Ngoại Thất – Chương 37 – 38

Chương 37: Giải thế cờ tàn

Tần Thư nghe xong cũng thấy chỉ còn cách đó là ổn thỏa nhất. Ngay chiều hôm ấy, nàng thu dọn đồ đạc xong xuôi rồi dặn dò bà Chu ở nhà trông coi việc dệt vải.

Nàng không quên dặn thêm, đến cuối tháng thì kết toán tiền công cho mấy người thợ, và vẫn như lệ cũ, mỗi người được biếu thêm hai cân bánh đường mang về. Nàng bảo bà Chu đừng sợ tốn kém, bởi lẽ tìm được những người thợ nữ vừa thạo việc lại vừa biết điều, ít gây chuyện như thế này là rất khó.

Đến chiều, vẫn là tiểu nha đầu lúc sáng đến đón người.

Cô ấy vừa cầm đồ ăn vặt nhấm nháp, vừa đưa mắt đánh giá Tần Thư, rồi ngạc nhiên hỏi: “Chu nương tử, mặt người bị làm sao thế này? Sáng nay trông vẫn còn lành lặn, sao giờ lại vừa đỏ vừa sưng, sắc mặt cũng vàng vọt đi thế kia?”

Tần Thư đã bôi thuốc trước khi ra ngoài. Nàng biết rõ gương mặt này của mình thực sự quá mức gây chú ý, nên bình thường chẳng mấy khi lộ diện. Nàng khẽ kéo lại chiếc khăn che mặt, rồi đáp: “Chỉ là không cẩn thận bị côn trùng cắn thôi, không đáng ngại đâu, mười ngày nửa tháng là khỏi ấy mà.”

Tiểu nha hoàn kia thốt lên một tiếng “A”: “Thế thì thảm rồi, tận mười ngày nửa tháng mới khỏi sao? Cô nương nhà chúng tôi ghét nhất là nhìn thấy người xấu xí, mặt mũi của nương tử giờ đã thành ra thế này, chắc chắn cô nương sẽ không chịu gặp nương tử đâu.”

Tần Thư nghe vậy thì đương nhiên là cầu còn không được, bèn thuận thế đáp: “Nếu đã như thế, hay là cô nương cứ về bẩm báo với tiểu thư nhà mình một tiếng, tránh để mặt tôi làm bẩn mắt tiểu thư?”

Tiểu nha đầu kia lắc đầu nguầy nguậy: “Thôi bỏ đi, đây là lệnh của lão thái thái, muốn tiểu thư luyện tập thêu thùa để mài giũa tính tình, bớt cái vẻ lạnh lùng băng giá kia đi. Tiểu thư không muốn thấy mặt người thì người cứ trốn kỹ một chút là được, tiền bạc cũng chẳng thiếu phần người đâu. Đúng rồi, người đừng có gọi ta là cô nương này cô nương nọ, tiểu thư nghe thấy là sẽ đánh ta đấy, cứ gọi ta là Tiểu Đào đi.”

Hai người đi đến một ven hồ, băng qua chiếc cầu đá thì thấy một khuôn viên nhỏ với bức bình phong trắng hồng. Một bà tử đứng canh ở cửa, thấy xe ngựa đi tới liền mang ghế dẫm ra: “Cô nương Tiểu Đào, tiểu thư đang luyện đàn đấy.”

Tiểu Đào lấy một miếng hạt óc chó từ trong túi gấm ra, bỏ vào miệng: “Biết rồi, đây là Chu nương tử đến dạy thêu thùa.”

Bà tử kia vừa nhìn thấy mặt Tần Thư đã giật nảy mình: “Cái mặt này của nàng ta sao mà gặp tiểu thư cho được?”

Tiểu Đào trợn trắng mắt: “Cũng đâu phải tôi muốn gọi nàng ta đến, chẳng qua vì một câu nói của lão thái thái nên mới mời về đấy chứ. Tiểu thư không muốn gặp thì thôi khỏi gặp, còn nếu muốn đuổi nàng ta đi thì các người tự đi mà thưa lại với lão thái thái. Đón được người về đây là phận sự của tôi xong rồi. Ngày ngày chỉ biết trốn ở chỗ này chè chén, suốt buổi chỉ chực sai bảo người khác, có giỏi thì tự mình đi mà làm.”

Bà tử kia cười gượng gạo: “Lão thân cũng chỉ lỡ miệng nói một câu thôi mà, trong lòng cô nương không thuận, lại lôi lão thân ra làm bia đỡ đạn để mắng mỏ trút giận. Chúng ta đều là người từ trong phủ ra cả, vốn dĩ nên dĩ hòa vi quý thì hơn.”

Tiểu Đào chẳng thèm đoái hoài đến bà ta, cô ấy dẫn Tần Thư đi về phía sau. Men theo con đường nhỏ, chỉ thấy hoa lá cây cỏ ngày một tốt tươi, vòng qua một cửa nguyệt động thì thấy một rặng trúc thưa thớt. Bên tai chợt nghe thấy tiếng đàn thanh thoát lạnh lùng, tựa như một dải lụa trắng từ thác cao đổ xuống, va vào vách đá dựng đứng xung quanh vang vọng bốn bề. Tiếng dây đàn cuộn theo kình phong, khiến rặng trúc xào xạc tựa như có gió lớn thổi qua, một luồng khí lạnh theo đó lập tức ập đến.

Tiểu Đào nhỏ nhẹ nhắc nhở: “Tiểu thư nhà ta đang gảy đàn, người vốn không chịu được tạp âm, nương tử cứ giữ im lặng là được.”

Lời cô ấy vừa dứt, bỗng nghe thấy tiếng một nữ tử nghiêm giọng quở trách: “Kẻ nào đang quấy nhiễu tiếng đàn của ta?”

Tần Thư liếc nhìn Tiểu Đào, chưa thấy cô ấy phản ứng gì thì bên trong đã truyền ra tiếng nữ tử van xin khẩn thiết. Tiểu Đào dẫn Tần Thư bước vào, chỉ thấy trên thủy các, một thiếu nữ mặc y phục màu trắng cầm trên tay cây cầm đã đứt một dây. Một tì nữ mặc áo hồng đào đang dập đầu tạ tội, xung quanh chừng mười mấy bà vú giúp việc đều đang quỳ yên lặng một bên, không ai dám lên tiếng.

Người nữ tử mặc y phục màu trắng kia xoay lưng về phía Tần Thư nên không rõ dung mạo, chỉ nghe giọng nói thanh thúy như tiếng ngọc rơi trên mâm bạc, nhưng lời lẽ lại hết sức cay nghiệt: “Cái thứ trần tục bẩn thỉu nhà ngươi, ngay cả nước mắt cũng làm ô uế cây đàn của ta.”

Tiểu Đào đưa mắt ra hiệu cho Tần Thư, rồi dẫn nàng vào trong thủy tạ, quỳ xuống thưa: “Thưa tiểu thư, Chu nương tử dạy thêu thùa đã đến rồi ạ. Có điều chiều nay nàng ta bị sâu bọ cắn, gương mặt trở nên xấu xí khó coi, chỉ sợ làm bẩn mắt của tiểu thư ạ.”

Thiếu nữ này mới chừng mười lăm tuổi, đường nét trên mặt vẫn chưa nảy nở hết, trông vẫn còn dáng vẻ của một bé gái, nhưng giữa đôi lông mày lại toát ra vẻ phong tình quyến rũ. Chẳng ai rõ tên thật của nàng ta là gì, hiện tại mọi người gọi nàng ta là Tô Oản Oản. Trước khi sa chân vào chốn phong trần, nàng ta vốn là con gái nhà thi thư, từ nhỏ đã học cầm kỳ thi họa, lại tinh thông thơ văn, là một nhân vật nổi danh khắp vùng Dương Châu về cả tài năng lẫn sắc đẹp.

Tô Oản Oản nghiêng đầu, cầm lấy chiếc quạt thơm trên bàn trà, rồi đánh mắt quan sát Tần Thư. Thấy nàng chỉ hơi nhún người hành lễ chứ không hề quỳ xuống, cô nương ấy khẽ cười: “Tiểu Đào, lần này ngươi sai rồi. Mỹ nhân cốt ở khí chất, không ở làn da. Vị Chu nương tử này chính là một đại mỹ nhân chính hiệu, tuyệt đối không phải phường phụ nữ xấu xí thô kệch đâu.”

Tiểu Đào vốn không hề bất ngờ, nhưng vẫn giả vờ lộ vẻ kinh ngạc: “Sáng sớm lúc nô tỳ đến, mặt mũi Chu nương tử vẫn còn bình thường, diện mạo tuy không bằng tiểu thư nhưng quả thực cũng là một mỹ nhân. Thế nhưng bây giờ khuôn mặt của nàng ta đã thành ra nông nỗi này, sao tiểu thư lại biết được ạ?”

Chiếc quạt thơm trong tay Tô Oản Oản khẽ lay động, một mùi phấn thơm nồng nàn theo gió quạt đưa tới: “Cốt cách mỹ nhân trên đời này hiếm thấy lắm. Người đời đa số nông cạn, chỉ nhìn lớp da bên ngoài mà không thấy được cái cốt bên trong. Đây là tuyệt chiêu trong công việc của bọn ta, ngươi không biết cũng là lẽ thường.”

Nói xong, nàng ta vẫy nhẹ chiếc quạt thơm, ra hiệu cho Tần Thư ngồi xuống chiếc ghế đẩu phía trước: “Chu nương tử là người Nam Kinh sao?”

Tần Thư lắc đầu: “Không phải người gốc Nam Kinh, tổ tiên tôi ở Dương Châu, chỉ là cha mẹ trước đây từng sống ở Nam Kinh một thời gian mà thôi.”

Tô Oản Oản nghe vậy liền gật đầu: “Hóa ra là thế, vậy thì việc ngươi biết thêu cung đình Nam Kinh cũng là điều dễ hiểu. Ta xem bức bình phong thêu trước đó, những nhành hoa trên ấy hoàn toàn không giống với hàng bán ngoài phố, trái lại dường như là được phác họa theo lối hoa cỏ triết chi của các danh gia thời Đường, thời Tống, bố cục và phối màu cũng rất thanh nhã, không phải hạng dung tục giống như nhiều sản phẩm ngoài kia.”

Đó chính là công phu mà Tần Thư đã ngày đêm khổ luyện suốt gần mười năm trong viện tử của phủ Quốc Công. Trong mắt những bậc thầy thực thụ, kỹ thuật mô phỏng này của nàng dĩ nhiên chưa thể coi là hàng cao cấp, nhưng với những kẻ xem cho vui hoặc hạng người thích phô trương thanh nhã, thì bấy nhiêu đó cũng đủ để lòe bọn họ rồi.

Tần Thư chỉ đáp: “Tiểu thư thích là tốt rồi.”

Tô Oản Oản lại hỏi tiếp: “Chu nương tử từng đọc sách sao?”

Tần Thư thầm nghĩ, kiếp trước đúng là mình đã từng dùi mài kinh sử tử tế suốt hơn hai mươi năm, nhưng ở nơi này thì chẳng thể coi là đã từng đọc sách được. Với cái kiểu chữ viết như gà bới của mình, e rằng đến việc biết viết chữ cũng chẳng dám nhận. Nàng bèn đáp: “Tôi chưa từng đọc sách.”

Tô Oản Oản thấy nàng kiệm lời như vàng thì cũng không hỏi thêm nữa, lại hỏi han về gương mặt của nàng xem có cần mời đại phu đến khám hay không.

Tần Thư lắc đầu: “Đa tạ ý tốt của tiểu thư, dăm bữa nửa tháng tự nhiên sẽ khỏi thôi, không cần uống thuốc đâu.”

Sau khi dặn dò Tiểu Đào dẫn Tần Thư xuống nghỉ ngơi, Tiểu Đào không khỏi ngạc nhiên mà hỏi: “Tiểu thư nhà ta xưa nay tính khí vốn chẳng tốt lành gì, khó khăn lắm mới thấy người nói với nương tử thêm vài câu, sao nương tử lại còn kiệm lời hơn cả tiểu thư nhà ta thế? Nương tử cứ dỗ dành cho tiểu thư vui vẻ, chẳng phải sẽ tốt hơn sao?”

Tần Thư đặt hành lý xuống, thấy đây là một gian phòng phụ nhỏ nhắn, sạch sẽ và ngăn nắp, đồ đạc bày biện cũng đầy đủ, liền nói: “Lúc nãy tôi thấy tiểu thư nổi giận, trong lòng cũng sợ lắm, nên chẳng dám nói năng gì nhiều.”

Tiểu Đào “ồ” lên một tiếng, tay cầm một cây nến đỏ lớn nghịch ngợm: “Lúc nãy thấy lưng của nương tử thẳng tắp, ta còn cứ tưởng người gan dạ lắm chứ. Mà thôi, ít nói một chút cũng tốt.”

Nói xong, Tiểu Đào dặn Tần Thư đừng đi lại lung tung, rồi đóng cửa bước ra ngoài.

Xung quanh thanh tĩnh không một bóng người, Tần Thư thắp nến lên. Thấy bên cạnh có sẵn giấy bút, nàng bèn bắt đầu vẽ mẫu thêu. Vừa vẽ xong một tờ thì có một tiểu nha đầu khác mang cơm canh đến: “Chu nương tử, chắc người đói rồi nhỉ?”

Thấy cô bé còn nhỏ, chỉ tầm bảy tám tuổi, Tần Thư bèn kéo lại trò chuyện rồi hỏi: “Ngày thường khách khứa đến thăm hỏi tiểu thư có đông không?”

Tiểu nha đầu kia ngồi xuống, vừa ăn món ăn vặt mà Tần Thư đưa cho, vừa ngẫm nghĩ rồi đáp: “Trước kia người đến thăm tiểu thư thì nhiều lắm, nhưng cả tháng nay lại chẳng thấy ai nữa. Mọi người đều nói tiểu thư sắp biến thành phượng hoàng vàng rồi…”

Sau khi nghe ngóng một hồi, Tần Thư thầm cảm thấy yên tâm, nơi này xem chừng không còn ai qua lại nữa.

Nàng vốn dĩ cứ ngỡ vị Tô Oản Oản tiểu thư kia sẽ không gọi mình qua học thêu thật đâu, chẳng ngờ đến ngày thứ hai, đã có người đến gọi Tần Thư sang đó.

Tô Oản Oản lười nhác ngồi trên ghế dài: “Chu nương tử, ta muốn thêu một cái túi đeo, tốt nhất là dùng lối thêu cung đình Nam Kinh. Còn về mẫu thêu thì ta đã vẽ sẵn đây rồi.”

Tần Thư đón lấy, đó là một tờ giấy “Tuyết Lý Lãng” thượng hạng. Nhìn thấy bức họa trên giấy, chân mày nàng bất giác giật nảy lên. Bức họa đó đã được tô màu: dưới một tán lá chuối rộng, một nam một nữ trút bỏ sạch y phục, đang tựa vào tảng đá giả sơn, rõ ràng là một bức xuân cung đồ.

Thấy Tần Thư sững người, Tô Oản Oản cười nói: “Sao thế, không thêu được à?”

Giọng Tần Thư vẫn không hề thay đổi: “Tục ngữ có câu, chỉ cần giá cả thích hợp thì chẳng có vụ làm ăn nào là không làm được. Tôi dù sao cũng là người đã có gia đình, không phải là mấy cô nương chưa gả đi mà phải e lệ.”

Tô Oản Oản vỗ tay tán thưởng: “Chu nương tử quả là người sảng khoái! Ở đây có mười lạng bạc ròng, thời gian ba ngày liệu có đủ không?”

Tần Thư gật đầu: “Đủ rồi.”

Tô Oản Oản vỗ tay một cái, lập tức có người bưng kim chỉ vào, ý muốn để Tần Thư thêu thùa ngay trước mặt mình.

Tần Thư cũng không có ý kiến gì. Sau vài ngày ở lại, nàng thấy nơi này quả thực rất yên tĩnh, chẳng hề có vị khách nào ghé thăm cả.

Chỉ có vị Tô Oản Oản tiểu thư kia là ngày nào cũng luyện đàn suốt bốn, năm canh giờ, khiến bà vú già bên cạnh phải lên tiếng khuyên nhủ: “Tiểu thư yêu đàn, nhưng đó cũng chỉ là món tiêu khiển mà thôi, sao phải vì đàn mà làm hỏng đôi tay mình? Cái nghề này của chúng ta, khi người ta xem xét thì tay phải đẹp, cánh tay phải đẹp, nước da phải đẹp, mà quan trọng nhất chính là đôi bàn tay mười ngón thon dài trắng trẻo này.”

Tô Oản Oản chỉ hừ lạnh một tiếng chứ không tranh cãi, nàng ngồi xuống bên bàn cờ, nhấn mạnh một quân cờ xuống mặt bàn, nhưng chỉ một lát sau lại thở dài một tiếng, tùy ý gạt loạn cả bàn cờ lên. Nàng ngồi thẫn thờ nhìn bàn cờ một lúc, rồi lại nhặt từng quân trắng, quân đen, khôi phục lại nguyên vẹn ván cờ lúc ban đầu.

Tần Thư ngồi thêu dưới mái hiên ở hành lang sau, tình cờ trông thấy cảnh ấy qua khung cửa sổ. Nàng bấm đứt sợi chỉ cuối cùng, rồi đi vòng qua cửa trước vào phòng, thưa: “Tô tiểu thư, túi hầu bao đã thêu xong rồi ạ.”

Tô Oản Oản đón lấy, ngắm nghía một hồi với vẻ rất hài lòng, rồi cẩn thận cất vào trong tay áo: “Vất vả cho Chu nương tử rồi.”

Tần Thư nhìn thấy trên bàn cờ là một ván cờ tàn, lại thấy hằng ngày ngoài lúc gảy đàn ra thì cô nương này chỉ mải mê nhìn ván cờ dở dang ấy, liền mở lời: “Ván cờ tàn này của tiểu thư, tôi từng thấy qua trong một cuốn kỳ phổ.”

Tô Oản Oản có vẻ không tin lắm: “Ngươi không hiểu về cờ, nên nhìn thấy giống giống vậy thôi. Ván cờ này là cuộc đối đầu năm ấy giữa Trạng nguyên lang và Hàn Sơn cư sĩ, sau cùng vẫn là kỳ nghệ của Trạng nguyên lang cao hơn một bậc, thắng được vị đại quốc thủ như Hàn Sơn cư sĩ.”

Tần Thư mỉm cười, rồi cầm lấy quân đen: “Cô nương nhìn xem, hạ một nước ‘đoạn’ ở chỗ này, chờ quân trắng hạ xuống rồi lại tiếp tục ‘đê quải’ ở vị trí kia, quân đen sẽ sống lại.”

Tô Oản Oản nhìn Tần Thư, gương mặt lộ rõ vẻ chấn động. Nàng ta nhìn lại bàn cờ, quả nhiên quân đen đã xoay chuyển được cục diện. Nàng ta thầm tính toán trong lòng một hồi rồi hỏi: “Nếu đi như vậy, quân đen chỉ còn thua nửa quân thôi. Trong kỳ phổ, những nước sau hạ như thế nào?”

Tần Thư biết mình đã đặt cược đúng, nàng lắc đầu đáp: “Xin cô nương lượng thứ, đây vốn là cuốn kỳ phổ mà cha tôi mua về, tôi cũng chỉ mới xem qua một lần. Vì tôi không thạo chơi cờ nên những nước sau không tài nào nhớ nổi nữa.”

Tô Oản Oản lập tức đứng phắt dậy, nắm chặt lấy tay Tần Thư, gương mặt tràn đầy hy vọng, cấp thiết hỏi: “Chu nương tử, cuốn kỳ phổ đó nương tử có thể nhượng lại cho ta không? Bao nhiêu tiền ta cũng sẵn lòng trả!”

Tần Thư lập tức lộ vẻ kinh ngạc: “Tô tiểu thư, cuốn kỳ phổ này quý giá lắm sao? Nhà như chúng tôi, ngoại trừ cha tôi lúc còn sống hay chơi cờ ra, vốn chẳng có ai biết hạ cờ cả. Nghe mẹ tôi kể lại, cuốn sách đó là dùng vài cái bánh thầu thầu để đổi lấy từ một lão hòa thượng bị ghẻ đấy ạ.”

Tô Oản Oản siết chặt lấy tay Tần Thư, chẳng hiểu sao đột nhiên lại nhắm nghiền mắt lại, hai hàng nước mắt lăn dài: “Xem ra ông trời đối đãi với ta không tệ, vào lúc này lại cho ta gặp được Chu nương tử, có được cách giải ván cờ này. Quả đúng là nhân ngoại hữu nhân, thiên ngoại hữu thiên, ngay cả ván cờ tàn vang danh thiên hạ cũng có người hóa giải được chỉ trong một hai chiêu.”

Tần Thư âm thầm lấy làm lạ trong lòng, cho dù là kẻ nghiện cờ thì cũng không đến mức này chứ? Đôi bàn tay của nàng bị Tô Oản Oản siết chặt đến đau nhói. Đến khi thoát ra được, thấy trên ngón tay cái suýt chút nữa bị móng tay đối phương cào thành một vệt máu, nàng bĩu môi rồi thầm nghĩ: Phen này mình phải hét giá cao một chút mới được.

Tô Oản Oản vừa khóc vừa cười: “Chu nương tử, ta sẵn sàng bỏ ra một trăm lạng, không, ba trăm lạng bạc để mua cuốn kỳ phổ này! Nếu nương tử vẫn chưa hài lòng, ta không còn nhiều bạc mặt, nhưng đống trang sức kia cũng rất có giá trị, nương tử ưng ý món nào cứ việc lấy đi.”

Trong lòng Tần Thư thực sự rất đắc ý, nhưng bên ngoài vẫn giả vờ làm một người phụ nữ thôn quê không biết nhìn hàng, xua tay nói: “Cô nương, cái đó đâu có đáng từng ấy bạc, người cứ tùy tiện đưa vài ba lạng là đủ rồi. Vốn dĩ nó là thứ đổi bằng vài cái bánh màn thầu, tiểu thư cũng đã chiếu cố công việc của tôi nhiều rồi. Chỉ là bình thường chúng tôi chẳng coi cuốn kỳ phổ đó ra gì, nên giờ không biết nó còn không, hay đã vứt vất vưởng ở xó xỉnh nào rồi.”

Tô Oản Oản nghe xong liền kích động nói: “Chu nương tử, ta sẽ cùng nương tử về nhà tìm!”

Tần Thư liếc nhìn bà vú già đứng bên cạnh, quả nhiên thấy bà ta ngăn cản: “Tiểu thư, người hiện giờ là thân phận tôn quý, không thể tùy ý ra ngoài được.”

Tần Thư thuận nước đẩy thuyền, khuyên nhủ: “Một mình tôi về tìm là được rồi, hễ tìm thấy, tôi nhất định sẽ mang ngay đến cho tiểu thư. Nơi chúng tôi ở là chỗ bẩn thỉu tồi tàn, tiểu thư không nên đến đó đâu ạ.”

Tô Oản Oản không còn cách nào khác, đành bảo: “Vậy được rồi, ta sẽ phái người đưa nương tử về, đi bằng xe ngựa cho nhanh, đừng để chậm trễ việc.”

Tần Thư gật đầu đồng ý. Nàng quay đầu nhìn lại ván cờ tàn trên bàn một lần nữa, âm thầm để tâm suốt ba bốn ngày trời, tuy không phải do tự mình hạ cờ, nhưng nàng đã có thể ghi nhớ toàn bộ ván cờ đó một cách hoàn hảo.

Chương 38: Cảm giác mơ hồ

Quả nhiên, vị tiểu thư này lập tức cho xe ngựa đưa Tần Thư về. Chỉ có bà vú già bên cạnh Tô Oản Oản là lúc sắp ra cửa đã đánh mắt quan sát Tần Thư, trông bà ta vô cùng tinh tường: “Chu nương tử trông chẳng giống người tầm thường, nước cờ của cô ngay cả tiểu thư nhà chúng tôi cũng phải khen ngợi, còn nôn nóng đến mức đòi mua bằng được kỳ phổ của cô cho bằng được.”

Tần Thư chỉ giả ngốc: “Ma ma nói đùa rồi, tôi nào có biết đánh cờ.”

Bà vú già kia ngừng cười, lớp da thịt trên mặt liền xệ xuống: “Kỳ phổ này… e rằng không phải là đồ gia truyền của nương tử đâu nhỉ?”

Tần Thư chạm nhẹ vào túi thơm bên hông, cười nói: “Có phải đồ gia truyền hay không thì có quan trọng gì? Nếu tôi nói là do tự mình nghĩ ra cách đánh, bà đoán xem Tô tiểu thư có tin không?”

Bà vú già cảm thấy bị xúc phạm sâu sắc, bà ta nhìn chằm chằm Tần Thư với ánh mắt đầy vẻ không thân thiện: “Chu nương tử, cô quả nhiên không phải hạng tầm thường.”

Ý của bà ta rõ là coi Tần Thư như kẻ lừa đảo. Tần Thư chỉ lắc đầu, vừa lúc thấy Tiểu Đào ngồi xe ngựa từ phía sau tới: “Chu nương tử, chúng ta mau đi thôi, tiểu thư đang đợi đấy.”

Tần Thư gật đầu với bà vú già rồi bước lên xe ngựa, vừa lên đã thấy Tiểu Đào nhìn mình cười nói: “Chu nương tử, cô đừng để tâm đến bà ấy. Bà ấy xưa nay vốn tính keo kiệt, tiểu thư tiêu tiền là tiêu tiền của chính mình, cùng lắm thì cũng chẳng tiêu đến tiền của bà ấy. Chẳng nói đến việc trong phủ mỗi tháng đều phát bạc, chỉ riêng chỗ vàng bạc trang sức của tiểu thư thôi cũng đã không dưới một vạn lượng rồi, bỏ ra ba trăm lượng mua một cuốn kỳ phổ thì có làm sao?”

Tần Thư không đáp lời, nhưng Tiểu Đào vẫn tự mình nói tiếp một cách vui vẻ: “Lão thái thái nhà chúng tôi ăn một bát cơm chiên trứng cũng đã tốn đến năm mươi lượng bạc rồi, huống chi là mua mấy cuốn sách này? Lão gia nhà tôi trước kia vì muốn mua một chiếc quạt mà còn bỏ ra tới ba ngàn lượng nữa là, bỏ ba trăm lượng mua cuốn kỳ phổ thì thấm tháp vào đâu? Bà vú già là người từ chỗ ca vũ viện ra nên mới không nỡ tiêu tiền như vậy…”

Cô nương kia cứ nói mãi, thấy Tần Thư chẳng đáp lại lấy một lời mới bắt đầu cảm thấy mất hứng mà dừng lại, miệng càm ràm: “Chu nương tử, cô rõ ràng trông xinh đẹp thế này, tấm bình phong cô thêu đến cả lão thái thái còn thích, sao tính tình lại trầm mặc thế nhỉ?”

Tần Thư mỉm cười, rồi nói với đối phương: “Ta sinh ra vốn dĩ đã có tính cách như vậy rồi.”

Về đến nhà, vừa vặn cả gia đình cũng mới dùng bữa xong. Hạ Hà bưng khay đậu phụ chạy tới, hỏi: “Tiểu thư, sao mặt của người vẫn chưa khỏi hẳn thế này?”

Tần Thư vẫy tay gọi Chu Hoành Sinh: “Đệ cùng ta vào thư phòng tìm một cuốn kỳ phổ. Hiện tại người ta đang cần gấp, ta lại không nhớ rõ lắm, có lẽ đệ vẫn còn nhớ nó được đặt ở đâu đấy.”

Nàng lại quay sang bảo Hạ Hà: “Em mau mang chút điểm tâm ra đây, ngồi tiếp chuyện với Tiểu Đào cô nương một lát.”

Chu Hoành Sinh lộ vẻ ngơ ngác không hiểu chuyện gì, lẳng lặng theo chân Tần Thư vào gian phòng mà cậu ấy vẫn thường đọc sách, hỏi: “A tỷ, nhà chúng ta làm gì có cuốn kỳ phổ nào đâu? Cả nhà mình chẳng ai biết đánh cờ, ngay cả đệ cũng chỉ là hạng tay mơ, đánh chưa tới nửa ván đã thua sạch rồi.”

Tần Thư lôi từ ngăn bên cạnh ra một tờ giấy tuyên, rồi phân phó Chu Hoành Sinh: “Đóng cửa lại, mài mực cho ta.”

Chu Hoành Sinh có một điểm tốt, đó là những việc Tần Thư sai bảo, dù không hiểu thì cậu ấy cũng sẽ làm theo trước rồi mới hỏi sau. Cậu ấy rót nửa chén trà vào nghiên, vừa mài mực vừa quan sát Tần Thư hạ bút vẽ vẽ viết viết trên tờ giấy tuyên. Cậu ấy nghiêng đầu nhìn một hồi lâu, bấy giờ mới nhận ra đó chính là một bản kỳ phổ.

Bản kỳ phổ này không giống với những loại thông thường hiện nay, mỗi khi hạ một quân cờ, Tần Thư lại vẽ lên một tờ giấy, vẽ liền một mạch hai ba mươi tờ mới dừng bút.

Chu Hoành Sinh nhìn mà chẳng hiểu mô tê gì, bèn hỏi: “A tỷ, sao tỷ lại vẽ kỳ phổ theo cách này?”

Tần Thư kéo tay áo xuống, thong thả nói: “Dẫu sao cũng thu của người ta tới ba trăm lượng bạc, tự mình phải vẽ cho thật tường tận mới gọi là xứng đáng với số tiền ấy.” Nói xong, nàng lấy từ trong túi tiền ra một thỏi bạc vụn: “Đệ cầm chỗ này qua tìm Trần thúc ở tiệm cầm đồ, bảo thúc ấy làm cũ mấy tờ giấy này đi. Đây là việc gấp, ba lượng bạc này không cần thối lại, nhắc thúc ấy làm cho thật khéo léo tỉ mỉ. Đệ cứ đợi ở đó, hai canh giờ sau thì mang về đây.”

Chu Hoàng Sinh thấp giọng hỏi: “A tỷ, tỷ đây là đang làm giả đồ cổ sao?”

Tần Thư cắn môi một cái rồi nói: “Ta có phải đi bán đồ cổ đâu mà bảo là làm giả?” Nàng lại dặn dò thêm: “Đệ đi lối cửa sau ấy, nhớ đi mau về mau.”

Nói xong, nàng phủi phủi tay áo, ngả lưng lên chiếc ghế nằm trong thư phòng, cầm lấy một cuốn sách, cứ thế thong thả vừa đưa đẩy ghế vừa đọc.

Chẳng biết đã qua bao lâu, Chu đại nương ở bên ngoài gõ cửa hỏi: “Con gái, kỳ phổ gì mà tìm lâu thế? Tiểu Đào cô nương ngoài kia dường như đợi không nổi nữa rồi, cứ giục ta vào đây hối thúc con này.”

Tần Thư ra mở cửa đón bà vào, tiện tay quẳng cuốn sách lên bàn rồi nói: “Mẹ, người đừng bận tâm chuyện này, tóm lại là chuyện tốt cả thôi. Người ra ngoài tìm cách trì hoãn thêm một lát, nếu thật sự không được thì người cứ giả bệnh, bảo họ đi mời đại phu đến xem sao. Cứ đưa đi đón về như thế, kiểu gì cũng câu được thêm chút thời gian.”

Chu đại nương thấy nơi đây chỉ có hai người, bèn nói: “Cô nương, chỗ này chỉ có hai chúng ta, người đừng gọi tôi là mẹ nữa. Trước kia ở trong phủ, người vốn là nha hoàn hạng nhất, tuy giờ không còn như trước, nhưng người gọi tôi như vậy, tôi cứ thấy lòng chẳng yên, không sao nhận nổi.”

Tần Thư đáp: “Thế sao được, sau này đại nương cũng đừng ‘cô nương’ này ‘cô nương’ nọ với ta nữa, cứ gọi thẳng tên ta là Anh Lạc đi. Bằng không kẻ khác nghe thấy lại sinh lòng nghi hoặc. Giả mạo thân phận để làm hộ tịch, chuyện này mà lộ ra là phải ngồi tù như chơi đấy. Hơn nữa, có gì mà không nhận nổi chứ? Trước kia ta chẳng qua cũng chỉ là phận nô tỳ, còn phân ra cao thấp làm gì chứ?”

Chu đại nương bị dọa cho khiếp vía, miệng há hốc ra, nửa ngày sau mới lắp bắp gọi được hai chữ: “Anh… Anh Lạc.” Lại nghe thấy bên ngoài Hạ Hà đang lớn tiếng gọi người, nên bà vội vã đi ra ngoài.

Tiểu Đào ngồi ở bên ngoài đã lâu, ban đầu còn thấy mới lạ, lại có người ngồi cùng nói chuyện, ăn điểm tâm, cô ấy nói không ngừng như kể chuyện suốt nửa canh giờ, mà nha đầu Hạ Hà kia lại cực kỳ biết tung hứng: “Thật sao? Ăn một bát cơm chiên trứng mà tốn tận năm mươi lượng bạc cơ á? Có khi nào người nhà cô bị người ta lừa rồi không?”

Tiểu Đào lấy khăn tay che miệng cười nhạo cô ấy là kẻ thiếu kiến thức: “Lão gia nhà ta làm nghề buôn muối đã mấy mươi năm rồi, ai mà lừa nổi ông ấy chứ? Bát cơm chiên trứng này hoàn toàn chẳng giống với bên ngoài các cô đâu. Gạo ấy chính là loại gạo Bích Canh từ ngự điền tiến cung, hạt nào hạt nấy đều tăm tắp, còn gà đẻ trứng cũng được nuôi dưỡng bằng các loại dược liệu quý hiếm như nhân sâm, bạch truật, hồng táo đấy.”

Hạ Hà tặc lưỡi kinh ngạc. Ở cái phố này, kẻ giàu có nhất chính là Vương phú hộ mở tiệm tơ lụa, thế mà lúc nương tử ông ta sinh con sắp chết, cũng chỉ dám ra tiệm thuốc bốc ít rễ sâm vụn về để treo giữ hơi tàn, vậy mà nhà này lại dùng cả nhân sâm để nuôi gà: “Ăn vào mà cũng phân biệt được khác biệt sao? Chẳng phải đều là trứng gà cả đó sao?”

Giọng nói của Tiểu Đào lập tức cao lên một tông: “Dĩ nhiên là có khác biệt rồi, lão gia nhà ta chỉ cần nếm qua là biết ngay sự khác nhau đấy.”

Hạ Hà liền hỏi vặn lại: “Vậy còn cô, cô có nếm ra được không?”

Tiểu Đào mỉm cười nói: “Dĩ nhiên rồi, năm ngoái lão thái thái dùng bữa còn thừa nửa bát, đã ban thưởng cho đám nha hoàn chúng ta. Ta cũng được chia một miếng, cái mùi vị đó thật khó mà diễn tả bằng lời, đứng từ xa đã ngửi thấy hương thơm nức mũi, khi chậm rãi nhai kỹ lại thấy có cả vị thịt, tóm lại là ngon hơn cơm chiên trứng thông thường gấp trăm lần đấy.”

Hai người mải mê trò chuyện một hồi lâu, trà chẳng biết đã uống bao nhiêu chén, điểm tâm cũng đã vơi sạch hai đĩa, bấy giờ Tiểu Đào mới sực nhớ ra: “Chu đại nương đi đâu rồi nhỉ? Chẳng phải bà ấy vào hối thúc Chu nương tử sao? Sao đi nãy giờ mà vẫn chưa thấy quay ra?”

Hai người đẩy cửa bước ra thì thấy Chu đại nương đang ngồi bệt trên bậc thềm đá, một tay ôm chặt trước ngực, miệng thở dốc từng hồi, trên trán lấm tấm mồ hôi lạnh.

Hạ Hà không biết đây là diễn kịch nên thực sự bị dọa cho khiếp vía, vội vàng ngồi thụp xuống: “Đại nương, người làm sao thế này? Người thấy khó chịu ở chỗ nào sao?”

Chu đại nương mải mê diễn kịch, chẳng nói chẳng rằng khiến Hạ Hà sợ đến phát khóc, miệng gào lên: “Tiểu thư, tiểu thư, người mau ra đây xem! Đại nương không biết là mắc phải chứng bệnh gì mà hơi thở dồn dập, sắp không thở được nữa rồi!”

Tiểu Đào cũng bị dọa cho khiếp vía: “Chu nương tử, cô đừng tìm kỳ phổ nữa, mẫu thân của cô trông giống như sắp không xong rồi kìa!”

Tần Thư bấy giờ mới đẩy cửa bước ra, cùng Hạ Hà đỡ Chu đại nương nằm lên giường, rồi phân phó: “Hạ Hà, ngươi mau tới thành Đông mời đại phu của Hồi Xuân Đường đến đây.” Hồi Xuân Đường nằm tận phía thành Đông, tính cả đi lẫn về, nếu không mất nửa canh giờ thì khó mà quay lại được.

Hạ Hà ngẩn người gật đầu, rồi vội vã chạy đi không dám chậm trễ: “Tiểu thư, em đi ngay đây, em sẽ chạy thật nhanh!”

Tần Thư vắt khô khăn tay rồi đắp lên trán Chu đại nương. Thấy bà cứ hít vào thở ra nặng nề, lồng ngực phập phồng tựa như chiếc lồng đèn giấy rách trước gió.

Tiểu Đào đứng bên cạnh lo lắng: “Chu nương tử, mẫu thân cô bị làm sao thế này? Trông thực sự đáng sợ quá.”

Tần Thư đáp: “Ta cũng chẳng rõ là có chuyện gì. Năm ngoái bà ấy từng phát bệnh một lần, cũng sắc mặt xanh xao, đổ mồ hôi lạnh, hơi thở dồn dập thế này, sau uống thuốc mới khỏi, chẳng biết lúc này sao lại tái phát nữa.”

Nói xong, nàng tỏ vẻ áy náy với Tiểu Đào: “Cuốn kỳ phổ kia không biết đã để lạc nơi nào, ta lục tìm hết một ngăn tủ rồi mà vẫn chưa thấy, e là nằm ở ngăn tủ khác. Làm chậm trễ thời gian của cô nương, thực lòng vô cùng đắc tội.”

Tiểu Đào xua xua tay: “Không sao đâu, tôi đợi thêm một lát cũng chẳng sao, ở chỗ các cô cũng thú vị lắm. Cô vẫn nên lo cho mẫu thân mình trước đi, đợi đại phu tới rồi hãy đi tìm kỳ phổ tiếp.”

Chỉ mới qua chừng một tuần trà, đã thấy Hạ Hà mồ hôi nhễ nhại chạy về, trên tay còn lôi kéo một vị tiểu ca ca trẻ tuổi: “Ngài mau xem cho, đại nương nhà chúng tôi dường như sắp không xong rồi!”

Tần Thư thực sự kinh ngạc, chẳng rõ nha đầu này đã chạy nhanh đến nhường nào mà có thể mời được người về trong thời gian ngắn đến vậy. Cũng may đây là một vị đại phu trẻ tuổi, chứ nếu là người đã có tuổi mà bị con bé kéo chạy như thế, chỉ e là xương cốt cũng tan rời ra mất.

Vị đại phu kia bắt mạch một hồi, lại hỏi xem có chỗ nào cảm thấy khó chịu không, Chu đại nương cứ ấp úng chẳng nói rõ ràng được, chỉ bảo là đau tức ngực. Ánh mắt của đại phu thoáng hiện lên vẻ kỳ quái, song cũng không nói gì nhiều: “Cũng không có gì đáng ngại, chắc hẳn là lão nhân gia có chuyện gì không vừa ý, nhất thời bị xúc động dẫn đến tim đập nhanh mà thôi. Ta bốc vài thang thuốc về sắc uống là được.”

Hạ Hà mang giấy bút lại gần, đại phu vừa mới hạ bút kê xong đơn thuốc thì thấy Chu Hoành Sinh ôm một xấp giấy tuyên đã được làm cũ đẩy cửa bước vào. Cậu ấy kinh ngạc thốt lên: “Mẹ, mẹ làm sao thế này?”

Chu đại nương thấy con trai đã về, cũng chẳng thèm diễn tiếp nữa, bà ngồi phắt dậy khỏi giường: “Không sao, không sao cả, chỉ là vừa nãy hít phải ngụm gió lạnh nên tức ngực chút thôi. Con mau đưa kỳ phổ cho Tiểu Đào cô nương mang về đi.”

Tần Thư trao xấp giấy tuyên kia cho Tiểu Đào, nàng nói: “Tiểu Đào cô nương, mẹ ta hiện giờ lâm vào tình cảnh này, cũng chẳng rõ là mắc phải chứng bệnh nghiêm trọng gì, phía Tô tiểu thư chỉ e là ta không thể tới được rồi. Chỗ kỳ phổ này cô nương cứ mang về cho tiểu thư là được, còn như chuyện ba trăm lượng bạc kia vốn chỉ là lời nói đùa thôi, tiểu thư tùy ý đưa mười lượng hay tám lượng để ta có tiền chữa bệnh cho mẹ, ấy cũng là đủ rồi.”

Tiểu Đào ôm xấp giấy kia vào lòng, rồi đáp: “Được rồi, Chu nương tử, tôi sẽ về bẩm lại với tiểu thư nhà tôi.”

Sau khi tiễn Tiểu Đào cùng đại phu ra khỏi cửa, Chu đại nương bấy giờ mới sốt sắng nói: “Sao không bảo người đi theo mà lấy tiền? Chỉ mấy tờ giấy đó mà đổi được tận mười lượng tám lượng, đồ thì đưa cho người ta sòng phẳng thế, ngộ nhỡ họ nuốt lời, không mang bạc đến thì biết tính sao?”

Hạ Hà cùng Chu Hoành Sinh thấy Chu đại nương khí thế bừng bừng, ngồi đó vừa nói vừa đấm giường thình thịch, vẻ mặt hai người thoáng chút đơ cứng: “Mẹ, rốt cuộc người là bệnh thật, hay là đang giả bệnh thế?”

Tần Thư rót một chén trà đưa cho Chu đại nương: “Ta vốn không muốn quay lại chỗ Tô tiểu thư làm việc nữa, nên mới bảo mẹ giả bệnh, vừa để từ chối khéo, lại không đến mức đắc tội với người ta. Còn về phần bạc trắng thì mẹ cứ yên tâm đi. Những gia đình như họ, một khi đã có được thứ mình hằng mong ước thì sẽ không chiếm chút lợi nhỏ này của chúng ta đâu.”

Chu Hoành Sinh lấy làm lạ, nên hỏi: “Đó là kỳ phổ gì mà lại đáng giá tới ba trăm lượng bạc như thế? Tỷ tỷ thế mà cũng biết đánh cờ sao?”

Tần Thư tùy tiện tìm đại một lý do để lấp liếm cho qua chuyện: “Đó là thuở trước khi còn ở Nam Kinh hầu hạ trong phủ, ta từng theo chân lão thái thái lên chùa, tình cờ thấy một vị lão hòa thượng đánh cờ như vậy nên cũng học lỏm được đôi chút mà thôi.”

Cũng may cậu ấy không gặng hỏi thêm gì nữa. Còn Chu đại nương, vừa nghe đến con số ba trăm lượng bạc là lập tức cuống cuồng cả lên: “Tận ba trăm lượng bạc cơ đấy! Không được, ta phải dẫn nha đầu Hạ Hà tới cửa nhà họ mà đợi, ngộ nhỡ họ nuốt lời thì biết tính sao?”

Tần Thư vội vàng giữ bà lại: “Mẹ, người vừa mới phát bệnh xong, giờ lại chạy đi đòi tiền, như thế còn ra thể thống gì nữa? Người cứ yên tâm, chiếu theo tính khí của Tô tiểu thư kia, thì sớm mai nhất định sẽ sai người mang bạc tới thôi.”

Quả nhiên mọi chuyện đều đúng như những gì Tần Thư dự liệu. Chẳng cần đợi đến sáng sớm hôm sau, ngay khi màn đêm vừa buông xuống, Tiểu Đào đã ôm một bọc hành lý mang bạc tới: “Chu nương tử, trong bọc này tổng cộng là một trăm lượng bạc trắng, ngoài ra đây là hai trăm năm mươi lượng ngân phiếu. Tiểu thư nhà ta nói, lệnh mẫu lâm bệnh nguy kịch nên không nỡ gượng ép cô ở lại nữa, số tiền năm mươi lượng dư ra này là để dành cho Chu đại nương chạy chữa thuốc thang.”

Tần Thư lấy từ trong bọc ra một thỏi bạc vụn chừng năm lượng đưa cho Tiểu Đào, nàng nói: “Tiểu Đào cô nương, những ngày qua đa tạ cô nương đã tận tình chiếu cố. Sau này khi cô nương trở về Tống phủ, nếu trong phủ có việc kim chỉ thêu thùa gì, mong cô nương lưu tâm nhắc đến ta một tiếng, như vậy là ta đã vô cùng cảm kích rồi.”

Tiểu Đào đúng là sắp phải trở về Tống phủ, nhưng cô ấy chẳng rõ vì sao Chu nương tử lại biết được chuyện này. Cô ấy vốn là nha hoàn được sinh ra tại Tống phủ, nay thấy Tần Thư ra tay hào phóng, làm người lại thấu tình đạt lý nên liền sảng khoái nhận lời: “Cô cứ yên tâm, người quản việc kim chỉ thêu thùa chính là cô mẫu của tôi, đến lúc đó nhất định sẽ chiếu cố việc làm ăn của cô.”

Tiễn Tiểu Đào ra cửa xong, quay vào đã thấy Chu đại nương, Hạ Hà và Chu Hoành Sinh đều đang vây quanh bàn, nhìn chằm chằm vào bọc bạc đến ngây dại. Chu đại nương thốt lên: “Ôi trời ơi, cả đời này ta cũng chưa từng thấy qua nhiều bạc như vậy. Ba trăm lượng bạc này, cứ để không chẳng cần làm gì cũng đủ chi dùng trong mười mấy năm rồi.”

Tần Thư lúc trốn đi vốn dĩ mang theo trong người hơn bốn trăm lượng bạc, chỉ là đạo lý “không nên khoe của tránh gặp hoạ”. Vợ chồng Chu đại nương trước đây tuy tốt, nhưng nàng chẳng rõ lòng dạ họ bây giờ ra sao, nên chỉ nói trên người mang theo chừng bốn mươi, năm mươi lượng bạc, không có nhiều hơn, vả lại cũng đã mang đi mua máy dệt cả rồi.

Hạ Hà khẽ níu lấy vạt áo của Tần Thư, lắp bắp nói: “Tiểu thư, nhiều tiền quá, thật là nhiều tiền quá đi thôi.”

Tần Thư tách từ trong đống bạc ấy ra năm mươi lượng đưa cho Chu đại nương: “Mẹ, chỗ này người cứ cầm lấy đi, vốn dĩ đây là tiền Tô cô nương đưa để người chạy chữa bệnh tình mà.”

Nào ngờ Chu đại nương lại lắc đầu: “Ta đâu có biết quản tiền, cứ giao vào tay ta là ta chỉ biết tiêu pha thôi. Thôi thì vẫn để con trông nom, ta biết con là người có bản lĩnh, lại có tài ‘tiền đẻ ra tiền’. Chỗ bạc này tuy nhiều, nhưng cũng chẳng thể tiêu dùng cả đời được. Con cứ cầm lấy, hãy tính toán kỹ xem nên làm công việc kinh doanh nhỏ gì, để nhà chúng ta cũng có được chút sản nghiệp riêng.”

Tần Thư bèn đáp: “Vậy cũng được, ngày mai trước tiên mỗi người chúng ta sẽ may một bộ y phục mới để mặc.” Hạ Hà là người vui sướng nhất, bởi cô ấy vốn là trẻ chạy nạn được Chu đại nương nhặt về nuôi dưỡng.

Chu đại nương vốn tính từ bi, thêm một đôi đũa hay cho miếng ăn thức uống thì không thành vấn đề, nhưng bảo may y phục mới thì quả là không có tiền.

Tần Thư lại nói tiếp: “Còn về việc kinh doanh gì thì con cần phải suy tính cho thật kỹ, hiện giờ cũng chưa cần nóng vội. Chỉ là bọn con vốn định lên đường tới thư viện Vạn Tùng ở Hàng Châu, mà mấy ngày nay đã bị trì hoãn ở chỗ Tô tiểu thư rồi. Theo ý con, chi bằng mọi người mau chóng thu xếp hành lý để khởi hành sớm, tránh để lúc tới nơi thì Ôn Lăng tiên sinh đã rời đi mất rồi.”

Mọi người đều không phản đối, duy chỉ có Chu đại nương là nhất quyết chẳng chịu đi. Bà bảo mình vốn không biết chữ, nghe giảng học để làm gì, chi bằng ra phố nghe người ta kể truyện còn hơn. Huống hồ nếu bà cũng đi nốt, thì ai ở lại trông coi nhà cửa đây?

Cả nhà lại rôm rả bàn bạc một hồi xem nên tới tiệm nào mua vải vóc, sau lại nghe nói tơ lụa Hàng Châu rẻ hơn Dương Châu rất nhiều, Chu đại nương liền bảo: “Đằng nào các con cũng phải tới Hàng Châu, nếu ở đó rẻ thì cứ mua từ Hàng Châu mang về. Còn nếu giá cả cũng tựa như Dương Châu, thì đợi lúc quay về rồi mới may y phục cũng chẳng muộn.”

Tần Thư biết rõ ý bà là không nỡ tiêu tiền nên cũng chẳng nói thêm, chỉ tỉ mỉ dặn dò lại việc nhà một lượt. Nàng căn dặn bà buổi đêm không được ngủ một mình, hãy mời bà lão nhà hàng xóm sang bầu bạn, và nhất thiết phải cài then đóng cửa cho thật cẩn thận.

Tần Thư cứ lải nhải mãi khiến Chu đại nương phát phiền: “Chuyện này sao ta lại không biết cơ chứ? Ta đã ngần này tuổi đầu rồi, lẽ nào những việc như vậy còn chẳng rõ hay sao? Ngay vách nhà ta chính là nơi ở của nha dịch phủ đường đấy, kẻ trộm cắp vặt nào mà dám bén mảng đến đây?”

Tần Thư không nói thêm gì nữa, nàng kiểm kê lại từng đồng bạc thật kỹ rồi khóa chặt vào trong tủ. Còn những tờ ngân phiếu thì đã được nàng khâu kín vào lớp áo trong từ sớm. Đêm khuya nằm trên giường, nàng thầm cảm thán trong lòng: “Dù ở thời đại nào đi chăng nữa, tiền của người giàu cũng thật dễ kiếm. Phải cảm ơn đồng chí Tần thân yêu của mình, nếu ngày trước không nhờ bố ép học cờ, luyện cờ thì giờ mình cũng chẳng kiếm nổi món hời này. Tuy không trở thành kỳ thủ chuyên nghiệp như ý nguyện của ông bô, nhưng ít nhất mình cũng chưa quên cái nghề này.”

Trong tâm trí nàng dường như hiện lên gương mặt hớn hở, mày bay mắt múa của đồng chí Tần: “Còn phải nói sao, ba của con từ trước đến nay lúc nào chẳng là người có khả năng nhìn thấu sự việc.”

Tần Thư mỉm cười hướng về phía hư không, lại vung tay như đang vỗ tay cùng hư không ấy: “Đồng chí Tần à, giờ đây con không trách ba nữa. Ngày mai con còn phải tới Hàng Châu, nên đi ngủ trước đây ạ.”

Đến ngày hôm sau, Chu Hoành Sinh nhờ vả một vị văn thư quen biết ở nha môn làm giúp giấy thông hành, lại ra chợ súc vật thuê một cỗ xe ngựa, thỏa thuận rõ ràng là cả người lẫn xe sẽ theo một chuyến đến Hàng Châu. Tiền ăn ở của phu xe đều bao trọn, đi về trong khoảng một tháng, tiền công tổng cộng là năm lượng bạc.

Chu Hoành Sinh dắt xe ngựa về đến nhà, Hạ Hà liền bước tới ngó nghiêng một hồi, rồi bỗng bịt mũi bước ra: “Tiểu thư, cỗ xe này chẳng biết trước đó dùng để chở thứ gì mà nồng nặc mùi hôi thối.” Nói xong, con ấy bèn bưng nước ra lau chùi một lượt kỹ càng, lại đốt một nén hương xông loại rẻ tiền mang lên xe để khử mùi, lúc bấy giờ mới hài lòng: “Nghe người ta nói đường đến Hàng Châu dài tận mấy trăm dặm, chúng ta có nên mang theo một chiếc chăn nệm để lót chỗ ngồi không?”

Chỉ có Chu đại nương khi nghe chuyện thuê xe ngựa mất tận năm lượng bạc thì xót xa mãi chẳng thôi: “Ta nói rồi mà, đi đường thủy chẳng phải tốt hơn sao, vừa rẻ lại vừa nhanh? Thế mà tỷ tỷ con cứ khăng khăng là mình say sóng, nên không thể ngồi thuyền được.”

Thực ra nào phải Tần Thư sợ say sóng, nàng chỉ lo tại bến tàu Lục Trạch đã bố trí người canh gác, nên chẳng dám dấn thân vào chỗ hiểm nguy mà thôi.

Chu Hoành Sinh ôm hành lý bước ra, nói: “Mẹ, tiền cũng đã tiêu rồi, người bớt càm ràm vài câu đi thôi.”

Hạ Hà vốn là người chu toàn, ngoài hành lý ra, ngay cả các loại thuốc thang, dược liệu thường dùng cô ấy cũng mang theo đủ cả, ấy là chưa kể đến đủ loại quà bánh ăn vặt. Con ấy cười hớn hở: “Tiểu thư, nghe người ta đồn rằng Tây Hồ ở Hàng Châu danh bất hư truyền, nếu có dịp, chúng ta cũng nên tới đó ngắm cảnh một chuyến cho biết chứ?”

Cô ấy vừa mới mở miệng đã bị Chu đại nương lườm cho một cái cháy mặt: “Cho con theo hầu là để hầu hạ tiểu thư và thiếu gia, trong đầu cứ chỉ chực nghĩ đến chuyện chơi bời thì còn ra thể thống gì nữa?”

Hạ Hà thè lưỡi tinh nghịch, rồi vội vàng chạy lại nấp sau lưng Tần Thư.

Đến giữa trưa, Tần Thư, Chu Hoành Sinh cùng Hạ Hà thúc xe ngựa, khởi hành hướng về phía Hàng Châu.

Tần Thư đâu có hay biết rằng, ngay đêm hôm ấy, tại Hà Phong tiểu trúc đã đón một vị quý nhân ghé thăm. Nếu như nàng biết được chuyện này, hẳn sẽ thầm cảm thấy may mắn vì mình đã cao chạy xa bay từ sớm.

>>

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *