Chương 28
Minh Di ngủ rất say, Bùi Việt rời đi lúc nào nàng hoàn toàn không hay biết. Khi tỉnh dậy, nàng chỉ cảm thấy hai chân đau nhức dữ dội; đã lâu không trượt băng nên xương cốt khó tránh khỏi mỏi nhừ. Cả ngày hôm đó nàng chỉ ở lại trong phủ nghỉ ngơi. Hai chiếc vòng bạc kia có chất liệu rất đặc biệt, muốn làm ra vẻ ngoài trông tương tự thì phải tìm được một loại nước thiếc đặc thù, trong thời gian ngắn không thể làm xong ngay được, nên Minh Di chỉ có thể kiên nhẫn chờ đợi mà thôi.
Nàng cũng chẳng hề rảnh rỗi, bốn vị cô nương lúc không có việc gì lại đến Trường Xuân Đường bầu bạn với nàng, kể về trận thi đấu cầu băng ngày hôm qua một cách vô cùng hứng thú.
“Tẩu tẩu không nhìn thấy vị công chúa Bắc Tề kia đâu, lúc rời đi suýt chút nữa là bật khóc đấy.” Bùi Y Ngữ nói.
Bùi Y Hạnh bắt chước điệu bộ của công chúa Bắc Tề: “Nàng ta lườm tẩu tẩu một cái cháy mặt luôn đấy. Sau này tẩu ra ngoài phải cẩn thận một chút, đề phòng công chúa Bắc Tề lén lút trả thù riêng.”
Minh Di từng gặp gỡ công chúa Bắc Tề một lần ở biên cương Túc Châu, nên vẫn khá hiểu tính nết của cô nàng này: “Không đến mức đó đâu. Nàng ta hận ta là thật, nhưng cùng lắm cũng chỉ giơ móng vuốt, hùng hổ múa tay múa chân một phen thôi, chứ không thực sự làm gì được ta đâu.”
Công chúa Bắc Tề chính là một con hổ giấy, nhìn thì có vẻ hầm hố và hay làm loạn, nhưng thực chất lại là người đơn thuần và vô cùng đáng yêu.
Đến giờ Ngọ, ban thưởng của hoàng cung đã đưa tới. Tuân thị đích thân dẫn Minh Di ra tiền sảnh nhận thưởng. Hoàng đế ban cho Minh Di hai rương vàng bạc châu báu, đồ đạc được khiêng vào Trường Xuân Đường, Phó ma ma bắt đầu kiểm kê từng món để nhập kho: “Một đôi ngọc như ý, mười thỏi vàng ròng, một hộp đông châu tím, một hộp đông châu hồng, một bộ trà cụ gốm Nhữ Dao, một đôi vòng tay phỉ thúy, một đôi vòng tay vàng, một bộ trang sức san hô khảm bảo thạch, mười xấp lụa là…”
Món nào món nấy đều là trân bảo, Phó ma ma mừng thay cho Minh Di: “Thế này thì của hồi môn của thiếu phu nhân lại thêm phần phong phú rồi.”
Minh Di và Thanh Hòa nghe xong thì chẳng mấy mặn mà, rồi cùng đồng thanh hỏi: “Mấy thứ này có đổi ra tiền bạc được không?”
Phó ma ma suýt chút nữa thì phun cả ngụm trà ra ngoài: “Thiếu phu nhân, đây là đồ ngự ban, không được phép đổi ra tiền đâu ạ. Hơn nữa, nếu người cần bạc thì cứ việc dặn dò lão nô, lão nô sẽ đi lấy cho người ngay ạ.”
Vì không thể đổi ra bạc nên Minh Di chẳng còn mấy hứng thú nữa: “Vậy mấy thỏi vàng chắc là dùng được chứ?”
Phó ma ma cười đáp: “Vàng thỏi thì dùng được ạ, có điều vàng ngự ban đều do phủ Nội vụ đúc riêng, người thường chẳng ai nỡ đem tiêu đâu.”
Minh Di thì chẳng có gì là không nỡ, nàng lấy một thỏi đưa cho Thanh Hòa: “Lúc nào rảnh thì đem đi đổi lấy bạc mà dùng.” Thanh Hòa thường xuyên phải chạy vạy bên ngoài, nên rất nhiều chỗ phải dùng đến tiền bạc.
Đến chập tối, khi Bùi Việt trở về dùng bữa, trong lúc đang uống trà nàng liền bàn bạc với chàng: “Gia chủ, mấy món châu báu đó thiếp không thích lắm, hay là đổi với chàng lấy ít bạc nhé?”
Đêm qua, để đặt làm hai cặp vòng bạc đó, Minh Di đã tốn mất một trăm lạng. Cũng may nhờ có Phó ma ma chu đáo, sợ nàng ra ngoài cần dùng đến tiền nên đã nhét sẵn một túi bạc vụn cùng ngân phiếu cho nàng, nếu không đêm qua suýt chút nữa nàng đã chẳng có tiền mà chi trả.
Việc điều tra hay lật lại bản án đều không phải chuyện ngày một ngày hai. Lúc mới vào kinh, nàng cũng có liên lạc với một vài bằng hữu giang hồ, một số người đang làm việc cho các võ quán trong kinh thành. Thỉnh thoảng Minh Di cần nhờ vả họ giúp đỡ thì đều cần dùng đến tiền.
Vì vậy, nàng dứt khoát đổi sang ngân phiếu cầm trong tay cho tiện, để dự phòng bất trắc.
Dù sao thì đây cũng là những thứ tự tay nàng kiếm được, nên khi dùng cũng thấy thanh thản và không có áp lực.
Nào ngờ Bùi Việt nghe xong lại có chút không vui: “Những món ban thưởng này món nào cũng là cực phẩm, nàng cứ giữ lấy làm của hồi môn chẳng phải tốt hơn sao? Còn về việc cần tiền tiêu, nàng cứ đến chỗ phòng tài vụ mà lĩnh.”
Đây là lần đầu tiên có người đòi đem đồ ngự ban đi đổi lấy bạc, chuyện này mà truyền ra ngoài chắc người ta cười cho rụng răng mất: “Còn xấp ngân phiếu nhà họ Tiêu lần trước, tạm thời ta chưa thể đưa lại cho nàng, ta sẽ bảo phòng tài vụ đổi riêng hai ngàn lượng ngân phiếu khác cho nàng tiêu xài.”
Minh Di hậm hực không nói gì.
Bùi Việt trở lại thư phòng, mấy vị quản gia cũng theo chân vào trong. Trước tiên chàng dặn dò việc chi xuất ngân phiếu, Trần quản gia lập tức đáp lời: “Lão nô sẽ đi rút hai ngàn lượng ngân phiếu gửi tới hậu viện ngay ạ.”
Bùi Việt đi vòng qua bàn làm việc rồi ngồi xuống: “Ghi khoản này vào sổ của ta, cứ ghi là ta đã trưng dụng ngân phiếu của phu nhân.”
“Lão nô đã rõ…”
“Ngoài ra.” Bùi Việt vừa day ấn đường vừa hỏi: “Tiền tiêu vặt hằng tháng của phu nhân là bao nhiêu?”
Trần quản gia chỉ quản lý việc riêng của Bùi Việt chứ không can thiệp vào sổ sách của phủ, nên lùi lại một bước.
Người lên tiếng trả lời là đại quản gia chuyên quản lý sổ sách chung của cả phủ: “Thưa gia chủ, mỗi tháng thiếu phu nhân được nhận một trăm lượng tiền tiêu vặt ạ.”
Xét về lý mà nói, số tiền đó đương nhiên là không hề ít, thậm chí còn cao hơn bổng lộc cả năm của nhiều vị đại thần. Sắp tới tiệc tất niên cuối năm lại còn có tiền chia hoa hồng cho Minh Di, nàng sẽ không thiếu tiền tiêu xài.
Xuất thân của Minh Di quả thực không tốt, nhưng con người nàng lại rất thanh cao. Tiền tiêu vặt nàng đều giao cho ma ma bảo quản, điều này thể hiện nàng muốn giữ mình trong sạch, không nguyện chiếm chút lợi lộc nào của nhà họ Bùi, nếu không thì vừa rồi nàng đã chẳng nói chuyện lấy đồ ban thưởng để đổi tiền với chàng.
Trước đây không nhận ra, lúc này Bùi Việt mới ý thức được rằng, có vẻ như Minh Di đang phân chia tiền bạc giữa nàng với chàng và Bùi gia vô cùng rạch ròi.
Như vậy sao mà được?
Cứ tiếp diễn lâu dần, giữa phu thê tất sẽ nảy sinh khoảng cách.
Xem ra những gì chàng làm vẫn chưa đủ, chưa thể khiến nàng yên tâm tận hưởng đãi ngộ của một vị thiếu phu nhân nhà họ Bùi rồi.
“Kể từ hôm nay, thiếu phu nhân cũng giống như ta, việc rút bạc tại phòng tài vụ sẽ không bị giới hạn định mức.”
Mấy vị quản gia ngẩn người ra, tất cả đều ngỡ ngàng nhưng cũng không dám nói gì, chỉ đồng loạt cúi đầu vâng lệnh.
Chẳng bao lâu sau, ngân phiếu đã được gửi đến hậu viện, kèm theo đó là tin tức này cũng được truyền đến tai Phó ma ma.
Phó ma ma nghe tin thì sững người, chuyện này trước nay chưa từng có. Lấy ví dụ như đại phu nhân ngày trước, khi làm vợ tộc trưởng cũng không có quyền hạn này, mãi đến khi con trai trở thành gia chủ thì trên thực tế mới có quyền tự do chi tiêu. Nay Minh Di còn chưa sinh con, mà gia chủ đã đối đãi với nàng như vậy, quả thật là hiếm có.
Những quyền hạn khác thì không thể trao, nhưng chuyện chi tiêu tiền bạc thì Bùi Việt tự nhận không thể để Minh Di chịu thiệt được.
Minh Di nhận lấy ngân phiếu từ tay Phó ma ma, nàng đếm từng tờ một, đếm đi đếm lại chừng mười lần mới hoàn hồn, rồi mỉm cười với Phó ma ma: “Ta biết rồi, thay ta cảm tạ gia chủ nhé.”
Để tiện cho Minh Di sử dụng, lần này quản gia đưa toàn ngân phiếu có mệnh giá nhỏ. Chờ Phó ma ma rời đi, Minh Di rút một xấp ra đưa cho Thanh Hòa: “Ngươi mang đến cửa hiệu của chúng ta, đổi ngân phiếu thành bạc rồi giữ bên người mà dùng.” Trực tiếp dùng ngân phiếu rất dễ để lại dấu vết, nhà họ Tiêu chính là ví dụ điển hình.
Thanh Hòa nhét ngân phiếu vào một túi vải nhỏ buộc ở thắt lưng, đó là ‘kho báu’ riêng của nàng ấy, bên trong có vài loại thuốc cấp cứu, nước giải độc, thuốc làm mềm gân cốt và tro cải trang…
Sau khi buộc túi xong, Thanh Hòa lập tức ngẩng đầu, ánh mắt sắc bén nhìn Minh Di: “Khi nào chúng ta ra tay ạ?”
Minh Di thu hồi ánh mắt từ khung cửa sổ mờ mịt và quay lại nhìn Thanh Hòa, giọng nàng mang theo chút mệt mỏi không thể che giấu: “Ngươi nhất định phải lấy nó về bằng mọi giá sao?”
Thanh Hòa không chút do dự, ánh mắt quả quyết đến lạ thường: “Phải lấy về! Chúng ta tuyệt đối không thể để di vật đó rơi vào tay người Bắc Yên được.”
Kể từ cái đêm người Bắc Yên đánh cắp di vật của Lý Lận Chiêu, Thanh Hòa lúc nào cũng canh cánh trong lòng, chỉ một mực muốn đoạt lại thứ vốn dĩ thuộc về chủ nhân mình.
Minh Di im lặng rót một chén trà, đôi tay gầy guộc áp chặt vào thành chén như muốn tìm chút hơi ấm. Nàng nhẹ giọng khuyên nhủ: “Thanh Hòa, lấy về rồi chúng ta biết cất giấu ở đâu? Giữ nó bên mình chỉ càng khiến người khác thêm nghi ngờ. Hiện tại chúng ta không thể để lộ thân phận, càng không thể để bất cứ ai phát hiện ra chúng ta có liên hệ với nhà họ Lý.”
Thanh Hòa nghĩ ngợi rồi nói: “Đưa cho Tạ cô nương giữ.”
Minh Di đặt mạnh chén trà xuống bàn: “Ta khổ sở lắm mới khuyên nàng ta cắt đứt với nhà họ Lý, giờ lại đem di vật giao cho nàng ta, đây chẳng phải là muốn nhà họ Tạ chết nhanh hơn sao?”
Thanh Hòa bị dáng vẻ nổi giận của nàng làm cho hoảng sợ, lè lưỡi nói: “Vậy thì em tìm chỗ chôn đi.”
“Nhất định phải làm như vậy sao?”
“Nhất định ạ!”
“Nếu ta không đồng ý thì sao?”
“Em sẽ bỏ nhà đi.”
“…”
Minh Di bực dọc nằm nghiêng trên giường La Hán, dứt khoát quay lưng lại với Thanh Hòa, chỉ một ngón tay về phía nàng ấy rồi mắng khẽ: “Trên đời này, kẻ duy nhất có thể uy hiếp được Lý Lận Nghi ta đây chỉ có thể là ngươi!”
Thanh Hòa nấp sau giá bày đồ cổ, không những không sợ mà còn lén nhe răng cười tinh quái. Nàng ấy biết chủ tử tuy miệng thì mắng nhưng lòng đã xuôi theo mình rồi.
Tuy nhiên, muốn đột nhập Tứ Phương Quán trộm đồ vốn chẳng phải chuyện dễ dàng, Minh Di buộc phải tính toán thật chu toàn. Sau khi dò hỏi được ngày hai mươi tháng Chạp, Lễ Bộ sẽ tổ chức yến tiệc linh đình chiêu đãi sứ thần, thì nàng ấy quyết định sẽ ra tay vào đêm hôm ấy.
Hai ngày qua, Thanh Hòa đã âm thầm liên lạc với hai vị bằng hữu giang hồ thân tín, đồng thời trực tiếp dẫn người đi thăm dò địa hình. Mọi thứ đã sẵn sàng, chỉ chờ gió đông thổi tới. Còn về phần Minh Di, điều nan giải nhất lúc này là phải tìm ra một cái cớ thật vẹn toàn để có thể đường hoàng ra khỏi phủ vào đêm đó.
Suy tính mãi, Minh Di nhận ra ngoài Tạ Như Vận thì chẳng còn ai đủ tin cậy để cùng nàng diễn màn kịch này. Nàng bảo Thanh Hòa bí mật gửi thư, hẹn Như Vận chiều tối gặp nhau tại quán mì phía Tây Bắc để cùng uống vài chén rượu.
Tạ Như Vận vốn có tính cách hào sảng, không những nhận lời ngay mà còn chu đáo đánh xe đi một vòng thật xa, kịp đến Bùi phủ vào cuối giờ Thân để đón người. Nàng ta hành xử vô cùng khéo léo, vừa vào phủ đã đến thẳng viện của Tuân thị để vấn an. Nghe Như Vận ngỏ ý muốn rủ Minh Di đi cùng, Tuân thị không nghi ngờ gì lập tức sai người gọi Minh Di tới.
“Lần sau nếu các con muốn uống rượu, cứ sang Tạ phủ hoặc về đây mà uống cũng được.” Tuân thị ân cần dặn dò: “Con gái ra ngoài ban đêm thực sự không tiện, huống hồ lúc này sứ thần đang vào kinh, tình hình phức tạp. Các con vẫn nên cẩn thận thì hơn.”
Minh Di chỉ biết ngoan ngoãn gật đầu vâng dạ, trong khi Tạ Như Vận lại tinh nghịch nháy mắt với Tuân thị, rồi nói với giọng nũng nịu: “Phu nhân chắc chưa biết rồi, tối nay ngoài cửa Chính Dương có hội đèn rồng lớn lắm, con chẳng phải muốn đưa Minh Di đi mở mang tầm mắt một chút sao?”
Tạ Như Vận vốn là viên ngọc quý duy nhất của Tạ thủ phụ. Giữa hai người anh trai, nàng ta là cô nương duy nhất được cả phủ cưng chiều hết mực, vì thế mà tính cách có phần phóng khoáng, không chút gò bó. Tuân thị nhìn rõ sự tinh quái của nàng ta, trong lòng tuy có chút không an tâm nhưng cũng đành bất lực thở dài: “Được rồi, đi đi. Chỉ có điều, con đã đưa Minh Di đi thì nhất định phải đưa con bé về phủ bình an vô sự, rõ chưa?”
Tạ Như Vận nhanh nhảu kéo tay Minh Di rời đi, không quên để lại một lời hứa chắc nịch: “Phu nhân cứ yên tâm, con nhất định sẽ đưa nàng ấy về nguyên vẹn!”
Đợi đến khi bóng dáng hai người khuất hẳn sau rèm cửa, ma ma thân cận mới tiến lại dìu Tuân thị vào ngồi trong noãn các, rồi thở dài đầy ẩn ý: “Phu nhân, Thiếu phu nhân cứ suốt ngày quấn quýt lấy Tạ cô nương như vậy, e rằng không phải kế lâu dài.”
Bà ấy dừng một chút, quan sát sắc mặt của Tuân thị rồi nói tiếp: “Tạ cô nương có lấy chồng hay không còn chưa biết, nhưng Minh Di lại là tông phụ tương lai của Bùi phủ, sau này phải gánh vác cả hậu viện. Vậy mà giờ đây suốt ngày chỉ biết ra ngoài đánh cầu, uống rượu, thực sự không ra thể thống gì.”
Tuân thị day day thái dương đau nhức. Thực ra, ngay từ ngày Lão thái gia nhất quyết chọn Minh Di làm dâu, bà đã tiên liệu được sẽ có lúc phải đối mặt với cảnh này. Những đứa trẻ lớn lên ở vùng quê xa xôi vốn đã quen với gió nội mây ngàn, làm sao có thể dễ dàng khép mình vào khuôn vàng thước bạc của phủ họ Bùi cho được: “Thôi, cứ mặc kệ con vé đi.” Tuân thị thở dài: “Chờ thêm vài năm nữa, khi con bé có con rồi, thì cái tâm bay nhảy sự tự động thu hồi lại thôi.”
Trong lúc đó, Minh Di đã bỏ lại xe ngựa của Bùi phủ mà đường hoàng ngồi lên xe của Tạ Như Vận. Chiếc xe lăn bánh thẳng đến quán mì phía Tây Bắc chợ Tiền Triều. Trước khi bước xuống, Tạ Như Vận bỗng níu tay nàng lại, vẻ mặt thần bí thì thầm: “Lát nữa vào trong, ngươi tuyệt đối đừng quá kinh ngạc. Có một vị khách quý đang đợi ở đó… và người ấy đến là vì ngươi.”
“Khách quý? Khách quý nào đấy?”
Minh Di còn chưa dứt lời nghi hoặc thì cánh cửa quán mì đã bị đẩy ra từ bên trong. Một thiếu nữ xinh xắn bước ra, tay bưng khay đồ ăn vừa dọn xong. Chỉ cần nhìn qua gương mặt thanh tú lạ lẫm ấy, Minh Di đã lập tức đoán định được thân phận của người đang ngồi bên trong.
Nàng cùng Tạ Như Vận bước qua ngưỡng cửa, rồi vòng qua tấm bình phong cũ kỹ. Quả nhiên, Thất công chúa đang ngồi tĩnh lặng ở vị trí cạnh cửa sổ. Thấy bóng dáng Minh Di, công chúa thoáng hiện lên vẻ mất tự nhiên, nàng ấy vội vã ngồi thẳng lưng, cố giữ lấy vẻ nghiêm trang mà giải thích: “Ta… ta vừa khéo đi ngang qua đây thôi. Nghe nói ngươi hẹn Như Vận dùng bữa, nên tiện đường ghé qua xem thử thế nào.”
Tạ Như Vận cố nhịn cười, không nỡ vạch trần lời nói dối vụng về của Thất công chúa, nàng ta kéo Minh Di cùng ngồi xuống.
Minh Di chắp tay hành lễ đúng mực rồi ngồi đối diện với Thất công chúa, còn Tạ Như Vận chọn vị trí phía cuối bàn, ra hiệu cho nha hoàn bắt đầu bày biện rượu nồng và thức nhắm. Cửa sổ quán mì chỉ chống lên phân nửa, từng cơn gió lạnh buốt giá luồn vào đúng ngay chỗ Minh Di đang ngồi. Nàng liếc nhìn ra ngoài rồi kéo chặt lại lớp áo choàng trên vai để giữ ấm.
Thất công chúa dường như không để tâm đến cái lạnh, nàng ấy ngẩn ngơ nhìn theo một hướng vô định ngoài cửa sổ, rồi đột ngột lên tiếng: “Ta cũng đã gần nửa năm không ghé qua đây rồi. Nghe nói… ngươi và Bùi Huyên thường xuyên đến căn phòng này ăn mì sao?”
Tạ Như Vận nghe nhắc đến tên người nọ thì tỏ vẻ bực dọc: “Căn phòng này vốn là nơi ta đặt cố định quanh năm, không cho chưởng quỹ cho người khác thuê. Vậy mà Bùi Huyên lại cậy thế, nhờ cả đệ đệ ra mặt cưỡng ép ta chia mất một nửa không gian đấy thôi.”
Thất công chúa bỗng bật cười. Sợ Minh Di vẫn còn mông lung chưa hiểu rõ ngọn ngành, nàng ấy liền quay sang hỏi Tạ Như Vận: “Bùi thiếu phu nhân chắc hẳn vẫn chưa biết lai lịch của căn phòng này đâu nhỉ?”
Tạ Như Vận liếc nhìn Minh Di một cái, trong lòng thầm nhủ: Sao có thể không biết cơ chứ, nàng ấy vốn chính là muội muội ruột của Lận Chiêu kia mà. Nhưng ngoài mặt Tạ Như Vận vẫn thản nhiên cười đáp: “Ta từng kể qua rồi, Thiếu phu nhân đã biết, còn từng bày tỏ lòng tiếc thương sâu sắc cho Lận Chiêu nữa.”
Minh Di không xen vào một lời nào, nàng chỉ cúi đầu, chuyên tâm cầm đũa ăn mì như thể mọi chuyện trên đời đều chẳng liên quan đến mình.
Ngược lại, bát mì trước mặt Thất công chúa vẫn còn nguyên vẹn. Nàng ấy vốn dĩ chê đồ ăn nơi phố xá nhạt nhẽo, chẳng hợp khẩu vị cung đình. Mỗi lần nàng ấy chịu hạ mình đến đây, thực chất không phải để dùng bữa mà chỉ là ngồi lặng yên một chốc, mượn cảnh cũ để tìm lại bóng dáng người xưa.
“Như Vận, sắp đến ngày giỗ của biểu huynh rồi.” Thất công chúa thở dài, đôi mắt nhuốm màu u buồn: “Năm nay sứ thần vào kinh, phụ hoàng lại giao ta trọng trách tiếp đón Công chúa Bắc Tề, e rằng nhất thời không thể thoát thân. Khi nào ngươi đi tế biểu huynh, nhớ thay ta thắp cho huynh ấy một nén hương nhé.”
Tạ Như Vận đang ăn mì, nghe vậy chỉ khẽ “ừm” một tiếng, thanh âm nặng nề như có đá tảng đè nặng trong lòng.
Minh Di lặng lẽ buông đũa, nàng hướng ánh mắt về phía Thất công chúa rồi chậm rãi lên tiếng: “Điện hạ, ta nghe Tạ Như Vận kể rằng, khi Lận Chiêu công tử còn tại thế, người đối với ngài và Thất hoàng tử là thân thiết nhất. Thất hoàng tử cũng là người kính trọng vị biểu huynh này hơn bất cứ ai. Ta vốn tính hiếu kỳ, không biết hiện giờ tình cảnh của Thất hoàng tử thế nào rồi?”
Vừa nghe nhắc đến Thất hoàng tử, sắc mặt của Thất công chúa lập tức chùng xuống, bao phủ bởi một vẻ u ám khó tả.
“Phụ hoàng chỉ cho phép ta nửa năm mới được tới thăm huynh ấy một lần. Lần gần đây nhất là vào dịp sinh nhật huynh ấy tháng Bảy vừa rồi.” Giọng nàng ấy run run như đang kìm nén sự nức nở: “Cả vương phủ rộng lớn đến thế mà trống trải vô cùng, chỉ có hai tiểu thái giám gầy gò hầu hạ qua ngày. Ngay cả ánh trăng hắt xuống sân cũng mang một màu lạnh lẽo, cô độc đến xót xa. Đêm đó, ta cùng huynh ấy ngồi trong sân uống rượu. Ta đã cố gắng kìm nước mắt, không dám thốt lên lời nào vì sợ lòng mình đổ vỡ. Còn huynh ấy lại nâng chén hướng về phía vầng trăng, vừa cười vừa bảo: Nếu biểu huynh còn sống, nhất định không muốn thấy huynh ấy sa sút thế này. Vậy nên, huynh ấy nhất định phải sống, và phải sống sao cho thật vui vẻ…”
Sống… cho đến ngày rửa sạch nỗi oan khuất ngút trời cho nhà họ Lý, và cho chính bản thân mình.
Thất công chúa dứt lời, nước mắt đã chực trào nơi khóe mắt. Có lẽ vì không muốn tỏ ra yếu lòng trước mặt một “người ngoài” như Minh Di nên nàng ấy vội vã quay đi, nhanh chóng lau khô vệt nước mắt còn nóng hổi.
Minh Di chau mày lại, lồng ngực nàng thắt lại vì một cơn đau nhói buốt. Nàng nhìn sâu vào đôi mắt của công chúa rồi nói: “Điện hạ là người có tâm tính khoáng đạt, dám nhẫn nhịn những điều mà người thường không thể chịu đựng nổi. Kẻ biết nhẫn lại ắt làm nên đại sự. Ta tin chắc rằng, nhất định sẽ có ngày mây tan trăng hiện, mọi oan khuất đều được đưa ra ánh sáng, hoàn toàn minh bạch.”
Suốt ba năm đằng đẵng, từ khi mười lăm tuổi đến lúc mười tám tuổi, dù bị giam lỏng giữa bốn bức tường cô quạnh mà vẫn không hề lung lạc chí hướng, ngay cả Minh Di cũng phải thầm cảm phục ý chí kiên cường của vị biểu đệ này.
Thất công chúa nâng chén rượu, hướng về phía Minh Di với ánh mắt chân thành: “Ta mượn lời chúc tốt đẹp của ngươi, cũng là để cảm tạ việc ngươi đã ra tay giúp đỡ ta ngày hôm đó. Chén rượu này, coi như bản cung kính ngươi một ly.”
Nói dứt lời, Thất công chúa dứt khoát uống cạn.
Minh Di vẫn ghi nhớ lời dặn dò của Bùi Việt về việc giữ mình nơi quán xá, nàng chỉ nâng chén chạm nhẹ vào bờ môi rồi đặt xuống. Nàng im lặng một chút như thể đang cân nhắc, rồi mới thận trọng hỏi thêm: “Xin thứ lỗi cho ta hiếu kỳ hỏi thêm một câu, trong những năm tháng Thất điện hạ bị quản thúc, liệu có kẻ nào nhân cơ hội mà gây khó dễ cho người không?”
Nghe đến đó, Thất công chúa hơi khựng lại, đôi mắt nàng ấy dần phủ một lớp băng lạnh lẽo: “Chuyện gây khó dễ thì kể sao cho xiết. Chẳng nói đâu xa như Hằng Vương, hắn chỉ muốn ép phụ hoàng đày đệ đệ ta đến một vùng đất xa xôi, nhằm tuyệt diệt hoàn toàn cơ hội trở mình của huynh ấy. Là ta đã hết lần này đến lần khác quỳ dưới chân phụ hoàng, khẩn nài người thương xót cho tâm bệnh của mẫu hậu. Nếu thật sự mang đệ đệ đi giam lỏng ở nơi thâm sơn cùng cốc, ta e rằng mẫu hậu chẳng thể sống nổi. Nhờ vậy, phụ hoàng mới không chuẩn tấu lời của Hằng Vương.”
Nhắc đến Hằng Vương, giọng nói của Thất công chúa bỗng trở nên cay độc: “Một kẻ do tiện nhân sinh ra, mang trong mình dòng máu thứ hèn kém, mà cũng dám vọng tưởng tranh hào quang với nhi tử của chính cung sao!”
Minh Di lập tức nghiêm mặt rồi hạ thấp giọng nhắc nhở: “Điện hạ, xin hãy thận trọng lời nói!”
“Mẫu thân của Hằng Vương vốn xuất thân từ danh gia họ Vương ở Lang Nha. Người nói lời ấy, chẳng khác nào đang thóa mạ cả phủ Thủ phụ.”
Thất công chúa lập tức câm lặng, sắc mặt trắng bệch. Đúng vậy, ngoại tổ phụ của Hằng Vương chính là vị Thủ phụ đứng đầu trăm quan, còn nhạc phụ của hắn lại nắm giữ chức Tổng binh Đô đốc phủ, thống lĩnh ba nghìn tinh binh hộ vệ kinh thành. Văn có chỗ dựa, võ có quyền uy, địa vị của Hằng Vương ở trong triều vững chãi như bàn thạch, không gì có thể lay chuyển được.
Nhìn lại Thất hoàng tử, bên cạnh không có một người phò trợ, nay lại chịu cảnh giam cầm trong vương phủ lạnh lẽo, ngày qua ngày chẳng thấy chút ánh sáng tương lai. Với tình thế vạn dặm cách biệt này, làm sao huynh ấy có thể tranh đoạt ngôi vị Thái tử với một kẻ như Hằng Vương? Mỗi lần nghĩ đến sự thật nghiệt ngã ấy, lòng người ta lại trào dâng một nỗi tuyệt vọng khôn cùng.
Minh Di dù sao cũng là người ngoài, Thất công chúa nhận ra mình vừa lỡ lời, bèn rót thêm một chén tự uống rồi nói: “Cả kinh thành này ai mà chẳng biết ta và Hằng Vương không hợp nhau, nói ra những lời này cũng chẳng sợ ngươi cười chê.”
Ngụ ý trong lời nói của nàng ấy là không sợ Minh Di sẽ truyền chuyện này ra ngoài.
Minh Di mỉm cười một tiếng, rồi nâng ly khuyên nàng tiếp tục uống rượu thì hơn.
Chỉ trong một lát, Thất công chúa đã bị nàng khuyên uống hết ba chén. Tạ Như Vận thấy vậy cảm thấy không ổn, lập tức lên tiếng: “Này, Minh Di, lát nữa Điện hạ còn phải hồi cung, nếu để nương nương biết người uống rượu thì chắc chắn sẽ bị trách phạt đấy.”
Minh Di cười hỏi Thất công chúa: “Sao vậy? Nương nương cũng không cho phép người uống rượu ư?”
Thất công chúa đã hơi có men say, nàng ấy xua xua tay rồi chống cằm nói: “Chứ còn gì nữa? Ngay cả biểu huynh Lận Chiêu uống rượu mà bà ấy còn mắng, huống hồ là ta?”
“Nói cũng lạ.” Ánh mắt của Thất công chúa lờ đờ vì say, quay sang nói với Tạ Như Vận: “Biểu huynh Lận Chiêu đến Phụ hoàng ta còn chẳng sợ, thế mà chỉ sợ độc mỗi mẫu thân ta. Nếu đã uống rượu, huynh ấy nhất định sẽ trốn biệt tăm, tuyệt đối không bao giờ đến cung Khôn Ninh thỉnh an.”
Trong vài lần hiếm hoi trở lại kinh thành, số lần huynh ấy lộ diện tại cung Khôn Ninh cũng ít đến tội nghiệp.
Thật đáng tiếc cho một người như vậy, tài hoa rực rỡ đến kinh tâm động phách, dù cho thời gian chung đụng ngắn ngủi, nhưng huynh ấy vẫn có thể dễ dàng khắc sâu dấu ấn vào lòng người khác, khiến người ta không tự chủ được mà xem huynh ấy như vầng trăng sáng trên cao.
Nếu huynh ấy vẫn còn sống thì tốt biết bao.
Tạ Như Vận đang định tiếp lời nàng ấy, nào ngờ Minh Di đột nhiên vỗ mạnh một cái vào sau gáy Thất công chúa. Thất công chúa trợn mắt lên, rồi trực tiếp lịm đi và chìm vào giấc ngủ.
Tạ Như Vận trợn tròn mắt nhìn Minh Di, hạ thấp giọng quát khẽ: “Nghi Nghi, ngươi đang làm cái gì thế hả?”
Minh Di nhanh chóng đứng dậy, vừa cởi lớp y phục bên ngoài để lộ bộ dạ hành y mặc sẵn bên trong, vừa dặn dò nàng ta: “Đêm nay ta có việc gấp, phiền ngươi trợ giúp yểm trợ. Nhớ kỹ, trước khi ta quay lại, bất kể là ai ở bên ngoài cũng phải tìm cách chặn lại giúp ta, hiểu chưa?”
Nói xong, chỉ thấy Minh Di thổi tắt nến, sau đó lách người leo qua ô cửa sổ đang khép hờ mà chuồn ra ngoài. Tạ Như Vận vội vàng chạy tới nhìn theo, nhưng cũng chỉ kịp bắt được một góc vạt áo của nàng.
Tạ Như Vận bất lực, đành mượn ánh sáng le lói từ bên ngoài, tìm lại dụng cụ đánh lửa để thắp đèn lên. Nàng giấu y phục của Minh Di đi, rồi quay sang nhìn Thất công chúa đang hôn mê bất tỉnh ở phía đối diện.
Hóa ra lúc nãy khi nghe báo có “khách quý”, gương mặt của Minh Di lại lộ vẻ khổ sở như vậy. Thì ra đêm nay nàng có việc đại sự cần làm. Nói vậy, việc nàng ta mời Thất công chúa tới đây chẳng phải đã suýt chút nữa làm hỏng việc của Minh Di sao?
Lúc nãy khi căn phòng đột ngột tối sầm lại đã khiến đám nữ quan và tỳ nữ đứng chờ bên ngoài sinh nghi, có người lên tiếng gọi: “Điện hạ, có chuyện gì vậy ạ?”
Tạ Như Vận vốn là người có tính khí nóng nảy, nghe thấy tiếng liền đứng ngay sau bức bình phong mà quát lớn một câu: “Không sao cả, ta và điện hạ đang uống rượu, các ngươi lui ra một bên đi, đừng có làm mất hứng của chúng ta.”
Quay trở lại chỗ ngồi, lại sợ người bên ngoài nghĩ ngợi lung tung, nàng ta chẳng đành lòng mà phải một mình phân vai hai nhân vật, diễn một màn “kịch rối” để lừa những người đứng ngoài. Trong lòng nàng ta thầm mắng Lý Minh Di đến xối xả, oán hận cô nàng này đã ném lại cho mình một cái đống hỗn độn thế này.
Về phía Minh Di, sau khi men theo mái hiên đáp xuống đất, nàng nhanh chóng tìm được con ngựa đã chuẩn bị sẵn ở đầu ngõ, lập tức phi nước đại hướng về phía Tứ Phương Quán.
Thanh Hòa đã sớm thoát thân và dẫn người đứng đợi sẵn ở đây. Quy mô không quá lớn, tính cả hai chủ tớ thì tổng cộng có bốn người tham gia. Thanh Hòa đã nắm rõ vị trí những chiếc rương đang được đặt tại Tây Khoa Viện. Kế hoạch là một người sẽ sang Đông Viện phóng hỏa để thu hút sự chú ý của đám lính canh, Thanh Hòa sẽ đích thân đi lấy rương về, còn Minh Di thì ẩn nấp tại một góc mái hiên nào đó để canh chừng.
“Thập Bát La Hán đang ở đâu? Chúng ta gây ra động tĩnh lớn thế này, chưa chắc đã không đánh động đến bọn chúng.”
Thanh Hòa đáp: “Cô nương yên tâm, Thập Bát La Hán và lão gia đang bị nhốt ở gian củi phía hậu viện. Nhiệm vụ của Thập Bát La Hán là canh giữ lão gia, dù bên ngoài có trời long đất lở thì bọn chúng cũng sẽ không rời đi nửa bước.” Bọn chúng cũng sợ chiêu “điệu hổ ly sơn”, có kẻ sẽ nhân cơ hội ra tay với Lý Tương.
Minh Di gật đầu, kế hoạch đã định, tất cả chia nhau ra hành động.
Đêm nay A Nhĩ Nạp và Ô Chu Thiện đã vào cung dự yến tiệc, trong phủ chỉ còn lại vài tên võ tướng cùng văn quan. Thế nhưng Ô Chu Thiện cũng không hề lơ là cảnh giác, vì lo sợ có kẻ sẽ đột kích sứ quán để ám sát Lý Tương một lần nữa, nên gã đã bố trí trọng binh canh giữ ở hậu viện.
Chính vì gã đã bố trí rất nhiều nhân lực ở hậu viện, nên đã vô tình tạo ra sơ hở, cho nhóm người Minh Di một cơ hội có thể lợi dụng được.
Đầu tiên, một người ôm hũ rượu lặng lẽ tiến về phía Đông Khoa Viện, tìm một gian phòng trông giống như thư phòng, chọc thủng giấy dán cửa sổ rồi tưới rượu vào bên trong. Ngay sau đó người này châm lửa quăng vào, trong nháy mắt lửa cháy ngút trời. Nơi bị đốt lại chính là chính viện của A Nhĩ Nạp. Đám người hầu hoảng loạn thất sắc, gào thét báo cháy, chẳng mấy chốc cả Tứ Phương Quán đã rơi vào cảnh hỗn loạn.
Ô Chu Thiện đã dặn dò kỹ lưỡng rằng, bất kể xảy ra chuyện gì thì thị vệ ở hậu viện cũng tuyệt đối không được rời vị trí. Vậy nên khi thiếu hụt nhân thủ, bọn chúng chẳng còn cách nào khác là phải điều động người từ Tây Viện sang hỗ trợ cứu hỏa.
Chớp đúng thời cơ, Thanh Hòa cùng một người nữa nhảy xuống Tây Khoa Viện. Người kia nấp vào chỗ tối dưới hành lang để cảnh giới, còn Thanh Hòa lẻn vào trong phòng tìm rương. Phải tốn khá nhiều công sức nàng ấy mới tìm thấy chiếc rương đó. Phải nói là chiếc rương này nặng vô cùng, Thanh Hòa đành phải huýt sáo gọi người kia vào giúp sức, buộc chặt chiếc rương lên lưng mình. Sau đó, hai người mới tung mình nhảy lên tường rào rồi tìm đường tháo chạy.
Trong khi đó, Minh Di vừa cảnh giác xung quanh vừa lặng lẽ men theo mái hiên bò sang phía bên kia. Nàng chăm chú quan sát dãy nhà hậu tẩm ở phía sau, lờ mờ nhìn thấy mấy tên thị vệ áo đen đang đi lại tuần tra dưới hành lang.
Vậy là, cha đang ở đó sao?
Ba năm rồi, ròng rã suốt ba năm trời, đây chính là lần nàng ở gần ông ấy nhất.
Lần chia ly cuối cùng ấy, nàng đang tới kỳ nguyệt sự, nằm trên sập nhỏ mà bụng đau thắt không chịu nổi. Cha đã dùng đầu ngón tay thô ráp của ông vuốt lên đôi mày của nàng, rồi nhỏ giọng dỗ dành: “Con gái ngoan, cha nấu nước gừng đường đỏ cho con rồi, vẫn còn trên lò đấy, con nhớ uống nhé. Cứ ở nhà nghỉ ngơi đi, cha đi một lát rồi về ngay.”
Vậy mà chuyến đi ấy, ông mãi cũng chẳng quay về.
Nàng đáng lẽ phải cản ông lại, đáng lẽ phải giữ ông lại bằng mọi giá…
Tiếng chim vang lên, Thanh Hòa đã lấy được rương đồ. Minh Di nén đau thương lại rồi thu hồi tầm mắt, và bắt đầu rút lui.
Phía sau Tứ Phương Quán là Lưu Ly Xưởng, ngựa của họ được buộc sẵn trong con hẻm bên ngoài xưởng, chỉ cần vượt qua đó là có thể thoát thân. Đáng tiếc, việc cõng theo một chiếc rương khiến mục tiêu trở nên quá lớn, cuối cùng họ vẫn bị phát hiện.
Một toán thị vệ được bố trí ở hậu viện phát hiện ra động tĩnh, lập tức lao tới như hổ vồ mồi.
Không còn cách nào khác, Minh Di ra lệnh cho Thanh Hòa đi trước, còn nàng cùng hai người còn lại ở lại cắt đuôi.
Hai vị bằng hữu giang hồ này, võ nghệ chưa chắc đã cao cường, nhưng bản lĩnh thoát thân lại không tầm thường. Họ còn mang theo không ít ám khí và độc phấn. Một túi độc phấn tung ra, trước mặt lập tức bốc lên một làn khói trắng, chặn đứng đám thị vệ áo đen.
Ngay sau đó ba người nhanh chóng vượt qua tường viện, rơi xuống con ngõ, mỗi người leo lên một con ngựa rồi phóng thẳng về hướng Nam thành.
Tên thủ lĩnh thị vệ kia cũng là một tay cao thủ. Hắn vọt lên tường vây của Lưu Ly Xưởng, khi thấy tên tặc đã chạy xa thì lập tức vung tay phóng ra một mũi phi tiêu. Mũi tiêu ấy bay đi cực kỳ chuẩn xác, bám sát theo sau Minh Di. Gió đêm thổi lồng lộng, Minh Di nghe thấy tiếng gió rít xé trong không trung đuổi tới sau lưng, nhận ra thế tiêu vô cùng bá đạo, nàng liền ghì chặt dây cương rồi nghiêng người né tránh. Mũi phi tiêu sượt qua phía ngoài chân trái nàng, chỉ nghe một tiếng “xoẹt”, lớp vải bông rách toạc kéo theo một tia máu bắn ra.
“Cô nương!” Thanh Hòa nghe thấy động tĩnh thì lập tức quay đầu lại nhìn nàng.
Đuôi lông mày của Minh Di không hề lay động, nàng lắc đầu với Thanh Hòa: “Không sao đâu, muội mau đi đi!”
Đến một ngã rẽ, nhóm người Thanh Hòa tiếp tục đi về hướng Nam để chôn rương, còn Minh Di thì quay đầu ngựa hướng về phía quán mì. Nàng phi nước đại tới con hẻm tối kia rồi dừng lại, buông dây cương, nhảy vọt lên mái nhà thấp, men theo nóc nhà leo lên trên, cuối cùng cũng tới được bên ngoài cửa sổ của quán mì Tây Bắc. Nàng thổi một tiếng sáo hiệu, Tạ Như Vận vốn đang chờ đợi trong cơn mơ màng, vừa nghe thấy tín hiệu liền sực tỉnh, không nói hai lời lập tức thổi tắt đèn. Nhìn thấy một bóng đen từ cửa sổ lăn vào, nàng ta liền thắp đèn trở lại rồi nhìn về phía Minh Di.
“Ngươi đi đâu thế?” Nàng ta hạ thấp giọng hỏi.
Minh Di sợ nàng ta lo lắng nên lấy tay che đi chỗ bị thương, đầu tiên là nhìn thoáng qua Thất công chúa, thấy người vẫn đang ngủ yên giấc thì mới yên tâm trở lại, nàng quay sang hỏi Tạ Như Vận: “Y phục của ta đâu?”
Tạ Như Vận lập tức rút y phục từ ngăn kéo chiếc án thấp bên cạnh đưa cho nàng. Minh Di nhanh chóng cởi bỏ dạ hành y, khoác chiếc áo da cài vạt chéo lên người. Chính trong lúc cởi ra mặc vào ấy, Tạ Như Vận đã ngửi thấy một mùi máu tanh thoang thoảng.
“Ngươi bị thương sao?”
Minh Di lập tức cài cúc áo lại rồi bình thản nói: “Chỉ là chút vết thương ngoài da thôi, không có gì đáng ngại đâu.”
Tạ Như Vận cuống quýt hỏi: “Ngươi đã đi làm gì thế?”
Minh Di liếc mắt nhìn nàng ta một cái rồi trách mắng: “Chuyện không nên hỏi thì đừng hỏi, sau này cũng vậy.”
Tạ Như Vận chạm phải ánh mắt thâm trầm của nàng thì đột ngột ngậm miệng lại. Chẳng hiểu vì sao, cái phong thái nói một là một hai là hai trên người Minh Di luôn có thể dễ dàng trấn áp người khác.
“Được được, sau này ta không hỏi nữa, có việc gì ngươi cứ dặn dò ta là được. Đúng rồi, lúc nãy ngươi chẳng ăn được bao nhiêu, hay là gọi thêm chút đồ ăn đêm nhé? Chẳng là hôm nay ngày hai mươi, cha ta trực đêm ở Đô Sát Viện, ta cũng phải chuẩn bị ít đồ ăn đêm để gửi vào…”
“Đợi đã, hôm nay là ngày hai mươi?” Trong đầu Minh Di bỗng nhiên lóe lên một chút linh cảm chẳng lành.
Hỏng bét rồi, nàng quên mất ngày hai mươi chính là ngày chung phòng.
Liếc nhìn chiếc đồng hồ nước ở góc tường thì đã là cuối giờ Tuất, nàng e rằng lại bị Bùi Việt bắt quả tang mình ra ngoài giữa đêm nữa rồi.
Minh Di lập tức nhấc chân bước thẳng ra ngoài: “Thất công chúa giao lại cho ngươi đấy, ta phải về đây!”
Tạ Như Vận quay đầu gọi giật nàng lại: “Ngươi vội cái gì, ta còn phải đưa ngươi về kia mà!”
Minh Di thầm nghĩ không còn kịp nữa rồi: “Ta tự về được.”
“Hôm nay ngươi cũng đã đến tận đây rồi, còn chuyện gì mà phải vội vàng như thế?”
Minh Di dẫu sao cũng không thể nói cho nàng ta biết là mình đang vội về để chung phòng với phu quân…
Nàng chắp tay tạ lỗi với Tạ Như Vận: “Tạ cô nương, những việc còn lại đều trăm sự nhờ ngươi, ta phải về trước đây.”
Nói xong, nàng choàng mũ trùm lên đầu rồi sải bước vòng qua bức bình phong.
Tạ Như Vận tức đến mức mắng mỏ: “Kiếp trước chắc ta mắc nợ huynh muội nhà ngươi rồi!”
Hết huynh trưởng khiến nàng ta phải thủ tiết, lại đến tiểu muội bắt nàng ta phải đi dọn dẹp đống rắc rối này.
Người nhà họ Bùi làm việc thực sự rất chu toàn. Tuy nói là Minh Di ngồi xe ngựa của Tạ Như Vận để ra ngoài, nhưng quản gia vẫn sắp xếp thêm một cỗ xe ngựa nữa đi theo để dự phòng điều bất chắc. Quả nhiên lúc này lại dùng đến, Minh Di rời khỏi gian phòng riêng, dẫn theo nhóm nha hoàn của nhà họ Bùi đang chờ sẵn ở đây xuống lầu, lên xe trở về phủ.
Ở trên xe ngựa, nàng cởi bỏ áo choàng rồi nhìn lướt qua vết thương. Thương thế không quá nghiêm trọng, nhưng vẫn bị lẹm mất một miếng thịt, may mắn là không có độc. Minh Di tìm hòm thuốc thường được trang bị sẵn trên xe ngựa, sau đó bôi một chút thuốc lên.
Khi trở về đến cổng phủ, Thanh Hòa cũng vừa kịp quay lại. Chủ tớ hai người trao nhau một ánh mắt, xác nhận mọi việc đã ổn thoả, cả hai đều không nói gì.
Tối nay đi ra ngoài đã báo trước với mẹ chồng, nên khi về phải qua thưa gửi một tiếng. Vừa bước chân vào cửa, Minh Di đã hỏi liệu Tuân thị đã đi ngủ chưa. May mắn thay, Tuân thị không phải kiểu mẹ chồng hay gây khó dễ, bà đã dặn dò một vị ma ma đứng đợi sẵn ở cổng chính.
“Ý của phu nhân là đêm lạnh gió buốt, Thiếu phu nhân hãy về nghỉ ngơi đi, không cần qua thượng phòng thỉnh an nữa.”
Minh Di cũng không khách sáo mà đi thẳng về Trường Xuân Đường. Khi về, nàng cố ý đi ngang qua trước thư phòng của Bùi Việt, nghe ngóng được Bùi Việt vẫn còn ở đó thì mới thở phào nhẹ nhõm, lập tức trở về hậu viện tắm rửa thay quần áo.
“Vì trên người có vết thương nên Minh Di không gọi Phó ma ma vào hầu hạ mà bảo Thanh Hòa vào giúp một tay.
Lúc chờ nàng cởi y phục, Thanh Hòa quỳ xuống kiểm tra thương thế: “Cô nương, mất một miếng thịt luôn rồi, vẫn còn đang chảy máu đây này!”
“Đi lấy ít bột cầm máu lại đây.”
“Vâng!”
Minh Di có một hộp thuốc để ở gian bên, Thanh Hòa đi lấy thuốc cho nàng, lúc đi ra thì vừa vặn đụng mặt Bùi Việt đang vén rèm bước vào phòng. Bùi Việt vốn không thích có người lạ ở trong phòng ngủ, nhìn thấy Thanh Hòa thì hơi ngẩn ra một chút.
Thanh Hòa lặng lẽ nắm chặt lọ bột cầm máu trong lòng bàn tay, hơi nhún người hành lễ với chàng, cũng chẳng đợi chàng phản ứng mà vội vàng đi thẳng vào phòng tắm.
Bùi Việt nhận ra người này đang hầu hạ Minh Di thay đồ nên cũng không bận tâm. Chàng vốn đã tắm rửa ở thư phòng rồi, nên đi thẳng về phía giường, thấy dáng vẻ Minh Di chắc còn lâu mới xong, chàng bèn tiện tay cầm lấy một cuốn sách lên đọc.
Thanh Hòa vào phòng tắm liền bĩu môi ra phía ngoài, ra hiệu cho Minh Di biết Bùi Việt đã về. Minh Di thầm đưa tay lên trán thở dài. Vì trên người có vết thương nên không tiện ngâm mình trong bồn tắm, nàng chỉ có thể nhờ Thanh Hòa giúp mình dội rửa qua loa, thế nên lần tắm này có chút vất vả. Sau khi tắm xong và mặc y phục, Thanh Hòa đã bôi thuốc cho nàng, lúc này đã cầm máu được rồi, thế nhưng…
Thanh Hòa hít hà một chút, rồi chỉ tay vào vết thương, ý muốn nói là vẫn còn mùi máu tanh.
Hỏng bét rồi.
Bùi Việt là người có khứu giác rất nhạy bén, chưa biết chừng sẽ ngửi thấy mất. Minh Di ghì nhẹ vào gáy Thanh Hòa, ghé tai nàng ấy dặn dò khe khẽ: “Đi lấy rượu Đồ Tô lại đây.” Bình rượu Đồ Tô mà Tạ Như Vận tặng nàng vẫn đang được Thanh Hòa cất giấu.
Thanh Hòa nhìn nàng một cái nhưng không nhúc nhích, rõ ràng là không đồng ý.
Minh Di trừng mắt lườm nàng ấy, lúc này Thanh Hòa mới lén lút chuồn ra ngoài. Một lát sau, nàng ấy xách bình rượu đó đi từ phía đường hẻm vào. Minh Di không nói hai lời, lập tức rút nút bình rượu rồi dốc ngược bình đổ thẳng vào vết thương. Một cơn đau thấu xương xuyên thẳng lên đại não, đau đến mức nàng suýt nữa thì hoa mắt chóng mặt. Thanh Hòa không đành lòng nhìn tiếp, đỏ hoe mắt quay mặt đi chỗ khác.
Như vậy, mùi rượu đã át đi mùi máu tanh. Minh Di hít sâu một hơi và giao bình rượu lại cho Thanh Hòa, sau đó mới thu xếp ổn thỏa rồi đi về phía phòng ngủ.
Bùi Việt vừa cảm thấy khát nước nên đứng dậy ra ngoài bình phong uống nước, khi quay lại thì vừa lúc thấy Minh Di vén rèm che, bước lên giường bạt bộ.
“Hôm nay lại đi ra ngoài à?”
Chàng hiển nhiên là đã nhận được tin tức từ chỗ quản gia.
Minh Di cũng không ngạc nhiên khi chàng biết chuyện, nàng nằm xuống phía bên trong trước, rồi nghiêng người đối mặt với chàng: “Chàng đoán không ra đâu nhỉ? Thất công chúa nhờ Tạ Như Vận mời thiếp đi dự tiệc, nói là để tạ lỗi với thiếp.”
Bùi Việt rõ ràng là không ngờ tới chuyện này, chàng hỏi nàng: “Nàng có muốn uống nước không?”
“Lúc nãy thiếp đã uống rồi.”
Bùi Việt bèn thổi tắt đèn rồi tiến về phía giường. Trong bóng tối, chàng có thể cảm nhận được đôi mắt của Minh Di đang nhìn chằm chằm về phía mình, ánh nhìn vô cùng linh động.
Chàng bước lên giường, hạ rèm xuống, lật chăn rồi nằm vào trong. Vì đã là ngày hẹn cùng phòng nên chàng cũng không chút do dự, Bùi Việt tự nhiên đưa tay ra và ôm lấy eo nàng.
Ngay lập tức, một mùi rượu nồng xộc thẳng vào mũi, Bùi Việt nhíu mày hỏi: “Uống rượu à?”
Minh Di bình thản giải thích: “Chuyện này không trách thiếp được. Thiếp đã năm lần bảy lượt nói mình không biết uống, nhưng Thất công chúa lại bảo nếu thiếp không uống là không nể mặt nàng ấy, thiếp sao có thể từ chối được, đành phải uống cùng vài ly.”
Minh Di nói như vậy, thực chất cũng có mục đích riêng của mình.
Nàng hy vọng Bùi Việt sẽ chê mùi rượu trên người mình mà dời chuyện cùng phòng sang ngày hôm sau.
Vết thương tuy đã được dội rượu vào để khử mùi, nhưng cái đau thì vẫn là đau thật.
Bùi Việt khựng lại, dán mắt vào nàng, một hồi lâu không nói lời nào.
Minh Di đoán chắc là chàng đang cân nhắc.
Mà Bùi Việt quả thực đang cân nhắc thật.
Xưa nay chàng vốn dĩ chẳng ưa gì mùi rượu. Đối với chàng mà nói rượu chè chỉ hại thân, say sưa chỉ hỏng việc, phàm là những kẻ nghiện rượu đều không cùng đường với chàng.
Thế mà giờ đây lại cưới phải một cô vợ “sâu rượu”.
Đúng là vừa đau đầu vừa bất lực.
Có lẽ ông trời thấy chàng sống quá đỗi quy củ, nên mới đưa một người như thế này đến để mài giũa chàng đây mà.
Chàng đành phải chấp nhận số phận vậy.
Đã mấy ngày rồi không gần gũi, chàng cũng chẳng phải là không muốn. Phu thê mới cưới nên khó tránh khỏi có chút nôn nóng và thèm muốn.
Bùi Việt siết chặt cánh tay, kéo Minh Di vào lòng mình rồi phủ lên làn môi của nàng.
Hơi thở nóng bỏng ập đến, Minh Di nhắm mắt lại. Thấy chàng không hề thay đổi ý định nên nàng cũng chỉ đành chấp nhận, dứt khoát vòng tay ôm lấy cổ chàng, treo mình trên người chàng để mặc cho chàng dày vò và nghiền ngẫm.
Bùi Việt lưu luyến bên làn môi nàng một lát, rồi bỗng nhiên dừng lại.
Không đúng. Trong miệng nàng chẳng hề có vị rượu. Nếu không uống rượu, thì lấy đâu ra mùi rượu nồng nặc đến thế này?