à, chuyện năm xưa… mỗi lần hồi tưởng lại, vẫn chẳng khác nào một cơn ác mộng vây hãm lý trí.”
“Mùa đông giá rét năm ấy, Nam Tĩnh Vương của Bắc Yên, kẻ vốn mang lòng căm hận cha con họ Lý đến thấu xương tủy, đã âm thầm vạch ra một kế hoạch độc ác. Hắn bí mật bắt tay với Bắc Tề, dùng lợi lộc phù phiếm để xóa bỏ hiềm khích cũ. Thế là, những kẻ từng thề không đội trời chung bỗng chốc trở thành đồng minh, lặng lẽ xua quân tràn xuống phương Nam. Mũi nhọn binh phong tàn khốc trực chỉ Tuyên Phủ, đe dọa trực tiếp đến sự an nguy của kinh đô Đại Tấn.
Đứng trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc, Lý Tương buộc phải đưa ra quyết định sinh tử: ông lập tức điều động ba vạn tinh binh – một nửa quân số trấn thủ Túc Châu – hối hả hành quân về Tuyên Phủ để ứng cứu.”
“Nào ngờ, tất cả chỉ là một ván cờ tàn độc. Nam Tĩnh Vương đã dùng kế ‘giương đông kích tây’ đầy mưu mô: hắn chỉ phái quân Bắc Tề đánh giả vào Tuyên Phủ để đánh lạc hướng, còn mục tiêu thực sự lại chính là Túc Châu. Hắn hiểu rằng Tuyên Phủ là cửa ngõ quan trọng của kinh đô, hễ nơi đó lung lay là cả triều đình chấn động, buộc quân biên ải phải dốc toàn lực ứng cứu. Chỉ chờ có thế, khi binh lực Túc Châu vừa rút đi một nửa, Nam Tĩnh Vương lập tức lộ diện, đích thân dẫn bảy vạn đại quân chủ lực, với sức mạnh như triều dâng thác đổ, đánh thẳng vào thành Túc Châu đang trống trải.”
“Lúc ấy, thành Túc Châu chỉ còn vỏn vẹn ba vạn quân. Để ngăn chặn bước tiến như vũ bão của quân Bắc Yên, chủ soái Lý Tương đã hạ lệnh điều động hai vạn tinh binh xuất thành nghênh địch. Điều kỳ lạ là, khác với những trận chiến trước đây thường giao quyền tiên phong cho Lý Lận Chiêu, lần này Lý hầu lại đích thân khoác giáp, đeo ấn ra trận. Thế nhưng, binh lực đôi bên quá sức chênh lệch khiến tình thế quân ta rơi vào cảnh ngàn cân treo sợi tóc. Đứng trước sự nguy khốn của phụ thân, Lý Lận Chiêu thấy tình thế nguy cấp, bèn điều thêm tám ngàn binh mã đi tập kích cánh trái, bản thân ngài ấy chỉ giữ lại hai ngàn thân binh cùng bốn ngàn binh lính già yếu bệnh tật để lui về trấn thủ trung quân.”
“Thế nhưng, Nam Tĩnh Vương nào phải hạng tầm thường, sự gian xảo của hắn vượt xa mọi dự tính. Ngay khi đang trực diện quần thảo với Lý Tương trên chiến trường, hắn lại âm thầm tung ra một quân bài chí mạng khác: tách ba vạn tinh binh đánh thốc vào trung quân, mục tiêu tối thượng không gì khác ngoài việc lấy đầu Lý Lận Chiêu!”
“Đây quả thực là một cục diện ‘thập tử nhất sinh”, khó thoát khỏi một kết cục đau lòng!”
Tề Tuấn Lương nén tiếng thở dài, giọng nói trĩu nặng sự tiếc nuối: “Đây không đơn thuần là một trận đánh, mà là cuộc huyết chiến định đoạt vận mệnh của cả giang sơn. Chỉ cần Bắc Yên phá vỡ được phòng tuyến Túc Châu, thì cánh cửa biên ải Tây Bắc của Đại Tấn sẽ hoàn toàn sụp đổ. Khi ấy, vó ngựa quân thù sẽ như thác lũ xé toang mọi rào cản, chiếm lấy thế thượng phong để dòm ngó Thái Nguyên và kinh đô. Thậm chí, chúng có thể thuận đà tiến thẳng xuống phương Nam, nuốt trọn Trường An, Lạc Dương cho đến dải đất Giang Nam trù phú…”
Y nghẹn lời, ánh mắt xa xăm: “Vào thời khắc ấy, không ai được phép lùi dù chỉ một bước…”
Ký ức về buổi nghị triều năm ấy vẫn vẹn nguyên trong tâm trí y. Giữa điện ngọc nguy nga, vị thiếu tướng quân Lý Lận Chiêu vốn hiếm khi rời xa sương gió nơi biên thùy, đã thay mặt vạn quân Túc Châu đứng ra khẩn cầu triều đình tiếp ứng lương thảo. Giọng ngài ấy vang vọng, đanh thép tựa tiếng chuông đồng: “Túc Châu dẫu là nơi biên thùy xa xôi, nhưng lại chính là huyết mạch quan trọng của cả giang sơn Đại Tấn. Một khi cửa ải này sụp đổ, toàn bộ bờ cõi sẽ lâm vào cảnh nước mất nhà tan. Vì vậy, bệ hạ, chúng ta tuyệt đối không thể lùi dù chỉ một bước, và quân lương, dẫu chỉ một đấu cũng không thể thiếu!”
Để rồi sau này, bằng chính xương máu của mình, ngài ấy đã chứng minh được rằng mình làm được!
Tề Tuấn Lương siết chặt hai nắm đấm, nước mắt nóng hổi không ngừng lăn dài trên gò má gầy guộc của y: “Đông Đình à, đệ có từng tưởng tượng nổi không? Nếu không phải bậc thiên tài mưu lược xuất quỷ nhập thần, thì làm sao có thể dùng sáu nghìn con người già yếu, bệnh tật mà quật ngã được ba vạn tinh binh thiện chiến của đối phương? Đó là đội quân át chủ bài, là niềm kiêu hãnh bách chiến bách thắng của Nam Tĩnh Vương. Vì muốn lấy mạng Lý Lận Chiêu, hắn đã đặt cược cả cơ đồ và vốn liếng tinh nhuệ nhất của mình vào ván bài này.”
“Thế nhưng, vị thiếu tướng quân ấy đã chiến đấu một cách ngoan cường đến mức điên cuồng. Ngài ấy vung kiếm chém giết giữa biển máu, khiến Nam Tĩnh Vương ngồi trong trướng soái phải uất hận đến mức phun ra búng máu tươi. Thậm chí, quân Bắc Yên bị dồn vào đường cùng, đến mức Nam Tĩnh Vương phải vét sạch cả những kẻ già yếu, tàn tật nơi biên thành để ném vào lò lửa chiến tranh…”
Đại chiến Túc Châu năm ấy, khi Lý Lận Chiêu dùng thiểu số bình định đại quân địch, đã trở thành một chương thần thoại vô tiền khoáng hậu trong dòng chảy lịch sử chiến tranh.
Thiên hạ bao năm qua vẫn không ngừng đồn đoán, chẳng ai rõ vì lẽ gì mà chiến tích của ngài ấy lại có thể hiển hách và phi phàm đến thế. Duy chỉ có Bùi Việt là thấu triệt chân tướng đằng sau kỳ tích ấy. Chàng biết rõ, sở dĩ Lý Lận Chiêu có thể xoay chuyển càn khôn là nhờ sở hữu một món bảo vật, một thần khí hiếm có khó tìm trên thế gian, thứ sức mạnh đủ để thay đổi cả vận mệnh của một vương triều.
Bùi Việt đứng lặng lẽ bên án thư, những ngón tay thon dài gõ nhịp đều đặn lên mặt bàn gỗ. Chàng trầm mặc một hồi lâu rồi chậm rãi ngẩng đầu, đôi mắt sâu thẳm nhìn xoáy vào bầu trời đêm tĩnh mịch: “Trận chiến ấy thực sự đã đặt vận mệnh quốc gia lên bàn cân sinh tử. Lý Lận Chiêu không chỉ giữ vững một tòa thành, mà là giữ lấy cả mạch sống của cả Đại Tấn.”
Tề Tuấn Lương nghe vậy, nỗi xúc động trào dâng khiến y đứng bật dậy, giọng nói nghẹn ngào trong u uất: “Phải! Ngài ấy đã dùng chính sinh mệnh rực rỡ nhất của đời mình để đánh đổi lấy sự hưng thịnh của quốc vận Đại Tấn!”
“Đáng lẽ đó phải là một thiên anh hùng ca lưu truyền vạn cổ, nhưng nào ngờ, hồi kết lại chuyển xoay theo cách nghiệt ngã đến thế…”
Trong lúc Lý Lận Chiêu đang liều chết ác chiến giữa trùng vây trung quân, thì ở phía bên kia chiến tuyến, Lý Tương cũng rơi vào tình cảnh nghìn cân treo sợi tóc khi trực diện đối đầu với Nam Tĩnh Vương. Vốn xuất thân là bậc nho tướng, Lý Tương lấy sự nhẫn nại làm trọng, ông dốc hết tâm sức điều khiển hai vạn binh mã gắng gượng cầm chân đại quân địch, nhằm kéo dài thời gian cho các cánh quân khác.
Tuy nhiên, quân số chênh lệch quá lớn khiến ông không tránh khỏi những thất bại liên tiếp, cho đến tận khi Lý Lận Chiêu từ cõi chết trở về, xoay chuyển cục diện ở thời khắc then chốt nhất.
“Thế nhưng, chính vào lúc chiến thắng đã nằm trong tầm tay thì biến cố ấy lại xảy ra… Thay vì truy sát đến cùng, Lý hầu lại đột ngột mở đường máu, thả cho đối phương một vạn binh mã rồi lấy danh nghĩa đàm phán hoà bình để bước vào trướng giặc. Từ giây phút ấy, ông đã ra đi mãi mãi, không bao giờ trở về nữa…”
“Có người nói ông ấy phản quốc, có người lại nói ông ấy bất mãn vì Bệ hạ mãi không lập Thất hoàng tử làm Thái tử, nên có ý đồ nuôi quân để tự nâng mình, thả hổ về rừng.”
“Nhất thời, mọi lời thóa mạ tồi tệ nhất đều trút lên đầu ông ấy, ngay cả toàn bộ quân Túc Châu cũng vì ông ấy mà phải gánh lấy vết nhơ ô nhục.”
“Đáng tiếc thay, tất cả đều chết sạch rồi. Ngoại trừ ba vạn tướng sĩ đi viện trợ Tuyên Phủ, thì ba vạn quân Túc Châu còn lại đều đã chết trận. Lý Tương sau khi vào doanh trại Bắc Yến thì bặt vô âm tín, cái tên của ông ấy cũng trở thành điều kiêng kỵ lớn nhất tại kinh thành. Sự thật năm đó rốt cuộc ra sao, cũng vì sự mất tích của Lý Hầu gia mà trở thành một câu đố ngàn năm không lời giải…”
Trong thư phòng rơi vào một khoảng lặng kéo dài đầy nặng nề.
Chẳng ai ngồi xuống lại, cũng chẳng ai lên tiếng, mãi cho đến tận lâu sau Tề Tuấn Lương mới thở dài: “Dù nói thế nào đi nữa, chính ba vạn quân Túc Châu đã dùng xương máu của mình để chặn đứng kẻ thù ngoài cửa ngõ quốc gia!”
“‘Thương thay xương trắng bên bờ Vô Định, vẫn là người trong mộng chốn khuê phòng’… Tạ Như Vận kia ngay trong ngày hôm nay còn đả thương Alna, tuyên bố hùng hồn là để báo thù cho vị hôn phu của mình đấy thôi…”
Tuyết rơi xào xạc, đậu trên cành cây, rải trên đường phố, và đậu cả trên đôi chân mày của Minh Di.
Nàng ngồi một mình trong căn phòng riêng của tiệm mì Tây Bắc, đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ và ngắm nhìn kinh thành bao la rộng lớn.
Tuyết đêm nay giống hệt như trận tuyết mùa đông năm ấy trên tường thành Túc Châu, một lớp mỏng manh rải nhẹ lên thành quách, được ánh lửa từ vạn nhà soi rọi trông như những dải cát bạc, chẳng khiến người ta cảm thấy lạnh lẽo chút nào.
Thế nhưng Đông Tử lại chẳng ưa trận tuyết này. Khi bị nàng gọi ra ngắm tuyết, hắn hừ hừ vẻ ghét bỏ: “Tuyết thì có gì mà đẹp, có phải hoa hoét gì đâu. Vẫn là Vân Châu nhà ta tốt nhất, không nóng không lạnh, chẳng bù cho cái thành quỷ quái này, gió cứ lướt qua như dao cắt làm mặt ta đau điếng.”
Huynh ấy ngồi trên nắp giếng giữa sân, mỉm cười rạng rỡ ngắm nhìn màn đêm mịt mù: “So với cái tuyết khô hanh nơi Túc Châu này, tuyết ở Dư Hàng quê ta mới thực là đẹp. Mỗi khi tuyết xuống, mặt nước Tây Hồ kết lại một lớp băng mỏng, vạn vật xung quanh được khoác lên lớp áo bạc lộng lẫy, chẳng khác nào một tòa thành chạm ngọc khắc băng, đẹp đẽ biết bao.”
Lúc đó nàng thầm nghĩ, cái đẹp ấy vốn không nằm ở tuyết, mà là dáng hình của quê hương trong lòng người lữ khách.
Thế nhưng nàng lại yêu tha thiết Túc Châu, bởi nàng đã lớn lên ở đó: “Ta chỉ thích vùng biên thành Túc Châu này thôi. Chỉ cần ra khỏi cửa ải là sa mạc Gobi và thảo nguyên bao la bát ngát, có thể thỏa sức uống rượu, tự do phóng ngựa trần gian… Đây mới thực sự là nơi để bậc nam nhi lập thân, kiến tạo công danh sự nghiệp.”
Nếu bọn họ không đứng đây canh giữ, thì lấy đâu ra cảnh Tây Hồ đẹp tựa tranh vẽ, lấy đâu ra Vân Châu bốn mùa như xuân.
Nàng chẳng sợ sương giá, càng không ngại tuyết lạnh.
Bởi vì… thứ thực sự khiến con người ta cảm thấy giá buốt chính là lòng người…
Cánh cửa lúc này bị đẩy ra, Thanh Hòa dẫn theo Tạ Như Vận bước vào phòng.
Chân mày thiếu nữ vẫn mang nét hung dữ sắc sảo, nàng ta vừa hất chiếc áo choàng xuống, vừa sải bước vào trong, hằn học nói với nàng: “Tốt nhất là ngươi nên mang theo bút tích của phu quân ta đến đây, bằng không ta tuyệt đối sẽ không tha cho ngươi đâu!”
Rõ ràng là Tạ Như Vận cũng vô cùng bất mãn khi bị Lý Minh Di triệu tập khẩn cấp ngay trong đêm như thế này.
Minh Di mỉm cười điềm nhiên rồi đứng dậy, dặn dò Thanh Hòa khép cửa ra ngoài canh chừng, còn bản thân thì tự tay rót cho Tạ Như Vận một chén rượu: “Này, ta vừa hâm nóng một bầu rượu, ngươi uống một chút cho ấm người đi.”
Tạ Như Vận ngồi xuống đối diện nàng. Cạnh bàn trà đã chuẩn bị sẵn khăn sạch, nàng ta rút lấy một chiếc để lau tay, bấy giờ mới nhận lấy chén rượu từ tay Minh Di: “Nói đi, tìm ta có chuyện gì?”
Minh Di lặng lẽ quan sát nàng ta, rồi hỏi nhỏ: “Ngươi bận lắm sao?”
Tạ Như Vận hừ lạnh một tiếng, thẳng thừng đáp lại: “Ta có khi nào được rảnh rỗi chứ?”
“Bận đi giết người à?”
Sắc mặt của Tạ Như Vận lập tức biến đổi, nàng ta im lặng nhìn chằm chằm Minh Di một hồi lâu, rồi mới lên tiếng: “Ngươi cũng biết là ta làm sao?”
Ánh mắt của Minh Di lộ vẻ phức tạp: “Ngoại trừ ngươi ra, không ai có gan dám ngang nhiên ám sát Alna ngay giữa phố; và cũng ngoại trừ ngươi ra, lại càng không có ai dám thay Bắc Định Hầu phủ đòi lại công bằng.”
Tạ Như Vận rúng động tâm can, nhìn nàng đầy nghi hoặc: “Ngươi cũng biết về Bắc Định Hầu phủ sao?”
“Ta nhớ Bùi Huyên từng nói ngươi sinh ra ở Đàm Châu, chưa từng tới kinh thành. Làm sao ngươi lại biết đến Bắc Định Hầu phủ được?”
Thấy Minh Di vẫn mang thần thái thản nhiên tự tại, khí trường toát ra từ người nàng hoàn toàn không giống một nha đầu thôn quê, trong lòng Tạ Như Vận nảy sinh hoài nghi tột độ: “Thậm chí ngươi còn biết cả việc Bắc Định Hầu phủ đã gặp chuyện sao?”
Minh Di không đáp lời, chỉ lững thững lấy một vật từ trong tay áo ra, rồi từ từ đẩy tới trước mặt nàng ta.
Nhìn rõ ba chữ ‘Thư từ hôn’ trên đó, Tạ Như Vận kinh hãi đến mức bật dậy, liên tục lùi về phía sau cho đến khi chạm phải vách tường. Nàng ta nhìn chằm chằm vào Minh Di như thể thấy ma: “Rốt cuộc… ngươi là ai?”
Minh Di cũng đứng dậy theo nàng ta, bước đến đứng đối diện, ngón tay thon dài chạm nhẹ lên phong “Thư từ hôn” ấy, dùng ngữ khí ôn hòa bảo rằng: “Tẩu tẩu, ta đến muộn rồi, đã để tẩu phải chịu khổ suốt ba năm qua.”
Tạ Như Vận vừa nghe thấy cách xưng hô này thì đầu óc choáng váng tưởng như sắp ngất đi: “Tẩu tẩu gì cơ? Ta không quen biết ngươi, ngươi là gì của Lận Chiêu?”
Minh Di nhìn nàng ta mà không nói lời nào.
Đúng lúc này, Tạ Như Vận bỗng nhìn chằm chằm vào gương mặt nàng, ánh mắt lần từ hàng mày, đôi mắt xuống sống mũi rồi đến gò má, tựa như có vài phần quen thuộc. Nàng ta vắt óc suy nghĩ xem rốt cuộc người nào lại có thể xứng đáng để gọi mình một tiếng “tẩu tầu”. Một ý niệm xa xưa đột nhiên lóe lên trong đầu, Tạ Như Vận không dám tin mà nhìn chằm chằm Minh Di, ánh mắt dần dần từ kinh ngạc chuyển sang mừng rỡ. Nàng ta lao tới, nắm chặt lấy cánh tay của Minh Di.
“Ta nhớ ra rồi! Lận Chiêu có một muội muội, khi sinh ra đã mang bệnh trong người, người ta nói không thể nuôi nấng quá kỹ nên phải đưa về quê nuôi dưỡng. Lâu dần chẳng còn ai nhớ trong phủ Bắc Định Hầu vẫn còn một vị đại tiểu thư như vậy. Vậy nên… Lận Nghi, là muội sao? Muội là Lận Nghi, đúng không?”
Minh Di mặc cho nàng ta nắm chặt tay mình, giọng điệu vững vàng đáp: “Ta chưa từng bị đưa về thôn quê. Ta vẫn luôn được phụ thân mang theo bên mình và nuôi dưỡng nơi biên cương.”
“Ra là vậy…” Tạ Như Vận đột ngột gặp lại người quen cũ, cảm xúc trong lòng cuộn trào, không sao kìm nén được, nước mắt lập tức tuôn rơi đầy mặt: “Vậy nên Lận Nghi, khi Lận Chiêu chết, muội ở bên cạnh huynh ấy, đúng không? Muội nói cho ta biết đi, huynh ấy đã chết như thế nào? Ta nghe nói huynh ấy chiến đấu đến giây phút cuối cùng, kinh mạch đứt từng tấc mà chết, có phải không? Như vậy… đau đớn biết bao.”
Tạ Như Vận khóc không thành tiếng.
Trái tim của Minh Di thắt lại, nàng nhẹ nhàng nắm lấy cổ tay đối phương rồi đỡ nàng ta ngồi xuống: “Như Vận, cô nghe ta nói này. Ngày huynh trưởng xuất chinh, ta vẫn còn ở trong thành Túc Châu chưa ra khỏi cửa ải. Có lẽ huynh ấy đã dự đoán được lành ít dữ nhiều, không muốn làm lỡ dở tương lai của cô, nên đêm trước khi rời đi đã để lại một bức thư từ hôn, nhờ ta chuyển cho cô. Đáng tiếc là sau trận đại chiến Túc Châu, cha ta bị gán tội phản quốc, ta bị truy đuổi nên mãi không thể về kinh. Đến tận hôm nay, ta mới có thể thay huynh trưởng giao bức thư này cho cô.”
“Như Vận.” Hàng lông mày của Minh Di nhíu lại đầy vẻ thương xót: “Kể từ ngày hôm nay, hôn ước giữa cô và Lý Lận Chiêu chính thức hủy bỏ. Sau này cô có thể tự do cưới gả, không cần phải lấy danh nghĩa góa phụ của Lý Lận Chiêu mà tự trói buộc mình nữa, càng không cần phải để bản thân bị liên lụy vào vụ án của Lý gia, cô có hiểu không?”
Tạ Như Vận ngây người nhìn nàng, những vệt nước mắt còn đọng lại trên gương mặt thẫn thờ, hồi lâu vẫn không có phản ứng gì.
Minh Di thấy vậy bèn cầm tờ hôn thư lên, đặt vào lòng bàn tay nàng ta. Nàng ta như bị bỏng, lập tức rụt tay lại rồi lùi về phía sau trốn vào góc tường: “Ta không lấy đâu, ta không tin…”
Minh Di đau đầu nhìn bóng lưng mảnh mai của nàng ta, giọng nói trở nên nặng nề hơn: “Tại sao cô lại không tin? Hai người có tình cảm sâu đậm lắm sao? Thứ cho ta nói thẳng, ta ở biên quan bao nhiêu năm nay, chưa từng nghe huynh trưởng nhắc đến tên cô bao giờ. Trong lòng huynh ấy vốn dĩ không hề có cô.”
“Như Vận, nếu ta là huynh đệ nhà họ Tạ các cô, ta tuyệt đối sẽ không cho phép muội muội mình gả cho một kẻ mà trong lòng không hề có muội ấy!”
“Ngươi đừng nói nữa…” Tạ Như Vận xoay người lại, hai tay giấu sau lưng, vừa thút thít vừa nói: “Năm đó là do ta nhìn trúng huynh ấy, rồi xin bệ hạ cưỡng cầu đoạn hôn sự này. Huynh ấy không thích ta cũng là lẽ thường… Ta với huynh ấy ngay cả nói chuyện cũng chẳng được mấy câu, cũng chẳng gặp mặt mấy lần, huynh ấy cứ luôn lẩn tránh ta…”
Tạ Như Vận nói đến đây, trong lòng cảm thấy vô cùng uất ức.
Minh Di nhìn thấy cảnh đó, trong lòng tức khắc dâng lên rất nhiều cảm xúc, nàng nghiến răng nói: “Cho nên, hạng đàn ông như thế, cô giữ lấy làm gì? Cô hà tất gì phải thủ tiết vì huynh ấy, đây đúng là vô cùng ngu ngốc, vô cùng không đáng!”
Tạ Như Vận thấy nàng nói với vẻ căm phẫn ngút trời, cứ như thể Lý Lận Chiêu kia là kẻ đại gian đại ác không thể dung thứ, liền lộ vẻ nghi hoặc: “Lận Nghi, có khi nào vì để thuyết phục ta xuất giá mà ngươi nỡ lòng nói huynh trưởng mình không ra gì như thế không?”
Minh Di cười khổ không thôi: “Cô sai rồi, người trên đời này ấy mà, chỉ có thể nhìn từ xa chứ chẳng thể kết giao gần, huynh trưởng của ta cũng chính là hạng người như vậy. Đừng thấy huynh ấy trên chiến trường oai phong lẫm liệt, có chút bản lĩnh mà lầm, chứ thực tế sau lưng lại là kẻ phóng túng buông thả, cử chỉ lả lơi. Đúng rồi, con gái của Tri phủ Túc Châu, cô biết chứ? Huynh ấy còn lén lút quan hệ bất chính với người ta đấy!”
Tạ Như Vận nghe vậy bèn bĩu môi thật dài: “Ngươi nói Thẩm Yến sao? Đừng có nói bừa, ta nghe người ta bảo là do ả ta cứ bám lấy Lận Chiêu, còn Lận Chiêu thì trốn ả ta không kịp nữa là.”
Minh Di lập tức phủ nhận: “Cô lại sai rồi, những chuyện đó chẳng qua là để lừa phỉnh cô thôi. Huynh trưởng ta với ả ta thực sự thân thiết lắm, đêm hôm còn cùng nhau uống rượu nữa kia.”
Lúc này, để thuyết phục Tạ Như Vận từ bỏ cuộc hôn nhân góa bụa này, Minh Di cũng chẳng từ thủ đoạn nào, liều mạng hất nước bẩn lên người Lý Lận Chiêu.
Tạ Như Vận nghe xong quả nhiên sững sờ, rồi sau đó im lặng không nói lời nào.
Minh Di một lần nữa đưa tờ thư từ hôn cho nàng ta, nàng thở dài một tiếng: “Thực ra, nhân duyên trên thế gian này hoàn toàn dựa vào hai chữ duyên phận. Có người nhân duyên nghìn dặm một sợi dây buộc chặt, chẳng hạn như ta và Bùi Việt. Còn cô với huynh trưởng ta, rõ ràng có hôn ước, lại còn là thánh thượng ban hôn, vốn là chuyện vô cùng vẻ vang, ấy thế mà huynh ấy lại tử trận ngay trước ngày đại hôn. Điều này chứng tỏ điều gì? Chứng tỏ giữa hai người chung quy vẫn thiếu đi một chút hơi thở, cô và huynh ấy… chính là vô duyên với nhau.”
Tạ Như Vận thẫn thờ lắng nghe, mọi nỗi uất ức và không cam tâm cuối cùng đều chịu khuất phục trước hai chữ vô duyên: “Phải rồi, hai người bọn ta quả thực không có duyên phận…”
Hai người cứ thế đứng lặng im trong tư thế giằng co khoảng chừng một tuần trà. Cuối cùng, Tạ Như Vận nghẹn ngào đón lấy bức thư từ hôn vào lòng bàn tay, nàng ta ôm mặt thút thít, rồi sau đó òa lên khóc nức nở không thôi.
Minh Di nhìn thấy cảnh ấy, vừa xót xa lại vừa đau đầu. Nàng sợ nhất là phụ nữ khóc, chẳng dám tiến đến ôm nàng ta, chỉ có thể lóng ngóng đưa hai tay ra vụng về khuyên nhủ: “Đừng khóc nữa, không đáng để khóc đâu, cô nên cười mới phải. Có bức thư từ hôn này rồi, sau này trời cao đất rộng, cô muốn chọn lang quân thế nào mà chẳng được… Ví dụ như cái người họ Lương kia… nhìn hắn ta còn hơn hẳn huynh trưởng ta…”
“Dừng lại!” Đôi mắt của Tạ Như Vận còn vương lệ nhưng vẫn lườm nàng một cái: “Ngươi đừng có lấy Lương Tam ra so với Lận Chiêu, hắn ta là một gã lãng tử phong lưu, sao có thể đặt lên bàn cân cùng Lận Chiêu được?”
“Nhưng người ta có nghìn cái không tốt vạn cái không hay, duy chỉ có một điều là đối xử tốt với cô…”
Tạ Như Vận bỗng nhiên cứng họng.
Sau một hồi im lặng ngắn ngủi, nàng ta nhìn chằm chằm Minh Di, đột nhiên lo lắng hỏi: “Lận Nghi, sao ngươi lại thành hôn với Bùi Việt? Sao cô lại trở thành Lý Minh Di?”
Minh Di nghiêm mặt đáp: “Những chuyện này sau này ta sẽ nói với cô, ta chỉ muốn hỏi cô một câu, tổ mẫu của ta có khỏe không?”
Nhắc đến Lý lão thái thái, Tạ Như Vận lại một phen lệ rơi như mưa: “Hiện tại bà vẫn ổn, chỉ là mắt nhìn không rõ nữa rồi. Một mình bà khổ cực chống chọi với tòa hầu phủ trống huếch, khắp kinh thành này, ngoài ta và Công chúa điện hạ ra thì chẳng còn ai tới thăm bà cả… Đúng rồi Lân Nghi, ngươi đi gặp bà một chuyến đi, nếu bà biết ngươi còn sống, không biết sẽ vui mừng đến nhường nào đâu…”
Minh Di lắc đầu, giọng nói trầm xuống: “Tạm thời ta chưa thể gặp bà được. Nếu bà biết ta đã về kinh thành, bà cũng chỉ đuổi ta đi thôi.”
Tạ Như Vận nghe vậy thì sững lại, ngay sau đó ánh mắt dần trở nên ngưng trọng, thậm chí là sợ hãi: “Vậy nên, ngươi vào kinh là vì vụ án của Lý Hầu, đúng không?”
“Lân Nghi, cha ngươi thực sự đã vào trướng quân của người Bắc Yến sao? Một người nho nhã như đại bá, sao có thể phản quốc được chứ?”
Minh Di nheo mắt lại rồi nghiêm giọng hỏi nàng ta: “Triều đình và dân chúng nhìn nhận chuyện này thế nào?”
—
“Đông Đình à, đệ nói xem Lý Tương có thực sự phản quốc không?”
Bùi Việt liếc nhìn những bông tuyết trắng đang nghiêng ngả ngoài cửa sổ, rồi lẳng lặng quay lại án thư ngồi xuống, chìm vào thinh lặng.
Năm ấy, khi trận đại chiến Túc Châu bùng nổ, chàng đang ở Văn Hỷ để chịu tang. Dẫu đã dốc lòng chu toàn mọi bề về vật tư quân nhu, nhưng rốt cuộc xa mặt cách lòng, quyền lực của chàng chẳng thể vươn tới nơi biên thùy gió cát ấy. Ngày chàng trở lại kinh thành, Cẩm y vệ đã sớm khép lại hồ sơ vụ án nhà họ Lý. Kết luận điều tra rành rành: Vào ngày viện binh kéo đến, Lý Tương quả thực đã thả cho một vạn quân địch thoát thân, rồi đơn thương độc mã bước vào trướng quân Bắc Yên để ký hiệp ước hoà bình với Nam Tĩnh Vương. Nhưng oái oăm thay, ông lại một đi không trở lại, khiến tội danh “thông địch phản quốc” như được đóng đinh vào lịch sử, chẳng thể nào gột rửa.
Khi ấy, không ít triều thần cũng như Tề Tuấn Lương, trước sau đều giữ niềm tin sắt đá rằng Lý Tương tuyệt đối không mưu phản. Thế nhưng, Cẩm y vệ càng đào sâu điều tra thì những chứng cứ bất lợi lại cứ thế hiện ra rành rành.
Bùi Việt chậm rãi tiếp lời: “Ngày ta trở lại kinh thành và lật mở tập hồ sơ đó, đã có đến năm vị tướng lĩnh đồng loạt xác nhận: Lý hầu vốn mang lòng bất mãn sâu sắc vì Hoàng đế mãi không lập đích tử làm Thái tử, thậm chí ông còn nhiều lần buông lời oán thán ngay trước mặt thuộc hạ.”
“Chưa dừng lại ở đó, nhân chứng vật chứng còn vững như bàn thạch. Năm ấy, có đến năm nghìn người tận mắt chứng kiến bóng lưng Lý Tương bước vào doanh trại Bắc Yên. Trong số năm nghìn người thuộc đội tiên phong đó, không chỉ có những cựu binh Túc Châu dạn dày, mà cay đắng hơn cả là sự khẳng định từ Sào Chính Quần – kẻ vốn được coi là tâm phúc, là cánh tay phải đắc lực nhất của Lý hầu.”
Cho đến tận bây giờ, Sào Chính Quần vẫn chẳng thể đối diện với sự thật nghiệt ngã ấy. Ông ấy sống mòn mỏi trong u uất, mượn rượu giải sầu, gửi thân mình vào những cơn mộng mị không lối thoát.
“Ta từng trăn trở rất nhiều, rằng thiên hạ có thể vu oan cho Lý Tương, nhưng Sào Chính Quần thì tuyệt đối không. Ông ấy vốn là dũng tướng do một tay Lý hầu đề bạt, kính trọng Lý hầu như cha ruột, lại cùng Lý Lận Chiêu thân thiết như anh em cốt nhục. Vả lại, năm nghìn cặp mắt cùng chứng kiến một sự việc, làm sao có thể thêu dệt nên?”
Chính vì những chứng cứ sắt đá ấy mà các đại thần từng hết lòng che chở cho nhà họ Lý đều phải ngậm đắng nuốt cay, một mực giữ im lặng; ngay cả chàng cũng chẳng thể tìm ra kẽ hở nào để minh oan cho ông ấy. Mật vệ nhà họ Bùi đã điều tra rạch ròi: Lý Tương quả thực đã mở đường cho vạn quân Bắc Yên và đích thân tiến vào trướng giặc. Nghiệt ngã hơn, Thất hoàng tử cũng bị kéo vào vũng lầy này. Cẩm y vệ tra ra ngài ấy từng ngạo mạn tự ví mình như Đường Thái Tông Lý Thế Dân, khiến Long nhan nổi trận lôi đình, từ đó ngài ấy bị giam lỏng, tiền đồ sụp đổ hoàn toàn.
Sau khi Cẩm y vệ khép lại vụ án, án phạt của Thiên tử cuối cùng cũng giáng xuống đầu nhà họ Lý: một lệnh truy nã Lý Tương được ban ra khắp thiên hạ, toàn bộ gia quyến bị trục xuất khỏi kinh kỳ. Chỉ vì nể chút tình riêng với Hoàng hậu, bệ hạ mới rộng lòng giữ lại một phủ hầu để chăm nom Lý lão thái thái – thân mẫu của bậc mẫu nghi thiên hạ. Giờ đây, trong phủ hầu vắng lặng, người bà mù lòa ấy đang sống những ngày tháng cô độc, chẳng ai thèm ngó ngàng hay đoái hoài tới.
Điều an ủi duy nhất là sự sủng ái đặc biệt mà Hoàng đế dành cho Lý Lận Chiêu. Nhớ đến công lao giữ vững Túc Châu và cái chết bi tráng của chàng, bệ hạ đã miễn cho chàng tội liên đới, giữ lại danh hiệu Thiếu tướng quân để dân gian đời đời ca tụng. Thế nhưng, vạn quân sĩ Túc Châu lại chẳng có được may mắn ấy. Kẻ đã nằm xuống nơi sa trường không được truy phong công trạng, người còn sống sót bỗng chốc mang danh ‘quân phản loạn’. Sự kính trọng tột bậc dành cho Lý Tương năm xưa giờ đây đã hóa thành sự căm hận sục sôi, thành những lời phỉ nhổ cay đắng của chính những người từng kề vai chiến đấu.
Tề Tuấn Lương không giấu nổi vẻ kích động, giọng nói run run: “Chân tướng năm xưa vốn còn mờ mịt, nay Lý Tương vẫn còn sống, lại vừa bị dẫn giải về kinh thành. Đây chẳng phải là thiên cơ để chúng ta làm sáng tỏ mọi oan khuất sao?”
Bùi Việt nghe vậy, trên gương mặt tuấn tú ấy chợt thoáng hiện một nụ cười, nhưng đó là nụ cười của sự bất lực: “E rằng hiện giờ chúng ta vẫn chưa thể diện kiến Lý hầu.”
“Tại sao?” Tề Tuấn Lương thảng thốt.
“Bởi lẽ những điều kiện mà phía Bắc Yên đưa ra, triều đình ta không thể chấp thuận. Chính vì vậy, bọn chúng vẫn nhất quyết không chịu bàn giao người.”
“Mặc kệ điều kiện gì đi nữa!” Tề Tuấn Lương gằn giọng. “Người đã đặt chân lên mảnh đất Đại Tấn này rồi, lẽ nào chúng ta lại không có cách nào đưa ông ấy ra khỏi tay quân Bắc Yên hay sao?”
“Huynh tưởng hạng người như Nam Tĩnh Vương lại không tính đến nước cờ đó sao? Hắn là một kẻ kiêu hùng đích thực, tâm cơ thâm sâu tựa vực thẳm. Việc hắn đưa Lý Tương trở lại Đại Tấn, thực chất là một mũi tên bắn trúng hai đích: vừa để khuấy động vũng nước đục trong triều cục ta, vừa dùng Lý hầu làm con bài mặc cả đắt giá. Để bảo đảm quân bài này không bị tổn hại, hắn thậm chí không tiếc điều động tám vị trong ‘Thập bát La Hán’ của hoàng thất Bắc Yên theo sát ngày đêm. Võ công của tám người này đã đạt đến cảnh giới xuất thần nhập hóa, kẻ thường dù đông đến đâu cũng khó lòng địch nổi.”
Bùi Việt nhấp một ngụm chén trà, giọng trầm xuống: “Nếu không, Tiêu Trấn cùng những cao thủ khác đã chẳng đến mức thảm bại như thế.”
“Vậy ra…” Tề Tuấn Lương nghe đến đây, không nén nổi tiếng thở dài chua chát: “Tiêu Trấn chính là vì muốn cướp người sao?”
Bùi Việt lạnh lùng ngước nhìn y bằng ánh mắt sắc lẹm như dao: “Là đi cướp người, hay là đi diệt khẩu… điều này còn khó lòng định luận.”
Tề Tuấn Lương rùng mình, một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng khi nhận ra mối liên hệ khủng khiếp ẩn giấu đằng sau. Đúng vậy, sự trở về của Lý Tương không đơn thuần là một tù nhân tái thế, mà là chìa khóa duy nhất để lật lại vụ án chấn động năm xưa. Nếu chân tướng được phơi bày, Thất hoàng tử sẽ thoát khỏi cảnh giam cầm. Và theo lễ pháp chính thống, một khi ngài ấy trở lại triều đình, vị trí Thái tử của Đông cung vốn bỏ ngỏ bấy lâu nay chắc chắn sẽ thuộc về ngài ấy.
Nói cách khác, sự sống của Lý Tương chính là bản án tử cho tham vọng của Hằng Vương.
Giờ thì lão đã hiểu, tại sao Tiêu Trấn lại điên cuồng đến mức hai lần thuê tử sĩ mưu sát bằng được. Ông ta không đi cứu người mà là đi diệt tận gốc rễ của mối họa này.
Hiểu rõ những con sóng ngầm đang chực chờ nuốt chửng cả triều đình, Tề Tuấn Lương lo lắng đến mức gương mặt dường như già đi cả chục tuổi, đầu óc rối bời như tơ vò: “Nếu vậy, chúng ta phải làm sao đây? Chân tướng vừa hé lộ, lẽ nào ta lại phải dừng bước khi vụ án này đang ở hồi then chốt?”
Bùi Việt không đáp ngay, ánh mắt chàng sâu thẳm và tĩnh lặng như nhìn thấu suy nghĩ của đối phương: “Sở dĩ ta tiết lộ toàn bộ âm mưu của sứ đoàn Bắc Yên cho huynh, không phải để khích lệ huynh tiến tới, mà là để nhắc nhở: Vụ án này, tạm thời huynh phải dừng lại.”
“Tại sao?”
Trong đôi mắt thanh tú vốn dĩ bình lặng của Bùi Việt bỗng ánh lên vài phần u tối và lạnh lẽo: “Huynh không nhận ra sao? Mọi manh mối mà chúng ta tìm được… dường như quá thuận lợi.”
Tề Tuấn Lương ngẩn người, sống lưng hơi lạnh: “Đệ nói vậy là có ý gì?”
Bùi Việt không đáp ngay, tâm trí chàng chợt hiện lên hình bóng của vị cao thủ che mặt nọ. Đó mới là điểm vô lý nhất. Tiêu Trấn nắm trong tay một quân bài lợi hại như thế, cớ sao còn phải tốn công thuê hạng tử sĩ tầm thường bên ngoài? Điều này hoàn toàn đi ngược lại với logic của một kẻ có nhiều mưu mẹo như ông ta.
“Ta luôn có cảm giác, giữa màn đêm mù mịt kia có một đôi mắt đang dõi theo chúng ta, dõi theo từng bước đi của vụ án này. Kẻ đó đang lặng lẽ bày trận, dẫn dắt chúng ta đi theo đúng lộ trình mà hắn đã vạch sẵn. Ta muốn tạm dừng điều tra, trước hết là để thoát khỏi vòng kìm kẹp này, sau là để xem kẻ đứng sau khi không thấy con mồi chuyển động liệu có tự lộ ra sơ hở hay không.”
Bùi Việt xưa nay chỉ quen làm người cầm cờ định đoạt thế cục, chàng tuyệt đối không chấp nhận bản thân trở thành một quân cờ bị kẻ khác xoay vần.
“Thứ hai, việc chúng ta điều tra lúc này chẳng khác nào rung cây dọa khỉ. Chứng cứ chưa đủ để hạ bệ nhà họ Tiêu, nhưng lại đủ để khiến Tiêu Trấn cảnh giác. Ông ta không hoảng loạn, làm sao chúng ta thấy được sơ hở? Ta muốn để ông ta tự mình ‘nhảy’ ra khỏi hang, khi ấy huynh mới có thể danh chính ngôn thuận mà bắt giữ. Nếu ông ta tự chuốc lấy diệt vong, thì Hằng Vương có muốn bao che cũng không thể xoay chuyển.
Vả lại, câu chuyện này đã bắt đầu nhuốm màu sắc tranh chấp giữa các đảng phái, một tử địa mà kẻ khôn ngoan luôn tìm cách tránh xa. Huynh nên nhớ, tổ huấn của Bùi gia chính là: Tuyệt đối không đứng hàng, không chọn phe. Bất kể là ai, một khi đã liên hôn với họ Bùi thì đều phải giữ lấy sự trung lập ấy như một tấm bùa hộ mệnh.”
Chi bằng lúc này cứ tĩnh lặng quan sát sự biến chuyển của thế cục, rồi mới tính kế lâu dài.
–
Chén rượu nóng trên bàn đã sớm nguội lạnh từ lâu, Tạ Như Vận mải mê cuốn vào câu chuyện đến mức chẳng kịp nhấp lấy một ngụm. Nàng ta thở hắt ra một hơi, khép lại những bí mật nặng nề: “Chuyện chính là như vậy…”
Minh Di nghe xong mà thần sắc không hề dao động, đôi mắt nàng tĩnh lặng như mặt hồ không chút gợn sóng. Chỉ gật đầu như đã hiểu: “Ta hiểu rõ rồi. Chuyến trở về này của ta, mục đích duy nhất chính là phơi bày toàn bộ chân tướng, trả lại danh dự đã bị vùi lấp cho phụ thân và ba vạn linh hồn của quân sĩ Túc Châu.”
Nghe câu nói nhẹ bẫng của Minh Di, Tạ Như Vận chợt cảm thấy lồng ngực thắt lại bởi một nỗi bi thương khó tả. Cha nàng ta vốn là Thủ tọa Đô Sát viện, một người nắm giữ cán cân công lý của triều đình, vậy mà hết lần này đến lần khác ông đều nghiêm giọng cảnh cáo nàng ta tuyệt đối không được nhúng tay vào. Ông bảo, vũng nước này sâu đến mức không ai thấy đáy, muốn điều tra minh bạch chẳng khác nào mò kim đáy bể. Thế nhưng nhìn bóng dáng thanh mảnh mà kiên cường của Minh Di, nàng ta vẫn cắn răng hỏi nhỏ: “Vậy… ta có thể giúp gì được cho ngươi không?”
Minh Di im lặng một lúc, khóe môi khẽ cong lên thành một nụ cười nhàn nhạt, rồi nàng lắc đầu: “Không cần đâu, cô chỉ cần đừng gây thêm rắc rối là đã giúp ta nhiều lắm rồi.”
Tạ Như Vận: “…”
Khuôn mặt của Tạ Như Vận đỏ bừng vì xấu hổ lẫn xúc động, nàng ta lí nhí: “Ngươi đã nói đến mức này rồi, từ nay về sau… ta tuyệt đối sẽ không gây thêm phiền phức cho sứ đoàn nữa.”
Minh Di nhìn sâu vào đôi mắt đã khóc đến sưng đỏ như hai quả đào của nàng ta, lòng chợt dâng lên một chút xót xa. Nàng không nói nhiều, chỉ đưa tay vỗ nhẹ lên vai Như Vận, hành động ấy vững chãi như một lời thề: “Giao cho ta, đừng lo.”
Giao cho ta, đừng lo.
Làm sao một thân nhi nữ gầy yếu, không nơi nương tựa lại dám đối đầu với cả vương triều? Giữa lúc sóng cuộn biển gầm, hành động của Minh Di chẳng khác nào lấy trứng chọi đá.
Nước mắt của Như Vận lại tuôn trào, nàng ta nghẹn ngào trong lo sợ: “Nhưng tại sao nhất định phải là nhà họ Bùi? Ngươi có biết nếu Bùi Đông Đình phát hiện ra thân phận thật của ngươi, hắn sẽ làm gì không? Ta lo hắn sẽ trói ngươi giao thẳng cho Cẩm y vệ… Đừng để vẻ ngoài quân tử và thanh cao như mây khói của hắn đánh lừa. Kẻ có thể một tay nắm giữ cả gia tộc họ Bùi khi tuổi đời còn trẻ như thế, tâm tư chắc chắn phải thâm sâu và tàn nhẫn vô cùng.”
Nàng ta túm lấy tay Minh Di, run rẩy nói tiếp: “Hắn coi tổ huấn là khuôn vàng thước ngọc, mà những gì ngươi đang làm lại đi ngược lại hoàn toàn với đức tin của hắn. Ta sợ… ta sợ hắn sẽ trở thành người đầu tiên lấy mạng ngươi.”
Minh Di dường như chẳng để những lời can ngăn ấy vào tâm trí. Nàng vẫn chỉ đáp lại câu nói cũ: “Cứ giao cho ta đi.”
Có những người sinh ra đã mang sẵn một loại khí chất khiến người khác tin tưởng vô điều kiện, và Lý Minh Di chính là người như thế.
Tạ Như Vận nghẹn lời, nàng ta không biết nói gì thêm, chỉ có đôi mắt đẫm lệ ngẩn ngơ nhìn người thiếu nữ trước mặt như muốn níu kéo một điểm tựa: “Vậy sau này… ta còn có thể qua lại với ngươi như trước không?”
Minh Di vẫn giữ nụ cười điềm tĩnh ấy, ánh mắt lấp lánh vẻ bao dung: “Đương nhiên rồi. Có thể cùng ta ra sân đánh mã cầu, cũng có thể cùng ta đối ẩm uống rượu.”
Tạ Như Vận nghe xong liền dở khóc dở cười, mắng khẽ: “Ngươi thật sự giống hệt ca ca ngươi, đúng là một tên nghiện rượu chính hiệu!”
Minh Di ho nhẹ một tiếng để che giấu sự lúng túng, rồi lập tức ngậm chặt miệng mà không dám cãi thêm nửa lời.
Tiễn Tạ Như Vận ra cửa xong, Minh Di chậm rãi theo cầu thang quán mì đi xuống rồi vòng ra lối cửa hông. Người của Bùi gia đã được nàng sắp xếp tại hiệu buôn của nhà họ Tiêu gần đó, đi đường này sẽ thuận tiện và kín đáo hơn cả.
Vừa đặt chân xuống bậc thềm, một cơn gió lạnh tạt ngang, kèm theo tiếng xé gió sắc lẹm của một mũi phi tiêu lao thẳng về phía Minh Di. Trong chớp mắt, từ tay áo Thanh Hòa, một sợi xích bạc vút ra như tia chớp. Một tiếng “choang” chói tai vang lên, mũi tiêu bị đánh văng sang một bên. Không để kẻ địch kịp trở tay, Thanh Hòa biến hóa chưởng phong, sợi xích bạc tựa như một con giao long uyển chuyển lao tới, quấn chặt lấy cổ kẻ ám toán. Thanh Hòa lướt tới như một bóng ma, ngón tay cong thành trảo bóp nghẹt yết hầu đối phương, ép mạnh cả thân hình hắn dập vào tường đá. Sát khí bùng phát, nàng ấy gằn giọng quát lớn: “Muốn chết à!”
Trong suốt quá trình ấy, Minh Di vẫn đứng bất động như một pho tượng tạc, thậm chí đến hàng mi cũng chẳng thèm nâng lên.
Trường Tôn Lăng bị Thanh Hòa siết chặt đến mức nghẹt thở, gương mặt tái đi, mồ hôi lạnh lấm tấm vỡ ra trên trán. Thế nhưng, bất chấp cái chết đang cận kề, ánh mắt của hắn vẫn găm chặt vào bóng hình thanh tuyệt trước mặt, giọng nói nghẹn ngào vỡ vụn: “Thầy…”
Đầu lưỡi của Minh Di chống vào hàm răng, nàng lặng lẽ nhìn hắn một hồi lâu, đôi mắt sâu thẳm không chút gợn sóng, rồi mới trầm giọng hỏi: “Có phải ngươi là kẻ đã tiết lộ hành tung của A Nhĩ Na cho Tạ Như Vận không?”
Mấy ngày nay, theo ý chỉ của Hoàng đế, Trường Tôn Lăng và Lương Hạc được lệnh hộ tống tiểu vương tử Bắc Yên A Nhĩ Na đi du ngoạn kinh thành. Trong đôi mắt của Trường Tôn Lăng lúc này hằn lên những tia máu đỏ rực, hắn ngập ngừng nhìn nàng, đôi môi run rẩy nhưng không sao thốt nên lời.
Minh Di kéo chặt vạt áo choàng giữa cơn gió lạnh, rồi tiến lên một bước. Giọng nàng nhuốm màu bất lực: “Nghĩa là, ta vừa mới dọn dẹp xong mớ rắc rối của Tạ Như Vận, giờ lại đến lượt phải xử lý ngươi sao?”
Theo lời nàng, sợi xích bạc trong tay Thanh Hòa lại siết thêm một vòng. Gương mặt tuấn tú của Trường Tôn Lăng đỏ gay, gân xanh nổi cuồn cuộn trên trán vì thiếu dưỡng khí. Hắn khó nhọc hít từng hơi tàn, nhưng đôi môi vẫn mím chặt, kiên quyết không chịu thốt ra nửa lời biện bạch.
Nhìn dáng vẻ bướng bỉnh ấy, Minh Di chợt thấy hắn chẳng khác gì cậu thiếu niên năm xưa mới đặt chân đến Túc Châu, cả người đầy gai nhọn và sẵn sàng xù lông với cả thế giới. Tiếng thở dài chất chứa bao hoài niệm của nàng vang lên, rồi hất cằm ra lệnh cho Thanh Hòa: “Thả hắn ra. Lui sang một bên, bịt tai lại, không được nghe một chữ nào.”
Thanh Hòa đối với mệnh lệnh của nàng vốn dĩ phục tùng tuyệt đối, chưa một lần chống đối. Nàng ấy thu lại xích bạc, xoay người bước lùi đúng mười bước rồi bịt chặt tai lại, hoàn toàn tách biệt khỏi không gian của hai người.
Thấy Thanh Hòa đã làm đúng ý mình, Minh Di mới yên tâm. Nàng tiến lại gần, đôi tay thanh mảnh vươn ra, nhẹ nhàng vuốt lại nếp áo lông nhăn nhúm trên cổ áo Trường Tôn Lăng. Giọng nàng bình thản đến lạ: “Ngươi xúi giục Tạ Như Vận ám sát A Nhĩ Na, mục đích cuối cùng chỉ là muốn ép ta phải hiện thân thôi sao?”
Trường Tôn Lăng tựa lưng vào tường, đôi mắt đỏ ngầu vì thiếu oxy và cả vì xúc động. Hắn không dám cử động, chỉ biết trân trân nhìn vào đôi mày ánh mắt xa lạ nhưng thần thái lại quá đỗi thân quen kia. Hai chữ “Sư phụ” như đang nhảy múa nơi đầu lưỡi, làm đôi môi tím tái run rẩy không thôi, nhưng rốt cuộc hắn vẫn chẳng thể thốt ra thành lời.
Sau khi giúp hắn chỉnh đốn lại y phục, Minh Di ngước nhìn vào mắt hắn rồi nhỏ giọng dặn dò: “Lần sau gặp ta, nhớ mang theo một vò rượu.”
Nàng vỗ nhẹ lên vai hắn một cái đầy hàm ý, rồi dứt khoát xoay người rời đi.