Chương 45: Lòng thương xót
Đôi môi của Tần Thư lại bị lấp kín, nụ hôn ấy tựa như một trận cuồng phong bão táp. Lục Trạch túm chặt lấy cổ tay nàng ép sát bên thái dương, khiến mái tóc đen nhánh xõa tung ra.
Nụ hôn này dường như mang tính chất trừng phạt, vô cùng thô bạo. Tần Thư chỉ cảm thấy đau đớn khó chịu, chẳng hề có lấy một chút ý vị dịu dàng hay âu yếm nào.
Nàng chợt nhớ về những buổi chiều mưa rào nơi ao nhỏ ở làng quê, con thuyền nhỏ buộc bên bờ bị nước mưa xô đẩy sang một bên, cứ lắc qua lắc lại, ‘bến vắng không người, thuyền tự trôi ngang’. Đám bạn nhỏ đội lá sen trên đầu, dùng những trang kỳ phổ mà Tần Thư xé ra để gấp thành thuyền giấy, rồi thong thả thả xuống ven ao, nhìn chúng dần dần dập dềnh trôi xa.
Ánh mắt Tần Thư dần trở nên mờ mịt, nàng quay đầu lại, va phải ánh mắt vằn vọc tia máu của Lục Trạch, hai hàng lệ trong vắt lập tức trào ra: “Tại sao?”
Lục Trạch không hiểu, hỏi lại: “Cái gì mà tại sao?”
Tần Thư nói: “Tại sao ngài lại đối xử với ta như thế này?”
Ánh mắt ấy tựa như một mảnh sứ trắng mịn dễ vỡ đã xuất hiện những vết rạn nứt, mang một vẻ mong manh đầy tinh tế. Ánh mắt của Tần Thư, từng có lúc ôn hòa, lúc lãnh đạm, lúc trào phúng, lúc lại cương nghị, bất khuất, nhưng duy chỉ có vẻ mặt như thế này là chưa từng có bao giờ.
Lục Trạch chẳng hiểu vì sao mà nhất thời sững người lại, hắn định nói gì đó rồi lại thôi, chỉ cúi đầu hôn lên giọt lệ nơi khóe mắt nàng. Một bàn tay của hắn đưa lên gạt móc vàng, buông màn xuống, che khuất cảnh xuân tình bên trong.
Ngày hôm sau, khi Tần Thư tỉnh dậy thì đã là buổi trưa. Trong phòng tĩnh lặng như tờ, cả người nàng đau nhức đến mức ngay cả cổ tay cũng không nhấc lên nổi. Vừa mới phát ra chút tiếng động nhỏ, bên ngoài đã có nha hoàn cất tiếng hỏi: “Thưa cô nương, người muốn dậy rồi ạ?”
Tần Thư ừ hữ một tiếng, thoáng nhìn thấy những dấu vết hỗn loạn trên giường, nàng hơi thất thần. Trên giường đã không còn bóng dáng của Lục Trạch, nàng bèn mở miệng hỏi: “Đại nhân đi từ lúc nào vậy?”
Nha hoàn kia chậm rãi vén màn giường lên, trên khay bưng theo một bộ y phục sạch sẽ, vẻ mặt đầy sự hoảng hốt: “Bẩm cô nương, đại nhân đi từ lúc trời còn chưa sáng, vào khoảng đầu giờ Mão (5h sáng). Ngài dặn dò chúng nô tỳ rằng cô nương đã mệt, không được làm phiền người.”
Tần Thư liếc nhìn bộ y phục trên khay. Nàng đã hầu hạ trong phủ Quốc công mười mấy năm, chỉ nhìn một cái là nhận ra ngay, đó là chiếc áo bào cổ tròn thêu hoa văn Kỳ lân Loan phụng bằng chỉ vàng, đi cùng váy rồng dệt hoa trên nền sa màu xanh. Đây vốn là phẩm phục mà chỉ những gia đình có ‘Cáo mệnh’ mới được phép mặc.
Sắc mặt nàng hơi trầm xuống. Vào thời kỳ đầu khi triều đại này mới thành lập, y phục và mũ nón đều có quy định riêng biệt. Từ sĩ, nông, công, thương, ai được mặc áo gì, đeo trang sức nào đều có quy định chi tiết; thậm chí ở những gia đình bình dân, phụ nữ còn không được phép đeo trang sức bằng vàng. Hiện tại vương triều đã kéo dài hơn hai trăm năm, những điều cấm kỵ này từ lâu đã không còn giữ được nghiêm ngặt, các tiểu thư trong viện tử cũng từng mặc qua những kiểu váy áo như thế này.
Chỉ là, họ là họ, còn Tần Thư là Tần Thư.
Tần Thư vốn dĩ luôn cẩn trọng, nàng dặn dò: “Ngươi hãy đi tìm một bộ y phục khác đến đây.”
Vẻ mặt của nha hoàn lộ vẻ ngập ngừng, đáp: “Đây là đồ do Tổng đốc phủ gửi đến vào sáng nay, nói là đại nhân đã đích thân dặn dò mang tới cho cô nương ạ.”
Tần Thư hỏi: “Người đưa y phục đến còn ở đó không?”
Nha hoàn lắc đầu: “Là một vị quản sự nương tử mang đến, trông tầm ngoài hai mươi tuổi. Người đó chỉ nói là đại nhân dặn mang tới chứ không có vào trong, giao đồ xong ở ngoài cửa là lập tức rời đi luôn.”
Nghe nha hoàn nói vậy, Tần Thư càng cảm thấy có điều gì đó kỳ lạ. Một người như Lục Trạch vốn dĩ là kẻ cổ hủ và cứng nhắc nhất, sao có thể gửi loại y phục phạm quy đến cơ chứ? Nàng bèn dặn: “Ta không quen mặc y phục mới may, cứ mang đi giặt vài nước rồi hãy mặc, lấy cho ta bộ khác đi.”
Nha hoàn không dám làm trái ý, liền đi lấy một bộ y phục khác đến hầu hạ Tần Thư tắm rửa thay đồ xong xuôi, rồi mới sai người bên ngoài bưng thức ăn lên.
Nha hoàn bưng thức ăn lên, vừa làm vừa nói: “Thưa cô nương, món này được chế biến theo đúng phương pháp mà đại nhân đã dặn: hai lạng tổ yến, dùng nước suối Hổ Bào đun sôi rồi ngâm trong một canh giờ. Sau đó dùng nước dùng từ ba loại: gà non, đùi lợn muối loại ngon và nấm tươi để nấu cho đến khi tổ yến chuyển sang màu trắng ngà như ngọc mới thôi.” (Trích từ “Tùy Viên Thực Đan” của Viên Mai thời nhà Thanh).
Tần Thư không nói năng gì, thực sự nàng cũng đã đói lả. Nàng múc một thìa nếm thử rồi gật đầu, lại gắp thêm một miếng cá chép xào. Thấy trên bàn có bát canh măng tươi nấu với đùi lợn muối, nàng không khỏi kinh ngạc hỏi: “Tầm mùa này thì đi đâu mà tìm được măng tươi thế này?” Cho dù là ở thời hiện đại có trồng rau trong nhà kính, thì cũng chẳng thể nào có măng tươi trái mùa được.
Nha hoàn liền đáp: “Cô nương không biết đấy thôi, tất cả những thứ này đều do Tổng đốc phủ sai người mang tới.“
Tần Thư im lặng không đáp lời. Nhìn cả bàn thức ăn thanh đạm bày ra trước mắt, nàng ăn xong một bát cơm thì chẳng còn thấy ngon miệng nữa. Chợt nhớ tới chỗ thù du đã sấy khô hôm nọ, nàng bèn hỏi: “Chỗ thù du đó đã làm theo cách ta dặn để tẩm giòn chưa?“
Nha hoàn nọ gật đầu rất tự nhiên: “Đã làm theo đúng ý cô nương rồi ạ.” Thấy Tần Thư đã dùng bữa xong, bấy giờ nha hoàn mới quỳ sụp xuống nói: “Cô nương, xin người hãy rủ lòng thương mà tha cho Hà phu nhân cùng tiểu Hồng tỷ tỷ đi ạ.”
Tần Thư đặt đũa xuống, khẽ cười mỉa một tiếng: “Lời này là ý gì đây? Các người là chủ, ta là khách, chỉ có chuyện các người tính kế lợi dụng ta, chứ làm gì có đạo lý nào để ta làm mình làm mẩy với các người? Hai chữ ‘tha cho’ này, ta thật sự không dám nhận đâu.”
Nha hoàn kia ngẩng đầu lên, không ngờ Tần Thư đã sớm nhìn thấu mọi chuyện, trên mặt lập tức hiện lên vẻ kinh hãi: “Cô nương?”
Tần Thư đứng dậy, ôm lấy chiếc lò sưởi tay bằng đồng đỏ rồi ngồi xuống trường kỷ bên cửa sổ, nàng thản nhiên nói: “Chẳng lẽ các người lại coi lòng tốt của ta là sự ngu ngốc sao? Ta ở trong cái viện này đã hơn một tháng, vậy mà ngay ngày hôm qua lại có một tên công tử bột xông vào. Ta thừa hiểu tâm tư của các người, chẳng qua là muốn mượn danh tiếng của Lục Trạch để dọa cho tên họ Hồ kia lui bước mà thôi. Tiểu Hồng cô nương là người được Hà phu nhân tốn công dạy dỗ mười mấy năm để chờ ngày được giá, chắc là không cam tâm để bị hạng người như thế giày vò chứ gì?”
Nàng đẩy cửa sổ ra, chỉ thấy trước sân có một đám người đang quỳ rạp xuống, dẫn đầu chính là Hà phu nhân trong bộ đồ trắng đơn sơ, không hề đeo bất kỳ vòng ngọc hay trang sức nào. Lúc này bên ngoài vẫn còn lác đác tuyết rơi, không biết những người này đã quỳ bao lâu mà trên tóc mai và vai áo đã tích tụ một lớp tuyết mỏng.
Nha hoàn kia quỳ lê gối tới gần, kéo lấy vạt váy của Tần Thư, vừa khóc vừa nói: “Cô nương, tình cảnh tối qua vốn không phải chủ ý của phu nhân nhà chúng em. Chẳng qua bà ấy chỉ hy vọng Hồ công tử trông thấy binh lính của phủ Tổng đốc ở đây thì biết khó mà lui thôi, chứ tuyệt đối không cố ý để cô nương bị kẻ khác mạo phạm. Chỉ xin cô nương nhìn vào phận liễu yếu đào tơ, đều là những kẻ đáng thương chốn phong nguyệt mà tha cho chúng em lần này.”
Tần Thư ngoái lại nhìn những người đang quỳ trước sân, tính ra cũng phải năm sáu mươi người, già có lão bà sáu mươi tuổi, trẻ có bé gái mới lên năm lên sáu. Nhất thời nàng chỉ cảm thấy lồng ngực nghẹn đắng, rồi cười lạnh nói: “Ta biết, các người chẳng qua là thấy ta lòng dạ mềm yếu, nên mới hết lần này đến lần khác dùng chiêu này để khống chế ta mà thôi.”
Dù nói vậy, nhưng Tần Thư cũng tuyệt đối không đành lòng để đứa trẻ bé xíu hay người già cả như thế cứ quỳ mãi trong tuyết lạnh. Nàng chỉ tay ra ngoài rồi dặn: “Bảo bọn trẻ với người già đứng dậy hết đi.”
Nha hoàn nọ lại lắc đầu: “Cô nương, từ nửa đêm qua, Hà phu nhân đã dẫn chúng em quỳ ở trong viện để thỉnh tội rồi. Sáng sớm đại nhân đi ra có nhìn thấy, nhưng ngài ấy không cho phép đứng dậy. Nếu không có lệnh của đại nhân, thì họ không ai dám đứng lên cả.”
Tần Thư mở cửa ra, thấy dưới sân cứ cách ba năm bước lại có một binh sĩ đứng gác, đao thương san sát, canh phòng vô cùng nghiêm ngặt. Quỳ ngay phía trước là Hà phu nhân, cả người nàng ta đông cứng đến mức sắc mặt trắng bệch, môi thâm tím lại. Thấy Tần Thư mở cửa, nàng ta liền dập đầu nói: “Bằng Nhi cô nương, vốn dĩ là tôi đáng chết, đã dám động tâm tư lên người cô nương. Dù cô nương có phạt tôi thế nào thì tôi cũng không một lời oán thán. Chỉ xin cô nương nhìn vào những người trong viện này, thương cho phận đời chẳng dễ dàng gì của họ mà tha cho họ một con đường sống.”
Quỳ bên cạnh nàng ta là một bé gái, trông chỉ mới ba bốn tuổi, đã quỳ không vững nữa mà đổ rạp vào người Hà phu nhân để tựa dẫm, tiếng nói nhỏ như mèo kêu: “Con lạnh quá, Hà ma ma.”
Tần Thư tiến lại gần, cởi chiếc áo choàng trên người mình ra khoác lên vai bé gái đó, rồi khẽ mỉa mai: “Phu nhân bắt một đứa trẻ nhỏ thế này ra quỳ, ngươi sống nổi chứ con bé thì không sống nổi đâu.” Đứa trẻ ấy có đôi mắt vừa to vừa đen, đối lập với khuôn mặt nhỏ xíu, nó nhìn Tần Thư rồi nói: “Tỷ tỷ ơi, tỷ có thể cho muội mượn cái lò sưởi tay để sưởi ấm một chút được không ạ? Chỉ một lát thôi là được rồi.”
Tần Thư gật đầu, rồi nói: “Theo ta vào trong phòng nhé, ở đây lạnh lắm.”
Đứa trẻ kia chỉ nhìn chằm chằm vào Hà phu nhân mà không dám đáp lời. Đang lúc còn do dự, bỗng nghe thấy bên ngoài vang lên tiếng tham bái dồn dập: “Đại nhân… Đại nhân…”
Lục Trạch mặc một chiếc bào màu xanh thạch lựu, trên thắt lưng chỉ treo duy nhất một miếng bạch ngọc. Đám đông đều quỳ rạp dưới đất, dập đầu nghênh đón: “Đại nhân.”
Hắn bước lại gần, thấy Tần Thư đang ngồi xổm giữa nền tuyết lạnh thì lập tức nhíu mày. Tuy nhiên hắn cũng chẳng nói gì thêm, chỉ cởi chiếc áo choàng lớn đang khoác trên người mình ra rồi choàng lên vai nàng.
Hắn chẳng mảy may đoái hoài đến đám người đang quỳ rạp đầy đất kia, cứ thế nắm lấy tay Tần Thư rồi bế ngang nàng lên. Thấy vẻ mặt nàng ủ dột không vui, hắn khẽ cười nói: “Nàng đã không nỡ nhìn cảnh này thì hà tất phải ra ngoài làm gì, cứ không nhìn tới là được rồi.”
Bế nàng vào trong phòng, bấy giờ hắn mới bảo: “Tất cả đồ đạc ở đây đừng mang theo nữa, đến nhà mới rồi mua đồ mới sau, mấy thứ y phục này nọ cứ đốt sạch đi là được.”
Tần Thư lặng lẽ nhìn một lúc lâu rồi mới hỏi: “Ngài định xử lý những người này thế nào? Đứa trẻ đó dù sao cũng vô tội…”
Tần Thư liếc nhìn sang, chỉ thấy khóe môi của Lục Trạch khẽ nhếch lên thành một nụ cười. Nụ cười ấy dường như mang theo ý mỉa mai, khiến những lời định nói còn lại của nàng chẳng thể nào thốt ra được nữa.
Lục Trạch thấy vậy, chẳng những không giận mà còn khoái chí cười lớn một hồi, một lát sau lại thở dài: “Nàng đấy, trái tim vừa bao la lại vừa mềm yếu. Nàng không biết rằng, kẻ tiểu nhân chỉ sợ uy chứ không phục đức đâu. Khi cái vuốt đầu tiên chìa ra, nếu không đánh trả thật mạnh tay thì cái vuốt thứ hai sẽ sớm xuất hiện thôi, đạo lý này nàng có hiểu không?”
Hắn ngẫm nghĩ một hồi rồi nói: “Cái tính nết này của nàng thật không ổn chút nào. Nếu để nàng sống một mình ở bên ngoài, làm sao nàng quản thúc nổi lũ nô tì gian xảo, đừng có mãi giữ cái thói “tấm lòng mềm yếu của nữ nhân” như thế.”
Tần Thư nhất thời ngẩn người, chỉ sợ hắn đột nhiên đổi ý mà bắt mình vào ở trong phủ Tổng đốc. Nàng nén một hơi trong ngực, rồi lạnh lùng đáp: “Ta sống ở trong viện tử bao nhiêu năm nay, chẳng lẽ đến việc quản thúc hạ nhân mà cũng không biết sao? Đàn ông làm những việc này thì được gọi là lòng trắc ẩn, là tấm lòng nhân ái, còn ta hễ nói ra thì lại thành ‘lòng nhân từ của nữ nhân’. Nếu không phải tại ngài bắt ta ở lại nơi ‘dưới bức tường sụp’ đầy nguy hiểm này, thì sao ta lại bị người ta tính kế? Sau này rời khỏi đây, ta và họ tự khắc sẽ không bao giờ gặp lại nữa, cái gọi là ‘chiếc vuốt thứ hai’ kia biết tìm ở đâu ra chứ?”
Lục Trạch nhất thời bị nàng nói cho nghẹn lời, nhưng vì hôm nay tâm trạng đang tốt nên hắn không chấp nhặt. Một tay hắn đặt lên vai Tần Thư, cười khẽ một tiếng rồi nói: “Ta chẳng qua chỉ nói vài câu, định bụng sai quản sự nương tử ở Tổng đốc phủ sang giúp nàng lo liệu vài tháng cho đỡ nhọc thân, vậy mà nàng lại tỏ ra giận dỗi. Ta nói một câu thì nàng đã cãi lại mười câu.”
Hắn tự chuốc lấy sự mất mặt, tuy lời lẽ của Tần Thư vẫn mang tính công kích và móc mỉa, nhưng cũng không còn giống như trước kia, câu nào câu nấy đều như muốn đâm thấu tim hắn vậy. Hắn bèn nói: “Nàng đã không nỡ nhìn cảnh này thì đừng ra ngoài nữa. Những kẻ khác ta tự khắc sẽ không khắt khe làm khó, nhưng riêng kẻ cầm đầu thì tuyệt đối không thể buông tha.”
Tần Thư gật đầu. Lúc này, bên ngoài có tiếng người bẩm báo: “Đại nhân, đã giải Hồ Liêm đến.”
Lục Trạch bước ra khỏi cửa, thấy Hồ Liêm đang quỳ dưới sảnh. Hắn ta đã bị tra tấn bằng cực hình suốt một đêm, lúc này cả người bê bết máu, nằm vật ra đất như một đống thịt nát, tóc tai rũ rượi gào thét: “Cha ta là Tuần phủ Chiết Giang, cha ta là Tuần phủ Chiết Giang…”
Lục Trạch bước xuống, đôi ủng dẫm lên nền tuyết phát ra những tiếng “lạo xạo” khô khốc. Hồ Liêm nghe thấy tiếng động liền ngẩng đầu lên, đôi mắt trợn ngược như muốn lồi hẳn ra ngoài. Hắn ta kéo lê đôi bàn tay đầm đìa máu, sợ hãi lùi về phía sau: “Thế thúc, thế thúc, con sai rồi, con biết lỗi rồi, con không bao giờ dám nữa đâu… Cầu xin ngài cho con về nhà, xin đừng nói cho cha con biết…“
Chương 46: Cho đi trước
Lục Tể hừ lạnh một tiếng: “Xem ra ngươi vẫn không chịu khai thật, vẫn cứ muốn bôi nhọ thanh danh của Hồ Tuần phủ, có đúng không?”
Hồ Liêm đã bị tra tấn suốt cả một đêm, sớm đã hồn siêu phách lạc, gan mật đứt đoạn, chẳng còn dám hé răng nói thêm nửa lời sai trái. Ngay lập tức, hắn chỉ biết cuống cuồng lặp đi lặp lại: “Tôi không phải họ Hồ, tôi không phải họ Hồ! Tôi chẳng có quan hệ gì với Hồ Tuần phủ cả, tôi không phải con trai ông ấy, không phải con trai ông ấy!”
Lục Trạch hài lòng gật đầu, hạ lệnh: “Rất tốt. Tuy nhiên, ngươi cứ mở miệng ra là nói mình là con trai của Hồ Tuần phủ, ta cũng chẳng ngại mà viết một phong thư, rồi sai người giải ngươi đến Tô Châu đâu. Để hỏi cho ra lẽ xem, tên hỗn xướng dám cưỡng đoạt dân nữ này rốt cuộc có phải là công tử nhà Hồ Tuần phủ hay không? Nếu đúng là thật, ta không thể không dâng sớ hạch tội ông ta về việc dạy con không nghiêm.”
Đa phần những hành vi bất lương của hắn ta ở bên ngoài đều giấu giếm gia đình, thỉnh thoảng có lộ ra một hai chuyện cũng được tổ mẫu và mẫu thân nuông chiều che đậy cho qua. Lúc này nghe Lục Trạch nói vậy, hắn ta biết rõ đối phương không có ý định buông tha cho mình, bèn bò trườn lên định nắm lấy vạt bào của Lục Trạch, khuôn mặt sưng húp đến mức lời nói chẳng còn rõ ràng: “Đại nhân, xin tha mạng, xin tha mạng…”
Lục Trạch cũng chẳng thèm liếc nhìn một cái, vung chân đá văng hắn ta ra, rồi quay sang nhìn Hà phu nhân: “Ngươi là phận nữ nhi, những kẻ khác ta có thể bỏ qua, nhưng riêng ngươi hãy tự đi lĩnh bốn mươi bản tử, sau đó đến dập đầu tạ tội với người mà ngươi đã mạo phạm.”
Khi “lưỡi dao tử thần” hạ xuống, Hà phu nhân trái lại còn cảm thấy nhẹ nhõm cả người. Đôi chân của nàng ta vốn đã mất hết cảm giác, bèn lảo đảo rạp người xuống đất tạ tội: “Tạ ơn đại nhân ân điển, tạ ơn cô nương ân điển.”
Tần Thư ở bên trong, chỉ nghe thấy tiếng kêu thảm thiết từng hồi của Hà phu nhân. Một lúc sau, đến cả tiếng kêu cũng chẳng còn nghe thấy nữa, chỉ còn lại tiếng gậy thủy hỏa nện xuống chan chát.
Lục Trạch bước vào phòng, bấy giờ mới nhận ra trên người Tần Thư là một chiếc áo cánh cực kỳ mộc mạc, liền hỏi: “Chẳng phải ta đã bảo Trừng Tú mang một bộ y phục sang cho nàng rồi sao?”
Tần Thư mang bộ y phục đó ra, nàng nói: “Ta đã nhận được rồi, chỉ là đây là kiểu đồ mà những nhà có cáo mệnh mới được mặc, e là giao nhầm rồi.”
(Cáo mệnh: Là danh hiệu cao quý mà triều đình ban tặng cho phu nhân hoặc mẹ của các quan viên có công trạng.)
Lục Trạch thực sự không rõ mấy chuyện vụn vặt này, nghe Tần Thư nói vậy bèn đáp: “Chắc là dạo này bận rộn nên đám người kia làm hỏng việc rồi.”
Hai người mới nói được vài câu, bên ngoài Hà phu nhân đã được người ta dìu đến để tạ tội. Nàng ta cũng không vào trong phòng, chỉ quỳ sụp xuống ngay trước cửa mà dập đầu: “Cô nương, thiếp thân nhất thời nảy sinh ý nghĩ sai lầm, khiến cô nương phải chịu uất ức, may mà chưa gây ra đại họa. Nay xin được dập đầu tạ tội với cô nương tại đây, cầu xin cô nương rộng lòng tha thứ.”
Tần Thư chẳng hiểu vì sao, trong lòng nàng lại không thể nảy sinh lòng căm hận đối với nàng ta, nhưng nếu bảo nàng hoàn toàn chẳng để tâm chút nào, thì cũng không có chuyện đó.
Nàng im lặng một hồi, trong lòng thầm tính toán nếu ở thời hiện đại thì tội này phải tuyên án thế nào, phải ngồi tù bao lâu. Nàng thực sự không muốn nói lời nào, chỉ phẩy phẩy tay ra hiệu cho người bên ngoài lui xuống.
Bên ngoài có người tiến lên dâng trà, cánh cửa khép hờ để lộ một khe hở nhỏ. Tần Thư liếc mắt qua, liền trông thấy một vũng máu loang lổ trên mặt đất nơi Hà phu nhân vừa quỳ, nàng lập tức quay mặt đi chỗ khác.
Lục Trạch thấy vậy, ngược lại cảm thấy bộ dạng này của nàng so với vẻ thanh cao, tự chế thường ngày còn đáng yêu hơn gấp trăm lần. Hắn liền thay nàng khoác lại chiếc áo choàng: “Đi thôi.”
Tần Thư bước lên một cỗ xe ngựa bốn ngựa kéo, vốn tưởng rằng sẽ được đưa đến một tiểu viện nào đó, nào ngờ đi ròng rã nửa canh giờ vẫn chưa thấy dừng lại. Nàng vén rèm xe lên nhìn, thấy bên ngoài tuyết đã ngừng rơi, đất trời là một màu trắng xóa mênh mông. Đồng nội vắng vẻ không một bóng người, thi thoảng mới có một hai chiếc xe bò từ trên đường núi đi xuống, nhìn từ xa chẳng khác nào một bức tranh thủy mặc.
Nàng nhất thời nhìn đến ngây người, chẳng ngờ bị Lục Trạch đưa tay kéo tọt vào lòng. Tần Thư ngã ngồi ngay trên đùi hắn, thấy ánh mắt hắn dần trở nên sâu thẳm, nàng vội vàng túm lấy tay hắn: “Đại thiếu gia, chúng ta đây là đang đi đâu vậy?”
Lục Trạch không trả lời câu hỏi đó, hắn luồn tay vào trong vạt áo nàng. Bàn tay hơi lành lạnh chạm vào làn da khiến Tần Thư không kìm được mà rùng mình một cái, sắc mặt cũng dần lạnh nhạt hắn đi.
Bên trong tủ nhỏ của cỗ xe ngựa này có đặt lò than, ấm áp như mùa xuân, ngồi gần lại còn cảm thấy hơi nóng. Lục Trạch nhìn thấy gương mặt nàng ửng lên sắc hồng như tô phấn, chẳng rõ là do nóng hay do thẹn thùng, đôi môi đỏ mọng vô cùng ướt át. Một tay của hắn chống lên thành xe, cúi người tới nhẹ nhàng nhấm nháp và mút mát.
Xe ngựa lắc lư lảo đảo, Tần Thư sợ một cú rẽ đột ngột sẽ khiến mình ngã nhào, bèn vội vàng túm chặt lấy vạt áo của hắn. Biểu cảm hốt hoảng này trái lại càng khiến Lục Trạch thấy khoái chí, hắn ngồi trở lại chỗ cũ, rồi mỉm cười nói: “Quả nhiên là không có thoa son.”
Tần Thư ngoài mặt vẫn giữ nguyên vẻ không cảm xúc, nhưng trong lòng lại thầm mắng chửi: “Đúng là đồ biến thái!”
Lục Trạch thoáng nhìn thấy trên cổ tay nàng vẫn còn một vòng lằn thâm nhạt, hắn nắm lấy tay nàng, bôi thuốc lên đó, rồi lại lấy từ trong hòm tủ trên xe ra một chiếc tráp nhỏ.
Mở chiếc tráp ra, bên trong là một đôi vòng ngọc lung linh như ánh trăng. Tần Thư ở trong viện tử mười mấy năm, cũng được coi là kẻ từng thấy qua cảnh phú quý, nhìn vào độ trong và sắc nước của đôi vòng này, nàng liền biết đây là loại ngọc dương chỉ thượng hạng, loại thuần khiết không chút tạp chất thế này lại càng hiếm có khó tìm.
Ngay cả như ở phủ Quốc công vốn nổi tiếng hào hoa xa xỉ, cũng không phải nữ quyến nào cũng có phần, chẳng qua là lão thái thái có vài chiếc, còn các cô nương thì mỗi người chỉ có lấy một chiếc mà thôi.
Lục Trạch lấy đôi vòng ngọc ra, đeo vào tay cho Tần Thư rồi cười bảo: “Đêm ta đến Nam Kinh, nhìn thấy đôi tay ngọc của nàng nâng bình bạch ngọc, lúc ấy ta đã nghĩ, đôi cổ tay trắng ngần như nàng phải có đôi vòng thế này mới xứng đáng. Cái câu ‘Kim xuân ngọc xuyến khoan, tạc dạ la quần trứu’*, chính là để nói về nàng vậy.” (Trích Sanh Tra Tử của Yến Kỷ Đạo thời Tống).
(*: Mùa xuân này vòng ngọc đã rộng, đêm qua váy lụa đã nhăn)
Tần Thư lặng thinh một hồi, hơi nhếch môi cười nhạt rồi hỏi: “Thứ quý trọng thế này, e là không phải đồ dành cho ta rồi. Đại thiếu gia bây giờ cho ta, e là sau này lúc ta đi, thì cũng phải hoàn trả lại cho ngài mà thôi.”
Lục Trạch lập tức sầm mặt lại, buông tay ra rồi ngửa đầu tựa ra sau thành xe. Một bàn tay hắn vân vê miếng ngọc bội bên hông, gằn giọng hỏi: “Muốn đi sao?”
Tần Thư ngẩng đầu, nhìn thẳng vào mắt Lục Trạch và nói: “Nô tỳ biết, xét về thân phận và địa vị, đương nhiên là nô tỳ không xứng với ngài. Thế nhưng chuyện nam nữ trên đời này, chẳng phải cứ một câu ‘xứng hay không xứng’ là có thể định đoạt xong xuôi. Hơn nữa, mùa xuân tới Đại thiếu gia sẽ cưới vợ, việc lập ngoại thất bên ngoài phủ vốn không phải là đạo hòa thuận trong gia đình. Từ nhỏ cha ta đã mất sớm, gia cảnh gian khó, ta lại mang cái tính khí cổ quái này, vốn không phải hạng người có thể mãi mãi thấp cổ bé họng, lấy sắc thờ người. Phủ Quốc công có ơn lớn với ta, đại thiếu gia bảo ta hầu hạ thì ta không dám từ chối, chỉ cầu xin đại gia cho ta một cuộc sống bình yên, an hưởng tuổi già.”
Nói xong, Tần Thư liền rạp người xuống đất khấu đầu: “Cầu xin đại thiếu gia thành toàn.”
Tấm lòng khẩn thiết nhường ấy, vậy mà chỉ nhận lại tiếng cười lạnh của Lục Trạch: “Lý do là gì? Vì ta lỡ tay đánh nàng nửa roi sao? Không đúng, trước chuyện đó thì nàng vốn dĩ đã bỏ trốn một lần rồi mà.”
Tần Thư lại ngẩng đầu lên nói: “Nô tỳ vào viện tử làm nha hoàn từ năm mười tuổi, những nha hoàn thông phòng hay những thê thiếp không có con cái, kết cục của họ ra sao thì cũng chẳng cần phải nói thêm nữa. Nô tỳ đã chứng kiến quá nhiều chuyện như vậy, nên thực lòng không muốn bước vào vết xe đổ của họ.”
Lục Trạch khẽ cong ngón tay gõ nhịp lên bàn trà: “Những suy nghĩ này của nàng thật quái gở. Chẳng lẽ nàng cho rằng ta đến cả người phụ nữ của mình mà cũng không bảo vệ nổi sao? Phủ Quốc công là phủ Quốc công, còn ta là ta, sao có thể vơ đũa cả nắm như vậy được?”
Đúng là ông nói gà bà nói vịt, Tần Thư lắc đầu, chỉ cảm thấy cổ họng nghẹn đắng đến phát đau, một chữ cũng chẳng thốt ra nổi. Nàng hít một hơi thật sâu, rồi hỏi ngược lại: “Chẳng lẽ đại thiếu gia là người có thể đáng để tin tưởng sao?”
Người khác nào có ai gan to bằng trời mà dám chất vấn hắn như thế, vậy mà tiểu nữ tử này lại dám. Lục Trạch nhìn thấy đôi mắt nàng ngân ngấn lệ, vậy mà vẫn bướng bỉnh kìm lại không cho rơi xuống, hắn khẽ thở dài một tiếng, đưa tay vuốt ve gò má nàng rồi nói: “Nàng tin ta một lần có được không?”
Tần Thư lắc đầu, đáp: “Trên đời này làm gì có cái đạo lý ấy, kẻ bắt cóc bắt người ta về, rồi lại còn bảo rằng làm thế là vì tốt cho người ta sao?”
Lục Trạch không còn cách nào khác, hắn nắm chặt nắm đấm, trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu mới nói: “Còn vài ngày nữa là sang tháng Chạp rồi. Tháng Năm năm sau ta phải sang Vương phủ cầu hôn, đến lúc đó, nếu nàng vẫn một mực muốn đi thì ta sẽ không giữ nàng lại nữa. Nàng không muốn vào phủ Tổng đốc, thì ta cũng tùy ý nàng. Nàng…”
Hắn khựng lại một chút, rồi nói tiếp: “Nàng không muốn để ta chạm vào người, thì ta sẽ không chạm vào nàng. Để tránh cho nàng phải uống canh tránh thai quá nhiều, sau này không có con cái lại đâm ra oán hận ta.”
Những lời phía trước thực ra hắn cũng từng nói qua, nhưng đến câu cuối cùng này, nghe nói hắn sẽ không chạm vào mình nữa, Tần Thư kinh ngạc ngẩng phắt đầu lên: “Lời Đại thiếu gia có thật không?”
Nàng nói những lời này bề ngoài là để cầu xin, nhưng thực chất là dùng chiêu “lấy lui làm tiến” để dò xét thái độ của Lục Trạch mà thôi.
Lục Trạch thấy trên mặt nàng thoáng hiện lên vẻ vui mừng ẩn hiện, liền cắn răng nói: “Đương nhiên là thật. Năm tháng sau, nếu nàng vẫn một mực muốn đi, vậy thì coi như chúng ta không có duyên.” Hắn nói thì nói vậy, nhưng trong lòng lại thầm tính toán: “Muốn lấy được thứ gì, trước hết phải cho đi thứ đó.”
Tần Thư vẫn còn bán tín bán nghi, nhưng thấy hắn đã hứa không chạm vào mình, nàng thầm nghĩ cứ để xem sao đã. Nàng lập tức khấu đầu: “Đa tạ Đại thiếu gia đã thành toàn.”
Lúc này Lục Trạch chẳng thể nào cười nổi nữa, hắn chỉ khẽ hừ lạnh một tiếng. Đúng lúc đó, bên ngoài có tiếng bẩm báo: “Thưa đại nhân, đã đến trang viên Thúy Liễu rồi ạ.”
Lục Tể “ừm” một tiếng, trong lòng vẫn còn nén một cục tức, hắn cũng chẳng buồn đoái hoài đến Tần Thư, tự mình bước xuống xe ngựa đi thẳng vào trong trang viên.
Hắn vốn định phớt lờ để mặc Tần Thư một mình cho nàng biết mặt, nào ngờ Tần Thư lại mừng rỡ vì điều đó, nàng cũng chẳng thèm xuống xe ngựa. Lục Trạch vào trong thay y phục xong xuôi, bấy giờ mới phát hiện ra Tần Thư không hề đi theo sau, liền hỏi: “Cô nương đâu rồi?”
Hắn sai người đi xem thử, một lát sau người đó quay về bẩm báo: “Cô nương vẫn ở trên xe ngựa, nói là đại nhân chưa cho gọi nên không dám đường đột xuất hiện trước mặt ngài.”
Lục Trạch nghe xong mà tức đến phát điên, hắn cười nhạt: “Đúng là coi ta như rắn rết mà tránh cho xa đây mà.”
Hắn nhịn không được, rảo bước ba hai bước đã ra đến cửa, thấy xe ngựa vẫn còn dừng ở đó. Vừa vén rèm xe lên, hắn đã thấy Tần Thư đang quấn mình trong chiếc áo choàng, một tay cắn hạt dưa, một tay cầm một quyển sách xem đến là say sưa ngon lành.
Tần Thư thấy sắc mặt hắn không tốt, liền đặt quyển sách xuống, nhảy từ trên xe ngựa xuống đất rồi nói: “Đại thiếu gia không gọi ta vào, ta cứ ngỡ là lúc nãy đã chọc ngài nổi giận, sợ ngài nhìn thấy ta là thấy phiền lòng.”
Nàng của lúc này, nào có chút dáng vẻ gì là vừa mới quỳ xuống cầu xin hắn thả đi cơ chứ, e là sau khi nhận được lời hứa không chạm vào người từ hắn, nàng đã cảm thấy vô cùng khoan khoái rồi.
Nghĩ đến đây, Lục Trạch không khỏi thầm oán hận trong lòng: Nha đầu này quả nhiên là khắc tinh của mình, hễ mình thấy thoải mái thì nàng lại sống đi chết lại, còn khi nàng thấy thoải mái thì mình lại chẳng dễ chịu chút nào.
Lục Trạch ròng rã trên lưng ngựa hơn một tháng trời, vốn dĩ hôm nay là ngày rảnh rỗi hiếm hoi, không có giấy tờ công văn làm nhọc thân, định ra ngoài thành để khuây khỏa, nào ngờ bị mấy câu nói của tiểu nữ tử này làm cho hoàn toàn mất sạch hứng thú.
Lục Trạch chẳng thốt lấy một lời mà đi thẳng vào trong, vào đến thư phòng liền ngồi xuống đọc sách. Tần Thư đi theo phía sau, thấy hắn ở trong thư phòng xem sách hồi lâu, cuối cùng hắn mới đặt cuốn sách xuống rồi ra lệnh: “Mài mực.”
Căn phòng này không có hệ thống sưởi ngầm, cũng chẳng có lò than, lạnh lẽo như một hầm băng vậy. Tần Thư nghe lệnh bèn tiến lên phía trước, rót nửa chén nước trà vào nghiên, nhưng lại thấy trên bàn viết không có thỏi mực nào.
Tần Thư nhìn Lục Trạch, thấy hắn đến mí mắt cũng chẳng thèm nhấc lên, chỉ buông một câu: “Ở ngăn tủ thứ hai có một thỏi mực thông.”
Tần Thư bước sang bên cạnh, trên ngăn thứ hai của kệ bách bảo có đặt một chiếc hộp bằng gỗ tử đàn chạm trổ lỗ thủng tinh xảo. Mở hộp ra, một nửa đựng năm thỏi mực thông, nửa còn lại đựng nửa hộp trân châu to bằng đầu ngón tay cái. Nàng thầm tặc lưỡi, thời đại này chưa có trân châu nuôi cấy nhân tạo, tất cả đều là đồ tự nhiên, để có được một hộp đầy những hạt vừa to vừa tròn trịa thế này quả thực không hề dễ dàng.
Ngay như Quận chúa của phủ Hiển Quận vương ở Nam Kinh khi xuất giá, trên bộ trang sức đội đầu cần hai mươi tư viên trân châu cỡ này, cũng phải nhờ vả rất nhiều nơi mới có thể sắm sửa đủ đầy.
Tần Thư lấy thỏi mực ra rồi từ từ mài. Chỉ là nàng vốn dĩ sợ lạnh, trong phòng lại không có lò than nên đôi bàn tay đã sớm đông cứng lại. Thấy Lục Trạch cũng chẳng thúc giục, nàng cứ thế thong thả mài: “Đại thiếu gia, mài xong rồi ạ.”