Ngoại Thất – Chương 67 – 68

Chương 67

Kể từ ngày đó, Tần Thư bình tâm chờ đợi, thuốc an thai vẫn uống đều đặn như thường, đại phu cũng cứ ba ngày lại đến bắt mạch một lần.

Có một bận, Tần Thư hỏi vị đại phu kia: “Ông có phương thuốc nào để phá thai không?” Vị đại phu nghe xong thì hốt hoảng vô cùng: “Lão phu là lương y đoan chính, sao có thể biết mấy cái trò lừa bịp của bọn phương sĩ, thầy lang băm ấy được? Những việc tổn hại thiên đạo, nhân luân như thế, trong y thư cũng chẳng hề ghi chép lại đâu.”

Tần Thư quan sát biểu cảm của ông ta, thấy không giống như đang nói dối. Thời này làm gì có nữ tử nhà lành nào lại đi phá thai, hễ có thì cứ thế mà sinh ra thôi.

Hồi còn ở phủ Quốc công, Tần Thư từng tận mắt thấy lão thái thái cho người đổ thuốc sắc vào miệng mấy nha hoàn có xuất thân không mấy tốt đẹp. Đứa bé thì mất thật đấy, nhưng sản dịch lại chẳng thể bài tiết sạch sẽ, có người chưa đầy nửa năm sau đã qua đời. Một người khác khá hơn một chút, vốn dĩ từ nhỏ sức khỏe đã cường tráng, uống một thang thuốc chưa sạch lại phải bồi thêm thang nữa, chỉ là về sau quanh năm suốt tháng cứ bệnh tật ốm yếu dặt dẹo.

Tần Thư khẽ thở dài, việc phá thai thời đại này chẳng qua cũng chỉ là uống một liều nhỏ thuốc có độc để thai nhi chết lưu trong bụng mà thôi. Còn việc liệu cái thai đã chết ấy có thể tống được ra ngoài hay không thì chẳng ai dám bảo đảm. Nếu vận may chẳng lành, để nó viêm nhiễm ngay trong tử cung, thì đúng là có là thần tiên cũng khó lòng cứu vãn.

Ngày hôm ấy, thấy tiết trời đẹp, Tần Thư xách giỏ trúc ra ngồi câu cá dưới gốc liễu. Muôn vàn sợi liễu mềm mại rủ xuống, bóng râm xanh mướt bao phủ khắp mặt đất. Giữa lúc nàng đang mơ màng sắp ngủ, thì thấy Linh Lung bưng một khay hoa quả đi tới.

Tiến lại gần hơn, Linh Lung khẽ nhún người hành lễ, một mặt cúi xuống bóc hạt sen cho Tần Thư, một mặt hạ thấp giọng nói: “Cô nương, mọi thứ đã chuẩn bị xong xuôi rồi, đợi đến lúc đêm xuống là chúng ta có thể rời đi. Chỉ là tìm một xác chết phụ nữ đang mang thai để thiêu cháy thì hơi khó, nên đã tốn chút thời gian. Đến lúc đó, chỉ cần một mồi lửa bùng lên, thế gian này sẽ không còn ai tên là Đổng Bằng Nhi nữa.”

Tần Thư giật cần câu, câu lên được một con cá trắm cỏ. Nàng thong thả gỡ cá ra thả vào giỏ trúc, rồi bình thản hỏi: “Khi nào thì khởi hành đi kinh thành?”

Linh Lung đáp: “Sau khi trời sập tối, chúng ta sẽ đi thẳng ra bến tàu, lên quan thuyền của thủy sư Tùng Giang, theo đường kênh đào mà đi lên phía Bắc. Nếu thuyền đi nhanh thì chỉ mất hơn mười ngày là có thể tới được kinh thành rồi.”

Mọi nỗi u uất tích tụ suốt bao ngày qua của Tần Thư bỗng chốc tan biến sạch sẽ, nàng thở phào một hơi thật dài: “Tốt lắm, đa tạ các ngươi nhiều lắm.”

Linh Lung đứng đó, lộ rõ vẻ hiếu kỳ nhìn Tần Thư: “Vạn tiên sinh bảo cô nương chính là cứu tinh của phiếu hiệu Đại Thông, nhưng quy củ của phiếu hiệu là sổ sách bàn tính đều không được để đàn bà con gái chạm vào cơ mà?”

Tần Thư vốn học ngành Tài chính, cũng từng thực hiện đề tài nghiên cứu về phiếu hiệu, nhưng trước giờ chỉ có một bụng lý thuyết suông mà chẳng có lấy nửa chỗ dụng võ. Nàng ngoảnh lại cười cười, vươn vai một cái thật dài, giọng điệu vô cùng khẳng định: “Kể từ ta trở đi, thì phụ nữ đã có thể vào làm ở phiếu hiệu được rồi.”

Linh Lung cũng không tin cho lắm, có điều cả Vạn tiên sinh lẫn Hạ học sĩ đều coi trọng cô nương này như vậy, e rằng nàng cũng thực sự có bản lĩnh hơn người.

Đến tối, Tần Thư lấy cớ mệt muốn đi nghỉ sớm, không cho các nha hoàn vào phòng hầu hạ. Lại sợ khi ngọn lửa bùng lên sẽ làm liên lụy đến những nha hoàn vô tội, nàng bèn cho người gọi mấy bàn tiệc từ nhà bếp, bày sẵn rượu thịt tại Vân Đài Thủy Tạ, rồi bảo với Tiểu Hồi Hương rằng: “Mấy tháng ta mang thai, các ngươi cũng vất vả hầu hạ nhiều rồi. Ta có gọi mấy bàn rượu, các ngươi cứ thoải mái nghỉ ngơi một chút, tối nay không cần phải túc trực bên cạnh ta đâu. Ta tự đọc sách một lát rồi sẽ đi ngủ ngay.”

Tiểu Hồi Hương thấy dạo gần đây Tần Thư cũng dần chấp nhận thực tại, lại hiểu rằng đây là cô nương đang ban cho mình thể diện, nhưng vì đại nhân đã dặn dò, phải luôn có người túc trực bên cạnh nàng từng giây từng phút, nên cô ấy cũng chẳng dám rời đi: “Cô nương, cứ để bọn họ đi uống rượu là được rồi, em vẫn sẽ ở lại đây hầu hạ người như cũ. Thân thể người ngày một nặng nề, bên cạnh không có ai sao mà được?”

Tần Thư mỉm cười vỗ vỗ vai cô ấy: “Em cứ yên tâm mà đi, nếu vẫn không thấy an lòng thì uống vài chén rượu rồi quay lại cũng được. Vốn dĩ hôm nay là sinh nhật em, ta đặc biệt bày tiệc cho em, nếu nhân vật chính là em mà không có mặt thì còn ra thể thống gì nữa?”

Mấy tiểu nha hoàn thấy Tần Thư nói vậy cũng xúm vào khuyên nhủ: “Hồi Hương tỷ tỷ, cô nương đã nói thế rồi thì tỷ cứ đi đi. Nếu tỷ vẫn lo thì bọn em để một đứa ở lại đây là được chứ gì? Chẳng lẽ chỉ có mỗi tỷ mới hầu hạ nổi cô nương, còn bọn em thì không xứng chắc?”

Bị khích như vậy, Tiểu Hồi Hương dù không muốn cũng đành phải đi. Cô ấy để một tiểu nha hoàn tầm mười một, mười hai tuổi ở lại hầu hạ, trước khi đi còn dặn dò kỹ lưỡng đủ điều: “Cô nương không được uống trà lạnh, lúc người đi lại thì em phải trông chừng cẩn thận, tuyệt đối không được để người bị ngã…”

Sự dài dòng lôi thôi ấy khiến Tần Thư bật cười, nàng cầm chiếc quạt tròn vẽ hình mỹ nhân phù dung vỗ nhẹ vào người cô ấy: “Đi mau đi, thật là lôi thôi quá đấy. Đáng lẽ ta cũng nên sang đó ngồi một lát, nhưng ngặt nỗi giờ không uống được rượu, ta mà có mặt thì các em cũng mất tự nhiên. Đợi đến sinh nhật năm sau của em, khi đó ta đã sinh rồi thì nhất định sẽ kính em một ly.”

Tiểu Hồi Hương từng thấy Tần Thư say rượu một lần. Lần ấy chẳng rõ nàng đã nói gì với đại nhân, mà hai người nảy sinh hờn dỗi, chiến tranh lạnh suốt mấy ngày trời. Cuối cùng đại nhân chịu không nổi, bèn mang về một vò rượu nho, vừa dỗ vừa lừa cho nàng uống sạch.

Cô nương lúc đầu vẫn còn tỉnh táo, nhưng ngồi được một lát thì bắt đầu mơ màng, đến tên của nha hoàn cũng gọi sai. Nửa vò rượu bị nàng làm đổ, thấm ướt cả lớp áo mỏng lẫn váy lụa.

Đại nhân thấy vậy liền bế thốc cô nương đi về phía bể nước, Tiểu Hồi Hương đứng ở đằng xa vẫn có thể nghe thấy những tiếng rên rỉ kiều mị vọng ra từ bên trong. Đến khi bên trong kết thúc, ngày hôm sau, đại nhân bảo nha hoàn mang cao dược vào, mới thấy trên đầu gối của cô nươn đã bầm tím một mảng.

Tiểu Hồi Hương nghĩ đến đây thì đỏ bừng cả tai: “Cô nương vẫn là đừng uống rượu thì hơn.”

Tần Thư không biết trong đầu nha đầu này đang nghĩ gì, nàng chỉ mỉm cười: “Vậy thì ta lấy trà thay rượu.” Nói thêm vài câu, Tiểu Hồi Hương đã bị đám nha hoàn đẩy đẩy kéo kéo ra khỏi cửa, đi về phía Vân Đài Thủy Tạ. Quả nhiên, ở đó đã bày sẵn mấy bàn tiệc rượu linh đình.

Cả đám nha hoàn ùa đi nhanh chóng, không gian bỗng chốc trở nên thanh tịnh hẳn. Tần Thư lấy từ trong tủ ra một hộp trà, tiểu nha hoàn duy nhất còn sót lại lập tức đón lấy tay nàng: “Cô nương, để em làm cho, nước này nóng lắm, người đừng động tay vào.”

Tần Thư đứng đó quan sát một lúc, nhìn chén trà với những búp non đang dập dềnh nổi trên mặt nước, nàng khẽ cau mày: “Cái chén này không đẹp, không xứng với loại trà này. Ta nhớ mình có một đôi chén khải bằng ngọc thúy, sắc trắng xanh xen kẽ, nắp và chén đều có độ bóng tự nhiên, là tác phẩm của bậc thầy trị ngọc Minh Cương.”

Trí nhớ của tiểu nha hoàn kia quả thực rất tốt: “Em nhớ rồi, hôm nọ Hồi Hương tỷ tỷ đã cất vào trong kho, tỷ ấy bảo chén dù có đẹp đến đâu mà dùng mãi cũng thấy chán, nên đã chọn một bộ sứ trắng định dao tinh xảo khác để dùng thay.”

Tần Thư gật đầu: “Em cầm theo thẻ bài rồi qua kho lấy về đây.” Kho nằm ở tận phía Đông của trạch viện này, đi đi về về ít nhất cũng phải mất nửa canh giờ.

Tiểu nha hoàn kia chưa bao giờ được giao trọng trách như vậy. Bình thường những món đồ quý giá, Tiểu Hồi Hương luôn sợ đám nhỏ tụi nó vụng về nên chẳng bao giờ cho chạm tay vào. Giờ đây, nhận được thẻ bài từ tay cô nương, gương mặt của tiểu nha hoàn rạng rỡ hẳn lên: “Dạ, cô nương, em đi ngay đây ạ.”

Con bé chạy lăng quăng tới kho, đầu tiên là đưa thẻ bài cho bà tử canh kho xem, sau đó lại ở bên trong tìm kiếm một lúc lâu, bấy giờ mới cầm một bộ hộp đựng quay trở ra. Vừa tới bên ngoài cửa nguyệt động, con bé đã trông thấy bên trong là một khoảng đỏ rực, bèn hớt hải chạy vội vài bước, chỉ thấy mấy gian nhà chính lửa lớn ngút trời, những ngọn lửa bốc cao vút đến tận mái nhà.

Con bé giật mình sực nhớ ra cô nương vẫn còn ở bên trong, sợ đến mức đánh rơi cả bộ chén ngọc xuống đất vỡ tan tành. Nó liều mạng cuồng chạy về phía Vân Đài Thủy Tạ, vừa chạy vừa gào thét thất thanh: “Cháy rồi! Cháy rồi!…”

Tiểu Hồi Hương vốn đang ngà ngà say, nghe tiếng hô hoán “cháy rồi” thì giật bắn người, tỉnh cả rượu. Cô ấy túm lấy tiểu nha hoàn kia rồi hỏi dồn dập: “Cháy ở đâu? Chỗ nào cháy?”

Tiểu nha hoàn thở hổn hển nói không ra hơi: “Phù Dung Khê, cô nương vẫn còn ở bên trong! Cô nương sai em tới kho lấy đồ, lúc em quay về thì lửa đã bùng lên rồi.”

Tiểu Hồi Hương sợ đến mức bủn rủn cả chân tay, phải túm chặt lấy tiểu nha hoàn để khỏi ngã quỵ: “Mau… mau bẩm với báo đại nhân! Mau đi lấy nước cứu hỏa, cứu hỏa mau lên!…”

….

Lúc Lục Trạch đến nơi, thì xà nhà đã bị thiêu rụi đến mức sụp đổ. Dù đứng cách xa hơn mười bước chân, hơi nóng vẫn phả ra hầm hập khiến da mặt bỏng rát. Kẻ hầu người hạ đã kéo cả xe nước đến dập lửa nhưng cũng chẳng ăn thua, trái lại còn khiến ngọn lửa bùng lên dữ dội hơn.

Một người làm lâu năm có kinh nghiệm, chỉ tay vào một đoạn gỗ vừa sụp đổ từ phía bên ngoài, rồi nói với Lục Trạch: “Đại nhân, trên khúc gỗ này có tẩm dầu, e là có người cố ý phóng hỏa.”

Tiểu Hồi Hương quỳ gối một bên, tóc mai đã bị lửa sém mất một mảng, cô ấy khóc đến mức không thở nổi, giọng nói đứt quãng: “Cô nương bảo hôm nay là sinh nhật của nô tỳ, nên đã ban tiệc rượu cho đám nha hoàn ăn uống, chỉ để lại một tiểu nha hoàn bên cạnh hầu hạ. Ngặt nỗi cô nương muốn pha trà bằng chén ngọc thúy, nên mới sai tiểu nha hoàn kia đi lấy, nào ngờ vừa quay về thì đã thấy lửa cháy ngút trời…”

Sắc mặt Lục Trạch tối sầm lại, trái tim không ngừng chìm xuống. Hắn chỉ sợ nàng vì mấy lời nặng nhẹ của mình hôm ấy, mà sinh ra ý định tự vẫn. Hắn vô thức tiến lên phía trước hai bước, những ngọn lửa hung hãn tức thì tạt về phía này, bốc lên mùi cháy sém của tóc mai, mấy tàn lửa bắn tung tóe lên vạt áo, khiến lớp lụa là tinh xảo ngay lập tức bị cháy thủng một lỗ đen ngòm.

Trong ánh lửa chập chờn, dường như gương mặt của Tần Thư đang ẩn hiện, đôi mắt chứa chan tình ý ấy đang nhìn hắn nửa cười nửa không. Nàng cứ lặng lẽ dõi theo Lục Trạch như thế, chẳng nói một lời, cũng chẳng để lại một câu.

Đinh Vị đi theo bên cạnh thấy vậy thì kinh hãi, vội vàng ôm ngang lưng Lục Trạch mà ra sức ngăn lại, rồi lớn tiếng khuyên can: “Gia, giờ này ngài có vào trong cũng chẳng giúp gì được nữa đâu. Ngọn lửa lớn thế này đã thiêu đốt cả canh giờ rồi, e là Bằng nhi cô nương sớm đã bị thiêu thành tro rồi.”

Lúc này Lục Trạch làm sao nghe nổi những lời như vậy, hắn đá văng Đinh Vị sang một bên, đôi mắt đỏ ngầu, gầm lên: “Lũ nô tài các ngươi, ta đã dặn đi dặn lại là bên cạnh cô nương lúc nào cũng phải có người túc trực, vậy mà các ngươi dám lơ là nhiệm vụ!”

Đinh Vị thấy Lục Trạch vẫn định lao vào biển lửa, bèn cuống cuồng ôm chặt lấy chân hắn, trong lúc tình thế cấp bách đã thốt ra những lời loạn xạ: “Gia, tính tình của Bằng nhi cô nương kiên cường như thế, xưa nay vốn là người ngoài mềm trong cứng, sao có thể tự tận được? Chỉ sợ là giống như lần trước, cô ấy đã âm thầm bỏ đi rồi!”

Những lời này thực chất chỉ là Đinh Vị nói bừa. Chính chủ tử nhà mình đã phái tới mười mấy ám vệ theo sát cả công khai lẫn bí mật, đến con ruồi cũng khó lòng thoát khỏi, huống chi là một nữ tử chân ướt chân ráo, lạ nước lạ cái như Bằng nhi cô nương? Hắn nói vậy chẳng qua là để Lục Trạch bình tĩnh lại, dù đại nhân có thích cô nương ấy đến đâu đi nữa, thì qua một thời gian ngắn, chẳng phải cũng chỉ buồn bã vài ngày là hết sao.

Nào ngờ Lục Trạch nghe thấy lời ấy, lập tức quay đầu ra lệnh: “Gọi ám vệ tới đây.”

Chỉ trong chốc lát, một nam tử tinh anh khỏe mạnh trong bộ dạng nô bộc, mặc áo ngắn màu xanh thẫm tiến lên phía trước, quỳ xuống dập đầu: “Thuộc hạ bái kiến đại nhân.”

Tên này tuy là ám vệ, nhưng dù sao cũng là nam nhi, nam nữ có biệt, cho dù là giám sát Tần Thư thì cũng không thể tùy tiện ra vào nội viện, nên số lần giáp mặt nàng cũng rất ít. Sau khi đám cháy bùng lên, tên này cũng vội vàng chạy đi cứu hỏa, khiến khuôn mặt bị khói hun đen nhẹm như than.

Ánh mắt của Lục Trạch lộ ra tia sáng lạnh lẽo: “Trước khi đám cháy bắt đầu, ngày hôm nay có ai ra khỏi phủ không?”

Tên ám vệ lập tức sực tỉnh: “Có hai nha hoàn đã ra khỏi phủ ạ.”

Lục Trạch giận dữ lại bồi thêm một cú đá nữa, rồi lập tức quay người: “Giờ này đã bắt đầu giờ giới nghiêm, không thể tùy tiện ra khỏi cổng thành được. Mau đi truyền lính canh cổng thành tới đây cho ta!”

Đám lính canh cổng thành đúng lúc đang lúc giao ca, một nhóm hai ba người tụ tập bàn nhau xem lát nữa đi uống rượu ở đâu, thì bỗng thấy phía trước có bảy tám con ngựa phi nước đại lao tới.

Trong thành Hàng Châu, ngoại trừ công văn khẩn “hỏa tốc tám trăm dặm”, tuyệt đối không ai được phép thúc ngựa phóng nhanh, đây vốn là lệnh cấm do chính Lục Trạch ban xuống. Một tên lính nhỏ định cất tiếng quát tháo ngăn lại, liền bị tên bách hộ dẫn đầu túm lấy giữ chặt: “Đó là ngựa của phủ Tổng đốc đấy!”

Tên bách hộ lập tức tiến lên quỳ xuống: “Ty chức Tưởng Bách Xuyên bái kiến Tổng đốc đại nhân.”

Lục Trạch ngồi trên lưng ngựa, trên vai khoác chiếc áo choàng màu đen huyền, hắn lạnh lùng hỏi: “Sau giờ giới nghiêm, đã có ai ra khỏi thành chưa?”

Tưởng Bách Xuyên vốn có khả năng nhìn qua là không quên, trí nhớ kinh người, lập tức liệt kê ra từng người một: “Có Hồ Tuần phủ, Bùi Tuần án, và Sứ chuyển vận ngành muối đều đã ra ngoài, ngoài ra còn có Thế tử của phủ Sở Vương.”

Thấy Lục Trạch im lặng không nói, Tưởng Bách Xuyên báo cáo chi tiết hơn: “Thế tử phủ Sở Vương muốn ra bến tàu, nói là để vào kinh chúc mừng đại thọ của bệ hạ. Ngài ấy còn bảo mình bị nhiễm phong hàn nên không cho người vén rèm xe kiểm tra, chúng thuộc hạ chỉ nghe thấy giọng nói từ bên trong.”

Lục Trạch hừ lạnh một tiếng, vung roi ngựa rồi phi nước đại rời đi: “Đến bến tàu!”

Tần Thư bước lên thuyền chiến của thủy sư Tùng Giang. Đợi đến khi tiếng còi lệnh khởi hành vang lên, nàng mới có thể gượng nhẹ mà thở phào một cái.

Linh Lung bưng nước nóng đến bên cạnh: “Cô nương, người rửa mặt rồi đi ngủ thôi. Một khi đã ra khỏi thành Hàng Châu, thì sẽ không có bất trắc gì nữa đâu.”

Tần Thư lên tiếng cảm ơn, rồi dùng nước nóng ngâm chân một lúc, nàng thấy phần bắp chân mình đã hơi sưng phù lên.

Linh Lung ngồi xổm một bên, đôi mắt sáng rực nhìn Tần Thư rồi hỏi: “Cô nương, người thực sự hiểu biết về phiếu hiệu sao?”

Tần Thư khẽ xoa gương mặt nhỏ nhắn lấm lem của tiểu nha hoàn, rồi gật đầu: “Ta từng giúp người khác làm đề tài nghiên cứu về mảng này. Vị thầy giáo đó rất nghiêm khắc, nên ta nhớ kỹ lắm.”

Linh Lung nửa tin nửa ngờ, nhưng cô ấy vốn hết lòng sùng bái Vạn tiên sinh, thấy tiên sinh hết lời khen ngợi vị cô nương này, cô ấy thầm nghĩ dù nàng không thực sự xuất sắc thì chắc hẳn cũng hiểu biết đôi chút.

“Em nghe Vạn tiên sinh nói, sau này…” Câu nói mới được một nửa thì bên ngoài chợt vang lên một hồi náo loạn. Linh Lung im bặt, ngó ra phía ngoài thăm dò rồi quay lại bảo: “Bằng nhi cô nương, bọn họ đuổi kịp tới nơi rồi.”

Nói xong, cô ấy vừa dẫn Tần Thư vào sâu trong khoang thuyền, vừa lật mở tấm ván sàn lên: “Cô nương, đây là một mật thất, để em dìu người vào trong lánh tạm.”

Trong mật thất tối om, tối đến mức giơ bàn tay ra cũng không nhìn thấy năm ngón. Lúc bước xuống cầu thang, Tần Thư không may bước hụt ở bậc cuối cùng làm trẹo chân, cơn đau điếng người ập đến khiến mồ hôi lạnh vã ra như tắm.

Linh Lung dìu Tần Thư ngồi xuống một góc. Đây vốn là một khoang chứa hàng, chất đầy những giỏ tôm cá lộn xộn. Tần Thư tựa lưng vào tấm lưới đánh cá vừa bẩn vừa hôi hám, lắng nghe tiếng bước chân dồn dập, hỗn loạn đang vang lên khắp nơi bên ngoài.

Khi Lục Trạch đến bến tàu, con thuyền của thủy sư Tùng Giang vừa mới rời bến được chừng nửa khắc. Trong lòng hắn trỗi dậy một trực giác mãnh liệt rằng, nha đầu kia nhất định đang ở trên con tàu này. Hắn lập tức hạ lệnh cho thủy sư đánh chặn, rồi tự mình ngồi thuyền nhỏ đuổi theo.

Thế tử Sở Vương là một người đàn ông ngoài ba mươi, dáng vẻ trắng trẻo mập mạp, gã cầm quạt xếp trên tay bước ra nghênh đón: “Tuyên Viễn huynh, thật cảm kích thịnh tình của huynh đã lặn lội đêm hôm đến tiễn đưa.” Nói xong, gã mở quạt ra rồi khẽ ho vài tiếng: “Chỉ tiếc là bệnh cũ của tiểu vương bỗng dưng tái phát dữ dội, e là không thể cùng Tuyên Viễn huynh uống một chén rồi.”

Lục Trạch không đáp lời, đôi mắt như chim ưng sắc lẹm đảo quanh một vòng: “Thế tử, bản đốc nhận được tin báo, có một nhóm nhỏ giặc Oa đang lẻn vào nội địa. Vì sự an nguy của ngài, tốt nhất là cứ để thủy sư lục soát một phen cho thỏa đáng.”

Thế tử Sở Vương trông có vẻ cực kỳ hiền lành, gương mặt trắng trẻo mập mạp nở nụ cười hớn hở: “Đó là lẽ đương nhiên, đương nhiên rồi. Công vụ của Tuyên Viễn huynh là quan trọng nhất, tiểu vương đây nhất định sẽ hết lòng phối hợp, hết lòng phối hợp.”

Tiếp đó là một hồi bước chân dồn dập hỗn loạn. Trái tim của Tần Thư như vọt lên tận cổ họng khi nghe thấy giọng nói của Thế tử Sở Vương: “Tuyên Viễn huynh, căn phòng này là khuê phòng của Thế tử phi, nàng ấy hôm nay không khỏe nên đã sớm nghỉ ngơi rồi, thôi thì đừng làm phiền nàng ấy nữa. Huynh cứ yên tâm, bên trong đều là cung nữ và thái giám mang tới từ Vương phủ, tuyệt đối không có giặc Oa nào đâu.”

Lục Trạch còn đang do dự, thì có người từ bên ngoài chạy tới bẩm báo: “Đại nhân, lửa đã được dập tắt rồi, người cũng đã được đưa ra ngoài, chỉ là… toàn thân đều đã cháy sém, đứa bé trong bụng cũng đã thành hình người rồi…”

Lục Trạch nghe xong, lồng ngực bỗng căng tức đến nghẹt thở, cổ họng trào lên vị tanh nồng của sắt. Hắn vừa định mở miệng nói chuyện, thì một ngụm máu tươi đã phun mạnh ra ngoài.

Đinh Vị vội vàng đỡ lấy Lục Trạch, khẩn thiết khuyên can: “Gia, xin ngài hãy nén bi thương!”

Lục Trạch bật ra hai tiếng cười “hắc hắc” đầy vẻ châm biếm, hắn đẩy Đinh Vị ra, đôi chân lảo đảo bước về phía bờ.

Thế tử Sở Vương lộ vẻ khá kinh ngạc, gã phe phẩy chiếc quạt xếp rồi hỏi: “Đinh Vị, đại nhân nhà ngươi bị làm sao thế này? Sao mới nói có vài câu đã lăn ra hộc máu rồi, sức vóc thế này là không ổn đâu nhé, hồi còn ở kinh thành đâu có thấy yếu ớt như vậy?”

Đinh Vị chắp tay hành lễ: “Đã mạo phạm Thế tử rồi, ty chức xin cáo lui.” Nói xong, y vẫy tay ra hiệu, dẫn theo hàng trăm giáp vệ trên boong tàu rời thuyền đi thẳng.

Vị đại thái giám bên cạnh Thế tử Sở Vương tặc lưỡi kinh ngạc: “Thế tử, vị cô nương kia rốt cuộc là người thế nào, mà có vẻ được Lục đại nhân coi trọng đến vậy?”

Thế tử Sở Vương liếc xéo lão một cái: “Ngậm chặt cái miệng của ngươi vào, chuyện không nên hỏi thì đừng có hỏi.”

Vị đại thái giám lập tức cúi đầu, nhẹ nhàng tự vả vào miệng mình: “Nô tài nhiều chuyện rồi.”

Khi tấm ván bí mật được lật mở, cũng chẳng rõ đã bao lâu trôi qua, sắc mặt của Tần Thư trắng bệch như tờ giấy tuyên, mồ hôi lạnh đầm đìa khắp mặt, đến mức nàng chẳng còn ngửi thấy chút mùi tanh nào của cá tôm nữa.

Linh Lung quơ quơ tay trước mắt nàng: “Bằng nhi cô nương, người đã đi hết rồi…”

Trong khoang thuyền vừa nóng vừa ngột ngạt, đến khi Tần Thư được dìu đứng trên boong tàu, đúng lúc một vầng trăng sáng từ trong đám mây trôi ra, bên tai là tiếng nước sông chảy cuồn cuộn. Nàng bỗng cảm thấy một nỗi bi thương tột cùng dâng lên trong lòng, không thể kìm nén nổi, cuối cùng òa khóc nức nở, chẳng mấy chốc nước mắt đã đầm đìa khắp mặt.

Thế tử Sở Vương đứng bên cạnh lấy làm lạ, gã ngẩng đầu nhìn lên vầng trăng, nhưng chẳng thấy có gì khác biệt, bèn nói: “Bằng nhi cô nương, thủy sư của Lục tổng đốc đã đi xa rồi.”

Tần Thư tựa vào người Linh Lung, nở một nụ cười yếu ớt: “Tôi không phải là Đổng Bằng nhi. Tôi họ Tần tên Thư, tôi là Tần Thư…”

Chương 68

Năm năm sau, tại Kinh thành.

Cổng thành vừa mới mở ra, khắp phố xá đã đầy rẫy những sạp hàng dựng tạm, và những gánh hàng rong nặng trĩu trên vai. Vừa mở nắp xửng ra, mùi thơm nồng của nước đậu xanh và quẩy nóng đã lập tức lan tỏa khắp không gian.

Các bậc lão thành và thiếu gia ở vùng Tứ Cửu Thành vừa bước chân ra cửa, bỏ ra mấy đồng tiền đồng húp bát nước đậu, đã bắt đầu “tán hươu tán vượn”: “Tôi nói này Phùng gia, sáng sớm nay ngựa phi tin báo hỏa tốc ‘tám trăm dặm’ chạy qua cửa Vĩnh Định, ông có nghe thấy gì không đấy?”

Một người bên cạnh đội chiếc mũ hình dưa màu xanh, thở ra một hơi khói trắng nhạt: “Hừ, chuyện đó sao mà không biết cho được, tôi đã biết từ ba ngày trước rồi. Chiết Giang lại đánh thắng trận lớn, đặc biệt chọn đúng ngày hôm nay để báo tin về, đúng dịp đại thọ của Thái hậu nương nương, cốt là để lấy cái điềm lành.” Nói xong, ông ta giơ ngón tay cái lên đầy vẻ thán phục: “Mà nói đi cũng phải nói lại, vị Lục tổng đốc này đúng là cừ thật. Giặc Oa làm loạn cả chục năm nay, thế mà ngài ấy vừa đến, chỉ mất ba bốn năm đã dẹp đâu ra đấy, rất dứt khoát.”

Một người khác vừa mới bước ra khỏi cửa, nghe thấy thế cũng chen vào góp chuyện: “Sứ đoàn các nước lân bang đến tiến cống cũng đã tới rồi, nghe đâu còn lùa cả voi đến nữa. Công chúa Xương Nguyên thì dâng lên bệ hạ hai con hươu trắng, đây đúng là điềm lành lớn từ trời cao, bệ hạ khi đó đã vỗ vai công chúa mà khen nàng thật có lòng.”

Từ đầu kia của con ngõ, một vị văn sĩ ngoài năm mươi tuổi mặc áo xanh bước tới. Ông ấy sầm mặt, hừ lạnh một tiếng: “Chuyện cơ mật thế này làm sao ngươi biết được? Chẳng lẽ lúc Bệ hạ trò chuyện cùng Công chúa Xương Nguyên, ngươi lại đang đứng chực một bên chắc?”

Kẻ vừa ba hoa lập tức cãi lý: “Tôi thì đúng là không đứng đó rồi, nhưng tự nhiên là phải có người khác đứng ở đó chứ!”

Vị văn sĩ áo xanh hừ lạnh một tiếng rồi sải bước rời đi, sau đó “rầm” một cái đóng sầm cửa phòng lại.

Theo sau ông là một cô gái mặc chiếc áo bông cũ có vài mảnh vá, cô chắp tay thay cha mình xin lỗi: “Các vị thúc bá, thật xin lỗi, tính tình của cha cháu vốn dĩ như vậy, mong mọi người đừng chấp nhặt với ông ấy.”

Đều là hàng xóm láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau mấy chục năm trời, họ vốn đã quá quen với cái tính khí thối ấy. Thấy hai cha con mặt mày hầm hầm trở về, họ liền vội hỏi: “Sáng sớm ra hai người đi đâu, mà để ai chọc giận Bạch lão tiên sinh đến nông nỗi này?”

Vẻ mặt của tiểu cô nương kia cũng đầy bất lực: “Phiếu hiệu Đại Thông tuyển học đồ, cháu định bụng đến đăng ký xem có may mắn trúng tuyển không. Ngờ đâu cha cháu biết được, nhất quyết lôi bằng được cháu về, tuyệt đối không cho cháu đi.”

Cánh cửa lớn bỗng “ầm” một cái mở toang ra, vị văn sĩ áo xanh quát mắng: “Còn không mau cút vào nhà! Một nữ nhi chưa xuất giá mà lại dám ra ngoài rêu rao mặt mũi, còn ra thể thống gì nữa? Nhà chúng ta vốn có truyền thống thư hương, chết đói là chuyện nhỏ, giữ lễ tiết mới là chuyện lớn. Thật uổng công cha dạy dỗ con đèn sách từ nhỏ, mấy cuốn Nữ Huấn con đọc quăng đi đâu hết rồi?”

Cô nương kia bị mắng đến đỏ bừng cả mặt, nhỏ giọng lầm bầm: “Giảng đạo lý thì cha giỏi hơn bất cứ ai, chỉ có điều là sẽ bị đói bụng mà thôi.” Nói xong, cô nương ấy lại chậm chạp bước vào nhà, rồi đóng cửa lại.

Đám người đứng bên cạnh nãy giờ cứ như đang xem kịch vui, họ chờ cho đến khi cánh cửa gỗ kia lại vang lên một tiếng “rầm” đóng chặt lại, bấy giờ mới bắt đầu xôn xao bàn tán: “Ấy, không nhắc tới chuyện này thì tôi cũng chẳng nhớ ra, hôm nay chính là ngày phiếu hiệu Đại Thông tuyển học trò mỗi năm một lần. Tôi phải mau mau gọi nha đầu lớn nhà mình đi đăng ký mới được, kẻo lại uổng công bấy lâu nay tốn tiền mời thầy về dạy nó học chữ.”

“Thế nhà chồng tương lai của nha đầu lớn nhà ông không chê nó cái việc ra ngoài lộ mặt à?”

“Nghèo còn bày đặt kỹ tính! Làm học trò mỗi tháng đã được một lạng bạc, chưa nói tới sau này. Có chê thì cũng là nha đầu nhà tôi chê nhà bên ấy thì có!” Nói xong, người nọ chạy ngay ra đầu ngõ, gào to hết cỡ: “Đại nha đầu, dậy mau, dậy mau lên! Đi đăng ký vào phiếu hiệu Đại Thông đi, tí nữa người ta đông lên là không chen chân nổi mà ký tên đâu!”

Một tiểu nha đầu tầm mười ba tuổi, mặc áo bông bị cha lôi tuồn tuột ra phố: “Cha, cha vội cái gì chứ, con còn chưa kịp rửa mặt mà?”

Cha cô nhóc túm lấy tay áo lau đại lên mặt nó một lượt cho xong chuyện: “Thế này là tốt lắm rồi, phiếu hiệu Đại Thông tuyển học trò chứ có phải tuyển người đẹp đâu mà cần nhìn mặt.”

Khi hai cha con đến phiếu hiệu Đại Thông ở khu Đại Sát Lạn, nơi đây đã sớm bị người ta vây kín đến mức nước chảy không lọt. Đứng lên chiếc xe ngựa bên cạnh, kiễng chân nhìn về phía trước, sẽ thấy một tòa kiến trúc cao năm, sáu tầng, đỉnh nhọn bốn phương, toàn bộ đều được xây dựng bằng đá đại lý, vừa rộng rãi vừa sáng sủa. Những ô cửa sổ ngay lối ra vào được lắp loại kính thủy tinh trong suốt, vận chuyển từ hải ngoại về với giá cực đắt, ánh mặt trời chiếu vào tỏa ra những tia sáng lấp lánh.

Tuy không chạm xà vẽ cột, mái uốn ngói xanh như những nơi khác, nhưng trong sự giản đơn lại toát lên vẻ phú quý, trong sự khiêm nhường lại khiến chẳng một ai dám xem nhẹ. Những gã sai vặt và học trò đứng ở cửa người nào người nấy quần áo chỉnh tề sạch sẽ, ưỡn ngực ngẩng cao đầu, tràn đầy vẻ tự hào.

Người cha chẳng còn màng tới điều gì nữa, ông ấy lôi đại nha đầu nhà mình chen lấn bạt mạng vào bên trong: “Chưởng quỹ, chưởng quỹ ơi! Chúng tôi cũng muốn đăng ký. Tôi là cha con bé, tôi đồng ý cho nó đi làm!”

….

Linh Lung ngáp dài một cái, khoác chiếc áo bông vào rồi bước ra khỏi phòng, đi thẳng về phía Tây. Đó là một nhà ăn cực kỳ rộng rãi, ngoài cửa treo tấm biển “Hạc Minh”, cửa sổ sáng sủa sạch sẽ. Từng nhóm dăm ba người từ bên trong đi ra, cung kính chào hỏi cô ấy: “Chào Linh Lung tỷ tỷ”, “Linh Lung tỷ tỷ buổi sáng tốt lành.”

Linh Lung khẽ gật đầu, bước vào bên trong thì thấy trên tường treo một bức thảo thư đầy mạnh mẽ, cứng cáp: “Sự tại nhân vi, đắc nhân tắc hưng, thất nhân tắc suy.”

(Việc là do người làm ra, có được người tài thì hưng thịnh, mất người tài thì suy vong.)

Đi sâu vào bên trong là từng dãy cửa sổ kính trong suốt. Linh Lung bước tới, đưa mắt nhìn lướt qua một lượt. Người đầu bếp đứng bên trong cửa sổ cười niềm nở chào hỏi cô: “Cô nương Linh Lung, sáng nay cô muốn dùng món gì? Đống sơn hào hải vị mới chuyển từ ngoài biên ải về, thêm một đĩa thịt luộc nữa thì không gì sánh bằng, tươi ngon lắm đấy!”

Linh Lung lắc đầu: “Hôm qua ăn nhiều dầu mỡ quá, chắc nửa tháng tới tôi chẳng dám đụng vào thịt nữa đâu.”

Nói xong, cô bước lên phía trước, thấy một mảng kính lớn đã bị vỡ toang, liền hỏi: “Chuyện này là thế nào đây?”

Người đầu bếp ở cửa sổ bên cạnh cười đáp: “Đừng nhắc tới nữa, tối qua Nhị chưởng quầy của chi nhánh Dương Châu dẫn mấy tay buôn da lông thú từ ngoài biên ải đến tầng hai dùng bữa. Đang ăn dở bữa, mấy người đó liền mở miệng nói luôn, sau này có bao nhiêu tiền bạc đều gửi hết vào phiếu hiệu Đại Thông của chúng ta. Họ bảo đến cả chỗ ăn cơm của người làm mà còn dám dùng tới kính thế này, thì làm sao thèm tham mấy đồng bạc lẻ của họ chứ. Thế là ngay tại chỗ, họ gửi luôn mười vạn lượng tiền hàng vào. Lúc uống rượu hăng quá, không để ý nên mới đâm sầm vào kính đấy.”

Nhị chưởng quầy của chi nhánh Dương Châu tên là Tả Dương, vốn dĩ trước đây cũng giống như Linh Lung, đều đi theo hầu hạ bên cạnh Tần tiên sinh, chỉ một hai năm trở lại đây mới được tổng hiệu phái đến Dương Châu.

Linh Lung “ừm” một tiếng, giọng điệu có chút chua chát: “Thế thì hắn ta thật là có tiền đồ quá nhỉ, chỉ ăn một bữa cơm mà đã thu về mười vạn lượng bạc, cuối năm nay tiền chia hoa hồng lại được thêm vài trăm lượng rồi còn gì.”

Người đầu bếp nghe ra ẩn ý, liền cười hihi một tiếng rồi bảo: “Nhưng mà ngài ấy vẫn chẳng thể nào bì kịp với cô nương được. Cô nương đương chức ở ngay Tổng hiệu, lần này tuyển chọn học đồ cũng được đi theo phụ trách, thử hỏi đại chưởng quầy của hai kinh mười ba tỉnh có ai là không nể mặt cô vài phần? Thôi, cô vẫn dùng như cũ nhé, một bát mì trứng cà chua. Đừng nói đâu xa, cái món này hồi đầu mới thấy tôi còn tưởng là vị cay, ai dè làm ra lại là vị chua chua ngọt ngọt thế này…”

Tâm trạng đang tốt của Linh Lung bỗng chốc bị người đầu bếp làm cho tan biến hết. Đại chưởng quầy của hai kinh mười ba tỉnh chẳng qua cũng chỉ nể mặt cô nương mà gọi cô một tiếng “cô nương Linh Lung” mà thôi. Cứ ở mãi Tổng hiệu thì có ích gì chứ? Cô khao khát được phái ra ngoài để tự mình gánh vác một phương hơn bất kỳ ai. Cô đưa tay chỉ đại: “Một bát mì trứng cà chua, thêm nửa thìa tương đen nữa.”

Cô bưng bát mì ngồi xuống chiếc bàn lớn bằng gỗ cánh gà ở một bên, uể oải ăn được vài miếng thì thấy có người bước vào từ phía cửa. Đó là một nam nhân tầm ngoài hai mươi tuổi, vận y phục của tiệm Thụy Phúc Tường, chân đi ủng của hiệu Đức Minh Bảo. Người nọ ngồi xuống đối diện với cô, rồi lên tiếng: “Linh Lung, hơn hai năm không gặp, cô lại cao thêm rồi đấy.”

Linh Lung hừ lạnh một tiếng: “Chuyện lạ chưa kìa, Tả chưởng quỹ lại có chuyện lớn gì mà ghé mắt tới đây vậy?”

Người vừa đến chính là Tả Dương. Hắn ta cười hì hì hai tiếng, gãi đầu rồi lấy từ trong ống tay áo ra một chiếc hộp gấm: “Đây là trâm phượng vàng nạm đá quý do chính tay đại sư Phó ở Tô Châu chế tác. Sinh nhật mấy năm nay của cô tôi đều lỡ quên mất, nay mang đến tặng bù hết cho cô một thể đây.”

Linh Lung liếc nhìn hắn ta một cái đầy vẻ nghi hoặc. Cô mở hộp gấm ra, quả nhiên bên trong là một chiếc trâm phượng vàng, khảm năm, sáu viên hồng ngọc lấp lánh: “Cái này chắc cũng phải cả ngàn lạng bạc ấy nhỉ? Cái đồ ‘vắt cổ chày ra nước’ nhà ngươi, hồi xưa đến cục xà phòng rửa mặt cũng phải dùng chực của ta, giờ giàu nứt đố đổ vách rồi nên đổi tính đổi nết đấy à?”

Tả Dương cười cười, lại đưa thêm một phong thư nữa: “Đây là một bản điều trần do tôi viết, phiền cô xem giúp tôi một tay, nếu thấy xem được thì nhờ cô chuyển lên cho Tiên sinh.”

Linh Lung húp một hơi mì, lúc này mới mở tờ giấy trong thư ra xem: “Chống giả mạo ngân phiếu?”

Tả Dương gật đầu, bóc giúp Linh Lung một quả trứng gà rồi nói: “Đây là kỹ thuật in ấn mới mà phía Dương Châu chúng tôi vừa thử nghiệm thành công. Bình thường sẽ không nhìn ra được, phải đưa lên trước ánh mặt trời thì mới thấy được các mật mã in chìm bên dưới. Lần này chưởng quỹ các chi nhánh từ ‘Hai kinh mười ba tỉnh’ đều tề tựu về tổng hiệu, chẳng phải cũng vì chuyện phát hành ngân phiếu mệnh giá nhỏ hay sao?”

Linh Lung xem xong liền gấp tờ giấy lại cất kỹ, bát mì cũng đã ăn gần xong, cô kéo tay áo xuống rồi nói: “Được rồi, ta sẽ chuyển giúp ngươi.”

Cô rảo bước đi ra ngoài, đi được chừng vài chục bước, thấy Tả Dương vẫn còn lẵng nhẵng theo sau, cô liền lấy làm lạ hỏi: “Ngươi còn theo ta làm cái gì nữa? Giờ ta phải sang ngõ Kỳ Bàn để gặp cô nương, ngươi cũng định đi cùng ta chắc?”

Tả Dương vẫy vẫy tay từ chối. Kể từ khi đi Dương Châu, hắn ta như cá gặp nước, là khách quen của chốn lầu xanh, tuy chưa thành thân nhưng nhân tình nuôi bên ngoài cũng không ít. Chẳng biết kẻ nào lắm mồm lắm miệng đi mách lẻo với cô nương, cũng tức là Tần tiên sinh, khiến hắn ta không chỉ bị tổng hiệu gửi văn bản khiển trách, mà đích thân Tần tiên sinh cũng viết thư răn dạy, làm hắn ta mất mặt suốt nửa năm trời. Hiện giờ, có cho kẹo thì hắn ta cũng chẳng dám đến gặp tiên sinh.

Linh Lung lườm hắn ta một cái: “Thế chẳng phải là xong rồi sao?”

Tả Dương thấy xung quanh không có ai, bèn kéo lấy tay áo Linh Lung: “Tối nay ở Trọng Trạch Lâu tôi mời cô dùng bữa. Có một tay buôn lương thực ở Sơn Tây muốn cầu kiến tiên sinh, cô cứ gặp thử xem sao. Dù gì chúng ta cũng có tình nghĩa ba bốn năm nay rồi, cô đi xem qua một chút đi.”

Linh Lung lạnh mặt: “Không rảnh.”

Tả Dương đuổi theo Linh Lung ra khỏi cửa hông của phiếu hiệu, vừa ra tới nơi thì thấy một chiếc xe ngựa đang đỗ sẵn ở cửa. Đứng bên cạnh xe là một ma ma lớn tuổi với vẻ mặt nghiêm nghị: “Linh Lung cô nương, tiên sinh có việc muốn dặn dò cô.”

Linh Lung “dạ” một tiếng rồi nhanh nhẹn leo lên xe ngựa, sau đó mới hỏi: “Tần ma ma, bệnh phong hàn của cô nương đã đỡ hơn chút nào chưa ạ?”

Khuôn mặt của Tần ma ma lúc này mới để lộ ra một chút ý cười: “Tiên sinh bảo, bị mấy tay ‘nghiện thuốc’ kia hun cho một hồi, ngược lại mũi lại không còn nghẹt nữa, thấy nhẹ nhõm hơn hẳn rồi.”

Lần này cô nương triệu tập tất cả chưởng quỹ của các chi nhánh từ “Hai kinh mười ba tỉnh” về Bắc Kinh là để bàn bạc về việc phát hành ngân phiếu mệnh giá nhỏ. Thế nhưng có mấy lão già lụ khụ nhất định không chịu buông lời đồng ý, cứ ngồi lỳ ở đó thương nghị cả ngày trời. Ngặt nỗi trong số đó lại có mấy tay nghiện thuốc nặng, khiến cho nghị sự sảnh bị bọn họ hun cho khói tỏa mịt mù, chẳng khác nào chốn bồng lai tiên cảnh.

Tả Dương thấy Tần ma ma chẳng thèm đoái hoài gì đến mình, bèn nở nụ cười nịnh nọt: “Tần ma ma, sức khỏe của bà vẫn tốt chứ ạ? Con thấy bà còn có vẻ cứng cáp hơn cả hồi trước lúc con đi nữa cơ…”

Tần ma ma khẽ nhướng mí mắt, buông một câu trả lời với giọng điệu nửa nóng nửa lạnh: “Tả tiểu tử này, lần này từ Dương Châu trở về, con người cậu đúng là thay đổi đến mức khác hẳn xưa rồi đấy.”

Tả Dương cười gượng đầy ngượng nghịu: “Đâu có ạ, trước mặt bà thì con vẫn cứ như ngày xưa thôi mà.”

Tần ma ma đưa ngón tay ra chỉ chỉ: “Lên xe đi, tiên sinh cũng muốn gặp cậu đấy.”

Tả Dương ‘a’ lên một tiếng, trong lòng thấp thỏm không yên, tự biết phen này chắc chắn là bị ăn mắng rồi. Suốt quãng đường hắn ta chẳng nói chẳng rằng, trông cứ như một nàng dâu nhỏ chịu uất ức, chẳng còn chút phong thái nào của Tả Nhị gia oai phong bên ngoài cả.

Tiếng xe ngựa nghiến lên lớp tuyết đọng bên lề đường kêu răng rắc, chỉ một lát sau đã tới ngõ Kỳ Bàn. Bước xuống xe là thấy ngay hai chữ ‘Tần Trạch’. Cũng giống như đại đa số những trạch viện khác tại kinh thành, bên ngoài trông mộc mạc giản đơn nhưng bên trong lại là một bầu trời riêng biệt, vòng qua bức bình phong là thấy ngay hai cây thanh đàn cao lớn sừng sững.

Cũng chính vì hai cây thanh đàn này được tiên sinh yêu thích, nên người trong phiếu hiệu không gọi nơi này là Tần Trạch, mà trái lại thường gọi là Tiểu Đàn Viên.

Đi qua hành lang gấp khúc, liền thấy Túy Ngọa Hiên nằm trên mặt nước, mấy vị đại chưởng quỹ của các phân hiệu cũng chẳng sợ lạnh, đang ngồi trên ghế đá tranh luận vô cùng gay gắt. Thấy Tần ma ma dẫn người đi tới, họ liền cười chào hỏi: “Tần ma ma, bệnh tình của Tần tiên sinh thế nào rồi, khi nào chúng ta mới có thể tiếp tục thương nghị đây?”

Tần ma ma cười lắc đầu: “Các vị đại chưởng quỹ, tôi chỉ là kẻ dưới hầu hạ cơm nước, làm sao mà biết được những việc đại sự của các ông chứ?”

Chỉ bằng một câu nói đó, bà đã khéo léo gạt phăng mọi chuyện đi. Mấy vị đại chưởng quỹ của các phân hiệu phủi phủi tay, miệng liên tục than vãn: “Chúng tôi đều đã ở đây nửa tháng trời rồi, các phân hiệu ở khắp nơi đều không có ai chủ trì đại cục, lỡ như có chuyện gì xảy ra thì ở địa phương biết tính sao đây?”

Một người khác rít một hơi thuốc, rồi tặc lưỡi: “Lão Hồ, ông vẫn chưa nhìn ra sao? Tần tiên sinh rõ ràng là đang thử thách lòng kiên nhẫn của chúng ta đấy. Năm năm qua, có việc gì tiên sinh muốn làm mà không thành công không? Những chuyện khác thì thôi đi, đến cả việc nhận học đồ mà cũng nhận cả đám nữ tử vào, cái này thật không thể chấp nhận được. Những năm trước tôi ở bên ngoài không về kinh, các ông cũng chẳng biết đường mà khuyên can tiên sinh. Lần này gặp được tiên sinh, tôi nhất định phải nói cho ra lẽ. Cái gọi là nam nữ khác biệt, nam nữ thụ thụ bất thân, cái ranh giới này tuyệt đối không thể nới lỏng…”

Có người bên cạnh kéo kéo cánh tay ông ta, rồi hạ thấp giọng: “Chu chưởng quỹ, ông hút thuốc nhiều quá nên lú lẫn rồi hay sao mà nói năng bừa bãi thế…” Chẳng lẽ ông ta quên mất cả Đại chủ tử lẫn Nhị chủ tử của cái phiếu hiệu Đại Thông này đều là nữ nhi hay sao.

Chu chưởng quỹ tự biết mình lỡ lời, bèn cười hì hì một tiếng, không cam lòng mà phản bác lại vài câu lấy lệ: “Ông kéo tay tôi làm cái gì, tôi đang nói đám nữ học đồ, chứ có nói ai khác đâu…”

Tần ma ma thì cứ như thể chẳng hề nghe thấy những lời vừa rồi, bà chỉ cười nói: “Các vị đại chưởng quỹ cứ thong thả ngồi chơi, tôi có việc vào thưa lại với tiên sinh đây ạ.”

Nói xong, bà liền dẫn Linh Lung cùng Tả Dương hướng về phía ‘Đạm Tĩnh Đường’. Nơi này quả đúng như tên gọi, ẩn mình sau vạn bụi trúc xanh rì, trong thoáng chốc chỉ nghe thấy tiếng gió thổi xào xạc.

Tần ma ma đưa Linh Lung vào trong, để lại một mình Tả Dương đứng đợi ngoài cửa. Chờ thêm một lát, bỗng nghe thấy một tràng ca xướng thanh tao và du dương vang lên —

“Kìa tía đỏ hồng tươi đua nở khắp, lại để mặc cho thành hoang giếng nát tựa thế này. Cảnh đẹp ngày lành biết làm sao với trời xanh, niềm vui ý hợp biết tìm nơi chốn nào…”

(Trích Mẫu Đơn Đình: Đây là những câu hát nổi tiếng trong hồi Kinh mộng. Nó diễn tả sự nuối tiếc trước vẻ đẹp của mùa xuân và tuổi trẻ nhưng lại bị vùi lấp trong cảnh hoang tàn, cô độc.)

Tả Dương đứng chắp tay cung kính, chẳng dám lộ ra chút phóng túng nào, mắt dán chặt xuống mặt đất. Không biết qua bao lâu, bên trong đã hát xong khúc 【Tạo La Bào】, vừa mới bắt đầu sang một đoạn khác thì nghe thấy tiếng của tiên sinh: “Được rồi, hôm nay đến đây thôi. Bộ quân cờ Vân Tử ta mới có, cùng với bàn cờ bằng gỗ tử đàn này, con hãy mang về đi.”

Tả Dương vội vàng ngẩng đầu lên, liền thấy một nam tử mặc y phục sắc đỏ thắm thêu hoa mẫu đơn từ bên trong bước ra. Trông cậu ta chỉ chừng mười sáu mười bảy tuổi, môi đỏ răng trắng, diện mạo khôi ngô.

Đứng im lặng bên cạnh Tả Dương, cậu ta liếc nhìn hắn một cái, ánh mắt lộ ra vẻ quyến rũ đa tình, giọng nói cũng thanh thoát và trong trẻo: “Tả Nhị gia, nghe danh đã lâu.”

Tả Dương vốn không quen biết cậu ta, nhưng người bên cạnh tiên sinh, cho dù có là một kẻ hát xướng đi nữa thì hắn ta cũng chẳng dám coi thường, bèn chắp tay hành lễ: “Đâu có đâu có, vẫn chưa kịp thỉnh giáo danh tính của vị công tử đây?”

Nam tử kia nở một nụ cười đầy châm chọc: “Hà Hương Quân ở Dương Châu là sư muội của ta.” Nói xong, cậu ta liền phất quạt một cái, rồi thong dong tự tại rời đi.

Tả Dương đứng chôn chân tại đó, ngoài mặt không dám biểu lộ gì, nhưng trong lòng đã sớm chửi rủa om sòm: “Cái thứ hạ cửu lưu đê tiện, chẳng qua là vì tiên sinh thích nghe kịch của ngươi thôi, làm bộ làm tịch cái nỗi gì?”

Lại không biết đã đứng bao lâu, đứng đến mức hai chân tê dại, bên trong mới có một nha hoàn mặc áo khoác lót bông màu xanh lục bước ra: “Tả Nhị gia, tiên sinh mời ngài vào trong.”

Tả Dương vội ‘dạ’ một tiếng, miệng nói: “Làm phiền tỷ tỷ rồi.”, nhưng trong lòng lại kêu khổ không thôi. Hết gọi là ‘Tả Nhị gia’ rồi lại dùng từ ‘mời’, hôm nay chẳng biết phải làm sao mới vượt qua được cửa ải này đây?

Nha hoàn vén rèm lên, vừa bước vào đã thấy một luồng hơi ấm sực tới. Tả Dương chẳng dám nhìn ngó lung tung, quỳ sụp xuống trước bức bình phong: “Tả Dương xin thỉnh an tiên sinh. Hai năm không gặp, sức khỏe của tiên sinh vẫn ổn chứ ạ?”

Bên trong hừ lạnh một tiếng, giọng nói truyền ra đầy lạnh lẽo: “Nhờ phúc của ngươi, nên ta vẫn còn tạm ổn.”

Tả Dương không nhịn được mà hơi ngẩng đầu lên, xuyên qua những đóa mẫu đơn thêu thùa cầu kỳ trên bức bình phong, hắn ta có thể nhìn thấy lờ mờ bóng dáng một nữ tử tóc búi tựa mây, liền bày ra bộ dạng đáng thương mà cầu xin: “Tiên sinh, tôi biết lỗi rồi ạ.”

Tần Thư khẽ cười, đặt bút xuống rồi ngả người ra sau dựa vào chiếc ghế bành, nàng khẽ ho một tiếng: “Ta thấy bộ dạng này của ngươi dường như vẫn còn chưa để tâm lắm nhỉ?”

Nha hoàn bên ngoài bưng trà tới, Tả Dương đón lấy, cười hì hì bưng vào trong, cung kính đặt lên bàn viết, rồi lại vén vạt áo quỳ xuống: “Tiên sinh, tôi thật sự biết lỗi rồi. Cái nghề phiếu hiệu này, tiền bạc qua tay đâu chỉ hàng ngàn hàng vạn, điều cốt yếu đầu tiên của chúng ta chính là phải giữ mình nghiêm cẩn. Tôi lại tìm đến những nơi không sạch sẽ đó, thực sự là quá sai trái rồi.”

Tần Thư bưng chén trà lên nhấp một ngụm, cổ họng cảm thấy dễ chịu hơn đôi chút: “Ngươi là con một, lại còn là độc đinh ba đời, việc cưới vợ nạp thiếp, có thêm vài vị hồng phấn giai nhân để nối dõi tông đường cũng là lẽ đương nhiên thôi.”

Tả Dương ngẩng đầu lên, thấy nét mặt của tiên sinh hơi mỉm cười, nàng đưa tay ném một tờ giấy xuống: “Cũng tốt, bất hiếu có ba điều, không có người nối dõi là tội lớn nhất. Vậy ngươi cứ về nhà mà cưới vợ nạp thiếp, cùng với những hồng nhan tri kỷ ở Dương Châu kia mà duy trì nòi giống, chắc hẳn cha mẹ ngươi sẽ vui mừng lắm. Ngươi đi theo bên cạnh ta mấy năm, ta không thể không chuẩn bị một phần hậu lễ. Thế này đi, nghiên mực Trừng Nê đời Bắc Tống trong thư phòng của ta, phối thêm thỏi mực của Lý Diên Khuê có đề chữ của Lý Hậu Chủ, cũng xem như không làm nhục danh tiếng của ngươi.”

Sắc mặt của Tả Dương biến đổi dữ dội, hắn nhặt tờ giấy dưới chân bàn lên, thấy trên đó là bút tích do chính tay Tần Thư viết: “Nay có Tả Dương ở phân hiệu Dương Châu, tu thân không nghiêm, lập tức khai trừ, vĩnh viễn không bao giờ trọng dụng.” Ở cuối tờ giấy, không chỉ có tư ấn của tiên sinh mà còn đóng cả con dấu của tổng hiệu.

Ngay lập tức, hắn dập đầu bịch bịch xuống đất, dập đến mức trên trán hằn rõ vết máu, lúc này mới ngẩng mặt lên, nước mắt nước mũi giàn dụa: “Tiên sinh, Tả Dương tôi không phải kẻ không biết tốt xấu, xin tiên sinh tha cho tôi một lần này thôi, tôi nhất định sẽ làm nên trò trống, không để tiên sinh phải mất mặt.”

Tần Thư lặng lẽ nhìn hắn một hồi, rồi hừ lạnh một tiếng: “Ngươi cũng biết mình làm mất mặt cơ đấy? Đã biết có ngày hôm nay thì thuở trước đừng làm, muộn rồi.” Nói xong, nàng gõ nhẹ lên bàn viết, nha hoàn đứng bên cạnh bèn bưng khay Ngũ Phúc tiến lên, mở khăn phủ ra, bên trong chính là một nghiên mực và một thỏi mực.

Tần Thư nói: “Ta còn có việc, ngươi lui xuống đi.”

Tả Dương ngẩng đầu, nhìn nhìn nghiên mực, nhìn nhìn thỏi mực, rồi lại nhìn sang Tần Thư, thấy nàng đã nhắm mắt lại, một tay chậm rãi xoa thái dương. Hắn quỳ ở đó, vẻ mặt đầy thành khẩn: “Tiên sinh, tôi biết ‘Loại bỏ sự giả dối, tiết chế tình dục, đề cao phẩm hạnh, buông bỏ thù hận, chịu khó làm việc, bài trừ xa hoa’ là những quy tắc do chính tay người viết ra. Tôi vốn từ bên cạnh người mà ra, vậy mà lại phạm phải, đúng là đã làm mất mặt người quá rồi. Tôi ngàn lần không nên, vạn lần không nên, vạn vạn lần không nên là kẻ cầm đầu vi phạm quy tắc do tiên sinh đặt ra.”

“Tôi là do một tay tiên sinh dạy dỗ, tiên sinh bảo tôi đi thì tôi không dám không đi. Chỉ xin tiên sinh niệm tình xưa nghĩa cũ, cho tôi được ở lại phiếu hiệu, cho dù phải làm lại từ thân phận học đồ, thì tôi cũng cam lòng.”

Tần Thư nghe hắn lải nhải mãi, vốn dĩ đã đau đầu, lúc này nàng sầm mặt lại: “Còn lảm nhảm cái gì nữa?”

Tả Dương thấy Tần Thư nói lời tuyệt tình như vậy, trong lòng than thầm: Phen này là tiêu đời thật rồi, hoàn toàn xong đời rồi.

Hắn lề mề chậm chạp vừa mới định đứng dậy, thì chợt nghe thấy tiếng cười khúc khích vang lên từ phía hành lang. Một đứa bé nhỏ nhắn xinh xắn như tạc từ phấn quế ngọc ngà đẩy cửa bước vào, lao nhanh như gió vào lòng hắn: “Tiểu Tả ca ca, ca ca đi Dương Châu về rồi đấy ạ?”

Tả Dương bị đứa bé húc trúng sống mũi, đau đến mức nước mắt trào ra ngay lập tức. Hắn ta vội vàng ôm chặt lấy cậu bé, không để cậu cựa quậy lung tung: “Tiểu công tử lại cao thêm rồi.”

Tả Dương quan sát kỹ hơn, thấy tóc của đứa nhỏ đã được nuôi dài, đen nháy và dày mượt. Khác hẳn với kiểu tóc búi hai sừng thường thấy ở trẻ nhỏ, cậu bé lại búi một chỏm duy nhất như nam nhân trưởng thành, thậm chí còn đội một chiếc quan ngọc trông rất ra dáng.

Thấy đối phương quan sát mình, đứa nhỏ lập tức rời khỏi người Tả Dương, phủi phủi tà áo, vẻ mặt vô cùng đắc ý: “Thế nào Tiểu Tả ca ca, gu thẩm mỹ của ta cũng không tồi chứ? Hoa văn trên chiếc quan ngọc này là do tự tay ta vẽ đấy.”

Tả Dương mỉm cười, trong lòng thầm hiểu phen này đã có chuyển biến, hắn liền bày ra bộ dạng khổ sở: “Ca ca vừa từ Dương Châu về, chỉ là tiên sinh bảo ca ca đi, e rằng sau này không được vào đây gặp tiểu công tử nữa rồi.”

Đứa nhỏ tầm bốn tuổi, nghe vậy liền nghi hoặc nhìn sang Tần Thư. Thấy nàng vẫy vẫy tay: “Tần Hành, giờ này chẳng phải con nên ở học đường đọc sách sao?”

Tần Hành rụt vai lại, leo lên ghế rồi dùng đôi tay nhỏ xíu nhẹ nhàng đấm bóp vai cho Tần Thư. Trên người cậu bé vẫn còn vương mùi sữa thơm phức, đôi nhãn cầu đen láy cứ thế xoay tít: “Con có một bài toán không biết làm, nghe nói Tiểu Tả ca ca về rồi nên muốn nhờ ca ca chỉ bảo cho con.”

Cậu bé còn nhỏ, trên mặt vẫn còn lớp mỡ trẻ con phúng phính, trắng hồng mềm mại, lại còn bày ra bộ dạng đáng thương tội nghiệp, đến cả Tần ma ma cũng nói đỡ cho cậu bé: “Tiểu công tử đã sửa đổi rồi, ngày nào cũng học hành chăm chỉ lắm ạ.

Tần Thư véo nhẹ vào má cậu bé, biết thừa là con trai đang nói dối nhưng cũng đành bất lực, nàng khẽ gật đầu: “Đi đi.

Tần Hành ôm cổ Tần Thư hôn chụt một cái, rồi reo hò nhảy cẫng lên: “Cảm ơn mẹ!” Nói xong, cậu bé liền leo xuống ghế, nắm lấy tay Tả Dương rồi kéo hắn ta chạy “bạch bạch” ra ngoài.

>>

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *