Chương 107
Giữa cái nắng hè gay gắt, tiếng ve sầu bên ngoài kêu râm ran ồn ã. Cửa sổ mở toang, Linh Lung khẽ khàng bước vào thì thấy Hạ Cửu Sênh đang cầm bút viết chữ: “Xuất sư vị tiệp thân tiên tử, trường sử anh hùng lệ mãn khâm”*. Viết chưa xong mà bà ấy đã ho lên một cơn, máu tươi bắn lên tờ giấy tuyên thành, để lại những vệt lốm đốm tựa như hoa mai.
(*: Xuất sư chưa thắng thân đã mất, mãi khiến anh hùng lệ đẫm khăn – Trích Thục Tướng của Đỗ Phủ.)
Hạ Cửu Sênh thở dài một tiếng, gác bút xuống rồi hỏi: “Có chuyện gì vậy?”
Linh Lung bẩm báo: “Thưa đại nhân, Trường Ninh hầu Hoắc Thành Anh cầu gặp.” Nói xong, cô ấy cúi đầu thêm vào một câu: “Ôn Lăng tiên sinh không chịu ra hải ngoại, đã tự vẫn trên thuyền rồi ạ!”
Hạ Cửu Sênh dường như đã liệu trước được điều này, nghe xong chỉ khẽ gật đầu: “Mời Trường Ninh hầu vào.”
Khi Hoắc Thành Anh bước vào, Hạ Cửu Sênh đã thay xong quan bào. Bà ấy cười nhẹ, rồi khẽ xua tay: “Chứng đau nhức xương cốt tái phát nên không thể đứng lâu, Trường Ninh hầu, thất lễ rồi.”
Hoắc Thành Anh nhìn bà ấy, vẫn thấy một vẻ phóng khoáng tự tại như thuở mười sáu, chẳng hề câu nệ lễ nghi tầm thường, lại càng không bận tâm đến ánh mắt của bất kỳ ai. Y lấy từ trong ống tay áo ra một bức thư, đưa qua: “Đây là tuyệt bút của Ôn Lăng tiên sinh. Tiên sinh nói ông ấy sống đến tuổi bảy mươi là đã đủ rồi, những việc muốn làm đều đã làm, những lời muốn nói đều đã nói, không cần phải để người thân và bạn bè phải chạy vầy lo liệu, liên lụy thêm nữa.”
Hạ Cửu Sênh đón lấy bức thư, xem xét kỹ lưỡng một hồi rồi nói: “Có những người vốn dĩ là vậy, thà gãy chứ không chịu cong. Luận về điểm này thì ta còn kém xa tiên sinh.”
Hoắc Thành Anh tự mình xin xuống Giang Nam để truy bắt Ôn Lăng tiên sinh, mục đích cũng chỉ là để hỏi Hạ Cửu Sênh một câu. Thế nhưng khi đến thời khắc quyết định, y lại nảy sinh lòng nhút nhát: “Ta muốn biết tại sao?”
Hạ Cửu Sênh hỏi lại: “Tại sao cái gì?”
Hoắc Thành Anh đứng bật dậy: “Năm xưa Thái hậu ban hôn cho ta và ngươi, tại sao ngươi lại từ chối?”
Lúc này Hạ Cửu Sênh mới ngẩng đầu lên đánh giá y. “Chàng trai Trường An làm lính Vũ Lâm, cưỡi ngựa bắn cung rực rỡ hầu cận Võ Hoàng”, bà ấy bỗng nhớ lại mười sáu năm trước dưới hàng liễu rủ mùa xuân ở cầu Bá Kiều, vị Thế tử Trường Ninh hầu tuấn tú dũng mãnh thúc ngựa lao tới, gương mặt tràn đầy sức sống phản chiếu trên mặt hồ gợn sóng lấp lánh, khiến người ta không dám nhìn thẳng. Bà ấy khẽ thở dài một tiếng: “Ta cứ ngỡ đây là chuyện hai bên đều tự hiểu ngầm với nhau, không cần phải nói nhiều.”
Hoắc Thành Anh cười khổ: “Tự ngầm hiểu cái gì? Ta chẳng biết cái gì là tự hiểu trong lòng ở đây cả!”
Hạ Cửu Sênh ngước mắt lên: “Trước đây ta đã từng nói rồi, Thế tử rất tốt, nhưng người không phải là sự lựa chọn của ta.”
Hoắc Thành Anh hỏi dồn: “Hắn ta thực sự tốt đến thế sao? Tốt đến mức khiến ngươi nhìn bằng con mắt khác, đến mức cả hôn sự Thái hậu chỉ định mà ngươi cũng dám làm trái?”
Hạ Cửu Sênh đáp: “Mọi thứ của chàng ấy đều không bằng Thế tử, nhưng có một điểm Thế tử đối với ta mà nói, vĩnh viễn không bằng được chàng ấy.”
“Điểm nào?”
Hạ Cửu Sênh mở lời: “Chàng ấy xuất thân từ nhà binh, không màng con đường quan lộ, căn cơ nông cạn; còn Thế tử lại là dòng dõi quý tộc nơi phủ Hầu. Nếu là một nữ nhi, Hạ Cửu Sênh ta hoàn toàn có thể chọn cho mình một tấm chồng tốt; nhưng nếu là Hàn lâm viện Biên tu Hạ Cửu Sênh mà gả vào phủ Hầu, thì sau này người đó chỉ có thể quanh quẩn nơi kinh thành, viết những bài thanh từ cho bệ hạ mà thôi. Hạ Cửu Sênh ta mười năm đèn sách khổ luyện, không phải là để làm một kẻ từ thần quẩn quanh bên cạnh quân vương đâu, thưa Thế tử!”
Bà ấy gọi một tiếng “Thế tử”, dường như người đối diện với bà ấy lúc này vẫn là con người của năm xưa.
Hoắc Thành Anh không sao hiểu nổi: “Vinh hoa phú quý, quan tước danh vọng đối với ngươi lại quan trọng đến thế sao? Chẳng lẽ thân phận Trường Ninh hầu phu nhân, Nhất phẩm Cáo mệnh lại không bằng cái tiền đồ quan lộ hư vô mờ mịt kia của ngươi? Nữ nhi làm quan, người nắm giữ vị thế cao nhất cũng chẳng quá được Đô Ngự sử Thẩm Trinh triều trước, nửa đời lao lực, vắt kiệt tâm can, để rồi cuối cùng chẳng phải cũng quan mất, mạng tan đó sao?”
Hạ Cửu Sênh nhìn y. Vinh hoa phú quý, quan tước danh vọng, bà ấy quả thực muốn chúng, nhưng thứ bà ấy khao khát lại không chỉ dừng lại ở đó: “Nếu ta nói thật lòng, Thế tử đại khái sẽ cảm thấy chướng tai.”
“Cứ nói đi!”
Ánh mắt của Hạ Cửu Sênh vô cùng kiên định, bà ấy chậm rãi giãi bày: “Dẫu có như Thẩm Trinh, cuối cùng thân tử tộc diệt, ta vẫn thấy bà ấy đã sống một đời thống khoái. Dù là quan tước danh vọng, vinh hoa phú quý, hay danh tiếng trước và sau khi qua đời, con người ta vốn không thích hưởng thụ những thứ không làm mà có. Những gì ta muốn đạt được, ta thích tự tay mình giành lấy hơn. Còn những thứ người khác khơi khơi ban thưởng, lòng tham của ta lại chẳng biết thế nào là đủ, cứ hay kén cá chọn canh.”
Hoắc Thành Anh lùi lại một bước, bước chân hơi loạng choạng, y nghiến răng thốt ra hai chữ: “Tốt lắm!”
Hạ Cửu Sênh, ngươi là tốt lắm, tốt lắm! Không hổ là ngươi, và cũng quả nhiên là vậy. Dẫu đã sớm hiểu rõ sự lựa chọn của bà ấy, nhưng khi nghe bà ấy nói ra một cách tuyệt tình đến thế, Hoắc Thành Anh vẫn không kìm được một nụ cười cay đắng.
Hạ Cửu Sênh chắp tay hành lễ: “Gió cao sóng dữ, Hầu gia bảo trọng!” Khi bóng người đã khuất hẳn, bà ấy ngồi lặng ở đó hồi lâu. Dù là trước kia hay hiện tại, Hạ Cửu Sênh này đều có thể vứt bỏ bất cứ thứ gì, vứt bỏ bất cứ ai, kể cả chính bản thân mình.
Việc áp giải Ôn Lăng tiên sinh về kinh thẩm vấn, là thánh chỉ do Quảng Đức Đế ban xuống ngay khi đang lâm bệnh.
Không biết ai đã đưa cho hoàng đế xem một tờ báo mới lưu hành ngoài cung gần đây. Trang trước viết về những chuyện thầm kín nơi nội viên của đám quyền quý cao quan trong kinh thành, nào là nhà ai sủng thiếp diệt thê, nhà ai tranh giành tước vị; rồi lại viết về Văn Uyên Các Đại học sĩ, Thái tử Thái sư Lục Trạch đã cự tuyệt mọi khách khứa, ngày ngày ở nhà hầu hạ người vợ đau ốm, chưa từng mượn tay người khác.
Xem thêm một dòng nữa, thấy viết về một người tì thiếp lâu năm của Lục Trạch, đã quỳ xuống cầu xin hắn nạp thiếp để nối dõi tông đường. Xem đến đây, Quảng Đức Đế bật cười: “Tính tình của Lục Trạch đã ôn hòa hơn trước nhiều rồi, nếu là lúc trước, hắn làm sao cho phép kẻ khác viết về chuyện nhà mình như thế.”
Phùng đại giám đứng bên cạnh nói hùa vào: “Bệ hạ minh giám, lão nô nghe nói Lục đại nhân dạo này hiếm khi qua lại tiệc tùng ứng đãi, vì vị phu nhân đang hôn mê kia mà ngài ấy lại trở thành khách quen của các thái y khắp nơi đấy ạ.”
Quảng Đức Đế “ừm” một tiếng, rồi hỏi người bên cạnh xem người tì nữ kia là ai. Đã dám mang tờ báo bên ngoài cung vào đây thì từng câu từng chữ đều phải nắm rõ, viên thái giám liền thuật lại ngọn ngành: Đó là người tì nữ theo hầu Lục Trạch từ thuở nhỏ, tính ra cũng đã được hai mươi, ba mươi năm rồi, trước kia đã về quê. Nay thấy Lục đại nhân gối đơn không con, bà ta liền vội vã quay về kinh thành để khuyên nhủ.
Quảng Đức Đế nằm liệt trên giường bệnh đã một hai năm nay, lòng dạ cũng trở nên mềm yếu đi ít nhiều. Lúc này ông ấy mỉm cười: “Tình nghĩa ba mươi năm, tìm đâu ra cơ chứ? Trẫm thấy người tì nữ này thật đáng quý, thôi được, trẫm đành làm kẻ ác một lần, thành toàn cho mối tình duyên nợ giữa đôi đường này vậy.” Dứt lời, ông ấy hạ một đạo thủ dụ, truyền lệnh cho Lục Trách nạp người phụ nữ đó vào phủ.
Tờ báo lật sang trang, ông ấy tiếp tục đọc bài “Tửu Sắc Tài Khí Sớ”: “Bệnh nhẹ của Hoàng thượng, thực chất là bệnh ở tửu, sắc, tài, khí. Kẻ đắm mình trong rượu chè…” Đây rõ ràng là đang mắng Quảng Đức Đế vì ham mê tửu sắc, tham tài ưa rượu nên mới đổ bệnh không dậy nổi.
Quảng Đức Đế còn chưa xem hết đã tức đến độ toàn thân run rẩy, lập tức gầm lên ra lệnh: “Gọi Xương Nguyên công chúa tới đây! Gọi ngay Xương Nguyên công chúa tới đây cho trẫm!”
Quảng Đức Đế bệnh nặng, Xương Nguyên công chúa được triệu hồi từ hoàng lăng về để ngày đêm hầu hạ thuốc thang, không rời nửa bước. Chỉ một lát sau, nàng ta đã được người dẫn vào.
Quảng Đức Đế ném tờ báo xuống trước mặt Xương Nguyên công chúa, rồi lớn tiếng chất vấn: “Con là Trữ quân, đang quản lý lục bộ. Loại nghịch tặc cuồng vọng này vô quân vô phụ, vượt quá bổn phận để mưu cầu danh tiếng, con thấy nên xử trí thế nào?”
Xương Nguyên công chúa quỳ trên đất, vẻ mặt không chút hoảng loạn. Nàng ta nhặt tờ báo lên, đọc kỹ một hồi rồi mới nói: “Đây chẳng qua là kẻ dân đen vô tri vô giác, nghe phong phanh ba điều bốn chuyện, lại đọc mấy quyển sách đạo mạo cao xa nên đầu óc mới lú lẫn, học đòi theo mấy thói hám danh để đánh bóng thanh danh của mình. Theo ý nhi thần, bắt người không khó, nhưng hạng nho sinh đọc sách đến mức u mê thế này, dẫu có tống vào Chiếu ngục e là cũng chẳng chịu nhận sai. Phụ hoàng nếu vì lời nói mà giết người, ngược lại còn thành toàn cho cái ‘danh thơm’ của hắn.”
Quảng Đức Đế dù sao cũng đã làm hoàng đế mấy mươi năm, vừa nghe qua đã hiểu rõ ẩn ý trong lời của nàng ta. Ông ấy cảm thấy một cơn hoa mắt chóng mặt ập đến, quả thực là đã già yếu bệnh tật thật rồi, bèn hỏi: “Con là Trữ quân, là hoàng đế tương lai, nếu sau này con không sợ thiên hạ mắng nhiếc mình như thế, thì muốn xử trí ra sao tùy con.”
Xương Nguyên công chúa dập đầu sát đất: “Lời này của bệ hạ khiến thần không còn chỗ dung thân nữa.”
Quảng Đức Đế vung tay gạt phăng tất cả bút mực, chén trà trên chiếc bàn nhỏ xuống đất, tiếng đổ vỡ loảng xoảng vang lên: “Trẫm là quân phụ, bị một tên thư sinh nhục mạ như thế, con đã không chịu bắt, cũng chẳng chịu giết, đây chính là đạo hiếu của kẻ làm con như con sao?”
Xương Nguyên công chúa khấu đầu thêm lần nữa, sau đó mới cất lời: “Đạo hiếu của người thường là ‘hiếu’ đi đôi với ‘thuận’. Thế nhưng đạo hiếu của nhà đế vương, những lúc không nên thuận theo thì vạn lần không thể thuận. Để quân phụ phải gánh lấy cái danh hôn quân vì lời nói mà giết người, đó mới thực sự là nỗi bất hiếu của nhi thần.”
Quảng Đức Đế lạnh lùng chất vấn: “Vậy theo ý con thì nên làm thế nào?” Ông ấy nay đã già, đã bệnh, đã chẳng còn đủ sức lực, mọi việc triều chính đa phần đều giao phó cho Xương Nguyên. Thế nhưng, nếu không nhận được một câu trả lời thỏa đáng, thì ông ấy cũng chẳng ngại ngần mà một lần nữa cầm lấy quyền trượng, rồi đại khai sát giới.
Ông ấy khẽ nheo mắt, hồi tưởng lại năm mình mười sáu tuổi cũng vào một đêm như thế này. Trước điện Thái Hòa, văn võ bá quan quỳ rạp cả một vùng, ba vị Các lão, bốn vị Thượng thư, các quan Khoa Đạo đều có mặt đông đủ, ngay đến cả phò mã của Dậu Dương công chúa cũng đến góp vui, miệng luôn lẩm nhẩm: “Không qua Phượng Đài Loan Các, sao gọi là thánh chỉ”.
Trong số đó có cả những đại thần phụ chính do tiên đế để lại, có cả những nguyên lão của ba triều đại, nhưng như vậy thì đã sao? Một khi hoàng đế đã cầm lấy quyền trượng để trừng trị, lẽ nào lại còn ngồi đó mà giảng đạo lý với đám người này?
Xương Nguyên công chúa nghiêm sắc mặt nói: “Bệ hạ, hạng ngôn từ cuồng vọng này, người dân trong thiên hạ nghe thấy ắt đều sẽ mắng chửi hắn là kẻ nói năng càn rỡ. Loại người này đầu óc mụ mị, lời ra tiếng vào đều là ý ‘kẻ quyền quý thì hèn hạ’, chi bằng hãy để hắn tự nghe lấy tiếng mắng nhiếc của người đời, khi ấy sự thị phi trong sạch sẽ lập tức rõ ràng.”
Quảng Đức Đế gật đầu. Ông ấy tự thấy mình làm hoàng đế cũng không đến nỗi tệ, ông ấy không tin cả triều văn võ lại chẳng có lấy một người đứng ra nói giúp mình. Đến lúc đó, ngay tại triều đình bác bỏ luận điệu của tên nghịch tặc kia, cũng là để trả lại sự trong sạch cho chính mình, tránh cho miệng lưỡi thế gian đều lầm tưởng ông ấy là kẻ đắm chìm trong tửu sắc tài khí.
Ông ấy thốt lên một tiếng “Tốt lắm”, rồi lại hỏi: “Trẫm nghe nói có vị Ôn Lăng tiên sinh nào đó ở Giang Nam, chính là thầy dạy của tên cuồng đồ này…”
Xương Nguyên công chúa lập tức tiếp lời: “Nhi thần sẽ lập tức hạ lệnh áp giải người đó về kinh để chịu thẩm vấn.”
Quảng Đức Đế hài lòng gật đầu: “Tốt lắm, tốt lắm, trẫm rất mực yên lòng.”
….
Chiếu thư “kèm theo tư lợi” của Xương Nguyên công chúa đến nơi vào ngày thứ hai sau khi Ôn Lăng tiên sinh tự vẫn. Hạ Cửu Sênh lập tức khởi hành về Bắc Kinh, bà ấy đến phủ Tề Quốc Công đúng vào một buổi chiều mưa tầm tã.
Người đón bà ấy ở cổng là Hành ca nhi, cậu bé đã cao lớn hơn nhiều, tóc búi cao, vận thanh y. Thấy Hạ Cửu Sênh, cậu vẫn nhận ra bà ấy nhưng thần sắc có phần lạnh lùng, hành lễ cung kính, dáng vẻ hệt như một “ông cụ non”: “Hạ di!”
Hạ Cửu Sênh vỗ vai cậu, không chỉ cao lên mà cậu còn rắn rỏi hơn trước rất nhiều. Bà ấy cùng cậu đi vào trong, thỉnh thoảng hỏi han đôi chút về việc học hành, nhưng cũng chỉ thấy cậu đáp lại cụt ngủn một hai chữ, cả người có vẻ trầm mặc và u uất hơn hẳn hai năm trước.
Lại nghe Tần ma ma nói, Lục Trạch dạy bảo Hành ca nhi học hành vô cùng nghiêm khắc, ba bữa nửa tháng lại bị phạt một lần. Mỗi tháng hắn chỉ cho phép cậu bé đến Tư Thoái Đường thỉnh an một lần, cũng chẳng cho nán lại lâu, nên bình thường cậu khó lòng gặp được người mẹ ruột của mình.
Mưa đổ tầm tã, khi Hạ Cửu Sênh che ô đến Tư Thoái Đường thì gấu áo và ủng đã ướt đẫm cả. Bà ấy thu ô lại, đi qua dưới hành lang, thấy cửa sổ đang khép hờ một khe nhỏ để thoáng khí.
Bên trong phòng, Lục Trạch đang ngồi bên cạnh giường, nhẹ nhàng xoa bóp gân cốt cho Tần Thư, miệng lầm rầm tự nói một mình: “Phía sau Miểu Vân Gian có trồng một đầm sen lớn, nàng chẳng phải rất thích ăn hạt sen sao? Đợi nàng tỉnh lại, chúng ta sẽ chèo một chiếc thuyền nhỏ ra hồ, cũng chẳng cần dùng chèo, cứ để thuyền trôi lững lờ đến đâu thì đến. Lúc nào mệt rồi, ta lại tiện tay bóc hạt sen từ đài sen cho nàng ăn…”
Hạ Cửu Sênh khẽ lắc đầu, dù là người lòng dạ sắt đá như bà ấy, khi cũng thấy cảnh tượng này cũng cảm thấy quá đỗi xót xa.
Chương 108
Theo sau Hạ Cửu Sênh là một văn sĩ mặc áo nâu, thấy cảnh này bèn lên tiếng: “Hạ đại nhân, xem sắc mặt thì thấy chẳng khác gì người bình thường, chỉ là không biết mạch tượng thế nào.”
Bước vào trong, ở cửa đã có nha hoàn dâng sẵn quần áo và giày sạch sẽ. Hai người lần lượt thay đồ, lại dùng rượu mạnh để rửa sạch tay rồi mới được tiến vào nội thất.
Trên chiếc giường bát bộ là một người phụ nữ đang nằm, tuy đã hôn mê nhiều năm nhưng sắc mặt vẫn hồng nhuận, xiêm y chỉnh tề, trên mái tóc còn cài một cây trâm ngọc.
Lục Trạch ngồi ở một bên, chẳng hề để tâm đến Hạ Cửu Sênh, ngược lại quay sang nói với vị văn sĩ áo nâu kia: “Mời tiên sinh bắt mạch.”
Vị văn sĩ nọ mở hòm thuốc, ngồi xuống bắt đầu chẩn mạch, lại lật mí mắt và kiểm tra da dẻ. Sau chừng một nén nhang thì ông ấy mới cất lời: “Tôi đã xem qua bệnh án trước đây của phu nhân. Lúc sinh nở tuy có mất máu, nhưng sau khi dùng bí dược của Thiên Kim Đường thì đã cầm được ngay, không hẳn là chứng băng huyết. Chỉ vì sau khi sinh xong phu nhân cứ hôn mê bất tỉnh, nên người ta mới lầm tưởng là do mất máu quá nhiều gây ra. Nhìn mạch tượng của phu nhân, thấy rõ là đang tốt lên từng ngày, không phù không trầm, trái lại còn hòa hoãn có lực, bình ổn không dứt như người bình thường. Da dẻ hồng nhuận có độ bóng, theo lý mà nói, không nên cứ hôn mê năm này tháng nọ như vậy mới phải.”
Lục Trạch nghe xong mà trong lòng nhen nhóm lên một chút hy vọng, hắn liên tục gật đầu: “Tiên sinh nói rất đúng. Hai năm qua không biết đã mời bao nhiêu danh y, ai nấy đều có chung nhận định như thế.”
Vị đại phu kia vốn là đệ tử đích truyền của Lý thái y – người đã bị đày đi Vân Nam vì can gián Hoàng đế không nên tiếp tục uống đan dược. Ông ấy gật đầu nhẹ, không dám khẳng định chắc chắn điều gì: “Chỉ có thể nói là tận nhân sự, tri thiên mệnh* mà thôi.”
(*: Ý nói làm hết sức mình, kết quả tuỳ ý trời)
Ngồi lại một lát, Lục Trạch đích thân tiễn Hạ Cửu Sênh ra ngoài. Đứng lại bên hiên đình trước màn mưa xối xả, hắn nói: “Có một chuyện, mong Hạ đại nhân giải đáp thắc mắc giúp ta.”
Hạ Cửu Sênh lắc đầu: “Ta đã hứa với Tần Thư, có những chuyện tuyệt đối không nói với người thứ hai. Nếu có ngày cô ấy tỉnh lại, thì ngài hãy tự mình đi mà hỏi cô ấy đi.”
Lục Trạch sầm mặt lại, hắn nhìn đăm đăm vào bóng lưng của Hạ Cửu Sênh. Bên cạnh, Giang tiểu hầu run rẩy tiến lên bẩm báo: “Lão thái thái sáng nay đã mời thái y, nói là trong người không được khỏe. Bà còn nhắc chỉ vài ngày nữa là đến ngày kỵ của lão gia, muốn mời gia qua đó bàn bạc xem nên lo liệu thế nào cho phải?”
Lục Trạch hai năm nay càng lúc càng vui buồn thất thường, quản thúc cấp dưới vô cùng nghiêm khắc. Nghe vậy, hắn cũng chẳng buồn đáp lời, lập tức xoay người đi thẳng vào nội thất Tư Thoái Đường. Thấy trời nóng nực, trên người Tần Thư đã rịn ra một lớp mồ hôi mỏng.
Hắn phất tay đuổi hết đám nha hoàn trong phòng ra ngoài, bế ngang Tần Thư lên đi về phía hồ nước nóng phía sau. Hắn cởi bỏ xiêm y rồi thả mình xuống làn nước, như nâng niu một món đồ sứ tinh xảo, hắn vuốt ve khắp da thịt của nàng, động tác dịu dàng nhưng lại đầy vẻ ái dục. Không biết bao lâu sau, Lục Trạch mới bế Tần Thư ra khỏi hồ nước, lau khô thân thể rồi đích thân thoa bí dược dưỡng da dưỡng nhan lên khắp người nàng.
Đặt nàng nằm trên sập xuân, trông nàng hệt như một trang tuyệt sắc giai nhân đang gối đầu lên cánh tay nghỉ tạm tránh nóng. Hắn cũng chẳng mặc thêm xiêm y nào khác cho nàng, chỉ đắp lên một dải lụa Tuyết Quang mỏng tựa cánh ve, khiến đường nét nhấp nhô của cơ thể nàng ẩn hiện mờ ảo.
Lục Trạch cài lên mái tóc mai của nàng một đóa hồng Thứ Ngọc mới được đưa từ hải ngoại về, một bàn tay nhẹ nhàng mơn trớn đôi môi mỏng rực rỡ tựa nhành hoa. Hắn cứ ngồi lặng lẽ ngắm nhìn như thế hồi lâu, cho đến khi chiều tà buông xuống, những tia nắng hoàng hôn tan tác xuyên qua ô cửa sổ chạm khắc, rải nhẹ lên làn da Tần Thư, càng tô điểm thêm vẻ lười biếng và thoát tục của nàng.
Lúc này Lục Trạch mới đứng dậy, xắn tay áo đi về phía án thư đối diện. Hắn mài mực hạ bút, chỉ một lát sau, bức họa một mỹ nhân trần trụi, thân ngọc phơi bày đã dần hiện rõ đường nét.
Lục Trạch đang định hạ bút tô màu, thì bên ngoài có tiếng nha hoàn đứng từ xa bẩm vọng vào: “Đại nhân, lão thái thái mời ngài qua Ngọc Thanh Đường dùng bữa tối ạ.”
Giọt mực nhỏ xuống, loang ra một mảng lớn. Lục Trạch cụt hứng đặt bút xuống, biết đám nha hoàn bà tử không dám tự tiện vào phòng nên hắn cũng chẳng buồn thu dọn bức họa, cứ thế để mặc nó bày ra trên án thư. Hắn bế Tần Thư trở lại chiếc giường phía ngoài, mặc quần áo chỉnh tề cho nàng rồi mới gọi nha hoàn vào: “Vừa mới thoa thuốc xong, ngươi hãy theo các huyệt đạo ta đã dạy mà xoa bóp cho phu nhân trong nửa canh giờ. Cơm tối cứ để đó, đợi ta từ Ngọc Thanh Đường trở về sẽ đích thân hầu nàng dùng.”
Nha hoàn đó tên là Tiểu Mai, vốn là con nhà nông ở trang trại suối nước nóng ngoại thành. Một năm trước, tại viện của phu nhân, đại nhân đã thẳng tay trừng phạt và đuổi đi một loạt người, cô ấy mới được điều động vào đây để quét dọn sân vườn. Nhờ hầu hạ phu nhân đắc lực, cô ấy mới dần trở thành nha hoàn hạng nhất.
Tiểu Mai cúi đầu vâng dạ, không dám nói thừa một lời. Cô ấy xoa bóp thuần thục theo sơ đồ huyệt đạo suốt nửa canh giờ, đến khi mồ hôi đầm đìa mới dừng tay. Lúc đi ra ngoài, cô ấy vô tình làm vướng đứt chuỗi trân châu trên tua rua của màn giường, khiến những hạt ngọc rơi loảng xoảng, vương vãi khắp sàn nhà.
Phòng của phu nhân bình thường chẳng mấy khi cho phép người ngoài bước vào, bản thân cô ấy cũng không dám gọi ai vào giúp, chỉ đành tự mình khom lưng nhặt từng hạt một. Mải mê một hồi, khi ngẩng đầu lên cô ấy chẳng ngờ mình đã đi sâu vào tận phòng sách phía trong. Ngay trước mặt đang treo một bức họa “Trầm Hoa Sĩ Nữ” đã được tô điểm sắc màu cực kỳ tinh xảo. Trên nền trúc xanh mướt um tùm, bên cạnh lan can, người thiếu nữ với búi tóc cao sang quý phái đang lười nhác ngồi tựa, toát lên phong thái thanh tú và đoan trang. Thế nhưng, dù thần thái trang nghiêm là thế, trên người nàng lại chỉ khoác lớp lụa mỏng manh, để lộ ra những mảng da thịt trắng ngần như tuyết, khiến bức tranh thanh cao ấy vô tình vương thêm ba phần mời gọi, lẳng lơ.
Tiểu Mai kinh hãi đến mức phải đưa tay bịt chặt miệng mình, rồi vội vàng lui ra ngoài. Chẳng trách đại nhân lại tuyệt đối không cho phép bất cứ ai bước vào trong.
Lục Trạch đến Đường Ngọc Thanh đúng lúc bên trong đang rộn rã tiếng cười nói vui vẻ. Hắn lập tức nhíu mày; vốn dĩ đã quen với sự cô độc từ lâu, nay nghe thấy tiếng cười đùa như vậy, hắn chỉ cảm thấy thật chói tai. Lúc bước vào, sắc mặt hắn không mấy tốt đẹp, hắn trầm mặt hành lễ với lão thái thái rồi ngồi xuống một bên, hỏi: “Có chuyện gì vui mà lão thái thái lại vui vẻ như vậy?”
Lão thái thái mấy năm nay tinh thần vẫn còn khá minh mẫn. Bà đi theo người cháu đích tôn là Lục Trạch lên sống ở kinh thành, nhận được bao lời nịnh nọt của đám quyền quý, mọi chuyện chẳng có gì là không vừa ý. Bà chỉ lo lắng duy nhất một điều: hôn sự của Lục Trạch đã trì hoãn nhiều năm, đến tận tuổi này rồi mà cũng chỉ có một trai một gái. Còn về phần Hằng ca nhi, tuy cha nó đã khẳng định với bà đó là huyết thống của nhà họ Lục, nhưng bản thân nó lại nhất quyết không chịu mang họ Lục, chỉ nói mình họ Tần, thế nên bà cũng chẳng thể nào yêu thương cho nổi.
Lão thái thái mỉm cười, bà chỉ chỉ tay về phía hắn: “Còn có thể là chuyện vui gì nữa, chẳng phải là chuyện của cháu đó sao!” Dứt lời, bà phất tay một cái, tấm rèm châu bên trong vén mở, hai tiểu nha đầu dìu Trừng Tú đang mặc bộ đồ đỏ rực chậm rãi bước ra. Chỉ có điều, trên mặt Trừng Tú chẳng hề có lấy một nét vui mừng, ngược lại còn vô cùng đờ đẫn. Đôi giày thêu chỉ vàng đính ngọc trai khẽ dời bước sen, nàng ta dừng lại cách Lục Trạch ba bước chân rồi từ từ quỳ xuống: “Trừng Tú thỉnh an gia.”
Lục Trạch lặng im nhìn nàng ta một hồi lâu, hắn chống tay khẽ cười nhạt một tiếng, rồi lắc đầu bảo: “Trừng Tú, giờ trông ngươi cũng già đi nhiều rồi.”
Trừng Tú nghe vậy liền ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt Lục Trạch mà đáp: “Chỉ có một mình Trừng Tú là già đi thôi, còn gia vẫn phong thái ngời ngời như xưa, chẳng một chút già nua nào cả.”
Lão thái thái tay vê tràng hạt, thấy vậy thì khẽ mỉm cười: “Quả nhiên vẫn là người già thân cận với nhau. Hai đứa các con chớ có nhắc đến chuyện già hay không già ở đây nữa. Lão thân này còn chưa lên tiếng, đâu đã đến lượt các con than vãn?”
Bên ngoài, một tiểu nha hoàn tiến vào bẩm báo: “Thưa Lão thái thái, thưa Đại thiếu gia, thiện phòng đã đưa cơm tối tới rồi, chẳng hay đã cho bày thiện được chưa ạ?”
Lão thái thái cười hiền từ nói: “Đúng lúc lắm. Việc Trừng Tú tiến phủ vốn là theo khẩu dụ của công công trong cung truyền tới, tuy chưa có chiếu thư chính thức, nhưng đó cũng là ân điển rộng rãi của Bệ hạ dành cho con. Những ngày qua con bận rộn trăm công nghìn việc, không kịp lưu tâm đến những chuyện vặt vãnh này. Trừng Tú cũng chẳng phải người câu nệ tục lễ, hôm nay người nhà ta cùng ngồi lại dùng bữa tiệc này, xem như là đã vẹn toàn lễ số rồi.”
Lục Trạch vẫn ngồi bất động, hắn đưa mắt nhìn Trừng Tú rồi nói: “Trừng Tú, ngươi theo ta đã nhiều năm, năm xưa khi ta gặp cảnh gian nan, ngươi cũng luôn cận kề hầu hạ. Chắc hẳn ngươi phải biết rõ, bình thường ta ghét nhất là điều gì?”
Trừng Tú nghe vậy thì nước mắt đã chực trào ra. Nàng ta vừa không kìm được mà lắc đầu, vừa nức nở nói: “Gia, Trừng Tú biết mình không xứng… biết mình không xứng. Chỉ cần Gia nói một lời thôi, Trừng Tú sẽ lập tức tự kết liễu, tuyệt đối không để bản thân làm ô uế thanh danh của phủ Quốc công.”
Nàng ta bi lụy nói xong câu ấy liền ngẩng đầu lên, giọng điệu cũng đã kiên định hơn nhiều: “Thế nhưng, Gia à, dẫu cho ngài không muốn nghe thì Trừng Tú vẫn phải nói. Nay ngài mặc kệ cơ nghiệp trăm năm của phủ Quốc công, tương lai lại chẳng có người nối dõi tông đường, như vậy thì Tiên phu nhân ở dưới suối vàng sao có thể nhắm mắt xuôi tay?”
Những lời này cũng chính là điều mà Lão thái thái muốn nói. Cơ nghiệp phủ Quốc công sau này lẽ nào lại truyền cho một kẻ ngoại tộc sao? Cho dù có là huyết thống đích thân đi chăng nữa, thì trong mắt người ngoài và triều đình, đó vẫn là danh không chính, ngôn không thuận.
Lục Trạch ban đầu còn thấy nàng ta đáng thương, nhưng giờ đây chỉ cảm thấy chán ghét. Hắn đứng dậy, chẳng còn kiên nhẫn để đối phó thêm nữa: “Tôn nhi còn có việc, xin phép về Tư Thoái Đường trước.”
Lục Trạch vốn dĩ luôn hiếu thảo, nào đã bao giờ không màng lễ tiết, không nể mặt Lão thái thái như thế này? Đám bà tử trong ngoài Ngọc Thanh Đường nhất thời sợ đến mức chẳng dám thở mạnh.
Lão thái thái lắc đầu, lập tức hiểu ra rằng, cái gọi là tình xưa nghĩa cũ này chẳng còn lại bao nhiêu. Bà liếc nhìn Trừng Tú một cái, rồi phân phó cho đám nô tì: “Dọn dẹp mấy gian phòng ở Đông Khóa Viện đi. Trừng Tú, ngươi là người do chính miệng Bệ hạ hạ chỉ ban xuống, phủ Quốc công chúng ta tuyệt đối không bạc đãi ngươi đâu.”
Trừng Tú quỳ rạp dưới đất dập đầu, nước mắt giàn giụa, vì không muốn để người khác nhìn thấy nên mãi vẫn không chịu đứng lên.
Lục Trạch rảo bước trên hành lang, gọi Giang Tiểu Hầu đến dặn dò: “Đưa Trừng Tú đến ngôi chùa ngoài thành tu hành, bên ngoài cứ nói là nàng ta muốn cầu phúc cho chủ mẫu đang lâm bệnh, như vậy cũng coi như có lời ăn tiếng nói với Bệ hạ. Thêm nữa, Bệ hạ lại sắp luyện đan ngồi thiền, lệnh cho ta vào cung tùy tùng hầu hạ, e là cả tháng tới không ra khỏi cung được. Chỗ phu nhân, việc ăn uống thuốc thang hàng ngày ngươi phải dụng tâm gấp vạn lần, không cho phép bất cứ ai đến làm phiền nàng ấy.”
Giang Tiểu Hầu hỏi: “Chẳng hay nếu Lão thái thái muốn tới thăm bệnh, thì cũng không cho phép sao ạ?”
Lục Trạch liếc xéo gã một cái: “Chỉ cần ngươi có mắt, có não, biết rõ ai mới là chủ tử của mình, thì đã không hỏi ra cái loại lời ngu xuẩn này rồi.”
Giang Tiểu Hầu cúi đầu vâng dạ: “Nô tài đã hiểu rõ!”
Gã đưa mắt nhìn theo Lục Trạch bước vào Tư Thoái Đường, rồi mới xoay người đi ra phía ngoài. Khi đi ngang qua rừng trúc tím, gã thấy Hành ca nhi đang đứng ở ngay lối rẽ, còn chưa kịp hành lễ thì đã nghe thấy một tiếng gọi: “Giang thúc thúc!”
Giang Tiểu Hầu khom người đáp: “Nô tài không dám nhận cách xưng hô này của tiểu công tử. Đã muộn thế này rồi, sao ngài vẫn chưa đi ngủ?”
Hành ca nhi nhìn về phía trong Tư Thoái Đường, nơi đèn hoa rực rỡ, bóng sáng lung linh, rồi nói: “Hôm nay làm xong bài vở, cháu vốn định đi thăm muội muội, chỉ là không khéo, đang chuẩn bị đi về đây.”
Không khéo? Cái gì không khéo? Đương nhiên là việc Lục Trạch trở về từ Ngọc Thanh Đường nhanh đến vậy, chuyện này thực sự là không khéo chút nào.
Kể từ khi Tần Thư hôn mê, Giang Tiểu Hầu đều nhìn thấy rõ mọi chuyện, Lục Tế đối đãi với cặp nam nhi nữ tử này chẳng hề thân thiết. Đứa con gái thì thôi đi, nó vốn chẳng biết gì, cứ để vú nuôi và các ma ma chăm bẵm, đến một câu nói tròn vành rõ chữ cũng chưa thốt ra được. Duy chỉ có đứa con trai này là nhìn cha như kẻ thù, mà người cha cũng xem con mình như vật vô tri, chẳng khác nào một đôi oan gia trái chủ.
Có đôi khi, ngay cả một kẻ hạ nhân như Giang Tiểu Hầu cũng thấy Hành ca nhi thật đáng thương. Ở những nhà khác, hoặc là cha mẹ, hoặc là tổ mẫu, thế nào cũng có một người thiên vị yêu thương, vậy mà cậu bé này lại chẳng có lấy một ai, bên cạnh chỉ có duy nhất một lão ma ma. Gã không kìm được lòng mà nói: “Tiểu công tử đừng vội, chẳng qua mấy ngày nữa thôi là Gia phải vào cung tùy tùng hầu hạ rồi, khi đó nếu ngài muốn tới, thì đương nhiên có thể tới thăm tiểu thư.”
Hành ca nhi gật đầu, sắc mặt thoáng hiện lên vài phần vui vẻ: “Đa tạ Giang thúc!” Rồi cậu lại hỏi: “Mẫu thân cháu vẫn như trước sao?”
Giang Tiểu Hầu cung kính trả lời. Dẫu cho Lục Trạch có thể lạnh nhạt với con trai mình, nhưng đám hạ nhân như họ tuyệt đối không có lá gan đó: “Bẩm tiểu công tử, vị đại phu mới được tiến cử nói mạch tượng của phu nhân trông rất tốt, chỉ là khi nào tỉnh lại thì vẫn chưa có lời khẳng định chắc chắn ạ.”
Suốt hai năm qua, các vị đại phu đến khám đều nói như vậy. Hành ca nhi “ồ” lên một tiếng, nói thêm lời cảm ơn rồi mới chậm rãi rảo bước về phía Lâm Uyên Viên ở phía Tây. Cậu bé một mình đi trong bóng tối được một quãng dài, thì mới thấy Tần ma ma xách đèn lồng vội vã tìm tới, bà lo lắng khôn cùng: “Công tử đã đi đâu vậy? Chỗ này tối tăm lắm, nếu ngài ngã ra đó thì lão nô biết ăn nói thế nào với phu nhân đây?”
Hành ca nhi chẳng còn hoạt bát nói nhiều như ngày thường, chỉ ậm ừ cho qua chuyện. Khi đi ngang qua mặt cây cầu sát mặt nước, cậu lấy từ trong tay áo ra một chiếc thuyền giấy, nhẹ nhàng thả xuống hồ, rồi lặng lẽ nhìn nó từ từ trôi xa dần.
Kiểu thuyền giấy có hình dáng phức tạp thế này, vốn là do Tần Thư dạy cậu gấp từ ngày trước. Giờ đây, tâm tư của mình cậu cũng chẳng buồn nói với ai, nếu quả thật cảm thấy quá khó chịu trong lòng, cậu sẽ tự tay gấp một chiếc thuyền giấy rồi thả xuống hồ.
Tần ma ma nhìn thấy cảnh ấy thì thở dài, lòng bà cũng trào dâng nỗi xót xa, bèn khuyên giải: “Công tử ơi, ngài có chuyện gì, có gì uất ức thì hãy nói với ma ma. Nếu ngài ở đây thực sự không vui vẻ, vậy chúng ta quay về Tiểu Đàn Viên có được không? Phu nhân từng để lại cho ngài một khoản tiền rất lớn…”
Hành ca nhi lắc đầu, mắt vẫn nhìn theo chiếc thuyền giấy đang trôi xa dần, rồi hỏi: “Ma ma, bà nói xem mẫu thân cháu liệu có tỉnh lại được không? Hôm qua cháu đọc y thư, thấy trong một cuốn sách có chép lại những tiền lệ trước đây, nhưng mà… nhưng mà chỉ nằm trên giường chừng một năm rưỡi là không qua khỏi, thuốc thang đều vô dụng.”
Tần ma ma nghe xong mà nước mắt chực trào: “Những người đó sao có thể so sánh với phu nhân được? Ngay cả trụ trì chùa Báo Ân cũng nói phu nhân là người có phúc, sao có thể không tỉnh lại cơ chứ?”
Thế nhưng Hành ca nhi lại lắc đầu, cậu bé dường như đã lớn phổng lên chỉ trong nháy mắt: “Đôi khi cháu lại nghĩ, có lẽ đối với mẫu thân mà nói, không tỉnh lại được cũng là một chuyện tốt.”