Ngoại Thất – Chương 97 – 98

Chương 97

Phó tướng vội vàng cho hạ thuyền nhỏ xuống biển để tìm kiếm khắp nơi. Lại trì hoãn thêm bốn năm ngày nữa, nhưng cũng chỉ tìm thấy vài chục mảnh ván trôi nổi trên mặt biển.

Tần Thư nhìn những mảnh ván boong tàu vỡ nát vụn kia mà không khỏi kinh hãi. Nếu bản thân nàng có mặt trên con thuyền nhỏ đó, e rằng giờ đây đã sớm bỏ mạng trong bụng cá. Nàng lại nghĩ, thời cơ lần này thật vừa khéo, nếu cứ theo kế hoạch ban đầu, chẳng những hại chết cả trăm thị nữ và thợ thuyền trên tàu, mà e là ngay cả tính mạng của chính nàng cũng khó lòng giữ nổi.

Tần Thư ngồi dưới ánh nến, đầy hứng thú mà tô điểm móng tay bằng đan khấu, trong lòng thầm nghĩ: thế này lại hay. Đúng lúc đó, nàng nghe thấy thị nữ báo tin Đinh Vị vào. Nàng ngước mắt lên rồi nhạt nhẽo nói: “Ngươi bị thương nặng như vậy, hằng ngày còn chóng mặt nôn ra máu, sao không nằm yên mà nghỉ ngơi đi?”

Giọng nói ấy vừa bình thản lại vừa lạnh lùng bạc bẽo. Đinh Vị cau mày, đáp: “Phu nhân, ngày hôm đó trên đường quay về, không biết từ đâu có một con thuyền lớn lao tới. Thuyền của chúng ta nhỏ, ngay lập tức bị đâm nứt toác ra. Đại nhân… e là lành ít dữ nhiều rồi…”

Y lấy từ trong tay áo ra một cuốn tấu sớ bìa xanh: “Đây là cuốn sớ mà lúc ở Tuyên Phủ, đại nhân từng giao phó cho phu nhân. Ngài dặn nếu có bất trắc gì xảy ra, sẽ để tiểu công tử kế thừa tước vị, phó thác toàn bộ phủ Tề Quốc Công cho phu nhân. Lúc đó vẫn chưa dùng đến, không ngờ lại có ngày phải dùng đến thật…”

Y đã đi theo Lục Trạch nhiều năm, giờ đây ngay cả hài cốt của Lục Trạch cũng không tìm thấy, tự thấy hổ thẹn trong lòng, không kìm được mà lộ vẻ bi thương.

Tần Thư đón lấy, mở ra xem xét kỹ lưỡng một lượt, rồi một tay nhấc chụp đèn lồng lên. Ngọn lửa lập tức liếm vào trang giấy, chỉ trong nháy mắt, cuốn tấu sớ ấy đã bị thiêu rụi sạch sành sanh.

Đinh Vị kinh hãi thốt lên: “Phu nhân?”

Tần Thư nhìn y mỉm cười, nàng lắc đầu nói: “Đinh Vị, không cần thiết đâu, ta không muốn làm Quốc công phu nhân gì cả. Đại nhân nhà ngươi e là thật sự đã mất rồi, như thế này cũng tốt, mọi ân oán vướng mắc trước kia đều coi như tan thành mây khói. Ngươi một mực trung thành với ngài ấy, cứ khăng khăng ở lại đây tìm kiếm thi thể, đã phí hoài hơn mười ngày rồi. Chỉ là con thuyền hiện tại của chúng ta không lớn, những chuyện khác không bàn tới, nhưng lương thực và nước uống sắp cạn sạch rồi. Ngươi muốn ở lại đây canh giữ ta không phản đối, nhưng ta thì phải đi thôi.”

Đinh Vị đột ngột ngẩng đầu, cách xưng hô cũng đã thay đổi: “Bằng Nhi cô nương, đối với Gia, cô nương thật sự không có lấy một chút tình nghĩa nào sao?”

Tần Thư khẽ mỉm cười, nàng tháo chiếc vòng tay vàng nạm ngọc đang đeo ra, ném thẳng xuống đất. Chiếc vòng lập tức vỡ tan tành: “Mỗi năm vào tiết Thanh minh, ta sẽ dẫn Hành Nhi đến thắp cho ngài ấy nén hương.”

Nàng đã nói là đi, quả thực chẳng dừng lại dù chỉ một khắc. Sáng sớm ngày hôm sau, nàng xuôi thuyền nhỏ hướng về phía Thiên Tân, đi chưa đầy ba ngày đã có thể thấp thoáng nhìn thấy đường bờ biển từ phía xa.

Thủy Tụ đã đợi sẵn ở bến cảng, tiến lên đỡ lấy Tần Thư và báo cáo tin tức bên ngoài: “Chuyện Lục đại nhân gặp nạn trên biển đã truyền đi khắp nơi, xôn xao dư luận rồi. Bệ hạ vô cùng thịnh nộ, đã phái Cẩm y vệ ra khơi tìm kiếm, ước chừng hai ba ngày nữa sẽ đến Thiên Tân. Lần này cô nương tự ý quyết định, tự tiện huy động hạm đội hải ngoại, Hạ học sĩ đã gửi thư tới, bảo cô nương mau chóng trở về kinh thành để giải trình cho rõ ràng.”

Tần Thư lên xe ngựa, nhắm nghiền mắt tựa vào thành xe, cuối cùng cũng có thể an tâm chợp mắt một lát: “Giải trình cái gì chứ? Chẳng lẽ hạm đội hải ngoại mà ta từng dốc sức giữ lại, đến vài con thuyền lớn mà ta cũng không thể điều động được sao? Hạ Cửu Sanh không muốn hạm đội này bị lộ ra ánh sáng, thì bà ấy phải toàn tâm toàn ý mà dọn dẹp hậu quả giúp ta cho thật sạch sẽ.”

Nàng khẽ bật cười, mở mắt ra thấy Thủy Tụ lộ rõ vẻ lo lắng, liền hỏi: “Em thấy ta quá tàn độc rồi phải không?”

Thủy Tụ lắc đầu: “Cô nương là người thà làm ngọc nát, còn hơn làm ngói lành.”

Tần Thư vào thành từ cửa Bắc Định, nhưng nàng không quay về Tiểu Đàn Viên. Chiếc xe ngựa chạy thẳng tới một biệt viện tư nhân ở Hậu Hải, mãi cho đến tận nhị môn, nàng mới bước xuống xe.”

Bước qua cây cầu nhỏ, liền thấy Hạ Cửu Sanh đang cầm kéo tỉa tót hoa cỏ. Bà ấy dường như cũng vừa mới từ nha môn trở về, trên người vẫn còn mặc quan phục màu đỏ thẫm thêu chim tiên hạc. Nghe thấy tiếng bước chân của Tần Thư, bà ấy cũng không ngoảnh đầu lại, chỉ nhạt nhẽo hỏi: “Cô về rồi à?”

Tần Thư đáp lại một tiếng rồi đứng đó hồi lâu, nhìn Hạ Cửu Sanh cắt tỉa xong xuôi chậu hoa sơn trà trên tay. Lúc này Hạ Cửu Sanh mới đặt kéo xuống, nhận lấy chiếc khăn bông từ tay nha hoàn đứng hầu bên cạnh để lau tay, rồi rảo bước lên cầu: “Cô đi theo ta!”

Không có cơn thịnh nộ như trong tưởng tượng, dường như mọi chuyện vẫn giống như thường lệ. Hai người đi được mươi bước thì nghe Hạ Cửu Sanh hỏi: “Người đã chết thật rồi sao?”

Tần Thư vốn không nhìn thấy thi thể, chỉ là con thuyền kia đã bị đâm cho tan tành mảnh vụn. Trong số mười mấy người đi cùng Lục Trạch, chỉ có duy nhất Đinh Vị còn sống sót. Giữa biển khơi mênh mông, bốn bề lại không có lấy một hòn đảo, tìm kiếm suốt mười mấy ngày cũng chỉ thấy được vài tấm ván thuyền, dù có muốn giữ mạng cũng là chuyện khó hơn lên trời.

Hạ Cửu Sanh chắp tay sau lưng đứng đó: “Nếu thực sự đã chết, vậy thì cũng không khó giải quyết.” Bà ấy quay sang nói với Tần Thư: “Thực ra với tính cách cẩn trọng của Lục Trạch, đã bằng lòng đưa cô lên thuyền, e rằng ngài ấy cực kỳ tin tưởng cô.”

Tần Thư lại không tán thành: “Hắn chẳng qua là coi thường ta mà thôi, một kẻ phụ nữ yếu đuối thì làm sao phá hỏng được đại sự của hắn?”

Hạ Cửu Sanh mỉm cười: “Được rồi, người đã chết thì không cần nhắc lại nữa. Cô hãy về phủ đi, cứ tiếp tục chuẩn bị việc phát hành ngân phiếu mệnh giá nhỏ của phiếu hiệu như cũ. Hiện giờ cục diện đang là một vũng nước đục, chúng ta chỉ cần lấy tĩnh chế động.”

Tần Thư không quá am hiểu những chuyện triều chính này, chỉ là Lục Trạch đã làm quan gần hai mươi năm, đương nhiên sẽ có một vây cánh thế lực từ trên xuống dưới. Ngay cả khi hắn đã chết, liệu những kẻ vây quanh hắn có chịu cứ thế mà ‘rớt đài’ hay không?

Hạ Cửu Sanh nói: “Lục Trạch vừa mới triệt phá tận ổ của Định Võ Hầu, thì trên đường quay về lại gặp nạn trên biển. Những chuyện mập mờ, thực hư lẫn lộn kiểu này là dễ khiến Bệ hạ sinh nghi nhất. Vào lúc này, ngược lại chúng ta càng không được làm gì cả.”

Tần Thư hỏi: “Nếu Cẩm y vệ đến tận cửa điều tra, ta nên nói thế nào? Nói đến mức độ nào?”

Hạ Cửu Sanh lắc đầu: “Gọi cô đến chính là để dặn dò cô: không cần nói bất cứ điều gì. Bất kể bọn họ hỏi cô chuyện gì, thì cô đừng phủ nhận, cũng đừng thừa nhận.”

Tần Thư im lặng. Khi nàng trở về Tiểu Đàn Viên, Hành ca nhi đang ngồi dưới ánh nến tô màu cho một bức tranh hoa hải đường. Thằng bé ở bên trong nghe thấy tiếng Tần ma ma thỉnh an Tần Thư ở gian ngoài, lập tức đặt bút xuống, nhảy khỏi ghế rồi sà vào lòng Tần Thư. Nó như một chú cún con rúc vào cổ nàng dụi loạn xạ, khẽ phàn nàn: “Mẫu thân, sao người bây giờ mới về? Đã hứa Tết Nguyên tiêu dẫn con đi xem hội đèn hoa mà người lại nuốt lời sao?”

Tần Thư ngửi thấy mùi kẹo ngọt trên người thằng bé, bèn bế nó đi vào trong, nàng hỏi Tần ma ma: “Lại cho nó ăn kẹo rồi à?”

Tần ma ma lộ vẻ khó xử, bà vốn luôn nuông chiều Hành ca nhi, chỉ cần thằng bé nói vài câu ngọt ngào dỗ dành là bà đều chiều theo hết. Tần Thư lại hỏi: “Vẫn uống sữa đều đặn chứ?”

Dĩ nhiên là thằng bé không chịu uống. Tần Thư nhíu mày, bảo nha hoàn bưng một bát lên, đích thân giám sát nó uống hết, rồi mới cầm những chữ nó viết, tranh nó vẽ sang một bên để xem. Quả nhiên so với lúc nàng đi đã tiến bộ hơn rất nhiều.

Sau khi hai mẹ con dùng cơm và tắm rửa xong, Tần Thư vừa lấy khăn lau tóc cho Hành ca nhi vừa hỏi: “Chúng ta đi Giang Nam có được không?”

Hành ca nhi đang mải mê nghịch bộ Cửu Liên Hoàn bằng bạch ngọc, đầu cũng chẳng ngẩng lên, hỏi lại: “Giang Nam ạ?”

Tần Thư “ừm” một tiếng, dùng lược sừng chải mượt tóc cho nó: “Giang Nam mùa này cỏ mọc chim bay, đi ra ngoài đạp thanh sẽ thấy từng khoảng đào hồng rực rỡ, hoa lê trắng xóa như tuyết phủ khắp thành. Chẳng phải con đã học từ của Yến Thù rồi sao: Trên ao rêu biếc ba bốn điểm, dưới lá hoàng oanh một hai thanh. Con không muốn đi xem thử sao?”

Động tác trên tay Hành ca nhi khựng lại, nó hỏi: “Vậy sau này chúng ta có quay lại kinh thành nữa không?”

Tần Thư đáp: “Đại khái là sẽ không quay lại nữa.”

Hành ca nhi hơi nghiêng đầu, im lặng một lát rồi mới hỏi: “Có phải vì Lục… vì thúc ấy đã chết rồi không?”

Kể từ khi Lục Trạch gặp chuyện, những tâm phúc còn lại trên thuyền của hắn đã truyền thư về kinh thành. Lại thêm mười mấy ngày trì hoãn trên biển, nên khi Tần Thư trở về, tin tức đã sớm lan truyền xôn xao. Tần Thư đặt chiếc lược xuống, nàng hỏi: “Ai đã nói với con những điều này?”

Hành ca nhi quay người lại, thấy vẻ mặt nghiêm nghị của mẫu thân liền thật thà đáp: “Là tiên sinh nói ạ. Tiên sinh nói ngài ấy là trụ cột triều đình, vậy mà lại bị gian phi hãm hại, bỏ xác bụng cá, chết không toàn thây.”

Sắc mặt của Tần Thư sầm lại: “Ngài ấy là hạng người gì không liên quan đến chúng ta. Từ nay về sau, đừng nhắc đến con người không quan trọng đó nữa. Đợi khi đến Giang Nam, hãy quên hết những chuyện này đi. Sông dài biển rộng, phong cảnh tươi đẹp, mẹ sẽ dẫn con đi xem.”

Hành ca nhi quan sát sắc mặt Tần Thư, chỉ cảm thấy người kia chết rồi, mẫu thân cậu bé nói không chừng là vui vẻ, cũng không hẳn là buồn bã, nhưng tuyệt đối không giống với dáng vẻ điềm tĩnh ung dung thường ngày. Cậu bé cúi đầu hỏi: “Vậy tang lễ của ngài ấy, chúng ta có đi không ạ?”

Tần Thư xoa đầu nhỏ của cậu bé, nàng thở dài một tiếng: “Nếu con muốn đi, thì hãy đến thắp một nén hương thanh, dập đầu bái biệt ngài ấy đi!” Một đứa trẻ đối với cha ruột của mình, sao có thể không có lòng trung trinh yêu kính cho được?

Nếu Lục Trạch còn sống, Tần Thư dĩ nhiên không muốn cái tác phong đại phu phong kiến của hắn làm ảnh hưởng đến Hành Nhi. Nhưng giờ hắn đã chết, nàng tự cảm thấy chết là hết, mọi chuyện đều thành không, để đứa trẻ bái tế một phen cũng chẳng sao, cũng là để tránh sau này Hành Nhi phải hối hận.

Cứ thế lại trôi qua hơn mười ngày, bản điều lệ phát hành ngân phiếu mệnh giá nhỏ của Tần Thư đã soạn xong từ lâu. Thế nhưng Lục Trạch vốn là Thượng thư bộ Hộ, lúc này sống chết chưa rõ, mà Bệ hạ cũng chưa bổ nhiệm người mới. Bản tấu trình trước đó đã bị Lục Trạch giữ lại, nay bộ Hộ không có người làm chủ nên cũng chẳng thể phê duyệt được.

Ngược lại, đám Cẩm y vệ phái đi Thiên Tân đã trở về, triều đình từ trên xuống dưới cãi vã náo loạn như một nồi cháo hoa. Có người kịch liệt chủ trương điều động quân hạm từ vùng Mân Chiết đến để mở rộng phạm vi tìm kiếm cứu nạn, lời ra tiếng vào đều mang ý ám chỉ thủy sư phương Bắc không đáng tin cậy. Lại có người nói người đã bỏ mạng giữa biển khơi rồi, việc cấp bách hiện giờ là để y quan được nhập thổ vi an, đồng thời điều tra rõ chân tướng vụ tai nạn biển này.

Sớ tấu bay tới tấp như bông tuyết rơi xuống ngự án điện Ngọc Khê. Vị Hoàng đế già nua lụ khụ vẫn im lặng không nói một lời, hai chân ông ta khoanh lại ngồi giữa trận pháp âm dương bát quái. Bên ngoài vọng lại tiếng chuông u uẩn từ chùa Hoàng Giác, nghe đủ mười tám tiếng, ông ta mới mở mắt ra hỏi tả hữu: “Xương Nguyên đến chùa Hoàng Giác cầu phúc được bao nhiêu ngày rồi?”

Đứng bên cạnh là Phùng đại giám mặc đạo bào, đầu đội mũ hương diệp: “Tâu Bệ hạ, Công chúa đi từ mồng bảy tháng Giêng, tính đến nay đã gần hai tháng rồi ạ.”

Quảng Đức Đế đã già, tuy nói lúc trẻ ông ta vốn chẳng mấy khi xem tấu chương, nay già rồi lại càng không muốn xem, chỉ hỏi vị thái giám chưởng ấn: “Nội các nói sao?”

Phùng đại giám khom lưng đứng bên ngoài trận pháp âm dương bát quái, không dám bước chân vào: “Thôi các lão nói, Lục đại nhân không có công lao cũng có khổ lao, dẫu không tìm thấy thi thể thì cũng nên để y quan được nhập thổ vi an là tốt nhất. Đã tìm kiếm suốt một tháng trời, nói còn khả năng sống sót trở về thì chẳng qua chỉ là lời nói càn của kẻ cuồng sĩ mà thôi.”

Quảng Đức Đế đứng dậy, dẫu đã là tháng Ba nhưng trên người ông ta vẫn mặc chiếc áo bông dày cộp, sầm mặt lại nói: “Một người học trò làm việc thực tâm của trẫm, đều bị đám người này hãm hại cả rồi.”

“Đám người này” là những người nào? Những lời như vậy Phùng đại giám không dám tiếp lời, chỉ coi như không nghe thấy, gã xắn tay áo tiến lại rót nước mài mực. Một lát sau, thấy Quảng Đức Đế vung bút viết xuống hai chữ: Văn Tương.

Kinh thiên vĩ địa gọi là Văn, mở mang đất đai có đức, lập công lao binh đao gọi là Tương. Lục Trạch từng đỗ Tam nguyên cập đệ, bôn ba chiến sự, bình định giặc Oa, thụy hiệu này xem ra cũng đúng với hiện thực.

Chương 98

Khi Tần Thư đi xe ngựa đến phủ Thượng thư thì đã là đêm khuya. Suốt dọc đường đi vào, cả con ngõ dài đều treo đầy những bức đối liên và vòng hoa trắng xóa.

Hành ca nhi vén rèm xe ngựa, nhờ ánh đèn lồng bên vệ đường mà chậm rãi đọc: “Là bậc danh thần, là hàng nho tướng, sánh tựa Quách Phân Dương đương thời, đến nay bỗng kinh động vì cột rương đổ nát; vì thiên hạ mà bi thương, vì hậu học mà nuối tiếc, đau lòng thay Tống Công Tự, từ nay ai còn tụng bài thơ Lạc Hoa, Ngọc Hi Tán Nhân. Mẹ ơi, câu đối phúng viếng của những người khác đều ghi rõ họ tên, sao người này chỉ viết biệt hiệu ạ?”

Tần Thư hạ rèm xuống, đáp: “Ngọc Khê tản nhân là biệt hiệu của đương kim Bệ hạ!”

Xe ngựa dừng lại, phu xe hạ ghế đạp chân, Tần Thư bế Hành nhi xuống. Đinh Vị đã đợi sẵn ở cửa nách, trên người mặc bộ đồ tang bằng vải thô trắng tinh: “Cô nương, tiểu công tử, tầm này chỉ còn người làm trong nhà thôi, người đến viếng đều đã giải tán cả rồi, mời hai người theo tôi vào trong!”

Tần Thư gật đầu rồi bước qua cửa, đi dọc theo một đường hầm dài. Đã là cuối tháng Ba đầu tháng Tư, thời tiết bắt đầu nóng lên, nhưng đường hầm này lại vô cùng âm u lạnh lẽo.

Đến chính đường đặt linh cữu, những người trông linh cữu đã bị Đinh Vị cho lui ra hết. Không gian trống trải với những dải lụa trắng bay lất phơ, Hành nhi bám sát theo Tần Thư, cậu bé còn nhỏ nên không tránh khỏi cảm giác sợ hãi.

Bên cạnh, Đinh Vị bê một chiếc khay đựng bộ tang phục Trảm thôi, ánh mắt đầy bi thương: “Nửa năm qua, chân mày và đôi mắt của tiểu công tử ngày càng giống Gia rồi. Trước kia khi ở Tuyên Phủ, Gia từng nói cuốn sớ đó đã giao cho cô nương, dùng hay không đều tùy ý cô nương. Nếu người vẫn không cam lòng, thì cứ tuỳ ý người thôi ạ.”

Bên cạnh có một chiếc hộp sơn đen, Đinh Vị mang đến mở ra, từng xấp văn thư được trải rộng: “Đây là cổ phần của Gia ở Nhật Xương Long, để lại cho cô nương và tiểu công tử làm vốn riêng. Còn đây là những sách cổ và tranh họa Gia tích cóp bao năm qua, trước đây ngài đã nói là để lại cho tiểu công tử.”

Lúc này Tần Thư đã không còn thiếu tiền, nhưng khi cầm lấy xấp văn thư xem qua thì cũng phải giật mình, đó lại là một phần mười cổ phần thực của Nhật Xương Long, lúc này nếu bán đi cũng không dưới một triệu lạng bạc.

Nhưng Tần Thư lại cảm thấy cầm số tiền này thật bỏng tay. Cái chết của Lục Trạch tuy chỉ là do nàng thuận nước đẩy thuyền, nhưng vị trí cụ thể thuyền đi đến đâu chính xác là do nàng truyền tin ra. Nàng đặt chúng trở lại và nói: “Đinh Vị, số tiền này đợi khi lão thái thái đến kinh thành chịu tang, ngươi hãy giao lại cho bà ấy đi, ta không tiện cầm đâu.”

Nàng ngồi xổm xuống, mặc từng lớp tang phục Trảm thôi lên người Hành nhi, thấy khuôn mặt nhỏ nhắn của cậu bé căng thẳng, nàng an ủi: “Đừng sợ, lát nữa lạy ba lạy, thắp một nén hương, rồi chúng ta sẽ về nhà.”

Trên án hương treo một bức họa Lục Trạch mặc quan phục đỏ thêu chim tiên hạc, dáng vẻ nghiêm nghị, uy nghi lẫm liệt. Hành nhi nhìn một lúc rồi cúi đầu nói: “Hình như trong tranh vẽ ngài ấy già hơn, là vì có râu ạ?”

Tần Thư vỗ vỗ vai con trai, thấy cậu bé bước từng bước nhỏ tiến lại gần, quỳ trên bồ đoàn, cung kính dập đầu ba cái, rồi nhận lấy nén hương từ tay Đinh Vị, cắm thật vững vàng vào lư hương.

Cậu bé ngửa đầu, ngắm nhìn bức chân dung trục rộng ấy hồi lâu, rồi khẽ khàng cảm thán: “Hóa ra ngài ấy trông như thế này ạ, con còn chưa từng nhìn kỹ nữa!”

Tần Thư không giục giã, chỉ đợi cậu nhìn cho đã đời rồi mới chủ động lại nắm lấy tay nàng: “Mẫu thân, chúng ta về nhà thôi!”

Trước đây Tần Thư chỉ thấy cậu nghịch ngợm, nhưng trong chuyện này, sự hiểu chuyện của cậu lại khiến người ta xót xa. Chờ đến khi lên xe ngựa, không còn người ngoài nhìn thấy, cậu mới lộ ra vẻ mặt buồn bã, gục đầu lên gối Tần Thư rồi nói: “Mẫu thân, tại sao trước kia ngài ấy không cần chúng ta? Tại sao lúc trước không bao giờ đến thăm, mà giờ chết rồi lại cho nhiều thứ như vậy?”

Trong phạm vi hiểu biết của mình, cậu bé cho rằng nếu phu thê không ở bên nhau, thì chắc chắn là người chồng đã ruồng bỏ người vợ.

Tần Thư im lặng, trong chốc lát chỉ nghe thấy tiếng mưa xuân xào xạc bên ngoài, bỗng nhiên một cảm giác áy náy vô ngần dâng lên. Hồi lâu sau, nàng mới xoa nhẹ đỉnh đầu Hành ca nhi: “Ngài ấy không phải không cần chúng ta, chỉ là mẫu thân cảm thấy hai người không hợp nhau nên mới xa nhau thôi. Tính tình chúng ta đều không tốt, chẳng ai chịu nhường ai…”

Nàng còn chưa nói hết câu, một giọt nước mắt đã rơi xuống mu bàn tay. Nàng nghe thấy Hành nhi nghẹn ngào vâng một tiếng: “Mẫu thân, người không cần nói cho con đâu. Tỷ tỷ Thủy Tụ nói đây là chuyện đau lòng của người, bảo con đừng hỏi nữa.”

Những chuyện cũ năm xưa, ngay cả khi kể lại, Tần Thư cũng không biết phải nói thế nào. Nói rằng mẹ cậu vốn là một tỳ nữ bị cha cậu cưỡng đoạt mang đi, rồi sau đó mới có cậu sao? Sự thật như vậy quả thực quá đỗi tủi nhục. Dẫu sau này Lục Trạch có nói với nàng rằng sẽ cưới nàng làm vợ, phong làm tông phụ, thì chẳng lẽ có thể bù đắp được những sỉ nhục và khinh mạt thuở ban đầu hay sao?

Tần Thư vẫn luôn canh cánh trong lòng về chuyện xưa, nhưng lúc này nhìn thấy bộ dạng của Hành ca nhi, nàng không khỏi cảm thấy hoang mang. Thực tế thì Lục Trạch của ngày hôm nay đã tốt hơn trước rất nhiều, nếu nàng chịu bỏ chút tâm sức, chưa biết chừng cũng có thể biến hắn thành một người đàn ông có thể chung sống được.

Tần Thư mang theo tâm trạng hoang mang và mất phương hướng ấy, lo âu bất an trải qua nửa tháng, đối phó với những đợt tra hỏi liên tiếp từ Cẩm y vệ. Cũng không biết những người Cẩm y vệ này nể mặt ai mà không hề gây khó dễ, chỉ thực hiện hỏi han theo lệ thường.

Trong triều đình vẫn sóng yên biển lặng, không có chuyện gì xảy ra. Mặc dù tạm thời chưa có ai bị liên lụy bởi chuyện của Lục Trạch, nhưng trong hậu cung, Tô Quý phi đã bị Hoàng đế hạ chỉ quở trách vì hành vi khiếm nhã. Trong phút chốc, cả triều đình lẫn dân chúng đều im hơi lặng tiếng như ve sầu mùa đông. Ngay cả một người như Tần Thư cũng biết rằng, đằng sau sự bình lặng lúc này chính là một cơn sóng dữ sắp sửa ập đến.

Ngày hôm đó, chẳng hiểu sao Tần Thư ngủ một mạch đến tận trưa mới tỉnh. Người nàng túa ra lớp mồ hôi mỏng, đầu óc cũng nặng trịch, mệt mỏi.

Nàng khoác áo, tiến lại bàn rót trà uống thì nghe thấy tiếng bà quản sự ở gian ngoài đang thì thào bẩm báo với Tần ma ma: “Nha đầu Uyên Nhi chuyên rót trà ở nội viện, hôm qua chẳng hiểu sao khắp người nổi mẩn đỏ. Tôi sợ bệnh này lây cho người khác nên mới mời đại phu đến, ai dè đâu nó đã có thân sáu tuần rồi.”

“Con gái chưa xuất giá mà đã có bầu, còn ra thể thống gì nữa? Tôi vội vàng tra hỏi một lượt, thì mới biết là của gã sai vặt bên phiếu hiệu thường xuyên qua lại báo việc.”

Tần ma ma nhíu mày: “Tiên sinh vốn khoan dung, những chuyện như thế này từ trước đến nay đều để họ tự làm chủ, chỉ cần báo một tiếng là xong, sao lại làm cái trò không màng danh tiết như thế?”

Bà quản sự thở dài: “Cái khó là ở chỗ đó. Gã sai vặt kia vốn đã có vợ, con cái cũng đề huề rồi, đời nào chịu cưới nó? Tôi còn đang thắc mắc sao dạo này con bé ấy lúc nào cũng chỉ muốn ngủ, hóa ra là đã có hỉ.”

Tần Thư nghe xong, trong lòng bỗng giật thót. Kể từ khi trở về kinh thành, dường như đã hai tháng nay nàng chưa có kinh nguyệt. Tuy nói lúc sinh Hành Nhi không được kiêng khem tử tế, khiến kỳ nguyệt san suốt năm năm qua không hề đều đặn, nhưng nghe bà quản sự nói vậy, nàng chợt nhận ra dạo này mình quả thực cũng rất hay buồn ngủ.

Tim nàng đập thình thịch, nàng cất tiếng gọi: “Tần ma ma, đi mời Lưu thái y qua đây, ta thấy không được khỏe.”

Tần ma ma vội vàng chạy vào hỏi: “Có phải người vẫn bị đổ mồ hôi trộm và mơ ngủ không?” Nàng cũng không hiểu tại sao, hai tháng nay trong giấc chiêm bao luôn mơ thấy Lục Trạch, để rồi giật mình tỉnh giấc giữa đêm khuya.

Tần Thư có dự cảm chẳng lành, nàng xua tay: “Bà đi đi!”

Lưu thái y là bậc thầy về phụ khoa, dù có là lúc tan làm về nhà cũng rất khó tìm được người. Tần ma ma phải chuẩn bị lễ vật hậu hĩnh mới mời được ông đến Tiểu Đàn Viên vào buổi tối.

Sau vài câu hàn huyên, ông ấy lập tức bắt mạch và xem xét kỹ lưỡng. Một danh y như Lưu thái y đã quá quen với những chuyện khuất tất nơi thâm cung nội viện của đám quyền quý, chuyện góa phụ có thai thực sự chẳng đáng là bao. Vẻ mặt của ông ấy vẫn bình thản, giơ hai ngón tay ra nói: “Tần phu nhân, tính theo ngày tháng thì đã được hai tháng rồi.”

Tần Thư đứng dậy, đi đi lại lại trong phòng rồi đứng khựng lại: “Lưu thái y, ngài là bậc thầy phụ khoa, phiền ngài kê cho một thang thuốc phá thai.”

Lưu thái y gật đầu, cầm bút mực viết một phương thuốc rồi dặn dò: “Thuốc này phải theo dõi kỹ khi uống, có người chỉ một thang là đã trụy thai, nhưng cũng có người uống đến ba thang vẫn không xuống. Nếu bị băng huyết quá nhiều thì phải thay phương thuốc khác.”

Cuối cùng, ông ấy viết thêm một đơn thuốc tránh thai, rồi khuyên nhủ: “Tần phu nhân, lúc này tháng tuổi tuy còn nhỏ, nhưng phá thai cực kỳ hại thân thể. Tôi kê một đơn thuốc này cho phu nhân dùng, hiệu quả còn tốt hơn việc để sảy thai tự nhiên.”

Tần Thư biết ông ấy hiểu lầm, nhưng cũng chẳng có gì để giải thích, nàng tạ ơn rồi bảo Tần ma ma dâng một khoản thưởng hậu hĩnh tiễn ông ra ngoài.

Tần ma ma quay vào, cầm phương thuốc mà chân tay lúng túng, hỏi: “Cô nương, chuyện này…” Bà không nỡ nặng lời với Tần Thư, chỉ quay sang nhéo Thủy Tụ: “Cái con bé này, ngày thường trông lanh lợi là thế, cô nương xảy ra chuyện tày đình này mà cũng không báo với ta một tiếng?”

Thủy Tụ đành đứng yên chịu trận, nói: “Lúc xuống thuyền đã uống thuốc tránh thai rồi, không ngờ lại chẳng có tác dụng.”

Tần ma ma nhìn Tần Thư thở dài: “Cô nương, tôi đích thân đi sắc thuốc đây, sau này người đừng hành hạ thân thể mình như vậy nữa.”

Tần Thư gượng cười: “Sẽ không có lần sau đâu!”

Chưa đầy một canh giờ sau, bát thuốc đã được bưng lên. Tần Thư vừa nhấp một ngụm, thấy nóng bỏng lưỡi nên định để nguội bớt, bỗng thấy bà tử canh cửa nhị môn hớt hải chạy vào: “Tiên sinh, tiên sinh, Cẩm y vệ tới rồi.”

Suốt hai tháng qua, việc Cẩm y vệ đến cửa tra hỏi là chuyện thường tình, Tần Thư nhíu mày: “Cứ mời vào là được, việc gì phải hoảng hốt.”

Lời nàng vừa dứt, đã thấy một toán binh lính đội mũ lông ngỗng, mặc cẩm y, tay cầm đuốc tiến vào từ cửa nguyệt động. Kẻ dẫn đầu mặc kỳ lân phục, hắn vẫn còn nhận ra Tần Thư: “Tần chưởng quỹ, từ biệt ở Hàng Châu đến nay tính ra đã năm năm rồi, không biết người còn nhớ tại hạ không?”

Hàng Châu? Tần Thư nhớ ra rồi, đó là Lý Thập Tam ở Hàng Châu khi Lục Trạch đưa nàng đi gặp Mễ Bích Hạc. Sắc mặt nàng lập tức biến bổi, nghe Lý Thập Tam cười nói: “Xem ra Tần chưởng quỹ đã nhớ ra rồi?”

Lý Thập Tam tiếp lời: “Ta và Lục đại nhân có giao tình nhiều năm, nay ngài ấy chết không minh bạch, kẻ khác có thể lấp liếm, nhưng ta đã về tới kinh thành thì phải điều tra cho rõ ngọn ngành.”

Những Cẩm y vệ đến hỏi chuyện trước kia không phải hắn, Tần Thư cau mày, không định thừa nhận: “Lý đại nhân, ngài nói vậy tôi nghe không hiểu lắm. Lục đại nhân là mệnh quan triều đình, tôi chẳng qua chỉ là một phụ nhân đi buôn, xưa nay vốn không có giao tình, cái chết của ngài ấy thì có liên quan gì đến tôi?”

Lý Thập Tam cười nhạt: “Tần chưởng quỹ, nói vậy là không đúng rồi. Theo bản quan được biết, từ Tuyên Phủ cho tới tận thuyền trên biển Thiên Tân, Tần chưởng quỹ vẫn luôn hầu hạ bên cạnh Lục đại nhân, rất được sủng ái?”

Tần Thư lạnh lùng đáp: “Thật là chuyện vô căn cứ. Tôi ở trên thuyền chẳng qua là vì Lục đại nhân triệu tôi đến để hỏi về việc phiếu hiệu Đại Thông cho bộ Hộ vay tiền.”

Lý Thập Tam lắc đầu hỏi: “Quả thực như vậy sao?” Y tự hỏi tự trả lời, rồi vung tay: “Mời Tần chưởng quỹ đi theo tôi một chuyến về Bắc Trấn Vũ Ty để giải thích cho rõ ràng!”

Thủy Tụ chắn phía trước: “Dám hỏi vị đại nhân này, bắt người trong đêm khuya thế này, liệu có văn thư truy nã…” Lời chưa dứt, cô ấy đã bị Lý Thập Tam đá văng xa ba bước, phun ra một ngụm máu lớn.

Tần Thư vội vàng đỡ cô ấy dậy, giữ chặt tay cô ấy rồi nói: “Đừng hỏi nữa, một khi hắn ta đã dám dẫn người tới đây thì có văn thư truy nã hay không cũng đâu còn quan trọng?”

Lý Thập Tam mỉm cười gật đầu: “Vẫn là Tần chưởng quỹ thức thời. Xin mời, kẻo đám thô nhân chúng tôi lại làm bẩn thân thể ngọc ngà của Tần chưởng quỹ.”

Tần Thư đứng dậy, quay đầu dặn dò Tần ma ma: “Chăm sóc tốt cho Hành Nhi!”

>>

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *