Hầu Môn – Chương 85 – 86

Chương 85

Đối mặt với yêu cầu vô lý của cậu, Sào Chính Quần dứt khoát từ chối: “Không được!”

Ông giận đến mức đứng phắt dậy, chẳng màng đến lễ nghĩa quân thần mà nắm ngược lấy tay cậu. Sắc mặt của ông đầy đau xót, giọng điệu khẩn thiết: “Điện hạ, nàng bây giờ đang là Thiếu phu nhân của Bùi gia! Nhà họ Bùi vốn không dính líu đến tranh chấp đảng phái, nếu lỡ như có kẻ nhìn thấy hai người qua lại với nhau, người định đặt Bùi Việt vào vị trí nào? Hiện tại từng bước đi của nàng đã khó khăn lắm rồi, chúng ta đừng gây thêm phiền phức cho nàng nữa có được không?”

“Chưa nói đến chuyện khác, cứ lấy vụ án của Hầu gia làm ví dụ. Năm xưa dù trên lệnh truy nã không có tên của nàng, nhưng hồ sơ của nàng vẫn còn lưu trong Cẩm Y Vệ đấy thôi. Một khi thân phận bại lộ, người thử nói xem Cao Húc liệu có thể không bắt nàng sao?”

Chu Thành Dục nghe xong thì trong lòng lập tức cảm thấy hổ thẹn khôn cùng. Cậu thu lại những toan tính riêng tư kia, vô cùng tự trách mà nói: “Phải, Sào thúc dạy bảo rất đúng, là ta đã hồ đồ rồi. Ta không nên gặp tỷ ấy, cũng tuyệt đối không thể gặp tỷ ấy!”

Thấy cậu chịu nghe lời khuyên, Sào Chính Quần mới thở phào nhẹ nhõm: “Đêm đã khuya rồi, người mau chóng hồi cung đi, hãy yên tâm hầu hạ thánh thượng. Còn về phần Lận Nghi tiểu thư, đợi đến khi vụ án được điều tra làm rõ, nhà họ Lý được minh oan thì nàng có thể danh chính ngôn thuận trở về Lý gia. Đến lúc đó người muốn gặp thế nào mà chẳng được, thậm chí có sang ở hẳn bên Lý gia cũng chẳng ai cấm.”

Chu Thành Dục nghe ông nói vậy thì không nhịn được cười. Quả thực, cậu đã từng có thời gian sống tại Lý gia.

Trước khi rời đi, thiếu niên ấy cứ đi một bước lại ngoảnh đầu nhìn lại ba lần, vẫn chưa chịu từ bỏ ý định mà hỏi lại: “Sào thúc, người đó thực sự là Lận Nghi sao?”

“Sao lại không phải cho được? Ta ở Túc Châu hơn hai mươi năm trời, lẽ nào lại có thể nhìn nhầm hay sao?” Sào Chính Quần cuống đến mức giậm chân, chỉ thiếu nước đẩy cậu ra ngoài: “Người mà không tin thì cứ gửi một hộp hoa lụa đến đó đi, ta bảo đảm lần tới gặp nàng sẽ đeo cho người xem. Mà này, nha đầu đó trông xinh đẹp lắm đấy, trên người lại có khí chất hào sảng của con nhà võ, người mà gặp chắc chắn sẽ thích thôi.”

Chu Thành Dục hiện giờ đã hoàn toàn từ bỏ ý định gặp mặt ngay, cậu hỏi: “Vậy thúc có hỏi chưa, tại sao năm xưa biểu tỷ Lận Nghi không trở về kinh thành?”

Sào Chính Quần nghe vậy thì sắc mặt bỗng nhiên thay đổi, trở nên có chút thê lương: “Người hẳn là nên hiểu rõ, năm xưa Hầu phu nhân vốn không yêu thương tiểu thư, đã vứt bỏ nàng ấy ở vùng thôn quê mà mặc kệ không quan tâm đến.”

Ông ấy bất bình thay cho Minh Di: “Bị mẹ đẻ bỏ rơi, thử hỏi đứa trẻ nào có thể chịu đựng được? Thế nên Lận Nghi tiểu thư từng thề sẽ không bao giờ trở về kinh thành. Nếu không phải vì muốn minh oan cho quân Túc Châu, thì tiểu thư cũng sẽ không lộ diện. Đúng rồi, quên chưa nói cho điện hạ biết, Lận Nghi tiểu thư cũng xuất thân từ Liên Hoa Môn, là một trong những truyền nhân của ‘Song Thương Liên Hoa’. Người không biết đâu, Song Thương Liên Hoa nếu được cặp song sinh tâm đầu ý hợp đồng thời sử dụng thì sẽ phát huy uy lực lớn nhất. Trận chiến Túc Châu năm ấy, Lận Nghi tiểu thư cũng có mặt ở đó, nếu không đã chẳng có chiến thắng lẫy lừng đến vậy. Chỉ thương cho hai huynh muội bọn họ, một người chết, một người bị thương, kết thúc trong cảnh thê lương…”

Đêm đã khuya, Chu Thành Dục được hai tiểu nội thị dìu lên xe ngựa với bước chân loạng choạng. Cơn gió cuối xuân đập vào mặt, lẽ ra phải ấm áp dịu dàng, nhưng cậu lại cảm thấy từng cơn lạnh lẽo. Nỗi hận và niềm đau từ tận xương tuỷ tuôn trào ra như nham thạch, khiến gương mặt cậu biến sắc, chuyển từ đỏ gay sang tím tái. Cậu ngồi cô độc trong xe ngựa, gục mặt vào đôi bàn tay mà khóc nức nở.

Xe ngựa không đi về hướng hoàng cung, mà lại chuyển hướng hướng về phía Lý phủ.

Đêm ấy, Chu Thành Dục ở bên cạnh ngoại tổ mẫu, cậu tựa vào người bà, ngủ một giấc say nồng cho đến tận bình minh.

Thiếu niên mười tám tuổi dường như có một nguồn năng lượng vô tận. Mỗi ngày khi trời còn chưa sáng, cậu đã thức dậy vào cung hầu hạ Đế – Hậu. Xong xuôi một việc Hoàng đế giao phó, cậu lại chẳng nghỉ ngơi mà vội vàng xin thêm việc khác. Đêm xuống, sau khi lo xong xuôi mọi sự, cậu vẫn phải ghé qua Lý phủ một chuyến để trò chuyện cùng ngoại tổ mẫu, rồi mới trở về Vương phủ của mình.

Có đôi khi ngay cả Hoàng đế cũng cảm thấy mệt thay cho cậu, ông ấy bèn ái ngại hỏi: “Con không thấy mệt sao?”

“Dạ không mệt!” Thiếu niên giơ tay quệt đi lớp mồ hôi trên trán, nhìn Hoàng đế rồi gãi đầu cười nói: “Ba năm ở trong Vương phủ, con bị nhốt đến phát ngốt rồi.”

Hoàng đế cạn lời rồi bật cười thành tiếng. Đến tận lúc này, ông ấy mới thực sự nảy sinh vài phần hối hận vì sự nhẫn tâm của mình năm xưa.

Vài trận mưa rào kèm sấm chớp đã tiễn đưa những ngày cuối xuân đi, ngày tháng cứ thế trôi qua, chẳng mấy chốc đã tới đầu hạ, thấm thoát cũng đã hơn nửa tháng rồi.

Gần đây trong triều sóng yên biển lặng, hai vị hoàng tử cư xử với nhau cực kỳ hòa thuận. Triều đình cũng nhờ việc Thất hoàng tử trở về mà mang một bầu không khí mới mẻ. Kể từ ngày Hoàng đế hạ chỉ cho phép Bùi Việt và Tạ Lễ tiếp nhận vụ án của Lý Tương, thì Tạ Lễ đã đích thân đến Bắc Trấn Phủ Ty, mang toàn bộ hồ sơ, lời khai nhân chứng và vật chứng từ ba năm trước về Đô Sát Viện.

Trong nửa tháng ròng rã, hai vị chủ thẩm đã tỉ mỉ rà soát lại toàn bộ tình tiết vụ án, cố gắng tìm ra sơ hở chứng minh Lý Tương bị hàm oan, nhưng đáng tiếc là không tìm thấy gì.

Đêm hôm ấy sau khi trở về phủ, Bùi Việt gọi Minh Di đến thư phòng rồi kể mọi chuyện lớn nhỏ cho nàng nghe: “Trọn vẹn ba trăm bản khẩu cung, chúng ta đã đối soát hoàn tất, thậm chí còn tìm được những nhân chứng có mặt tại hiện trường năm đó để xác minh lại một lần nữa. Kết quả là lời khai của họ không hề có sai lệch đáng kể nào. Có thể thấy, việc phụ thân nàng thực sự đã tiến vào quân trướng của người Bắc Yến năm đó là sự thật khó lòng chối cãi.”

“Ngoài nhân chứng ra thì vật chứng cũng hiện hữu đầy đủ. Năm đó, sau khi tin tức phụ thân nàng phản quốc truyền đi, hai vị quan viên của Lễ bộ chúng ta đã lên đường sang Bắc Yến để giao thiệp, yêu cầu bọn chúng thả người. Đáng tiếc là điều kiện phía Bắc Yến đưa ra quá đỗi khắc nghiệt nên không thể đạt được thỏa thuận. Thế nhưng, cuối cùng bọn chúng vẫn gửi trả một bộ giáp trụ cho đại Tấn. Bộ giáp này là do đích thân Bệ hạ ban tặng, trong toàn quân chỉ có duy nhất một bộ, tuyệt đối không thể làm giả được.”

“Cao Húc chính là dựa vào những nhân chứng và vật chứng này để định tội cho cha nàng.”

“Ta cũng đã mượn dịp mở lại cửa ải giao thương để dò hỏi tin tức từ đại sứ Bắc Yến là Ô Chu Thiện, hỏi lão về quãng thời gian Lý Tương ở Bắc Yến. Lão nói rằng mọi việc liên quan đều do một nữ tướng quân phụ trách tình báo dưới trướng Nam Tĩnh Vương tiếp nhận, những người như lão hoàn toàn không được hay biết gì.”

“Ta suy đoán rằng, nếu cha nàng thực sự không bị hàm oan, và người ngồi trong ngục năm đó đúng là bản thân ông ấy, vậy thì rất có khả năng phía Bắc Yến đã dùng một lý do nào đó mà ông ấy không thể khước từ để dụ ông ấy vào quân trướng, từ đó tạo ra hiện trường giả về việc ông ấy phản quốc.”

“Còn nếu cha nàng bị hàm oan, tức là ông ấy hoàn toàn chưa từng đặt chân vào quân trướng Bắc Yến, vậy thì rất có khả năng đã có kẻ mạo danh ông ấy.”

“Nếu cha nàng mắc tội phản quốc, thì người hưởng lợi lớn nhất chính là mấy vị trong triều kia. Thế nên dù là tình huống nào, ta đoán chắc chắn trong triều đình ta có kẻ cấu kết với Bắc Yến. Chỉ cần lần theo manh mối của người đưa tin, có khi sẽ tóm được đuôi cáo của đối phương.”

Minh Di nghe xong những lời ấy, ánh mắt hiện lên vẻ suy tư, nàng trầm ngâm: “Cả hai khả năng này đều không thể loại trừ.”

“Đúng rồi, ta nhờ gia chủ điều tra về Lưu gia, không biết việc đó tiến triển đến đâu rồi?” Võ công của Thanh Hòa tuy cao cường, nhưng nói đến việc thám thính tin tức thì suy cho cùng vẫn không thể so bì với các ám vệ của Bùi gia, thế nên cuối cùng việc này vẫn phải giao lại cho Bùi Việt.

Bùi Việt nghe vậy bèn kéo một ngăn kéo nhỏ dưới bàn án ra, đưa cho nàng một tờ công báo triều đình.

“Ta đã tra qua rồi, tổ quán của Lưu gia ở Nguyên Châu, vốn không phải là vùng kinh thương trù phú gì. Thế nhưng từ ba năm trước, tức là không lâu sau khi trận chiến Túc Châu kết thúc, gia đình này đột nhiên phất lên nhanh chóng, nắm trong tay mấy cửa hiệu tơ lụa ở Giang Nam. Ta đã sắp xếp nhân thủ tức tốc đến Giang Nam để điều tra danh tính chủ cũ của những cửa hiệu đó rồi.”

Minh Di rời khỏi giường sưởi, nhoài người nhận lấy tờ công báo. Nàng đọc nhanh như gió, rồi nghiến răng cười lạnh: “Có thể thấy rõ, Lưu gia này chắc chắn có vấn đề.”

Bùi Việt đứng dậy, vòng qua phía đối diện rồi ngồi xuống trước mặt nàng. Cánh cửa sổ được chống mở quá nửa, làn gió ấm thong thả lùa vào. Tiếng ve sầu ẩn nấp dưới mái hiên thỏa sức kêu râm ran, càng khiến đêm đầu hạ thêm phần oi bức.

“Nếu ta đoán không lầm, rất có khả năng Lưu gia đã bị kẻ nào đó mua chuộc rồi.”

“Liệu có khả năng là Hoài Vương không?” Minh Di ngước mắt hỏi chàng: “Hoài Vương là hạng người nham hiểm xảo quyệt, lại cực kỳ giỏi ngụy trang. Tục ngữ có câu ‘chó hay cắn thường không sủa’, thiếp thấy chính là hắn rồi.”

Bùi Việt cũng cảm thấy sự việc tám chín phần mười là như vậy, anh gật nhẹ đầu: “Ta đã cho người theo dõi chặt chẽ Hoài Vương phủ, để xem liệu hắn có qua lại mật thiết gì với Lưu gia hay không.”

“Không cần đâu.” Minh Di giơ tay từ chối, ánh mắt nàng nhìn chàng nồng đượm vẻ áy náy: “Gia chủ, việc điều tra án thì để chàng lo, nhưng những chuyện trong bóng tối thì hãy để thiếp làm. Thiếp không thể để chàng vấy bẩn vào những việc nhơ nhuốc đó được, bằng không nếu sau này có náo động lớn, thiếp sợ chàng sẽ không còn đường lui.”

“Chàng có thể giúp thiếp cứu được lão Thất, thiếp đã vô cùng cảm kích rồi. Những việc còn lại, nếu chàng có thể không nhúng tay vào thì tốt nhất đừng nhúng tay vào.”

Bùi Việt suy nghĩ kỹ một lát, cũng không khăng khăng thêm nữa: “Được thôi, vậy dưới tay nàng có người không?”

Minh Di mỉm cười: “Khắp kinh thành này, bao gồm cả nội uyển hoàng thành, Thanh Hòa đều có thể đi lại tự do. Còn ai thích hợp để theo dõi người khác hơn nha đầu đó cơ chứ?”

“Biết đâu con bé chê đầu bếp Bùi gia ăn mãi cũng chán, nên muốn sang phủ Hoài Vương để đổi khẩu vị thì sao?”

Bùi Việt nghe vậy thì dở khóc dở cười, hoàn toàn bị khuất phục trước phong thái coi nhẹ mọi chuyện của hai thầy trò nhà này, bèn nói: “Xem ra Bùi gia ta phải thay một loạt đầu bếp mới được.” Nếu không thì làm sao giữ chân người ta cho nổi?

“Không cần đâu.” Vừa nói Minh Di vừa liếc nhìn chiếc đồng hồ nước đặt cạnh chiếc bàn cao nơi góc tường, đã gần đến giờ Hợi, nàng liền đứng dậy cười nói: “Thiếp chỉ là nói đùa thôi, gia chủ không cần để tâm đâu. Đầu bếp Bùi gia đã có tới mười tám người, hội tụ đủ mùi vị của khắp năm châu bốn biển, thiếp hài lòng lắm rồi. Nếu còn thay đổi nữa, thiếp e là sẽ không tìm được nơi nào thích hợp hơn đâu.”

Bùi Việt thổi tắt đèn, hai người cùng sóng bước đi ra ngoài.

Lại là một ngày trăng tròn.

Đĩa bạc treo cao giữa không trung, ánh trăng như dải lụa bạc tuôn tràn.

Cơn gió nhè nhẹ thổi lay vạt áo, tà áo hai người va chạm vào nhau, lướt qua mu bàn tay của đối phương mang theo cảm giác hơi ngứa ngáy. Nương theo cái chạm ấy, ngón út của Minh Di theo bản năng khẽ móc vào lòng bàn tay của chàng, níu chặt lấy một ngón tay không buông. Thấy chàng không hề phản kháng, nàng liền được nước lấn tới, một ngón, hai ngón, rồi ba ngón, gom hết cả vào lòng. Cuối cùng nàng xoay lòng bàn tay, mười ngón đan xen qua kẽ tay của chàng, cùng chàng nắm chặt không rời.

Sự nghịch ngợm của nàng, Bùi Việt thấy cũng chẳng phải chỉ một hai lần.

Chàng liếc mắt nhìn nàng, tiểu cô nương dưới ánh trăng ấy có phong thái tự tại thong dong. Nàng ngước mắt nhìn lên bầu trời bao la sâu thẳm, ánh mắt sáng rực rỡ, tựa như chứa đựng cả gấm vóc giang sơn, chẳng thấy chút tình tứ sướt mướt nào của cảnh mặn nồng đôi lứa.

Đầu ngón tay của nàng vẫn tiếp tục đùa nghịch, Bùi Việt liền nắm chặt lấy tay nàng.

Phía bên kia khu vườn, vài tiếng cười nói lọt qua lùm cây, vượt mặt nước truyền tới. Tiếng tim đập thình thịch của hai người bị những thanh âm tạp loạn ấy che lấp đi.

Một mặt Minh Di dùng lòng bàn tay khẽ mơn trớn tay chàng, mặt khác lại đang suy tính về vụ án: “Thả kẻ báo tin ra rồi bí mật sai người theo dõi, cứ thế mà lần theo dấu vết tìm tận gốc rễ.”

Bùi Việt gật đầu: “Vừa khéo, thời hạn lấy cớ giam giữ ban đầu cũng đã đến lúc, đúng là nên thả người rồi.”

Bước qua cánh cửa nhỏ vào đến sân trước Trường Xuân Đường, Minh Di hỏi chàng: “Tình hình của cha thiếp thế nào rồi?”

“Hơn hai mươi ngày qua, thái y đã châm cứu ba lần, chứng độc trên lưỡi đã thuyên giảm rõ rệt. Tạm thời vẫn chưa thể nói chuyện, chỉ có thể phát ra mấy tiếng ư ư mà thôi.”

“Có cách nào để thiếp vào gặp ông ấy một lần không?”

Chỉ có tự mình kiểm tra, nàng mới biết được đó có phải là cha mình hay không.

Bùi Việt khẽ thở dài một tiếng, ánh mắt nhìn xuống dưới chân, dắt tay nàng bước đi thật chậm: “Người đang bị giam ở Cẩm Y Vệ nên việc ra vào không hề dễ dàng. Ta đã đến đó hai chuyến, phát hiện các cánh cửa của Cẩm Y Vệ đều có thiết lập cơ quan, từ bên ngoài không thể mở được. Hơn nữa mỗi lớp cửa đều là cửa đá, đao thương không lọt, pháo hỏa không xâm phạm được. Một khi Cao Húc phát hiện có điều bất thường, hắn có thể chặn đứng và nhốt nàng ở bên trong bất cứ lúc nào. Nàng hãy cho ta chút thời gian, để ta nghĩ cách xem sao.”

Minh Di nghe thấy phiền phức như vậy thì không dám khinh suất làm phiền đến Bùi Việt, sợ rằng sẽ khiến chàng lún sâu vào thế nguy hiểm.

“Thôi bỏ đi, chuyện này để sau hãy nói.”

Nhưng trong lòng nàng lại thầm nghĩ, so với Bùi Việt thì có một người ra vào Cẩm Y Vệ còn thuận tiện hơn nhiều, đó chính là Thất công chúa.

Với tính cách ngang ngược của Thất công chúa, nếu nàng ta muốn đi gặp cữu cữu của mình thì cũng là chuyện hợp tình hợp lý. Đến lúc đó, nàng giả làm nữ quan của Thất công chúa đi theo vào, chẳng phải là vẹn cả đôi đường sao, mà lại không làm liên lụy đến Bùi Việt.

Đêm mỗi lúc một khuya, những giọt sương trên lá cây ngọn cỏ lặng lẽ ngưng tụ thành hạt, phản chiếu ánh trăng tỏa ra tia sáng nhạt nhòa.

Hai người cùng dắt tay nhau về phòng, vạt áo lướt sát vào nhau. Ánh mắt của họ khẽ chuyển động, tuy nhìn qua trông thật bình thản không chút gợn sóng, nhưng lại có sức lay động lòng người. Trong mắt Phó ma ma, đây chính là một đôi tiên đồng ngọc nữ giữa nhân gian.

Trước mặt người ngoài, họ luôn giữ kẽ và kiềm chế, là một cặp phu thê với những cử chỉ ôn hòa nhã nhặn. Nhưng sau lưng thì hoàn toàn ngược lại. Mỗi khi ánh đèn vụt tắt, dưới sự bao phủ của bóng đêm, họ trút bỏ lớp mặt nạ ngụy trang, nóng lòng lao vào nhau, tranh đoạt và quấn quýt, va chạm mãnh liệt, dường như chỉ có cách này mới có thể xác nhận đối phương thuộc về mình. Không ai chịu thua ai, tựa như muốn vắt kiệt sức lực của nhau; cũng không ai nhắc đến chuyện mai sau, giống như mỗi một lần bên nhau đều là lần cuối cùng.

Chu Thành Dục rất nghe lời khuyên nhủ. Thời gian qua, cậu dốc lòng phụng dưỡng Đế – Hậu, tình cảm cha con vô cùng tốt đẹp, tựa như đã quay trở lại thuở ban đầu. Thậm chí đôi khi Hoàng đế mệt mỏi, còn triệu cậu vào thư phòng để giúp xem tấu chương. Ban đầu Chu Thành Dục cũng đã từ chối vài lần, nhưng thấy Hoàng đế kiên quyết nên cậu không còn cách nào khác. Cậu ôm một chồng tấu chương, ngồi sau chiếc bàn nhỏ rồi cẩn thận cân nhắc từng chữ để đọc, gặp chỗ nào không hiểu, Hoàng đế luôn kiên nhẫn chỉ dạy cho cậu.

Thế nhưng Hoàng đế vẫn cứ là Hoàng đế, ngoài việc thương yêu Chu Thành Dục thì ông cũng không hề ghẻ lạnh Hoài Vương. Ông giao Công bộ cho Hoài Vương quản lý, mà đây lại là nơi nắm giữ thực quyền. Trong mắt các triều thần, một vòng xoáy kiềm chế lẫn nhau mới lại bắt đầu.

Thế nhưng, vị Trường sử của Hoài Vương phủ lại tỏ ra vô cùng bất mãn: “Bệ hạ thật đúng là khéo tính toán. Đứa con bảo bối thì mang theo bên người ở điện Phụng Tiên để xem tấu chương, dạy cho cách điều hành chính sự; trái lại đem cái đống hỗn độn ở Công bộ quăng cho ngài. Những việc không thể lộ ra ngoài, những việc bẩn thỉu mệt nhọc, tất thảy đều là ngài đang làm thay hắn ta. Điện hạ, đến tận ngày hôm nay, thần không nhịn được mà suy nghĩ rằng: Chẳng lẽ Bệ hạ đang lấy Hằng Vương và ngài ra làm đá mài dao cho Thất hoàng tử hay sao?”

Đề bạt các vị hoàng tử khác, lấy đó làm công cụ để rèn giũa Thái tử.

Thủ đoạn loại này, trong lịch sử vốn chẳng hề hiếm gặp.

Hoài Vương lặng lẽ ngồi trên giường La Hán, lòng bàn tay xoay vần hai viên dạ minh châu, đôi mắt nheo lại hẹp dài, cười như không cười. Trong lòng hắn đương nhiên cũng chẳng hề dễ chịu, nhưng ngoài mặt vẫn tỏ ra bình thường: “Việc ở Công bộ, ngươi đi lo liệu đi, nhất định phải tìm mấy kẻ và mấy việc không mấy nổi bật để ra tay lấy lệ, làm ra chút thành tích cho người ta xem. Sẵn dịp này hãy trừ khử những kẻ bất đồng chính kiến, hiểu rõ chưa?”

“Ngoài ra, phía Ty lễ giám cũng phải lo liệu cho chu toàn, đừng đắc tội với bọn họ.”

“Thần đã hiểu. Chỉ là Vương gia, chuyện của Công Bộ, ngài không đích thân nắm quyền quản lý sao?”

Hoài Vương chậm rãi ngước mắt nhìn hắn, nụ cười vẫn ôn hòa như trước: “Bản vương còn có việc quan trọng hơn phải làm.”

Sau khi cho Trường sử lui xuống, nụ cười trên mặt Hoài Vương đã tan biến sạch sành sanh. Hắn gọi ám vệ đến và hỏi: “Người đó đã tới chưa?”

Đã tới rồi ạ, một tuần trà trước đã tới gác Tây.

Hoài Vương gật đầu, đặt tay lên cánh tay của ám vệ để bước xuống giường La Hán. Hắn nắm chặt hai viên dạ minh châu, rồi sải những bước chân vững vàng đi về phía gác Tây.

Đây là một gian gác nhỏ cao hai tầng với phần mái chóp nhọn, trang trí không mấy lộng lẫy nhưng lại là nơi thâm nghiêm kín kẽ nhất trong Hoài Vương phủ. Bao quanh gác là cây cối xanh rì, vô số ám vệ ẩn mình trên những ngọn cây để canh phòng, đến một con muỗi cũng không thể lọt vào. Nơi này có một mật đạo thông thẳng đến một sân vườn tầm thường không ai chú ý ở bên ngoài phủ, người kia chính là đi qua mật đạo đó để vào trong Vương phủ.

Hoài Vương để người hầu hạ bước vào trong nhà, sau đó gạt tay ám vệ ra rồi một mình đi lên lầu. Đầu tiên, hắn liếc nhìn về phía gian gác hướng Nam nhưng không thấy bóng người; sau khi tìm một vòng, cuối cùng hắn mới trông thấy người đó ở căn phòng nghỉ phía Tây.

Chỉ thấy người đó khoác trên mình một bộ y phục đen tuyền, đầu đội mũ trùm, cả khuôn mặt ẩn khuất trong bóng tối khiến người ta chẳng thể nhìn rõ đường nét. Nghe thấy tiếng bước chân của Hoài Vương, đối phương cũng chẳng buồn ngẩng đầu lên, chỉ thong thả đẩy chén trà đã rót sẵn về phía đối phương, giọng nói mang theo vẻ bất mãn: “Chẳng phải đã giao hẹn là sẽ không bao giờ gặp lại nữa sao?”

Hoài Vương tiến đến ngồi xuống đối diện với gã, trước mặt người này, hắn không hề bày ra dáng vẻ của một vị Vương gia, mà chỉ bất lực nói: “Tiên sinh bớt giận, ta đây cũng là không còn cách nào khác. Bệ hạ ngày càng coi trọng Chu Thành Dục, hơn nữa vụ án của Lý Tương lại tiến triển cực kỳ nhanh. Bùi Việt là hạng người nào chắc tiên sinh cũng đã rõ, nếu cứ ngồi yên để hắn tiếp tục tra xét, e là cả ta và tiên sinh đều sẽ bị lật đổ.”

“Vương gia bớt hù dọa ta đi.” Người áo đen đối diện nói với giọng điệu không nhanh không chậm, trên người tỏa ra khí độ bình thản trước mọi biến cố, cứ như thể trời có sập xuống cũng chẳng mảy may ảnh hưởng đến gã: “Chuyện năm xưa tại hạ chỉ là kẻ bắc cầu, sau cùng vẫn là Vương gia và bản thân hắn tự mình quyết định. Ta đã sớm rũ sạch liên can rồi, Vương gia không cần lấy chuyện năm xưa ra để gây áp lực với ta.”

“Ta không có ý đó.” Hoài Vương vội vàng phủ nhận, ngay cả khi đối diện với Hoàng đế hắn cũng chưa từng cẩn trọng dè dặt đến mức này. Nụ cười của hắn thoáng hiện lên chút khổ sở: “Chẳng phải là vì đã lâm vào đường cùng rồi sao, nên mới phải đến cầu xin tiên sinh giúp đỡ. Dù sao thì ngài cũng không muốn nhìn thấy ta sụp đổ, đúng chứ?”

Người áo đen kia thầm nghĩ, Hoài Vương cũng chẳng phải hạng tốt lành gì, có sụp đổ hay không cũng không quan trọng. Thế nhưng tình hình hiện tại quả thực không thể để Bùi Việt tiếp tục điều tra được nữa. Một khi vụ án cũ bị lật lại, đối với gã thật sự chẳng có lợi lộc gì.

Thấy Hoài Vương hạ mình nài nỉ, giọng điệu của gã cũng dịu lại đôi chút: “Yên tâm đi, ta đã sớm vì ngài mà bày ra một nước cờ hiểm. Nay đã đến lúc phải cho chúng một bài học rồi.”

Ánh mắt của Hoài Vương chợt sáng lên, hắn vỗ mạnh hai tay vào nhau, vui mừng khôn xiết nói: “Ta biết ngay mà, chỉ cần tiên sinh ra tay thì chắc chắn sẽ mã đáo thành công. Không biết tiên sinh đã có tính toán gì?”

Người áo đen hơi nhướng mi, nhạt nhẽo liếc nhìn hắn rồi nói: “Chẳng phải bọn họ luôn nhìn chằm chằm vào kẻ báo tin không buông sao? Đó chính là quân cờ của ta. Nếu ta đoán không lầm, bọn họ nhất định đang mong chờ có thể từ kẻ báo tin đó mà thuận dây leo bầu, tra ra ta và cả Hoài Vương ngài nữa. Đã vậy, ta sẽ thiết lập cho bọn họ một trận chiến sinh tử.”

Giọng điệu bình thản, nhưng sát khí lại cuồn cuộn như sóng trào.

Từ trong đôi mắt lạnh lùng của gã, Hoài Vương ngửi thấy vài phần hưng phấn khát máu: “Vậy bản vương xin kính cẩn đợi tin thắng trận của tiên sinh.”

Chương 86

Người áo đen chẳng hề để tâm đến lời nịnh hót của hắn, trái lại, gã đưa tay vuốt mày rồi chìm vào suy tư: “Kể từ khi sứ thần vào kinh, vụ án của Lý Tương đã bắt đầu sóng cuộn gió trào. Ngay sau đó là Hằng Vương ngã ngựa, rồi đến việc quân Túc Châu cuối cùng cũng được minh oan, lại thêm Thất hoàng tử thoát khỏi cảnh ngục tù… Mọi chuyện diễn ra liên tiếp như chẻ tre. Nếu nói sau lưng những việc này không có kẻ đẩy thuyền dẫn lối, ta tuyệt đối không tin. Kẻ đứng sau đó, ta sẽ chịu trách nhiệm tìm ra giúp Vương gia, ta cũng sẽ tìm cách ngăn chặn bước chân tra án của Bùi Việt. Thế nhưng, điểm mấu chốt của vụ án này nằm ở chỗ diệt khẩu. Vương gia là người thông minh, chẳng lẽ còn cần ta phải dạy ngài cách hành sự sao?”

Chẳng đợi người áo đen nói hết câu, Hoài Vương đã sốt sắng xòe tay ra, tỏ vẻ vô cùng đồng tình: “Chẳng phải sao? Bản vương vẫn luôn tìm cách để khiến Lý Tương phải chết, nhưng đáng tiếc là giờ đây hắn lại bị phụ hoàng tống vào ngục Cẩm Y Vệ. Nơi đó cửa đá tầng tầng lớp lớp, đến một ngọn gió cũng chẳng lọt qua nổi. Ta đã nghĩ đủ mọi cách rồi mà vẫn chưa thể ra tay được.”

“Cứ nói như tên Cao Húc kia, ta đã sai người âm thầm liên lạc với hắn mấy lần rồi, vậy mà hắn cứ trơ mắt ra như mù như điếc, nhất quyết không thèm đếm xỉa tới, ta thì còn cách nào khác được cơ chứ?”

Người áo đen dường như rất bất mãn với chút bản lĩnh mọn của Hoài Vương, gã gằn giọng quát một tiếng: “Không có cách thì không biết đường mà nghĩ ra cách sao? Chỉ cần lôi kéo được Cao Húc, khiến Lý Tương phải chết, là ngài có thể kê cao gối mà ngủ rồi. Chỉ cần vụ án của Lý Tương không bị lật lại, thì với một người cữu cữu mang danh phản quốc, liệu Thất hoàng tử có thể bước lên ngôi cao được hay không?”

“Phải, phải, phải, tiên sinh nói rất có lý. Chẳng phải là hôm qua ta đã nghĩ ra cách rồi sao, ta vừa sai người bí mật gửi rất nhiều lễ vật đến căn nhà cũ của Cao Húc, chắc hẳn là sắp có hồi đáp rồi.”

Người áo đen lúc này mới yên tâm phần nào, nhưng vẫn không quên nhấn mạnh một câu: “Phải mau chóng lôi kéo được Cao Húc về phía mình, đảm bảo không được để xảy ra một sai sót nhỏ nào.”

“Tiên sinh cứ yên tâm, hiện giờ vụ án của Bùi Việt càng tra càng sâu, Cao Húc chưa biết chừng còn bất an hơn cả ta, hắn không trụ được lâu đâu.”

Hoài Vương quả nhiên liệu sự như thần, ngay sau khi mấy rương châu báu được gửi đến nhà cũ của Cao Húc, hắn đã nhận được tin báo ngay trong đêm đó. Cao Húc vội vội vàng vàng viết thư hồi âm cho Hoài Vương, cuối cùng, hai người hẹn gặp nhau vào ngày hôm sau tại một ngôi nhà hẻo lánh ở phía Nam thành.

Lúc bấy giờ đang là giữa trưa, nắng gắt trên cao, mặt nước nổi lên một lớp đốm sáng chói mắt. Sóng nước vừa dấy lên, lớp đốm sáng ấy tức khắc tan ra như những mảnh vàng vụn. Hoài Vương đội trên đầu một chiếc nón lá màu nâu, thong dong ngồi câu cá bên bờ ao. Hắn mặc một bộ xám bào, bên hông không treo ngọc bội mà chỉ giắt một cây sáo trúc, trông hệt như một đạo sĩ nơi núi rừng.

Cao Húc cũng cải trang một phen, hắn ta để một bộ râu quai nón rậm rạp che kín mặt, sải bước tiến về phía người đang ngồi bên bờ ao.

Đây là một gò đất không mấy bắt mắt, hai bên bờ đều là những bụi lau sậy mọc cao quá đầu người. Hai người ngồi trên chiếc ghế đẩu nhỏ, bóng dáng ẩn khuất sau những lùm lau sậy, nếu đứng từ xa nhìn lại thì chẳng thể thấy được gì hết.

Hoài Vương vẫn giữ nguyên tư thế ngồi câu không hề cử động, nhưng Cao Húc lại ngồi đối diện với hắn, mặt đỏ tía tai mà oán trách một câu: “Điện hạ đang làm cái gì thế này? Lại dám sai người gửi vàng bạc châu báu đến nhà cũ của thần, việc này nếu bị người khác phát giác thì cái đầu của thần sẽ không giữ nổi đâu.”

Hoài Vương khẽ giật giật dây câu trên cần, điềm nhiên cười nói: “Nếu không làm như vậy, sao có thể ép được Cao đại nhân lộ diện đây?”

Cao Húc đương nhiên biết rõ Hoài Vương suy tính điều gì, hắn ta thực lòng không muốn bị Hoài Vương kéo xuống nước, bèn tìm cớ giải thích: “Chẳng phải là thần không nể mặt điện hạ, mà thực sự là dạo gần đây Bệ hạ để mắt đến thần cực kỳ nghiêm ngặt. Ngài cũng biết đấy, Cẩm Y Vệ Đồng tri Diêu Hạc chính là tâm phúc của Bệ hạ, thần đi đến đâu hắn theo đến đó. Ở Cẩm Y Vệ, thần cũng đang bước đi trên băng mỏng, nên chẳng dám manh động.”

Đối với những lời than khổ này của Cao Húc, Hoài Vương hoàn toàn không hề lay chuyển. Hắn nhìn thẳng về phía trước, giọng nói cực kỳ lạnh nhạt: “Đại hoạ sắp ập đến đầu của Cao đại nhân rồi mà ngài vẫn chưa hay biết gì sao?”

Cao Húc chỉ nghĩ Hoài Vương đang dọa dẫm mình, mặt không đổi sắc đáp: “Điện hạ cứ khéo đùa, thần vẫn luôn làm đúng bổn phận công việc mà Bệ hạ giao cho, họa từ đâu mà đến cơ chứ?”

Hoài Vương nghe vậy cuối cùng mới dời mắt nhìn sang, ánh mắt trông có vẻ ôn hòa nhưng lại ẩn chứa mũi nhọn sắc bén: “Bệ hạ đã giao vụ án của Lý Tương cho Bùi Việt. Một khi lật lại bản án, Cao chỉ huy sứ thử đoán xem, kẻ đầu tiên bị kéo xuống ngựa sẽ là ai?”

Cao Húc không mắc mưu, hắn hơi nghiêng mặt về phía mặt sông, thần sắc vẫn thản nhiên như thường: “Đúng thế, vụ án quả thật đã giao cho Đô Sát Viện, nhưng đã bao lâu trôi qua rồi, chẳng phải bọn họ vẫn chưa tra ra được trò trống gì đó sao? Năm đó ta một không làm giả, hai không sai sót, nhân chứng vật chứng đều đủ cả. Bất kỳ ai ở vào hoàn cảnh của ta lúc bấy giờ cũng đều sẽ đưa ra kết luận là phản quốc. Ta không sai nên chẳng sợ người ta điều tra.”

Hơn nữa, năm đó chính hắn ta đã ra tay quyết liệt xử lý dứt điểm vụ án của Lý Tương, tạo cơ hội cho bệ hạ thu chỉnh biên quân; trong mắt bệ hạ, hắn chính là một công thần.

Hoài Vương kiên nhẫn nghe xong những lời này của hắn, bèn hỏi: “Cao chỉ huy sứ đối với vụ án Lý Tương này, lại có lòng tin đến thế sao?”

Cao Húc thản nhiên đón nhận ánh mắt của hắn: “Ta cũng không thẹn với lòng.”

Thế nhưng, cấu kết với hoàng tử lại là điều đại kỵ của Hoàng đế.

Cao Húc có thể leo lên được vị trí cao như Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ, tuyệt đối không phải kẻ ngu ngốc, hắn ta rất giỏi trong việc cân nhắc lợi hại để đưa ra quyết định có lợi nhất cho bản thân.

Hoài Vương nghe vậy bèn đặt cần câu trong tay xuống, quay mặt về phía hắn ta, rồi chậm rãi nở nụ cười sâu xa: “Nếu bản vương nói cho Cao chỉ huy sứ biết, bản án này có vấn đề thì sao?”

Vẻ mặt của Cao Húc bỗng chốc cứng đờ, hắn ta nhìn chằm chằm vào Hoài Vương với vẻ đầy nghi hoặc: “Điện hạ có ý gì?”

Hoài Vương khẽ hất cằm, ánh mắt nhìn thẳng vào hắn ta đầy áp bức, rồi gằn từng chữ một: “Ý của ta là, Lý Tương bị oan.”

Nói cách khác là Cao Húc đã kết án sai. Một câu nói này của Hoài Vương đã chặn đứng hoàn toàn tâm lý cầu may trong lòng hắn ta.

Sắc mặt của hắn ta biến đổi, đôi bàn tay đặt trên đầu gối vô thức siết chặt lại, đồng tử co rút mạnh, nhìn Hoài Vương với vẻ đầy cảnh giác.

Hoài Vương liếc nhìn đôi nắm đấm đang siết chặt của hắn ta, thu hết mọi biểu cảm của hắn ta vào tầm mắt, rồi cười một cách đầy ngạo nghễ: “Sao thế, Cao chỉ huy sứ định bắt giữ bản vương, mang tới chỗ phụ hoàng để giao nộp lập công sao?”

Hoài Vương đoán không sai, vừa rồi trong đầu Cao Húc quả thực đã loé lên ý nghĩ như vậy.

Nếu đúng như những gì Hoài Vương đã nói, rằng Hoài Vương đã nhúng tay vào vụ án phản quốc của Lý Tương, thì lần này hắn bắt giữ Hoài Vương để bày tỏ lòng trung thành với Bệ hạ, biết quay đầu là bờ thì vẫn còn chưa muộn.

“Ngươi không có bằng chứng thì giao nộp kiểu gì? Tội danh vu khống hoàng tử nghiêm trọng thế nào, chắc hẳn Cao đại nhân phải hiểu rõ chứ.”

Hoài Vương liếc mắt một cái đã thấu tận tâm tư của hắn ta. Hắn không những chẳng mảy may lo lắng cho sự an nguy của bản thân, mà trái lại còn khẽ thở dài thất vọng: “Bản vương cứ ngỡ Cao chỉ huy sứ hầu hạ Bệ hạ nhiều năm thì cũng phải có chút tiến bộ, nào ngờ lại bị cao quan hậu lộc che mờ mắt, không nhìn thấu được cục diện triều đình lúc này.”

“Ta hỏi ngươi, cứ cho là hôm nay ngươi bắt được ta, vượt qua được cửa ải của Bệ hạ, nhưng mai này khi lão Thất đăng cơ, liệu ngươi có được kết quả tốt đẹp gì không?”

Chỉ duy nhất một câu nói đó thôi đã khiến Cao Húc đổ mồ hôi hột đầy trán, dù đang đứng dưới ánh mặt trời rực rỡ chói chang.

Chính tay hắn đã gán cho cữu cữu của Thất hoàng tử tội danh phản quốc. Với tính cách không cam tâm chịu nhục, trong mắt không chứa nổi một hạt cát của Thất hoàng tử, liệu sau này ngài ấy có thể buông tha cho hắn sao?

Một khi vụ án của Lý Tương được lật lại thì hắn ta chắc chắn sẽ không có kết cục tốt đẹp, nhưng nếu đầu quân cho Hoài Vương, thì vẫn còn có một chút cơ hội.

Hai nắm đấm của Cao Húc siết chặt rồi lại nới lỏng, nới lỏng rồi lại siết chặt, lúc này đây hắn ta chẳng còn chút nhuệ khí nào để phản kháng lại nữa.

Hoài Vương lặng lẽ quan sát hắn ta, để mặc cho hắn ta có thời gian để định thần lại.

Cao Húc vốn là kẻ thông minh, chỉ trong nháy mắt đã cân đo xong lợi hại. Hắn ta vội vàng trượt khỏi ghế cẩm mộc, quỳ một gối xuống đất rồi chắp tay hành lễ với Hoài Vương: “Trước kia là thần hồ đồ, có mắt không tròng đã đãi ngộ sơ sài với Vương gia, mong ngài đại nhân đại lượng đừng chấp nhất. Kể từ giây phút này, thần xin đầu quân cho Vương gia mặc cho ngài sai bảo.”

Hoài Vương cũng lập tức thay đổi sắc mặt, trở nên ôn hòa niềm nở. Hắn vội vàng đỡ đối phương dậy rồi nhẹ giọng nói: “Có sự trợ giúp của Cao chỉ huy sứ, bản vương giống như hổ mọc thêm cánh.”

Hai người nhất thời ra vẻ chủ tể tình thâm, tâm đầu ý hợp, cứ như thể những màn đấu trí ngầm vừa rồi chưa từng tồn tại.

Hoài Vương vừa kéo hắn đi về phía thủy tạ phía sau, vừa hỏi: “Lúc này bên cạnh Lý Tương có mấy người canh giữ?”

Cao Húc đáp: “Có hai tên Hắc Long Vệ túc trực mười hai canh giờ không rời nửa bước. Ngoài ra, mỗi ngày thái y sẽ đến xem qua một lần, bắt mạch cho hắn, rồi tự tay sắc thuốc mang đến cho hắn uống.”

“Việc ăn uống của hắn có qua tay ngươi không?”

Cao Húc cười khổ: “Mỗi ngày ba bữa đều do bên nhà bếp tập thể cùng đưa tới, có qua tay ta, nhưng không có cơ hội hạ độc. Từ lúc vào cửa lao ngục cho đến khi đút vào miệng Lý Tương, thức ăn phải qua ba người luân phiên nếm thử. Trong số đó có người của ta, cũng có người của Diêu Hạc, một khi hạ độc sẽ bị phát hiện ngay lập tức.”

Hoài Vương nghe vậy liền nhíu mày, không ngờ phòng bị nội bộ của Cẩm Y Vệ lại nghiêm ngặt đến thế, hèn gì Hoàng đế lại tống Lý Tương vào đó.

“Vậy theo ý của Cao đại nhân, có cách nào thần không biết quỷ không hay để khiến hắn bỏ mạng không?”

Cao Húc trầm ngâm hồi lâu rồi nói: “Vương gia chớ vội, dù sao người vẫn còn nằm trong tay thần, thần nhất định sẽ nghĩ ra một kế sách vẹn toàn, làm sao để không để lại chút dấu vết nào.”

Thánh chỉ của Hoàng đế đã rành rành ra đó, hắn không thể nào ngang nhiên giết chết Lý Tương được. Tiền đề để hắn đầu quân cho Hoài Vương là bản thân không được mất mạng; hắn phải tìm cách để có thể rút lui an toàn.

Đối với Hoài Vương mà nói, chỉ cần giết được Lý Tương thì tổn thất một Cao Húc cũng chẳng thấm vào đâu. Đáng tiếc là Cao Húc không đời nào chịu làm con thiêu thân lao vào lửa vì hắn..

Hoài Vương ra vẻ hiền hòa, vỗ vỗ vai hắn nói: “Không sao, hiện giờ hắn chưa thể mở miệng được, chúng ta vẫn còn thời gian.”

>>

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *