Chương 41: Nói lời thật lòng
Khi Lục Trạch đến nơi thì đã là chuyện của bảy ngày sau. Hắn bước vào phòng mang theo hơi lạnh thấu xương, vừa nhìn đã thấy Tần Thư đang ngoan ngoãn ngồi bó gối như một chú mèo nhỏ. Nàng chỉ mặc một lớp trung y mỏng manh, đôi bàn chân trần đã lạnh đến mức các đầu ngón chân đỏ ửng lên.
Cửa sổ mở toang, một cành mai xanh đâm ngang vào phòng. Dải lụa vân gian rủ từ cánh tay xuống tận mặt đất, cũng là một sắc xanh thanh khiết, nhạt nhòa tựa như cánh mai kia. Người đẹp trước cửa sổ đang nhìn ngắm hoa mai đến xuất thần, bất động tựa như người trong tranh vậy.
Lục Trạch chậm rãi bước lại gần, thấy trên chiếc bàn thấp đặt trên giường lò có bày những quân cờ nằm rải rác. Hắn tùy ý cầm lấy một quân cờ trắng rồi thả xuống bàn cờ, phát ra một tiếng ‘đinh đoong’ thanh thúy, rồi hỏi: “Đã nghĩ thông suốt chưa?”
Tần Thư quay đầu lại, đôi mắt vẫn còn đỏ hoe và sưng mọng, dáng vẻ rõ ràng là vừa mới khóc xong. Lúc này, nàng nhìn Lục Trạch bằng ánh mắt lạnh lùng, sống lưng rướn thẳng, tuyệt nhiên không thấy chút dáng vẻ tự ti hay tự thương hại bản thân nào: “Giang sơn dễ đổi bản tính khó dời, Tổng đốc đại nhân bảo ta phải nghĩ cho thông suốt, e là cả đời này ta cũng chẳng thể thông suốt nổi. Muốn ta tâm đầu ý hợp làm nữ nhân của ngài, đó là chuyện tuyệt đối không bao giờ xảy ra. Ngài nhất quyết cưỡng ép, giam cầm ta trong hậu lạch của ngài, ta là phận nữ nhi yếu đuối, trói gà không chặt, quả thực chẳng thể làm gì được ngài. Nhưng chỉ cần ta còn sống, còn một hơi thở, thì tự khắc sẽ tìm đủ mọi cách để trốn thoát. Ta thà ở bên ngoài ngày đêm thêu thùa, sống cảnh thanh bần, còn hơn phải quỳ trên giường của ngài mà hầu hạ ngài hoan lạc!”
Nàng hơi nghiêng đầu, hơi lạnh trắng xóa từ khóm mai ngoài cửa sổ ùa vào bao trùm lấy bóng dáng ấy. Nàng nhìn chằm chằm vào Lục Trạch, rồi gằn từng chữ một: “Mỗi lần ngài chạm vào ta, ta đều cảm thấy vô cùng ghê tởm. Mỗi tấc da thịt mà ngài từng động đến, ta đều hận không thể lóc bỏ đi cho rảnh nợ.”
Những lời lẽ trước đó vốn đã nằm trong dự liệu của Lục Trạch, duy chỉ có câu cuối cùng này là thực sự đâm trúng tim đen. Mỗi lần chạm vào nàng, đều khiến nàng thấy ghê tởm sao?
Lục Trạch căm phẫn nghĩ thầm, nếu trên giường chiếu mà nàng thực sự thấy ghê tởm, thì hà tất phải bày ra cái vẻ xuân sắc mê người, tình tứ nũng nịu không chịu nổi như thế làm gì. Hắn tiến tới một bước, bóp chặt lấy cằm Tần Thư rồi lạnh lùng cười nhạo: “Quả nhiên là một cái xương cứng khó gặm.”
Hắn tuy ngoài mặt vẫn chưa biểu hiện gì nhiều, nhưng trong lòng đã giận đến cực điểm, tay chẳng còn chút chừng mực nào. Tần Thư nhất thời chỉ cảm thấy xương cốt mình sắp bị hắn bóp nát đến nơi.
Có điều, tính cách nàng vốn dĩ là người ưa ngọt chứ không chịu được hăm dọa, lúc này chỉ biết cắn răng chịu đựng, nhắm nghiền mắt lại, chẳng buồn liếc nhìn Lục Trạch lấy một cái, càng đừng nói đến chuyện mở miệng cầu xin.
Lục Trạch quan sát một hồi, thấy nàng tuy đau đớn đến mức khẽ cau mày nhưng vẫn chẳng lộ ra ý định cầu xin, hắn liền lạnh lùng cười nhạt hai tiếng, hất tay ra rồi hướng ra bên ngoài ra lệnh: “Mang roi tới đây!”
Đinh Vị cùng Hà phu nhân đều đang đợi ngoài cửa, nghe thấy mệnh lệnh này thì không khỏi giật mình kinh hãi. Đinh Vị đi theo Lục Trạch từ năm mười mấy tuổi, vốn quá hiểu tính tình của chủ tử, ngài ấy đối với người khác từ trước đến nay luôn khách khí nhưng xa cách, có bao giờ chấp nhặt với đàn bà con gái, lại càng chẳng nói tới chuyện đánh phụ nữ.
Ngay cả hiện giờ khi đã đến Hàng Châu, bên cạnh ngài ấy cũng chỉ có mỗi một mình Bằng nhi cô nương, chưa từng có thêm người phụ nữ nào khác. Bản thân Đinh Vị cũng tự mắt thấy rõ chủ tử đối đãi với Bằng nhi cô nương thế nào, lúc này chỉ sợ là nàng lại nói lời gì mạo phạm, khiến gia chủ nổi trận lôi đình.
Y vốn luôn mang theo một chiếc roi mềm màu bạc bên mình, bèn lập tức tháo xuống, đang định mang vào thì bị Hà phu nhân ngăn lại: “Đinh gia, để tôi mang vào cho.”
Đinh Vị nhất thời do dự, lại nghe thấy tiếng mắng từ bên trong truyền ra: “Đinh Vị, ngươi còn lề mề cái gì? Mau cút vào đây cho ta!”
Đinh Vị rảo bước lên bậc thềm, cúi gầm mặt không dám nhìn ngó lung tung, đứng nép bên tấm bình phong thưa: “Gia, cây roi này không giống những loại khác, chỉ cần mười roi là đủ khiến người ta da thịt nát bấy rồi…”
Y không khuyên thì thôi, lúc này nói ra những lời ấy chẳng khác nào đổ thêm dầu vào lửa. Lời còn chưa dứt đã bị Lục Trạch quát ngắt lời: “Còn dám nói thêm nửa câu thì lập tức cút đi Tây Bắc cho ta.”
Đinh Vị không dám hé môi thêm một lời, khom lưng, hai tay dâng roi, đôi mắt nhìn chằm chằm xuống mặt đất. Y chậm rãi tiến lên phía trước, bỗng nhiên trong tầm mắt hiện ra một đôi chân ngọc, chưa kịp định thần đã bị dọa cho giật mình một phen.
Cơn thịnh lộ của Lục Trạch đang bốc lên ngùn ngụt, hắn giật lấy cây roi rồi hỏi Tần Thư: “Nàng còn điều gì muốn nói không?” Hắn hỏi câu này, thực chất là hy vọng Tần Thư có thể biết điều một chút, nói lấy vài lời mềm mỏng cầu xin mà thôi.
Nào ngờ Tần Thư chỉ khẽ nở nụ cười, nàng đáp lại: “Có, ta có một câu muốn nói với ngài một câu về suy nghĩ thật trong lòng ta, ngài còn chẳng bằng phụ thân hay đệ đệ của ngài, ngài thực sự khiến ta cảm thấy vô cùng ghê tởm!”
Nụ cười ấy chỉ là sự nhếch mép khẽ khàng, đôi mắt và hàng chân mày vẫn phẳng lặng không chút gợn sóng, hệt như những lần nàng cười với hắn trước đây. Ngày đó, Lục Trạch chỉ đơn thuần nghĩ rằng bản tính nàng vốn e thẹn, ngay cả khi tình nồng ý đượm trên giường chiếu cũng chỉ cười nhạt như thế mà thôi. Đến tận giờ phút này chứng kiến, hắn mới vỡ lẽ rằng nụ cười ấy chưa chắc là vì vui sướng hay động lòng, mà mười phần thì cả mười đều là sự mỉa mai và khinh miệt.
Nghĩ đến đây, Lục Trạch cảm thấy đầu óc ‘oàng’ một tiếng, hoàn toàn tỉnh ngộ. Sợ rằng những lời ghê tởm và chán ghét thốt ra từ miệng nàng chẳng hề phóng đại, còn những lúc mắt biếc nụ cười, nửa giận hờn nửa si mê ngày trước, tất cả chẳng qua chỉ là trái với lương tâm, là đóng kịch để đối phó với hắn mà thôi.
Hắn không hề nhận ra sắc mặt mình đã trở nên vô cùng khó coi, chỉ cảm thấy lồng ngực bí bách, nghẹn ứ đến cực điểm. Hắn thở hắt ra một hơi dài rồi gằn giọng: “Tốt lắm, đây là do chính nàng tự chuốc lấy.”
Hắn nhìn chằm chằm vào cây roi trong tay, hồi lâu sau mới bật ra một tiếng cười lạnh, rồi xoay người ra lệnh cho Đinh Vị: “Dẫn Chu Hoành Sinh lên đây!”
Đinh Vị thở phào nhẹ nhõm, lập tức ra khỏi cửa. Y lôi theo Chu Hoành Sinh, người vốn đang bị trói ở cửa, bịt mắt và ngậm miệng, rồi dẫn vào bên trong.
Tần Thư vốn cứ ngỡ trận đòn roi này là dành cho mình, nếu vậy thì cũng chẳng sao, nhưng nếu đánh lên người kẻ khác, thì sao nàng có thể an lòng cho được? Sắc mặt nàng lập tức biến đổi, tiến lên một bước ngăn cản: “Việc này thì có liên quan gì đến đệ ấy?”
Lục Trạch hất văng tay Tần Thư ra: “Tội bắt cóc và đưa thê thiếp đi bỏ trốn, cho dù có giết ngay tại chỗ thì luật pháp cũng đã quy định rõ ràng. Nàng cứ việc nói thêm vài câu càn quấy nữa đi, thiếu gì người phải chịu tội thay nàng đâu. Thằng nhóc này nếu bị đánh mười roi mà chết, chẳng phải cùng nàng đến Hàng Châu vẫn còn một tiểu nha đầu nữa sao?”
Những lời này khiến Tần Thư lạnh thấu đến tận xương tủy, người nàng run rẩy bần bật. Chẳng kịp để bản thân suy tính thêm điều gì, nàng lập tức quỳ sụp xuống, níu lấy vạt áo của Lục Trạch mà van nài: “Đều là do ta không biết thời thế, đã phụ lòng tốt của đại thiếu gia. Cầu xin đại thiếu gia đại nhân đại lượng, đừng chấp nhặt với kẻ tiểu nhân như ta, xin hãy thả người không liên can này ra.”
Lục Trạch nhìn gương mặt trắng bệch vì lo lắng cho kẻ khác của nàng, trong lòng càng thêm bực bội, hắn gạt nàng ra rồi lạnh lùng thốt: “Muộn rồi.”
Đinh Vị thấy hai người lời qua tiếng lại, sự việc càng lúc càng đi quá xa, vừa định mở miệng khuyên can thì đã nghe thấy hai tiếng roi xé gió vang lên. Y kinh hãi ngẩng đầu nhìn lên, chỉ thấy Chu Hoành Sinh đã đổ gục trên mặt đất, trên lưng hiện rõ hai vết roi rớm máu.
Trên chán của Chu Hoành Sinh nổi đầy gân xanh, cả người co quắp lại, phát ra những tiếng rên rỉ nghẹn khuất trong cổ họng.
Tần Thư vội vàng lao tới che chắn, đuôi roi quất sượt qua mặt nàng, để lại trên gò má trái một vết máu nông.
Nếu là kẻ khác, ngay cả những đấng nam nhi thường tình, trong cảnh huống này cũng chẳng mấy ai dám lao ra đỡ roi như Bằng nhi cô nương. Tần Thư quệt đi vệt máu nơi khóe miệng, rồi lạnh lùng nói: “Ngài không vừa ý thì cứ việc đánh ta là được, hà tất phải làm khó những người không liên quan. Họ chỉ là người dân nghèo thấp cổ bé họng, chẳng biết chút gì về chuyện của ta cả, chỉ vì từng thụ ân của ta nên mới thu nhận ta mà thôi.”
Đinh Vị thấy cảnh này thì đờ người ra tại chỗ, thầm nghĩ, Bằng nhi cô nương này không lẽ bị dồn ép đến phát điên rồi sao? Chẳng lẽ nàng không biết rằng nàng càng nói đỡ cho người ngoài, thì gia chủ sẽ càng giận dữ hơn hay sao?
Y còn đang ngẩn người ra vì những lời nói của Tần Thư, thì đột nhiên chiếc roi bạc kia bị ném văng tới, quật thẳng vào bức bình phong sơn thủy bốn tấm. Cả bức bình phong đổ sụp xuống đất, phát ra những tiếng ‘loảng xoảng’ chói tai. Ngay sau đó là tiếng quát tháo đầy giận dữ của Lục Trạch: “Đôi mắt chó của ngươi đang nhìn đi đâu đấy? Mau áp giải người rồi cút ra ngoài ngay!”
Đinh Vị chẳng dám nán lại trong phòng thêm giây phút nào, lập tức lùi lại vài bước, áp giải Chu Hoành Sinh ra khỏi cửa rồi đứng túc trực ở phía xa bên ngoài.
Sau lưng Chu Hoành Sinh máu chảy đầm đìa, cậu ấy nằm gục dưới đất không ngừng nấc nghẹn. Đinh Vị phất tay một cái, lập tức có người tiến đến khiêng cậu ấy đi.
Hà phu nhân đứng từ đằng xa, chứng kiến cảnh tượng ấy liền hỏi: “Đinh gia, cô nương kia trông có vẻ là người mang bệnh yếu ớt, chỉ sợ không chịu nổi cực hình đâu.”
Đinh Vị nhìn Hà phu nhân với ánh mắt kỳ quặc. Thấy trong phòng đột nhiên im bặt không một tiếng động, y chỉ sợ gia chủ nhà mình bị Bằng nhi cô nương kích động, dù thực tâm không muốn phạt nàng thì lúc này cũng đã lâm vào thế khó, không có bậc thang để xuống.
Y đứng ngoài cửa một hồi lâu, cuối cùng đánh liều, đành cứng đầu hướng vào bên trong bẩm báo: “Thưa gia, Dương tiên sinh phái người đến tìm ngài, chắc hẳn là có việc gì hệ trọng cần bàn bạc ạ.”
Trong lòng Đinh Vị còn đang lo lắng không yên, thì đã thấy Lục Trạch đẩy cửa bước ra, gương mặt lạnh lẽo như băng ra lệnh cho Hà phu nhân: “Đi mời thầy thuốc đến bôi thuốc cho nàng. Nếu không có lệnh của ta thì không ai được phép gặp nàng, trong phòng phải có người canh chừng mọi lúc.”
Hà phu nhân gật đầu, dù trong lòng vẫn còn nhiều điều muốn nói, nhưng thấy sắc mặt này của Lục Trạch, nàng ta cũng không dám mở lời. Nhìn theo bóng lưng của hắn, bà không khỏi rơi vào trầm tư.
Bước vào phòng, thấy Tần Thư đã nằm im lìm trên giường, Hà phu nhân nhìn sang thì cũng chỉ thấy được một vết tích nhỏ trên gương mặt của nàng. Nàng ta không khỏi cảm thán, thầm nghĩ cô nương này thực sự rất được lòng Tổng đốc đại nhân, bướng bỉnh khó thuần đến nhường ấy, vậy mà lúc ngài ấy bảo mang roi vào, hóa ra cũng chỉ là ‘sấm to mưa nhỏ’ mà thôi.
Nàng ta nói với Tần Thư: “Cô nương, cô là người thông minh, hà tất phải tự làm khổ bản thân mình, chịu những nỗi đau da thịt vô ích này chẳng phải là quá oan uổng sao? Mọi việc trên đời suy cho cùng cũng chỉ nằm ở một câu: Ngày rộng tháng dài mà thôi.”
Tần Thư nằm trên giường, lúc nãy nàng lao tới đỡ roi cho Chu Hoành Sinh nên sau lưng cũng bị quất trúng nửa roi, đau rát vô cùng. Cơn đau ấy như lan tỏa thành một dải, kéo dài mãi cho đến tận khóe miệng. Nàng nhắm nghiền mắt lại, rồi u uất nói: “Hà phu nhân, trời đất giao hòa, vạn vật tự sinh. Một con người mà mất đi cái cốt cách, thì sợ rằng cũng chẳng sống nổi được mấy năm đâu.”
Hà phu nhân biết lúc này nàng đang trong cơn uất hận, không nên khuyên nhủ thêm nữa, bèn nói: “Ta đã mời đại phu tới rồi, lát nữa để bà ấy khám cho cô nương nhé?”
Đầu óc của Tần Thư mê man, nàng lơ mơ đáp: “Tôi mệt rồi, đợi tôi ngủ dậy rồi tính tiếp.”
Mọi người trong phòng đều đã lui ra ngoài hết, chỉ còn lại một tiểu nha hoàn lặng lẽ đứng bên cạnh giường.
Nằm một lúc, tay chân đều lạnh ngắt. Tiểu nha hoàn thấy Tần Thư cứ mở trừng mắt thẫn thờ nhìn lên màn trướng, bèn chạy ra ngoài lấy một chiếc lò sưởi tay nhét vào trong chăn cho nàng, rồi ngồi xuống trò chuyện với Tần Thư: “Cô nương còn lạnh không? Hôm nay trời lạnh lắm, bên ngoài đóng băng cả rồi. Lúc nãy cô nương mở cửa sổ ngồi suốt buổi, nếu bị nhiễm phong hàn thì không tốt đâu.”
Tần Thư không trả lời, nhưng tiểu nha hoàn này cũng chẳng lấy đó làm phiền, vẫn cứ líu lo nói không ngừng: “Hôm nay, Đổng tỷ tỷ ở Tô Châu đã về rồi, mang theo bao nhiêu là thứ, còn bảo sau này sẽ không quay lại Tô Châu nữa. Ồ, vốn dĩ Đổng tỷ tỷ bị công tử nhà quan Tuần phủ Chiết Giang trước đây cưỡng ép mua đi, nhưng nghe các tỷ tỷ trong viện kể rằng, vị Tuần phủ Chiết Giang đó không biết đã phạm tội gì mà bị tống giam vào đại lao, đến cả nhà cửa cũng bị tịch thu rồi.”
Tần Thư biết nha đầu này có ý tốt muốn làm mình khuây khỏa, nhưng lúc này nàng chỉ thấy đầu đau như búa bổ, bèn nói: “Cảm ơn ý tốt của ngươi, đạo lý thì ta đều hiểu cả, chỉ là để làm được thì không dễ dàng gì.”
Tiểu nha hoàn kia vốn chẳng phải hạng người không biết nhìn sắc mặt, lập tức im bặt: “Cô nương nói phải, là do nô tỳ lắm lời quá.”
Tần Thư khẽ thở dài một tiếng, nàng hỏi: “Ai đã sai ngươi đến đây?”
Tiểu nha hoàn đáp: “Dạ là Hà phu nhân ạ.”
Tần Thư chống tay gượng ngồi dậy trên giường, đau đến mức hít vào một ngụm khí lạnh: “Ngươi giúp ta cảm ơn Hà phu nhân, phiền ngươi lấy giúp ta lọ thuốc trị thương lại đây.”
Tiểu nha hoàn vâng dạ một tiếng, biết rằng đây là dấu hiệu cho thấy nàng đã chịu thỏa hiệp, liền vội vàng đi bẩm báo với Hà phu nhân.
Đến khi Hà phu nhân mời nữ đại phu tới, thì máu trên vết roi sau lưng đã bắt đầu đông lại. Nữ đại phu dùng kéo cắt lớp áo ra mới có thể bắt đầu bôi thuốc. Bà ấy nhận thấy vết thương này không giống như bị roi thường đánh trúng, tuy có chảy chút máu nhưng là do gai ngược trên roi móc phải chứ không phải bị đánh quá nặng tay. Sau khi bôi một ít thuốc Vân An bạch dược loại tốt nhất, bà dặn: “Không đáng ngại đâu, cứ cách ba đến năm canh giờ lại thay thuốc một lần, chỉ cần vài ngày là sẽ đóng vảy thôi, nhưng lưu ý là tuyệt đối không được để dính nước.”
Tần Thư lên tiếng cảm ơn, vị nữ đại phu này có lẽ là chỗ quen biết ở đây nên cũng chẳng nhiều lời, bôi thuốc xong liền xách hòm thuốc cáo từ.
Thế nhưng Hà phu nhân lại chẳng giống người thường, nàng ta đích thân choàng chiếc áo choàng bông cho Tần Thư, rồi mỉm cười nói: “Tôi biết cô nương chẳng phải người không hiểu chuyện, chẳng qua là không nhịn được cơn giận này mà thôi. Con người chứ đâu phải đồ vật làm từ bông vải, sao có thể không có lấy một hai phần chủ kiến cho được?”
Tần Thư ôm lấy tách trà nóng, cảm nhận hơi ấm lan tỏa qua từng đầu ngón tay. Nàng rủ mắt xuông rồi khẽ nói: “Phu nhân có gì thì cứ việc nói thẳng.”
Lúc này Hà phu nhân mới chậm rãi bảo: “Trước đây có một bậc nho sĩ từng nói, chuyện trên đời, hay những sơ hở của lòng người, đa phần đều lộ ra thông qua việc giao tiếp và ứng biến. Lại cũng nói, phàm là việc thiên hạ, lợi và hại luôn song hành cùng nhau. Cảnh ngộ hiện giờ của cô nương, đều phải hạ quyết tâm vào hai chữ “ứng biến” mới được. Nếu cứ khăng khăng đối đầu trực diện, chẳng phải là quá đỗi ngu ngốc hay sao?”
Nàng ta có đôi chút bản lĩnh nhìn người, mấy ngày trước chẳng qua chỉ là bầu bạn chuyện trò, đến lúc này mới lấy lời thật lòng ra khuyên giải.
Tần Thư ngẩng đầu, không khỏi có chút ngạc nhiên. Hà phu nhân mỉm cười: “Cô nương lẽ nào nghĩ ta là hạng tú bà táng tận lương tâm, chuyên làm những việc hạ đẳng và rẻ mạt sao? Nếu cô nương không biết cách ứng biến, lại không chê bai thủ đoạn nơi kỹ viện chúng ta, thì ta nhất định sẽ biết gì nói nấy, không giấu nửa lời. Nói một câu không sợ cô nương cười chê, chứ chuyện trên giường chiếu này, có nhiều chiêu trò để vận dụng lắm đấy…”
Tần Thư ấn một quân cờ xuống, rồi lắc đầu nhàn nhạt nói: “Chẳng phải là ta chê bai các người, mà là cái đạo ứng biến của các người e rằng không linh nghiệm trên người hắn đâu. Tự ta đã có cách hay cho mình rồi.”
Hà phu nhân nghe xong thì không nói gì thêm, bước ra ngoài sân. Nhìn thấy cô nương nọ đang ngồi bên cửa sổ đánh cờ, ma ma lớn tuổi đứng bên cạnh khom lưng cười nói: “Phu nhân xem, con nương đó còn chưa bị phạt thật sự, mới chỉ thấy người khác ăn roi, thấy chút máu mà đã ngoan ngoãn ngay rồi đấy thôi. Theo lời tôi nói, muốn dạy dỗ các cô nương thì cứ phải cho ăn một trận đòn phủ đầu cho ra trò, có thế mới chịu nghe lời được.”
Hà phu nhân lắc đầu: “Bà nhìn lầm cô nương ấy rồi, ta thấy tận xương tủy thì cô ấy chẳng biết sợ là gì đâu. Nếu hôm nay không ép người khác đến đây, thì liệu cô ấy có chịu xuống nước hay không vẫn còn chưa biết chắc được.”
Lục Trạch rời khỏi Tây Lãnh thư ngụ khi trời vẫn còn sớm, sương mù bao phủ mịt mùng. Hắn cảm thấy toàn thân bứt rứt không yên, đi dọc theo hàng liễu hàng trăm bước, cho đến khi vạt áo bị sương sớm thấm ướt đẫm mới chịu dừng lại.
Đinh Vị luôn giữ khoảng cách khoảng năm bước lẽo đẽo theo sau, thấy Lục Trạch dừng lại, lúc này y mới dám tiến lên bẩm báo: “Thưa gia, Dương tiên sinh không hề phái người đến tìm, là do tiểu nhân tự ý chủ trương, xin gia giáng tội.”
Không có cơn thịnh nộ như dự đoán, y chỉ nghe thấy một tiếng ‘ừ’ nhẹ bẫng, rồi Lục Trạch hỏi: “Tiểu nha đầu ở quán trọ Đại Đồng sao rồi?”
Đinh Vị đã sớm cắt cử người ở lại theo dõi nên đương nhiên nắm rõ mọi việc như lòng bàn tay: “Tiểu nha đầu đó cứ khăng khăng bảo tiểu thư và thiếu gia nhà mình mất tích rồi đòi đi báo quan. Thuộc hạ đã phái người tới đánh tiếng với tri phủ, bảo ông ta cứ lấp liếm cho qua chuyện. Ngờ đâu nha đầu đó lại là một đứa gàn dở, cứ thế làm ầm ĩ lên, mắng tri phủ là quan hôn quân. Kết quả làm Cát đại nhân tức đến mức cho đánh nó hai mươi gậy, rồi tống giam vào đại lao với tội danh gây rối nơi công đường.”
Chương 42: Tính cách quật cường
Đinh Vị quan sát sắc mặt của Lục Trạch, thấy đã chuyển biến tốt hơn nhiều. Lúc Trạch nghe vậy thì cũng không nói gì thêm, chỉ rảo bước về phía trước vài bước rồi mới phân phó: “Thả người ra đi.”
Đinh Vị vâng lệnh, rồi lại hỏi tiếp: “Thưa gia, còn tờ văn thư nạp thiếp đã chuẩn bị sẵn ở Nam Kinh lúc trước…”
Lời mới nói được một nửa đã bị cắt ngang, Lục Trạch lạnh lùng bảo: “Tạm thời gác lại.”
Lúc này, luồng gió lạnh trên đê liễu Tây Hồ thổi qua khiến Lục Trạch lập tức tỉnh táo lại. Một người phụ nữ không cam tâm tình không nguyện, một con ngựa bất kham… Hắn bỗng nhiên bật cười: Thuần phục một con ngựa hoang dã như thế này, khiến nàng phải sống chết một lòng đi theo mình, âu cũng là một chuyện thú vị. Ngay cả ba quân còn phải dốc sức vì ta, huống chi chỉ là một nữ tử yếu đuối?
Đinh Vị đi bên cạnh vốn đang run rẩy lo sợ, thấy Lục Trạch đang sầm mặt lại đột ngột cười lên, không khỏi cảm thấy có chút rợn tóc gáy.
Trở về phủ Tổng đốc, y liền vùi đầu vào công vụ không nhắc tới chuyện kia nữa. Y vốn nghĩ hôm nay hai người đã đại náo một trận như vậy, e rằng phải trì hoãn vài ngày mới có thể gặp lại nhau.
Chẳng ngờ đến chập tối, Tây Lãnh thư ngụ lại phái một tiểu sai đến bẩm báo: “Cô nương nhà chúng tôi hôm nay sau khi bôi thuốc kim sang, chẳng biết cớ làm sao mà khắp người bỗng nổi mẩn đỏ, lại còn bị sốt cao. Phu nhân đã sai người mời đại phu đến xem, nhưng ông ấy cũng không nói rõ được là bệnh gì, chỉ bảo e là bị loài độc trùng nào đó cắn phải. Hiện giờ cô nương đang mê man bất tỉnh, đến lời nói cũng chẳng rõ ràng nữa. Phu nhân không dám tự ý quyết định, nghĩ lại vẫn nên đến bẩm báo một tiếng thì hơn.”
Đinh Vị liếc nhìn vào trong hoa sảnh. Chiều nay vừa có chiến báo gửi đến, nói rằng có khoảng một hai trăm tên giặc Oa đổ bộ từ Đài Châu, đang tháo chạy khắp nơi. Gia chủ nghe xong liền nổi trận lôi đình, mắng nhiếc cả Tri phủ lẫn Thủ tướng Đài Châu một trận tơi bời: “Quân môn dọc ven biển có đến hàng vạn, ấy thế mà chỉ với một hai trăm tên giặc cỏ, đã khiến các ngươi phải đóng chặt cửa thành, canh phòng như gặp đại địch, đúng là chuyện nực cười xưa nay chưa từng có của triều Đại Tề ta.”
Tri phủ Đài Châu quỳ mọp ở phía dưới, lau mồ hôi trên mặt: “Đốc hiến đại nhân minh giám, chẳng phải hạ quan không dám xuất quân, mà thực sự là không tìm ra tung tích của bọn giặc Oa. Hễ nghe tin chúng ở đâu là hạ quan lập tức dẫn quân đến ngay, nhưng tới nơi thì chẳng còn dấu vết gì nữa. Đến cả đứa trẻ lên ba cũng coi bọn giặc Oa như cha mẹ nuôi, thấy đại quân triều đình thì lại như thấy kẻ thù truyền kiếp. Kẻ thay bọn giặc Oa đưa tin báo cho chúng nhiều không đếm xuể, bắt được một người thì lại lòi ra mười người, hoặc trăm người khác ạ.”
Lục Trạch nghe xong liền nói: “Ngươi là mệnh quan triều đình, gánh vác trọng trách bảo vệ bình an một phương. Nếu bảo không có binh lính để dùng thì thôi đi, đằng này ngươi lại mang theo mấy ngàn phủ binh rúc như rùa trong thành, để mặc con dân ngoài thành bị bọn giặc Oa tàn phá, vơ vét sạch sành sanh.”
Lời này thực sự quá nặng nề, Tri phủ Đài Châu nghe ra được ẩn ý bên trong, liền dập đầu cầu xin: “Hạ quan tự biết tội mình khó thoát, cầu xin đại nhân cho hạ quan được lấy công chuộc tội, dẫu phải hy sinh thân này cũng chẳng từ.”
Lục Trạch lắc đầu, gọi thị vệ của mình vào: “Tháo mũ ô sa của hắn xuống cho ta, kẻ này lơ là chức trách, lập tức đóng cũi giải về kinh thành.”
Tri phủ Đài Châu vốn là môn sinh của Thủ phụ Thôi Giai, lúc này vội vàng kêu lớn: “Đốc hiến vừa mới nhậm chức đã muốn giết người lập uy, định vung đao hướng về phía vị Tọa sư từng chấm thi mình năm xưa hay sao?”
Cái gọi là Tọa sư kỳ thi Hội năm ấy, chính là vị chủ khảo đã chấm bút chọn Lục Trạch đỗ Trạng nguyên. Mà chủ khảo năm đó, thật khéo thay lại chính là Lễ bộ Thị lang khi ấy, nay là Nội các Thủ phụ Thôi Giai.
Lục Trạch nghe xong mà đưa mắt quét qua một lượt, rồi nói: “Khi ta khởi hành tới Giang Nam, Bệ hạ đã dặn rằng quan lại văn võ vùng này vô cùng lợi hại, bảo ta phải phải vô cùng cẩn trọng. Các lão cũng bảo với ta rằng, đại thần phương Nam ai nấy đều có toan tính riêng. Trước lúc đi, ta đã lập quân lệnh trạng trước mặt Bệ hạ, trong vòng ba năm nhất định phải bình định chiến sự vùng Mân Chiết, nếu không làm được sẽ tự xách đầu về gặp Người. Nếu ta làm hỏng việc thì ta tự dâng đầu mình lên. Thế nhưng, trước khi lấy đầu của ta, chư vị cũng nên nhìn xem cái đầu trên cổ mình còn giữ được hay không?”
Đám quan lại vùng Mân Chiết đứng san sát dưới sảnh nghe xong đều vô cùng chấn động. Một vị Tiến sĩ lưỡng bảng, Tri phủ tứ phẩm, vậy mà chỉ bằng một câu nói nhẹ bẫng đã bị lột sạch mũ ô sa? Ai nấy đều nín thở ngưng thần, đứng nghiêm trang vì sợ cơn lôi đình nhất thời giáng xuống đầu mình. Họ tự ý thức được vị Tổng đốc đại nhân này nắm trong tay quyền sinh quyền sát, lại ra tay quyết đoán, tâm địa tàn độc, thưởng phạt phân minh, e rằng không giống với những người trước đây, chốn quan trường Giang Nam này e là sắp đại biến rồi.”
Đợi đến khi bên trong bàn bạc xong xuôi, mọi người lần lượt lui ra thì đã là nửa đêm. Lúc này Đinh Vị mới tiến vào bẩm báo, y dâng một tách trà lên, thấy sắc mặt Lục Trạch vẫn ổn mới thưa rằng: “Thưa gia, người của Tây Lăng thư ngụ vừa sang nhắn, nói là Bằng Nhi cô nương bệnh tình không ổn rồi, đã mời đại phu đến nhưng cũng không rõ là bệnh trạng gì, người cứ mê man lúc tỉnh lúc mơ suốt thôi.”
Lục Trạch lập tức đứng dậy, rồi phân phó: “Cầm thiếp mời của ta, đi mời Phùng lão Thái y đã về hưu đến ngay.”
Hắn cũng không ngồi kiệu, mà cưỡi một con ngựa chạy gấp, rảo bước vội vã đến trước cửa viện, quả nhiên thấy bên trong vẫn còn thắp đèn. Chẳng mấy chốc, một tiểu nha đầu bưng một chậu y phục vấy máu đi ra.
Lục Trạch đứng dưới gốc cây ba tiêu, làm nha đầu kia giật bắn mình, run rẩy không nói được câu nào hoàn chỉnh: “Đại nhân… Đại nhân…”
Lục Trạch hỏi: “Đại phu đã kê đơn thuốc chưa? Cô nương sao rồi?”
Tiểu nha đầu kia vốn nhát gan, chỉ biết gật đầu lia lịa: “Đã… đã tới rồi, chỉ là cô nương nói… thuốc kia đắng quá, không chịu uống…”
Thấy nha hoàn cũng chẳng nói được gì thêm, Lục Trạch nhíu mày xua tay bảo lui xuống. Hắn đưa mắt nhìn về phía cửa sổ, trên lớp giấy tang mỏng manh in bóng dáng thướt tha của người thiếu nữ. Hắn đứng đó một hồi, lòng đầy lưỡng lự, chỉ sợ lúc này mình bước vào không những chẳng nhận được sắc mặt tốt, mà còn để nàng nhìn thấu tâm can của mình.
Hắn thở dài một tiếng, xoay người đi tới chỗ cửa nguyệt động, vừa vặn gặp Đinh Vị dẫn Phùng lão Thái y đi tới. Phùng lão Thái y đã ngoài bảy mươi, cáo lão hồi hương, vừa thấy Lục Trạch liền gọi: “Thế tử.”
Tuổi tác của ông đã cao, lại bị Đinh Vị lôi từ trên giường dậy giữa đêm hôm khuya khoắt, nên đầy bụng cằn nhằn: “Chẳng biết là ai bệnh mà lại hệ trọng đến thế? Cái thân xương cốt già nua này của lão phu bị tiểu tử này thúc giục, cứ như nhà nào đang cháy xà nhà không bằng.”
Phùng lão Thái y vốn là người nhìn Lục Trạch từ nhỏ đến lớn, thế nên dù hiện tại quyền binh của Lục Trạch ngày một lớn, ân sủng của vua ngày càng sâu, nhưng ông vẫn có đủ mặt mũi để than vãn vài câu cằn nhằn như vậy.
Lục Trạch nói: “Là nữ quyến trong nhà phát bệnh cấp tính, còn phải phiền lão Thái y xem giúp cho, thì mới có thể yên tâm được.”
“Nữ quyến?” Phùng lão Thái y ngẩng đầu nhìn quanh. Tuy tuổi đã cao, nhưng danh tiếng của chốn hoa liễu này ông vẫn từng nghe qua. Ông vốn là người nề nếp, tư tưởng lại bảo thủ, tự thấy mình là hàng bề trên nên mở lời: “Thế tử, chẳng phải lão phu nhiều chuyện đâu. Nhưng những nữ tử chốn phong nguyệt phù trầm này, tốt nhất ngài nên ít dính dáng tới thì hơn. Chưa nói đến chuyện khác, chỉ riêng việc lây bệnh thôi đã không hay rồi. Như nhị công tử nhà Vũ Uy Hầu, người đó thì ngài cũng chẳng lạ lẫm gì, một hậu sinh tốt đẹp như thế lại cứ đâm đầu vào ngõ liễu tường hoa, đến nỗi giờ một mụn con nối dõi cũng chẳng để lại được…”
Ông lão cứ thế lảm nhảm mãi không thôi, Đinh Vị thấy sắc mặt gia chủ mình ngày càng tối sầm lại, đành phải cắt ngang: “Phùng lão Thái y, ngài vốn có tấm lòng y đức nhân hậu, mau vào trong xem bệnh cho người ta thì mới là việc quan trọng nhất đấy ạ.”
Lúc này Phùng lão Thái y mới “ầy” một tiếng, để Đinh Vị dìu đi về phía trước, vừa đi vừa lẩm bẩm: “Nếu không phải nể mặt Thế tử, lão đây chẳng đời nào thèm đặt chân đến cái nơi như thế này đâu.”
Còn chưa bước chân vào cửa, ông lão đã bị mùi hương nồng nặc làm cho hắt hơi mấy cái liên tục. Ông chậm rãi móc từ trong tay áo ra một chiếc khăn tay trắng, tỉ mỉ lau lau rồi oán trách: “Đúng là nữ tử chốn phong trần, cách xa tám trượng vẫn còn ngửi thấy cái mùi phấn son nồng sặc cả mũi này.”
Đinh Vị nhăn nhó mặt mày, vừa sợ Bằng Nhi cô nương bên trong nghe thấy, lại vừa sợ vị gia chủ bên ngoài nghe được, đành kéo kéo tay áo Phùng lão Thái y, ra hiệu bảo ông lão bớt nói lại vài câu.
Phùng lão Thái y lầm bầm một câu: “Tên tiểu tử này, mấy năm không gặp, sao lại nhiễm cái thói lôi lôi kéo kéo thế hả?”
Lời vừa dứt, Đinh Vị đã nghe thấy từ bên trong truyền ra một giọng nói trong trẻo nhưng lạnh lùng: “Ai đang nói chuyện bên ngoài đó?”
Đinh Vị không dám tự ý xông vào, đành đứng ngoài thưa lại: “Bằng Nhi cô nương, là Phùng lão Thái y tới để bắt mạch cho cô nương đấy ạ.”
Đợi một lát sau, mới nghe bên trong truyền ra tiếng đáp: “Ta không có bệnh, chẳng việc gì phải bắt mạch cả, bảo ông ấy về đi.”
Phùng lão Thái y hứ một tiếng, chỉ tay vào trong rồi nói với Đinh Vị: “Ngươi nghe thấy chưa? Cái hạng nữ tử chốn phong trần này mà cũng bày đặt làm cao cơ đấy?” Ông lão quay đầu lại nhìn Lục Trạch: “Thế tử, ngài thấy rồi đó, người ta còn chẳng thèm để lão phu bắt mạch cho…”
Lời chưa dứt, đã thấy Lục Trạch với gương mặt đen sì, hầm hầm giận dữ đẩy cửa bước thẳng vào trong. Lúc này lão Thái y mới nhận ra có đôi chút bất thường, bèn ghé sát lại hỏi Đinh Vị: “Chuyện này là thế nào vậy?”
Đinh Vị thở dài một tiếng: “Ngài đừng hỏi nữa, chuyện này đâu đến lượt hạng tiểu nhân như thuộc hạ được phép nhiều lời.”
Lục Trạch hầm hầm giận dữ bước vào phòng, vòng qua bức bình phong, liền thấy bốn góc phòng đều đã đốt chậu than. Ở giữa bàn đặt một chiếc lò nhỏ bằng đất nung đỏ, than lửa đang cháy rực, cả căn phòng so với buổi sáng chẳng biết đã ấm áp hơn gấp bao nhiêu lần.
Tần Thư mặc một chiếc áo choàng lót lông đại mao viền hoa, lớp lông cáo trắng muốt càng làm tôn lên đôi gò má đang ửng hồng vì hơi nóng của lò than, quả đúng với câu nói: “Gương mặt người đẹp rạng rỡ như hoa đào” vậy.
Lục Trạch vốn nghĩ rằng khi vào đây chắc chắn sẽ thấy nàng đang nằm bệnh liệt giường, mặt mày tái nhợt mà nói lời dỗi hờn, giờ thấy nàng trong dáng vẻ này, khiến hắn không khỏi có chút bất ngờ.
Tần Thư lạnh lùng liếc mắt một cái, rồi lập tức quay đầu đi: “Sao thế? Tổng đốc đại nhân nửa đêm không ngủ, lại định cầm roi đến đánh phụ nữ đấy à? Cũng phải thôi, đám đàn ông khốn kiếp ngoài đường kia cũng thích nhất là uống rượu vào rồi về đánh thê tử của mình mà.”
Cái bàn kia rất thấp, nàng ngồi xổm dưới đất, tà váy trắng tinh khôi chồng chất trên mặt sàn trông như tuyết trắng. Nàng vừa thong thả dùng kẹp gắp từng viên than bạc cho vào lò đất nung đỏ, vừa hơ một nhánh cỏ khô không rõ tên bên cạnh lò, chỉ một lát sau đã ngửi thấy một mùi hăng cay tỏa ra.
Lục Trạch nghe nàng nói không chịu gặp đại phu, vốn dĩ hầm hầm giận dữ xông vào, nhưng hiện tại thấy nàng như thế này, tuy rằng lời ra tiếng vào lạnh nhạt, sắc mặt chẳng chút vui vẻ, nhưng cơn giận của hắn đã tan biến hơn phân nửa. Lại nghe nàng nói gì mà uống rượu vào rồi đánh thê tử, hắn nào có phải hạng người đó bao giờ?
Chỉ là sáng nay nghe nàng thốt ra những lời như vậy, hắn giận quá không kiềm được mới quất hai roi, nên giờ cũng chẳng có lời nào để phản bác, đành ngượng ngùng nói: “Vết thương đã bôi thuốc chưa? Hay là cứ gọi đại phu vào xem cho kỹ.”
Tần Thư cứ như không nghe thấy lời hắn, nàng đặt kẹp xuống, rửa tay trong chậu đồng bên cạnh rồi gọi vọng ra ngoài: “Đinh Vị, bảo đại phu vào đi.”
Lúc này đêm sâu tĩnh mịch, giọng nói của hai người bên trong tuy không lớn nhưng đủ để Đinh Vị và Phùng lão Thái y đứng ngoài nghe rõ mồn một. Đinh Vị thì chẳng lấy làm lạ, chỉ có Phùng lão Thái y là bị một phen kinh hãi không hề nhẹ.
Nghe thấy tiếng người bên trong cho phép, thì hai người mới bước vào cửa.
Đinh Vị thì còn đỡ, nhưng Phùng lão Thái y bị mùi hăng cay trong phòng xộc vào mũi làm cho ho khan liên tục. Chỉ có điều, bầu không khí trong căn phòng lúc này thực sự quá kỳ quặc, nên ông lão đành im lặng không nói nửa lời.
Tần Thư ngồi sang một bên, vén tay áo lên, quả nhiên thấy trên cánh tay phủ đầy những nốt mẩn đỏ. Phùng lão Thái y quan sát một hồi, rồi vuốt râu nói: “Cái này à, nhìn không giống bị côn trùng cắn, mà giống như do phong táo tà khí gây ra hơn.” Nói xong, ông ấy định đưa tay ra bắt mạch.
Lục Trạch thấy vậy liền ngăn lại: “Khoan đã.” Hắn cầm một chiếc khăn tay trắng tinh bên cạnh đặt lên cổ tay Tần Thư: “Sợ rằng bệnh này có thể lây lan qua hơi người, tốt nhất là nên ngăn cách một lớp thì hơn.”
Không chỉ Tần Thư mà ngay cả Phùng lão Thái y cũng hiện rõ vẻ ngơ ngác không hiểu gì. Tần Thư hừ lạnh một tiếng, quay mặt đi chỗ khác rồi mỉa mai: “Cái chốn hoa liễu này ta đã ở tới gần mười ngày rồi, giờ này đại nhân lại còn bày đặt giữ kẽ cơ à?”
Phùng lão Thái y nhướng mày, thấy vẻ mặt Lục Trạch trông như đang chịu ấm ức thì trong lòng không khỏi tặc lưỡi kinh ngạc. Ông đưa tay ra bắt mạch rồi phán: “Cô nương đây là do phổi không chịu nổi khí lạnh, bị phong hàn tà khí bên ngoài xâm nhập mà thành. Lão phu kê vài thang thuốc để phát tán khí lạnh này ra ngoài, chỉ tầm một hai ngày là sẽ khỏi thôi.”
Trong lòng Tần Thư cười khẩy, rõ ràng là do buổi trưa nàng ăn một miếng kẹo đậu phộng nên mới bị dị ứng mà thôi. Tuy nhiên, lão Thái y nói một hai ngày sẽ khỏi thì cũng coi như là đúng. Nàng thu tay lại, rồi nói: “Thuốc đắng lắm, ta không uống đâu. Vốn dĩ đã bị đánh, lại còn mất bao nhiêu là máu, giờ mà còn uống thứ thuốc đắng ngắt ấy vào thì đến cơm cũng chẳng nuốt nổi, không biết phải mất bao nhiêu ngày mới bù đắp lại được sức khỏe đây.”
Phùng lão Thái y ngước mắt nhìn Lục Trạch: “Chuyện này… thuốc đắng dã tật, trên đời làm gì có thứ thuốc nào mà không đắng cơ chứ?”
Nào ngờ Lục Trạch bị mỉa mai châm chọc mấy câu như vậy, tuy trước mặt người ngoài có chút mất mặt, nhưng hắn vẫn nói với Phùng lão Thái y: “Vẫn xin lão nhân gia ngài chịu khó suy xét, bốc cho một đơn thuốc nào mà người bệnh dễ uống một chút.”
Phùng lão Thái y nghẹn lời, ông đi sang một bên, Đinh Vị đã sớm bày sẵn giấy bút. Ông cầm bút viết đơn thuốc rồi nói: “Đơn thuốc này tuy không khó uống nhưng tác dụng chậm, những nốt mẩn đỏ kia e là phải chịu đựng thêm mấy ngày nữa đấy.”
Viết xong, ông lão ném đơn thuốc cho Đinh Vị: “Đi sắc thuốc đi, cũng không gò bó mỗi ngày phải uống mấy thang, cứ coi như nước đường, lúc nào khát thì uống một bát là được.”
Đinh Vị đưa đơn thuốc cho nha hoàn, rồi đích thân tiễn Phùng lão Thái y ra ngoài. Lão Thái y liền kéo y lại hỏi nhỏ: “Cái vị cô nương kia có lai lịch thế nào mà ghê gớm? Lão đây chưa từng thấy ai dám nói chuyện với Thế tử theo cái kiểu đó cả.”
Đinh Vị cười xòa cho qua chuyện: “Phùng lão Thái y, hồi ngài còn ở kinh thành đâu có thế này, có bao giờ thấy ngài đi dò hỏi mấy chuyện này đâu?”
Phùng lão Thái y hứ một tiếng, phất tay áo: “Thánh nhân đã dạy rồi, năm mươi tuổi biết mệnh trời, sáu mươi tuổi biết thuận tai, bảy mươi tuổi thì có thể làm những gì lòng mình mong muốn mà không vượt ra ngoài khuôn khổ. Lão phu năm nay đã bảy mươi lăm rồi, đương nhiên là mọi sự đều phải thuận theo cái tâm của mình thôi.”
Đinh Vị cười cười: “Ngài đã ngoài bảy mươi nên có thể tùy ý theo lòng mình, chứ tiểu nhân đây mới có đôi mươi, nào dám học theo ngài được ạ.”
Phùng lão Thái y phất phất ống tay áo rộng lùng bùng, rồi thong thả bước xuống bậc thềm. Vừa leo lên xe ngựa ông vừa nói: “Cứ chờ mà xem, cô nương kia nhìn tướng mạo là biết hạng người thích gây chuyện thị phi rồi. Nếu cầm trịch được thì còn khá, bằng không thì sau này số lần phải gọi lão phu đến đây còn nhiều lắm.”
Đinh Vị không nói gì thêm, đứng dưới hành lang chờ một lát. Một lúc sau, tiểu nha hoàn cầm đơn thuốc đi tới báo: “Đinh gia, giờ này các hiệu thuốc bên ngoài đều đã đóng cửa, trên phố cũng đã thi hành lệnh giới nghiêm rồi. Trong viện của chúng ta lại thiếu mất một vị thuốc, không sao bốc đủ theo đơn này được ạ.”