Chương 69
Tần ma ma nhìn thấy cảnh đó liền mỉm cười: “Lúc mới sinh ra, thằng bé chỉ bé tẹo như con mèo nhỏ, cô nương còn cứ lo không nuôi nổi, thế mà giờ đã lớn lên trắng trẻo mập mạp thế kia rồi.”
Tần Thư cười mắng một tiếng: “Đều là do mọi người nuông chiều quá nên nó mới càng ngày càng chẳng ra thể thống gì đấy. Nội trong năm nay thôi đã thay không dưới năm thầy dạy rồi, đợi đến lúc người này cũng bị nó hành cho phải bỏ đi, thì xem còn ai đến dạy nữa? Bây giờ cứ ra ngoài mà nghe ngóng xem, chỉ cần nghe nói là làm thầy đồ cho phủ chúng ta thì dù có trả bao nhiêu bạc người ta cũng chẳng thèm tới đâu.”
Tần ma ma khẽ mở hé một khe cửa sổ, cười nói: “Tiểu công tử vẫn còn nhỏ mà, mới vừa tròn bốn tuổi thôi, tôi thấy có khối nhà sáu bảy tuổi mới bắt đầu cho con đi học đấy chứ. Đợi tiểu công tử lớn thêm chút nữa, tự khắc sẽ ngoan hơn thôi. Với lại, mấy ông thầy đó chẳng qua cũng chỉ là mấy lão cử nhân hủ nho, ngoài Tứ Thư Ngũ Kinh ra thì chẳng biết cái gì cả. Tiểu công tử hỏi mấy câu mà họ không đáp được, nên họ mới sinh ra định kiến đấy thôi. Đừng nhìn tiểu công tử hay tỏ ra ngoan ngoãn nịnh bợ trước mặt cô nương, chứ cái tính khí này là giống cô nương mười mươi, tuổi tuy nhỏ nhưng lại vô cùng bướng bỉnh.”
Tần Thư lắc đầu ròi nhắm nghiền hai mắt, một tay khẽ xoa xoa thái dương. Tần ma ma vội vàng dời lư hương lại gần hơn một chút, rồi tự tay nhẹ nhàng xoa bóp cho nàng: “Cô nương lại đau đầu nữa rồi sao?”
Tần Thư khẽ ừ một tiếng: “Bệnh cũ thôi mà.”
Tần ma ma nhỏ một giọt tinh dầu từ bình sứ ra, xoa đều vào lòng bàn tay rồi nhẹ nhàng xoa bóp thái dương theo chiều kim đồng hồ: “Lý thái y nói, cái bệnh này của cô nương là do hồi ở cử không kiêng cữ cẩn thận, để gió độc ngấm tận vào kẽ xương, muốn chữa dứt điểm thì phải đợi đến lần ở cử sau. Dạo ấy, phiếu hiệu xảy ra chuyện, cô nương cứ thế lao vào làm việc quên ăn quên ngủ.”
Tần Thư bật cười thành tiếng: “Vậy thì xem ra chẳng còn hy vọng gì nữa rồi.”
Tần Thư mới chỉ cảm thấy thư thái được một lát nhờ xoa bóp, thì chợt nghe thấy tiếng nha hoàn bên ngoài thảng thốt kêu lên: “Phùng lão tiên sinh, ông làm sao vậy? Sao mắt ông lại đỏ lừ thế kia? Sao mũi cũng chảy máu rồi?”
Giọng lão tiên sinh đầy vẻ phẫn uất, lão gào lên đến mức khản đặc cả cổ: “Ta muốn gặp chủ nhà, ta muốn xin từ chức! Chức thầy đồ quý phủ, lão hủ đây không thể gánh vác nổi, xin hãy tìm bậc cao nhân khác, tìm bậc cao nhân khác cho!”
Tần Thư mở mắt ra, khuôn mặt đầy vẻ bất lực, nàng chỉnh đốn lại y phục: “Mời Phùng lão tiên sinh vào đi.” Nàng đứng dậy đón vài bước, thấy người vừa vào đỏ hoe một bên mắt, mũi chảy máu không ngừng, phải dùng khăn tay bịt chặt lấy, dáng vẻ vô cùng thảm hại.
Tần Thư đầy vẻ hổ thẹn: “Phùng lão tiên sinh, ông làm sao mà đến nông nỗi này?”
Phùng lão tiên sinh vốn bị cận thị, lão vừa bước vào thì tròng kính đã phủ một lớp sương mờ ảo. Lão tháo kính xuống dùng tay áo lau lau, rồi đưa mắt nhìn quanh thư phòng một lượt, lúc này mới thở dài một tiếng: “Chủ nhà, tiểu công tử đâu rồi?”
Tần Thư không còn cách nào khác, đành mời lão ngồi xuống, nàng tự tay rót trà rồi tạ lỗi: “Khuyển tử nghịch ngợm, mong tiên sinh bao dung cho. Thằng bé đã làm sai điều gì, tôi nhất định sẽ trách phạt thật nặng.” Nói xong, nàng lại lấy một hộp trà ra: “Biết tiên sinh là người Phúc Kiến, đây là trà Công phu đặc biệt được vận chuyển từ Phúc Kiến về, ông dùng thử xem có hợp khẩu vị không?”
“Há miệng mắc quai”, người đời vốn dĩ đều như vậy. Thấy thái độ của Tần Thư hạ thấp như thế, Phùng lão tiên sinh cũng không tiện giữ vẻ mặt hầm hầm nữa, lão thở dài một tiếng: “Chủ nhà, nói thật lòng, luận về thiên tư của tiểu công tử thì thực sự là xưa nay lão hủ hiếm thấy. Một bài văn dạy cho cậu ấy, chỉ cần đọc thông một lượt là đã có thể học thuộc lòng. Người ta ở lứa tuổi này, đọc xong Thiên Tự Văn, biết làm vài câu thơ vè thì đã được coi là thông minh. Vậy mà tiểu công tử năm nay mới bốn tuổi đã đọc xong cả bộ Luận Ngữ, vị thần đồng nổi danh chốn triều đình là Trương học sĩ năm xưa cũng chỉ đến thế mà thôi.”
Nói xong lời hay rồi thì bắt đầu đến phần khiếu nại: “Thế nhưng, tiểu công tử lại phạm phải một điều đại kỵ của kẻ đọc sách. Lão dạy cậu ấy về Luận Ngữ, nói rằng đây là đạo trị quốc của thánh hiền muôn đời, thế mà cậu ấy lại vặn lại rằng chẳng lẽ những gì Khổng Phu Tử nói nhất định đều đúng sao? Đã vậy còn nói cái gì mà Tứ Thư Ngũ Kinh chỉ dùng để trang trí bề mặt thôi, chứ mang ra làm việc thì hoàn toàn không ổn!”
Tần Thư cuối cùng cũng đã hiểu thấu cái cảm giác bị thầy giáo gọi đi họp phụ huynh là vị gì rồi, lại còn gặp đúng ông thầy cứ liên mồm kể tội thế này nữa. Nàng chẳng dám phản bác lấy nửa lời, chỉ biết một mực gật đầu phụ họa: “Vâng vâng vâng, tiên sinh nói rất có lý.”
Phùng lão tiên sinh liếc nhìn Tần Thư một cái, lúc này nha hoàn dâng lên một dải khăn sạch, lão bèn thay cái khăn dính máu ra rồi nói tiếp: “Chuyện đó thì cũng thôi đi, lão cứ coi như cậu ấy còn nhỏ, chưa hiểu được đạo của thánh hiền và những ý nghĩa sâu xa trong từng lời răn. Nhưng đáng sợ nhất là, cậu ấy mở miệng ra toàn những lời hoang đường. Nào là nếu nữ tử phải giữ ‘nữ đức’ thì nam tử cũng nên giữ ‘nam đức’ mới phải, chẳng biết cậu ấy nghe được mấy lời đó ở đâu nữa? Nam tử với nữ tử sao mà giống nhau được chứ? Thánh nhân đã dạy, nam là dương, nữ là âm; vậy mà cậu ấy cứ nhất quyết nói cái gì mà ‘âm dương âm dương’, chữ ‘âm’ đứng trước chữ ‘dương’, nên phải có âm trước rồi mới có dương sau.”
Phùng lão tiên sinh nói đến đoạn kích động, thì không ngừng vỗ tay: “Chủ nhà, người xem, chuyện này chẳng phải là quá sức hoang đường hay sao?”
Tần ma ma ho khẽ một tiếng, rồi liếc nhìn Tần Thư. Những lời hoang đường này còn có thể là do ai dạy được nữa, đương nhiên là từ người mẹ ruột này mà ra cả thôi.
Tần Thư bị lão tiên sinh nói cho đỏ cả mặt, nàng ngượng ngùng cười nói: “Chuyện này cũng không thể coi là quá sai được, chẳng phải vốn dĩ là có người mẹ trước rồi mới sinh ra con cái hay sao? Đây chẳng phải là có âm trước, sau đó mới có dương hay sao?”
Phùng lão tiên sinh lườm Tần Thư một cái: “Còn có chuyện đáng sợ hơn nữa kìa! Hôm đó tôi dạy nó rằng trời tròn đất vuông. Ai dè đâu, nó đứng phắt dậy bảo trời không tròn đất cũng chẳng vuông, mà đất cũng là hình tròn, chúng ta đang sống trên một quả cầu. Nó còn nói cái gì mà, thuyền biển cứ đi theo một hướng thì nhất định sẽ quay trở về điểm xuất phát. Rồi thì chí hướng tương lai của nó là trở thành một nhà hàng hải, lênh đênh trên biển cả đi mãi theo một hướng.”
Tần Thư nghe xong lại cảm thấy vô cùng hài lòng, nàng không ngừng gật đầu: “Chẳng ngờ thằng bé này lại có chí hướng như vậy, tôi cứ tưởng ngày thường nó chỉ biết mỗi ham chơi thôi đấy chứ?”
Phùng lão tiên sinh bị Tần Thư làm cho nghẹn họng, hai mắt trợn tròn: “Chuyện này… chuyện này sao mà được! Thiếu niên lập chí, đương nhiên phải là vạn bối đều thấp kém, chỉ có đọc sách là thanh cao, chẳng mong trung Tiến sĩ vào Hàn Lâm thì cũng phải là một người đọc sách đàng hoàng. Cái nghề thuyền chài kia còn chẳng được coi là dân lành, đó là hạng hạ cửu lưu cơ mà!”
Tần Thư sợ rằng sẽ chọc giận khiến vị lão tiên sinh này bỏ đi mất, nàng liên tục gật đầu: “Tiên sinh nói phải, đợi nó về tôi nhất định sẽ răn dạy nó thật cẩn thận.”
Phùng lão tiên sinh nhìn dáng vẻ của Tần Thư, thấy nàng cũng chẳng giống hạng mẫu thân nghiêm khắc, bèn thành khẩn nói: “Phu nhân chẳng biết đã giáo huấn như vậy bao nhiêu lần, nhưng tiểu công tử chẳng nghe lấy một lần. Chẳng phải lão phu tự cao, nhưng đạo dạy con cũng giống như đạo trồng cây vậy. Thuở nhỏ không lập quy củ, chẳng chịu cắt tỉa cành nhánh, đợi đến khi khôn lớn, khó tránh khỏi biến thành hạng cây cong vẹo chẳng thể thành tài.” Nói xong, lão cũng tự thấy lời lẽ của mình có phần nặng nề.
Tần Thư nào dám tranh biện với tiên sinh, nàng chỉ đành gật đầu lia lịa: “Tiên sinh cứ yên lòng, lần này tôi nhất định sẽ bắt nó sửa đổi, lại bắt nó đích thân tới đây nhận lỗi với tiên sinh.”
Đợi lão nhân gia vừa đi khỏi, Linh Lung đã “phì” một tiếng cười rộ lên: “Cũng chưa từng thấy cô nương lại sợ ai đến thế bao giờ. Nào là ‘vâng vâng’, ‘phải phải’, ngoài ra chẳng thốt thêm được lời nào khác…”
Tần Thư quay sang hỏi Tần ma ma: “Mắt và mũi của Phùng lão tiên sinh bị làm sao vậy?”
Tần ma ma vốn dĩ định giấu nhẹm cho qua chuyện, nhưng thấy Tần Thư đã cất công hỏi, bà đành phải thưa rằng: “Chẳng là tiểu công tử cùng đám bạn học ở học đường đã trêu chọc tiên sinh cho vui. Bọn trẻ rắc bột ớt vào trong sách, lại còn giấu bặt chiếc kính của tiên sinh đi. Lão tiên sinh phải nheo mắt đi tìm kính, không may hắt hơi một cái, bột ớt cứ thế bay thẳng vào mắt. Lúc cuống cuồng chạy ra ngoài tìm nước nóng, mũi lại va rầm vào cột trụ nên mới thành ra thế đấy ạ.”
Trước đó nghe tiên sinh cáo trạng, Tần Thư vốn chẳng để tâm mấy, nhưng vừa nghe đến chuyện này, sắc mặt nàng liền trầm xuống: “Trêu chọc tiên sinh đến nước ấy mà các người cũng dám bao che cho nó sao? Hiện tại ta phải tới nghị sự sảnh, đợi đến tối ta có thời gian, nhất định sẽ quay lại dạy dỗ nó một trận.”
Nói xong, nàng chỉ tay về phía chiếc rương gỗ chương mộc đặt ở góc tường: “Khiêng chiếc rương đựng sổ sách này tới nghị sự sảnh cho ta.”
Nghị sự sảnh vốn dĩ vô cùng rộng rãi, bày biện đồng bộ một loạt ghế thái sư bằng gỗ tử đàn, trên mỗi chiếc đều có lót đệm êm ái. Khi Tần Thư sải bước tiến vào, ngoại trừ một hai vị cao niên đức cao vọng trọng ra, thì tất cả mọi người đều đồng loạt đứng dậy hành lễ với nàng, miệng đồng thanh xưng tụng: “Tần tiên sinh.”
Những vị đương tọa ở đây, vào năm đầu tiên khi Tần Thư tiếp quản phiếu hiệu Đại Thông, trong mười người thì đã có đến chín kẻ không phục nàng. Kẻ khá khẩm hơn một chút thì nể mặt Hạ học sĩ mà bằng mặt không bằng lòng, ngoài miệng thì vâng dạ khẩn khoản, nhưng sau lưng thực hiện lại bớt xén đủ điều. Còn hạng kém cỏi hơn, đến cả chút công phu bề nổi cũng chẳng buồn làm, trực tiếp đứng trước mặt nàng mà ngang nhiên chất vấn: “Chúng ta làm việc ở phiếu hiệu đã mười mấy năm nay, chưa từng nghe qua những phương pháp này của cô nương bao giờ. Những quy củ này chẳng phải là quá khó làm, và hành hạ người ta hay sao?”
Khi ấy Tần Thư cũng chẳng hề miễn cưỡng, tạm thời gác chuyện đó sang một bên. Đợi đến kỳ hạn giữa năm, khi sổ sách doanh lợi của đôi bên được bày ra trước mắt, nàng đã thẳng tay bãi chức bảy vị Đại chưởng quỹ của hai kinh mười ba tỉnh. Chiêu này mới thực sự chấn áp được đám lão làng cậy mình có thâm niên kia. Cho đến tận ngày nay, bất luận là ai cũng đều phải cung kính gọi nàng một tiếng “Tần tiên sinh”.
Tần Thư mỉm cười khẽ gật đầu, ung dung ngồi ở vị trí chủ vị. Đám nha hoàn nối đuôi nhau như cá lội nước tiến vào, trên tay mỗi người đều bưng một chén nắp nhỏ bằng gốm hoa lam đấu thái thượng hạng: “Đây là trà Long Đoàn Thắng Tuyết, được chế từ loại ngân ti thủy nha cực phẩm, mời chư vị dùng trà.”
Long Đoàn Thắng Tuyết vốn là danh trà từ thời Bắc Tống, vốn dĩ phương pháp chế biến đã thất truyền từ lâu. Trong số các chưởng quỹ có kẻ nhanh nhạy, biết rằng ở Phúc Kiến có một thương nhân trà năm ngoái phụng mệnh phục chế thành công loại trà này, mỗi cân tiêu tốn tới bốn vạn lượng bạc, vốn chỉ dành riêng cho hoàng gia ngự dụng. Ngay cả bậc thủ phụ như Thôi Các lão được bệ hạ ban thưởng, cũng chỉ có vẻn vẹn hai lạng mà thôi.
Mọi người mở nắp chén, quả nhiên thấy bên trong sáng rõ trong trẻo, búp trà tựa như những sợi chỉ bạc, chẳng trách lại được chế từ hạng ngân nha thượng phẩm. Những người này tuy đã quen mắt với cảnh phú quý, nhưng loại cống trà vốn chỉ có trong truyền thuyết này thì đây mới là lần đầu được chiêm ngưỡng. Vạn chưởng quỹ ngồi phía bên trái nhấp thử một ngụm, rồi cười bảo: “Nhất thương dĩ tiếu tương thành diệp, bách thảo giai tu vị cảm hoa. Loại thủy nha này quả thực danh bất hư truyền.”
Những người còn lại cũng vội vã phụ họa theo: “Quả là trà ngon, thật là có phúc.”
Tần Thư khẽ phất tay, gọi nha hoàn tiến lên, rồi đặt lên bàn mỗi vị một chiếc hộp gấm: “Nếu chư vị chưởng quỹ đã yêu thích, hãy mang hai lạng về dùng. Chẳng phải ta keo kiệt, mà bởi loại trà này vô cùng quý hiếm, vẫn là vùng đất Phúc Kiến ấy, nhưng chỉ cần lệch đi một khoảnh đất khác là không trồng ra được, sản lượng mỗi năm cũng chẳng có bao nhiêu.”
Loại trà quý giá thế này, ngay cả các vị đại thần trong triều nếu được ban thưởng cũng đều phải trân quý khôn cùng. Ví thử có kẻ ngoại đạo nào nhìn thấy vẻ mặt điềm nhiên như không của các vị chưởng quỹ của phiếu hiệu Đại Thông lúc này, hẳn sẽ phải líu lưỡi kinh ngạc. Chỉ trong vòng năm năm ngắn ngủi, phiếu hiệu Đại Thông đã mở khắp hai kinh mười ba tỉnh, cái danh “Phú giáp thiên hạ”, “Hối thông thiên hạ” quả thực danh bất hư truyền.
Phía dưới có người lập tức tiếp lời: “Tần tiên sinh cứ yên tâm, là nhà trà thương nào gieo trồng loại trà này, phân hiệu Phúc Kiến của chúng tôi sẽ xuất ngân phiếu cho hắn vay vốn, bảo đảm hắn phải trồng trà phủ khắp cả núi đồi. Thiếu thứ gì thì được, chứ riêng loại trà này, tuyệt đối không thể để tiên sinh thiếu lấy một ngụm.”
Lời nói đùa hóm hỉnh này khiến ai nấy đều bật cười rộ lên: “Trịnh chưởng quỹ, chỉ có phân hiệu Phúc Kiến các ông là xuất được tiền cho vay thôi sao, còn Chiết Giang chúng ta thì không chắc?”
“Ha ha ha! Tiền ở Chiết Giang quả thực không thiếu, nhưng tiên sinh đã dạy rồi, trà này vốn dĩ kén chọn thổ nhưỡng, chỉ có vùng Phúc Kiến chúng tôi mới trồng ra được thôi…”
Tần Thư cũng mỉm cười theo vài tiếng, đợi đến khi mọi người im ắng trở lại, nàng mới thong thả nói: “Lần này triệu tập chư vị chưởng quỹ về kinh, ta không nói nhưng chắc hẳn các vị cũng đã rõ, chính là để bàn bạc về việc phát hành ngân phiếu mệnh giá nhỏ. Thực tế, việc này năm ngoái đã đưa ra nghị bàn, nhưng khi ấy bất luận là các cổ đông hay chưởng quỹ các phân hiệu đều không mấy đồng thuận. Chẳng hay đến nay, ý tứ của chư vị đã có chuyển biến gì chưa?”
Nói đến đây, mọi người đều im lặng không đáp. Tần Thư bèn điểm danh từng người, bấy giờ Chu chưởng quỹ mới chậm rãi đứng dậy thưa rằng: “Tần tiên sinh, chẳng phải chúng tôi không biết nhìn nhận đại cục. Ngài vốn tường tận hơn ai hết, lợi nhuận từ trước đến nay của phiếu hiệu chúng ta vốn chia làm ba phần: một là phí bảo quản thu được từ việc hối đoái khác địa phương; hai là cho các tiền trang và ngân hiệu vay vốn để ăn lãi suất; ba là phần lợi nhuận từ ăn chênh lệch trọng lượng và độ tinh khiết của bạc. Tuy phần thứ ba này khá ít, nhưng mỗi năm cũng thu về được vài ngàn lượng bạc. Nay tiên sinh muốn phát hành ngân phiếu mệnh giá nhỏ, chẳng phải phần dư lợi từ chênh lệch trọng lượng và độ tinh khiết này, sẽ hoàn toàn tan thành mây khói hay sao?”
Tần Thư khẽ nhấc nắp chén, thổi nhẹ cho lớp lá trà đang nổi tản ra, rồi mỉm cười nói: “Chẳng qua cũng chỉ là vài ngàn lượng bạc mỗi năm, lẽ nào phân hiệu Tuyền Châu các ông lại chỉ có chút nhãn quan hạn hẹp như vậy sao? Chẳng trách Tuyền Châu là một cảng khẩu mở cửa thông thương béo bở, mà lượng hối đoái năm nay lại chẳng bằng nổi một vùng nội địa như Bình Dao ở Sơn Tây”
Tần Thư từ trước đến nay luôn nói năng luôn ôn tồn nhã nhặn, giữ đủ thể diện cho mọi người, chưa từng buông lời nặng nề làm mất mặt ai đến thế. Những lời này vừa thốt ra, nhất thời khiến Chu đại chưởng quỹ đỏ mặt tía tai, tiến thoái lưỡng nan, chỉ biết lủi thủi ngồi lại vào ghế, nửa câu cũng chẳng thốt lên lời.
Chương 70
Uy thế tích tụ đã lâu, lại vốn thấu hiểu thân phận nữ nhi của mình, nên ngay từ buổi đầu nàng đã dùng những thủ đoạn trị lý vô cùng sấm sét. Lúc này, chỉ cần một câu nói của nàng thốt ra, đám người phía dưới đều im phăng phắc, chẳng ai dám ho he nửa lời.
Duy chỉ có vị đại diện của Sơn Tây thương bang ngồi phía bên phải, tuổi chừng ngũ tuần, khẽ gõ nhẹ xuống mặt bàn rồi hắng giọng một tiếng: “Tần tiên sinh, lão phu xin được mạn phép nói vài lời.”
Tần Thư gật đầu: “Trương lão tiên sinh, mời ông nói.” Vị Trương lão tiên sinh này là nhân vật đại diện cho thương bang Sơn Tây, xuất thân từ gia đình đại phú hào, mấy người con trai sinh ra cũng đều đi theo con đường hoạn lộ, người giữ chức vị cao nhất hiện giờ chính là Tri phủ Tô Châu Trương Thanh Hoành. Vì lẽ đó mà những lời ông ta nói, Tần Thư không thể không lắng nghe.
Trương lão tiên sinh cầm một xấp ngân phiếu lên: “Chúng ta gọi là ngân phiếu, nhưng thực ra trong nghề gọi là hối phiếu. Suốt mười năm từ khi phiếu hiệu Đại Thông thành lập đến nay, chúng ta đều dựa vào việc nhận diện chữ viết để phân biệt thật giả, đại chưởng quỹ giữa các chi nhánh đều phải thuộc nằm lòng chữ viết của nhau để đề phòng có kẻ mạo danh. Sau khi Tần tiên sinh đến, ngài đã đưa vào hệ thống mật mã, cứ ba tháng lại thay đổi mật mã một lần. Trước đây chúng ta chỉ làm ăn với các thương gia lớn, tiền trang lớn, nên dĩ nhiên ít xảy ra sai sót, tổn thất cũng thấp.”
“Nhưng hiện nay Tần tiên sinh lại muốn phát hành ngân phiếu mệnh giá nhỏ, loại bạc vụn một lượng, ba lượng, năm lượng. Nếu những hộ dân bình thường cứ nườm nượp kéo đến đổi bạc, thì e rằng ngay cả những chi nhánh lớn như ở Hàng Châu, Dương Châu hay Tô Châu, mỗi ngày cũng chỉ xử lý được chừng một trăm đơn, nhiều hơn nữa là lực bất tòng tâm. Trong khi đó, với loại ngân phiếu mệnh giá nhỏ, số lượt giao dịch mỗi ngày đâu chỉ dừng lại ở con số hàng ngàn hàng vạn? Làm một nghìn giao dịch nhỏ như vậy, cũng chẳng thể sánh bằng một đơn hàng của các đại thương gia.”
Ông ta đã khơi mào như vậy, phía dưới liền có kẻ tung hứng theo: “Nhân lực thiếu hụt thì có thể đào tạo, nhưng liệu lợi nhuận có thực sự nhiều như lời Tần tiên sinh đã nói hay không?”
Tần Thư vỗ tay, liền có người khiêng mấy chiếc rương lớn đi vào, khi mở ra bên trong là những sổ sách đã được dán niêm phong: “Tôi biết chư vị còn nhiều nghi ngại, đây là sổ sách của chi nhánh Y Lê vùng Tân Cương. Y Lê có địa thế hẻo lánh, năm ngoái Bộ Hộ đã giao thầu luôn việc thu thuế cho chi nhánh này. Nhân cơ hội đó, chúng tôi đã thử phát hành ngân phiếu mệnh giá nhỏ tại đây. Còn về lợi nhuận cụ thể là bao nhiêu, các vị đều là những tay lão luyện trong nghề phiếu hiệu rồi, cứ tự mình tính toán xem sao.”
Y Lê là cái nơi quái quỷ nào cơ chứ? Ở vương triều Đại Tề, đó vốn là vùng biên viễn hoang vu ‘chó ăn đá gà ăn sỏi’, mới thu phục chưa đầy mấy mươi năm, mà mười năm thì có đến tám năm chẳng thu nổi đồng thuế nào. Cái nơi như thế thì lấy đâu ra lợi nhuận?
Mọi người bán tín bán nghi. Mấy vị thạo nghề lập tức rút từ trong tay áo ra chiếc bàn tính bằng bích ngọc luôn mang theo bên mình, vừa lật sổ sách vừa gảy bàn tính tanh tách. Quá nửa canh giờ sau, họ mới dừng tay rồi ngồi định thần lại: “Mấy người chưởng quỹ chúng tôi đã xem qua một lượt, tuy chưa bao quát hết, nhưng lợi nhuận nửa năm nay của chi nhánh Y Lê, con số tám vạn lượng là có thật.”
Lời này vừa thốt ra đã khiến mọi người được một phen kinh hãi: “Sao có thể như vậy được? Năm ngoái Y Lê ngay cả ba vạn lượng lợi nhuận còn chẳng có, năm nay mới nửa năm sao lại lên tới tám vạn lượng rồi? Tôi nói này, không phải là tính sai hay ghi nhầm sổ sách đấy chứ?”
Đại chưởng quỹ của chi nhánh Tân Cương lập tức đứng bật dậy: “Ông có ý gì hả? Tân Cương chúng tôi tuy không sánh được với sự trù phú nơi vùng duyên hải các ông, nhưng cũng tuyệt đối không làm sổ sách giả!”
Người nghe vô tình, người nói hữu ý, thành ra khiến người kia đỏ cả mặt: “Tôi không có ý đó, thật sự không phải ý đó…”
Tần Thư cười cười rồi đưa tay ép xuống, ra hiệu cho cả hai cùng ngồi xuống: “Chuyện này rất dễ giải thích. Thương gia trên đời này có được bao nhiêu người chứ? Là thương gia nhiều, hay là bách tính nhiều? Tân Cương tuy không có nhiều thương gia, nhưng bách tính lại có tới hàng chục vạn hộ. Chỉ cần trong mười hộ có một hộ đến phiếu hiệu của chúng ta đổi ngân phiếu, thì chúng ta đã thu về được mười vạn lượng bạc rồi.”
Lời giải thích này vừa được đưa ra, mọi người đều đồng thanh tán thưởng: “Đúng thế, trên đời này bách tính bao giờ cũng đông, thương gia thì ít. Chúng ta trước nay chỉ chăm chăm làm ăn với đại thương gia, chẳng khác nào tự tay vứt bỏ một miếng bánh lợi nhuận khổng lồ.”
Ngay lập tức, bầu không khí trở nên xôn xao, kẻ tung người hứng. Nào là vùng Chiết Giang vốn có truyền thống “giấu của trong dân”, nếu có thể huy động hết bạc trong tay dân chúng vào tiền tiết kiệm, chẳng phải quy mô sẽ gấp mười lần hiện tại hay sao? Những vấn đề được nêu ra lúc đầu như thiếu hụt nhân lực, hay kỹ thuật chống giả mạo ngân phiếu, giờ đây trước mức lợi nhuận tuyệt đối này, tất cả đều không còn là vấn đề nữa.
Tần Thư nghe họ bàn tán rôm rả, lặng lẽ ngắm nhìn những búp trà non nhấp nhô trong tách, trong lòng biết rõ đại cục đã định, nàng bèn nở một nụ cười cực nhạt.
Đợi đến khi mọi người đã nói cho thỏa thuê, lúc này nàng mới lên tiếng: “Chư vị chưởng quỹ, cùng các vị đông gia góp vốn, giờ cũng đã gần trưa rồi, hay là chúng ta vừa ăn vừa bàn tiếp.”
Lúc này mặt trời đã lên, tỏa ánh nắng sưởi ấm lòng người. Tần Thư cùng Vạn chưởng quỹ bước ra ngoài, thấy giữa tiết trời đông giá rét mà bên lề đường vẫn nở rộ bao nhiêu chậu hoa tươi, nào là mai vàng, nguyệt quế, tường vi…
Vạn chưởng quỹ nhìn qua liền cảm thán: “Hoa này nở đẹp thật đấy, chỉ tiếc là bị đông lạnh vài ngày chắc cũng chẳng sống nổi đâu.”
Tần Thư lắc đầu: “Đây là mua từ hoàng điếm của đại thái giám họ Phùng, gọi là ‘mua’, nhưng thực chất đã phải trả gấp mười lần giá trị.” Ở kinh thành, đám thái giám này ngay cả các vị Các lão trong Nội các cũng phải tìm cách nịnh bợ, lấy lòng.
Vị Vạn chưởng quỹ này đương nhiên chính là người ở Hàng Châu năm xưa. Khi đó, ông ta nhận được bản điều trần của Tần Thư, lại tự mình đi dò la thân phận của nàng, mới biết nàng hóa ra lại là ngoại thất của Tổng đốc Mân Triết – Lục Trạch. Biết rõ chuyện này có mối liên hệ quá lớn, ông ta không dám giấu giếm, lập tức viết thư bẩm báo về cho Hạ học sĩ ở kinh thành.
Việc từ Hàng Châu lên kinh thành sau này cũng do một tay ông ta thu xếp. Chính vì lẽ đó, Tần Thư ghi nhận ân tình này nên cũng tôn trọng ông ta thêm vài phần, gần một năm nay còn điều ông ta về Bắc Kinh, giao phó mọi việc tạp vụ cho ông ta quản lý.
Vạn chưởng quỹ ngập ngừng một lát rồi hỏi: “Tần tiên sinh, có một chuyện tôi vẫn luôn nghĩ mãi không thông?”
Tần Thư biết rõ ông ta định hỏi điều gì: “Chuyện Bộ Hộ vay nợ phiếu hiệu của chúng ta năm triệu lượng, trả dần trong vòng hai năm với lãi suất thấp sao?”
Vạn chưởng quỹ gật đầu: “Số tiền này, chúng ta mang đi làm việc gì mà chẳng tốt, cớ sao phải cho Bộ Hộ vay? Họ lấy tiền đâu ra mà trả lãi cơ chứ? Chẳng phải sang năm lại tiếp tục vay, lấy lương thực của năm sau để đắp vào lỗ hổng của năm nay hay sao? Trước đây mối làm ăn này còn có chút lãi, nhưng hiện giờ Nhật Xương Long đã đánh tiếng rằng, lãi suất của họ thấp hơn chúng ta ba ly (0.3%), lẽ nào chúng ta cũng phải hạ thấp theo ba ly đó sao?”
Tần Thư vô thức rảo bước đến bên hồ, thấy rặng liễu ven bờ xuất hiện hiện tượng sương muối hiếm gặp, trắng xóa một vùng bát ngát, trông vô cùng đẹp mắt: “Tôi có thể nói cho ông hay, đây không phải ý kiến của tôi, mà là ý của bên trên.” Bên trên ư? Bên trên đương nhiên là Hạ học sĩ, và tất nhiên cũng là vị kia rồi.
Vạn chưởng quỹ gật đầu: “Đã là lệnh của chủ tử, vậy tôi cũng không tiện nói thêm gì nữa.”
Tần Thư nhìn ra mặt hồ trắng xóa mênh mông, bèn nhắc nhở ông ta một câu: “Tài chính là công cụ trọng yếu của quốc gia, phải để cho đất nước sử dụng thì mới được đất nước dung thứ. Đạo lý này ông cần phải hiểu, và nỗi khổ tâm này của chủ tử, ông cũng cần phải gánh vác lấy.”
Nàng nhìn Vạn chưởng quỹ, rồi khẩn thiết nói: “Sức lực tôi có hạn, những năm gần đây chứng bệnh đau đầu ngày càng nghiêm trọng, sự vụ của phiếu hiệu phần lớn đều phải trông cậy vào ông, vất vả cho ông rồi.”
Thấy Tần Thư trịnh trọng như vậy, Vạn chưởng quỹ chắp tay đáp: “Kẻ hèn này vất vả cũng chỉ là lao lực chân tay, còn tiên sinh vất vả là vì phải lao tâm khổ tứ. Chúng tôi đâu dám kể công vất vả…”
Tần Thư ngược lại, lại bật cười một tiếng: “Thôi được rồi, hai ta đâu cần phải khách sáo như thế. Tính ra thì dù là ở Hàng Châu hay kinh thành, tôi đều nợ ông nhân tình. Biết ông thích trà Long Đoàn Thịnh Tuyết, tôi đã đặc biệt để dành nửa cân cho ông, lát nữa ông hãy mang về nhé.”
Vạn chưởng quỹ cười đáp: “Vậy thì cung kính không bằng tuân mệnh.”
Ở bên này, Tần Hành kéo tay Tả Dương chạy huỳnh huỵch ra khỏi cửa nhị, nơi có một chiếc xe ngựa đang dừng sẵn: “Nhanh lên, tiểu Tả ca ca, huynh mau đưa ta đến Đa Bảo Lâu đi. Lát nữa nếu tiên sinh mà đi mách tội thì ta không đi được nữa đâu.”
Tả Dương bế cậu nhóc đặt lên xe ngựa rồi hỏi: “Đến Đa Bảo Lâu làm gì?”
Tần Hành không trả lời, chỉ tay vào vết đỏ trên trán Tả Dương hỏi: “Tiểu Tả ca ca, huynh đã phạm lỗi gì mà để mẹ ta giận đến mức này?”
Đúng lúc đó, một nha hoàn chạy đuổi theo từ phía sau, trên tay ôm một chiếc áo choàng lông cáo trắng: “Tần ma ma nói rồi, tiên sinh đang mách tội tiểu công tử đấy, bảo Tả nhị gia cứ dẫn cậu ấy ra ngoài dạo vài vòng, đợi đến khi trời tối tiên sinh nguôi giận thì hãy quay về.”
Tả Dương đồng ý, thắt lại dây áo choàng cho Tần Hành rồi bảo người đánh xe khởi hành, hắn ta hỏi tiếp: “Đến Đa Bảo Lâu làm gì cơ?”
Tần Hành đáp: “Hôm nay Đa Bảo Lâu đấu giá một cái chén rót nước hình quả vải bằng bạch ngọc có vân mờ, quai cầm một bên. Mẹ ta từng bảo dùng cái đó đựng vải là tuyệt nhất, mấy ngày nữa là sinh nhật của mẹ rồi, ta muốn mua tặng người.” Nói xong, cậu bé nở một nụ cười tinh quái: “Ta biết huynh phạm lỗi gì rồi, chắc chắn là huynh không giữ ‘nam đức’ chứ gì?”
Tả Dương có chút hậm hực, chỉ cười xòa cho qua chuyện. Trước tiên hắn ta dẫn cậu bé đi ăn cơm ở tửu lầu, sau đó bế cậu đi dạo phố một vòng. Đồ chơi thì có thể mua, nhưng đồ ăn vặt lề đường thì hắn ta chẳng dám cho cậu ăn bừa, ngay cả lúc mua một xâu kẹo hồ lô cũng chỉ cho cậu cầm để ngắm mà thôi.
Đến khi tới Đa Bảo Lâu, nơi này đã chăng đèn kết hoa vô cùng náo nhiệt. Phía bên ngoài là tửu lầu cùng một dàn tiểu sai mặc áo xanh đang đứng đón khách.
Tả Dương bế Tần Hành lên vì sợ cậu bé bị dòng người xô đẩy, rồi rảo bước đi vào trong. Ngặt nỗi, hắn ta lại bị một người quen cũ giữ rịt lấy: “Ái chà, Tả nhị gia, mới có mấy năm không gặp mà đúng là quý nhân hay quên, đã sớm quên mất tiểu nữ rồi sao?”
Tả Dương vừa mới bị dạy dỗ cho một trận, đâu còn gan nào mà dây dưa vào mấy chuyện này nữa: “Bớt lôi lôi kéo kéo đi, chẳng phải cô đã hoàn lương rồi sao?”
Người phụ nữ nọ hừ lạnh một tiếng: “Có tới mức đó không chứ, tôi cũng đâu có ăn thịt Tả nhị gia ngài đâu mà sợ. Nơi này là chốn làm ăn sạch sẽ, dù tôi có muốn thì ông chủ ở đây cũng chẳng cho phép.” Cô ta trề môi, chỉ tay về phía chiếc bục ở chính giữa: “Tôi vốn xuất thân là vũ cơ, giờ đây không làm mấy việc khác nữa, chỉ tới đây nhảy múa thôi.”
Tả Dương gật đầu, đáp lại một câu lấy lệ: “Thế thì tốt quá, tiền đồ rộng mở đấy.” Nói xong, hắn ta bế Tần Hành đi thẳng ra phía sau.
Tần Hành lấy bàn tay nhỏ nhắn bịt miệng cười khúc khích: “Tiểu Tả ca ca, mẹ ta bảo rồi, yêu đương là phải chú trọng chất lượng, chứ không được chỉ tham mỗi số lượng đâu.”
Tả Dương hít một hơi thật sâu, rồi ngượng nghịu đáp: “Chậc, chẳng phải đó là chuyện hồi trước sao? Giờ đây ta đã cải tà quy chính rồi.”
Hắn ta bế Tần Hành đi về phía sau, không gian dần trở nên yên tĩnh, như thể hoàn toàn tách biệt với sự náo nhiệt ở phía trước. Có người bước ra đón hắn ta, làm lễ thỉnh an: “Tả nhị gia cát tường! Sao ngài lại rảnh rỗi ghé chỗ chúng tôi thế này, chắc hẳn là đã được điều về lại tổng hiệu rồi phải không?”
Tả Dương mỉm cười: “Nghe nói đồ đấu giá tối nay của mấy người chẳng phải hạng tầm thường, chúng tôi đến đây để mở mang tầm mắt chút thôi.”
Vị tiểu sai mặc áo xanh, chân đi ủng phấn trắng dẫn Tả Dương về phía phòng bao, vừa đi vừa nói: “Kìa, ngài cứ quá lời. Sự phú quý trong thiên hạ có mười phần thì đến bảy phần đã nằm trong phiếu hiệu của các ngài rồi, còn cần gì phải đến chỗ chúng tôi để mở mang tầm mắt nữa? Ngài thật là đề cao chúng tôi quá rồi.”
Phía sau là một khu vườn, chính giữa dựng một cái đình không có mái, ánh đèn tỏa ra rực rỡ lung linh. Bước vào trong phòng bao, đẩy cửa sổ ra, ngoại trừ chiếc đình đó thì xung quanh chỉ là một màn đêm tĩnh mịch.
Tần Hành bò lên cửa sổ, vừa đung đưa đôi chân nhỏ, vừa vẫy vẫy tay gọi Tả Dương: “Tiểu Tả ca ca, huynh đã tỏ tình với Linh Lung tỷ tỷ chưa?”
Tả Dương vỗ vào mông cậu nhóc, khuôn mặt già đỏ bừng lên: “Nói bậy bạ gì đó? Tuổi của đệ còn nhỏ, biết cái gì mà cứ nói nhăng nói cuội?”
Tần Hành hừ một tiếng, lật người nằm xuống ghế sập, vắt chéo chân chữ ngũ đung đưa: “Ta nghe thấy mẹ nói với Linh Lung tỷ tỷ cả rồi. Mẹ bảo huynh không giữ ‘nam đức’, nên định giới thiệu đệ tử của Ôn Lăng tiên sinh cho tỷ ấy. Mẹ bảo người ta vừa tuấn tú, vừa sạch sẽ…” Cậu nhóc chớp chớp mắt, cố lục lại trí nhớ: “Đoạn sau thì ta không nhớ nữa.”
Tả Dương biết vị tiểu công tử này bẩm sinh thông minh, lại rất thích bày trò trêu chọc người khác, nên không hoàn toàn tin tưởng: “Tiên sinh thực sự nói vậy sao?”