Lạc Hoa Xuân – 5 – 6

Chương 5.

Gió thu cuộn vào hành lang, khẽ lật mở trang sách, một góc của tờ hòa ly thư bị gió thổi lệch đi một chút.

Ánh mắt của Lục Thừa Tự rơi trên tờ hòa ly thư ấy, vẻ mệt mỏi trong đáy mắt tan biến sạch chỉ trong nháy mắt, đồng tử khẽ co rút lại.

Lá thư này Lục Thừa Tự chẳng hề lạ lẫm gì, cách đây không lâu chàng đã từng thấy qua. Chỉ là khi đó, lá thư được đặt ngay ngắn trong một chiếc hộp nhỏ bưng đến trước mặt chàng. Lúc ấy chàng chỉ mới mở nắp hộp liếc nhìn một cái, thấy bên trong là một tờ hòa ly thư thì còn chẳng buồn mở ra xem, liền sai người gửi trả về, đồng thời phái quản sự đi đón mẹ con nàng vào kinh.

Dẫu cho không có vụ lùm xùm với Quận chúa kia xảy ra, thì chàng cũng đã dự định chờ sau khi đứng vững chân tại kinh thành, sẽ đón hai mẹ con nàng về đoàn tụ.

Thế nhưng lá thư trước mắt này lại chẳng hề bằng phẳng, có thể thấy rõ là đã được cất giấu trong lòng áo không ít ngày rồi.

Chẳng trách nàng lại mượn cớ sinh bệnh để không đi thỉnh an lão thái thái, cũng chẳng chịu làm phu thê với chàng.

Xem ra trong lòng nàng thực sự vẫn còn đang oán giận.

Xem ra chuyện về Quận chúa, nàng vẫn cứ canh cánh trong lòng chẳng thể buông xuôi.

Thần sắc của Lục Thừa Tự vẫn bình thản như cũ, lại còn thêm vài phần ôn hòa: “Nàng là người thông minh, sao có thể coi mấy lời đồn thổi nhảm nhí bên ngoài là thật được? Lục Thừa Tự ta là người trọng hứa hẹn, đã cưới nàng thì một ngày là thê tử, cả đời là thê tử, tuyệt đối không có chuyện hạ nàng xuống làm thiếp, ta lại càng không thể cưới Quận chúa nào cả. Chuyện này cứ thế khép lại tại đây, có được không?”

Hoa Xuân chậm rãi ngước mắt lên, chạm vào ánh nhìn của chàng. Nàng nhìn chàng định thần một hồi lâu, giọng điệu cũng ôn tồn dịu dàng: “Thất gia, hà tất phải cưỡng cầu làm gì? Cuộc hôn nhân này năm đó, Thất gia là vâng mệnh trưởng bối nên mới buộc phải lấy ta, ta cũng vì lệnh cha khó lòng làm trái mà phải rời bỏ quê hương gả đến Ích Châu. Chàng khó, ta cũng khó, chẳng thà cứ buông tay tại đây, thành toàn cho chàng và Quận chúa thì hơn.”

Vừa nghe thấy hai chữ “thành toàn”, đáy mắt Lục Thừa Tự xẹt qua một tia chán ghét: “Đừng nói lời hồ đồ, ta và vị Quận chúa kia chẳng có chút can hệ nào hết.”

“Chàng từng cứu mạng cô ta, cô ta lại khăng khăng không phải chàng thì không gả…”

Lúc quản sự đến Ích Châu đón nàng đi, đã không hề đả động gì đến chuyện này, còn Đào thị trong thư chắc hẳn cũng nói năng lấp lửng. Đây là điều mà Hoa Xuân tình cờ nghe được từ một ông lão kể chuyện trên họa đường, khi thuyền của nàng neo đậu tại bến tàu Thông Châu trên đường vào kinh.

Lục Thừa Tự dường như chẳng mảy may có chút hứng thú nào với giai thoại này: “Hai năm trước, khi ta rời chức Án sát sứ Lưỡng Giang để sang nhậm chức ở Hồ Quảng, lúc đi ngang qua Giang Châu, có gặp một toán cướp đang bắt cóc phụ nữ lương thiện lên thuyền, ta đã ra lệnh cho thị vệ đi theo giải cứu. Trên con thuyền đó có bảy tám người phụ nữ, ta làm sao biết được, vị Quận chúa kia trà trộn trong đó bằng cách nào. Nếu như thế cũng tính là tình nghĩa, vậy thì mười vạn ngư dân ở Lâm An đều do một tay ta cứu mạng, chẳng lẽ ta phải cưới hết bọn họ về hay sao?”

Giọng điệu của chàng ngầm chứa sự giễu cợt, tỏ vẻ chẳng mấy bận tâm: “Cách đây không lâu, khi ta được triệu hồi về kinh, trong buổi cung yến đã bị Quận chúa nhận ra. Cô ta nhắc lại chuyện cũ, nhưng ta hoàn toàn không có ấn tượng gì. Trước khi mẹ con nàng vào kinh, ta cũng đã mượn cơ hội bộc bạch việc mình đã có vợ con với Tương Vương để khước từ. Tương Vương kia cũng đâu phải hạng người ngu xuẩn hay vô lại, lẽ nào lại để con gái mình tự hạ thấp bản thân, đi phá hoại nhân duyên nhà người khác? Chuyện này chẳng qua là do người đời cứ thế thêu dệt, nghe sao nói vậy nên sớm đã không còn đúng sự thật nữa, nàng đừng để trong lòng làm gì.”

Lục Thừa Tự tự cho là mình đã giải thích ngọn ngành, thế nhưng khi Hoa Xuân nghe xong, gương mặt nàng vẫn không hề có chút dao động nào rõ rệt.

“Thất gia, bất kể chàng và Quận chúa có thế nào đi chăng nữa, thì ý ta đã quyết rồi, chúng ta hòa ly đi.”

Lục Thừa Tự thấy nàng chấp nhất đến mức không thể khuyên bảo, sắc mặt liền trầm xuống. Chàng cố nén sự mất nhẫn nại mà hỏi lại: “Tại sao?”

Hai chữ ném xuống lạnh băng, đã để lộ rõ sự không vui của chàng.

Tại sao lại hòa ly?

Trong lòng Hoa Xuân bỗng dưng trào dâng biết bao cảm xúc khó lòng diễn tả thành lời. Những vất vả, tủi nhục, đớn đau và thất vọng suốt năm năm qua, tựa như dòng nham thạch cuộn trào trong lồng ngực, nhiều không kể xiết, chẳng thể đếm cho tường tận. Thế nhưng Hoa Xuân vẫn cố sức đè nén lại, không để lộ ra chút manh mối nào.

Nàng đến đây không phải để kể lể về những bất mãn hay uất ức của mình, lòng kiêu hãnh của nàng không cho phép điều đó.

Nàng không cho phép mình giống như hạng đàn bà chanh chua nơi đầu đường xó chợ, dùng giọng điệu gào thét hay cách thức oán trách, để cầu xin một chút thương hại đáng thương từ trượng phu.

Hợp tan êm đẹp.

Hãy để lại cho nhau chút thể diện.

Con trai còn cần chàng nuôi dưỡng.

Cố gia vẫn cần chàng nâng đỡ.

Nàng thay chàng phụng dưỡng song thân, bao lần cứu được người mẹ chồng đã cận kề cửa tử trở về, giúp chàng được yên tâm gầy dựng công danh sự nghiệp nơi xa, giúp chàng không phải chịu cảnh cáo quan về chịu tang, để rồi mới có được địa vị cao trọng như ngày hôm nay, nàng rõ ràng là có công lao.

Nàng thu xếp toàn bộ hành trang vào kinh, cũng đã có tính toán riêng cho mình, biết đâu sau này còn có ngày cần nhờ vả đến chàng.

Hoa Xuân suy tính vô cùng rõ ràng.

Không muốn trở mặt thành thù.

Cứ hợp tan êm đẹp mà thôi.

“Không còn phù hợp nữa…” Nàng ngồi ngay ngắn, dáng vẻ vẫn thanh tú xinh đẹp như xưa, nhưng giọng nói lại hờ hững đến lạnh lùng: “Ta cũng mệt mỏi rồi.”

Lục Thừa Tự là hạng người nào chứ? Lăn lộn chinh chiến chốn quan trường bao năm, lẽ nào chàng lại không có bản lĩnh nhìn thấu tâm tư qua lời nói sắc mặt? Một chữ “mệt” kia, đã nói thay cho biết bao cay đắng tủi hờn.

Nàng vẫn là đang oán giận chàng mà thôi.

Giọng điệu của chàng tức khắc dịu xuống, mang theo vẻ đầy kiên nhẫn: “Ta biết phu nhân suốt năm năm qua đã chịu bao khổ cực nhọc nhằn. Cha ta thì tính khí thất thường, quanh năm chu du bên ngoài, mẹ ta sức khỏe lại yếu, tất cả đều dựa vào một tay phu nhân thu xếp lo liệu. Có nàng chu toàn việc nhà, ta mới có thể yên tâm mà không phải lo lắng chuyện phía sau, Lục Thừa Tự ta có được địa vị như ngày hôm nay, phu nhân quả thực công lao rất lớn. Nàng thấy đó, ngay khi vừa ổn định tại kinh thành, ta liền đón mẹ con nàng đến đây, chính là hướng tới việc gia đình đoàn tụ, từ nay về sau sẽ cùng nhau sống những ngày tháng tốt đẹp.”

Hoa Xuân nghe những lời này của chàng, bỗng nhiên nảy sinh một cảm giác bất lực sâu sắc.

Đối với chàng, đó chỉ là một câu “nàng đã vất vả rồi”.

Nhưng đối với nàng, đó lại là gần hai ngàn ngày đêm thức khuya dậy sớm…!

Giữa người với người, vĩnh viễn không bao giờ có cái gọi là thực sự thấu hiểu cho nhau.

Mà Hoa Xuân, cũng chẳng hề hy vọng chàng có thể thấu hiểu được.

Vào cái ngày ngồi trong căn phòng cưới trống trải ở Ích Châu và hạ quyết tâm này, nàng chỉ cảm thấy như trút bỏ được gánh nặng, lòng dạ bỗng chốc sáng tỏ, nhẹ nhõm vô cùng.

Năm năm, đã tiêu tán sạch sẽ mọi sự kỳ vọng của nàng dành cho hôn nhân.

Cái danh phu nhân Các lão hay thiếu phu nhân phủ Quốc công gì đó, bên ngoài thì vẻ vang bóng bẩy, bên trong lại mục nát khó coi.

Nàng không muốn lại tự nhốt mình vào tòa lồng giam lộng lẫy này, để rồi bị hai chữ “hiền huệ” trói buộc cả đời.

Mệt rồi.

“Nếu như ta cứ nhất quyết muốn hòa ly thì sao?”

Ánh hoàng hôn nhích dần lên từng chút một, soi rọi rõ mồn một từng biến chuyển nhỏ nhất trên gương mặt chàng.

Sắc mặt của Lục Thừa Tự hơi biến động, rồi mọi cảm xúc trên mặt đều nhạt đi, cuối cùng biến mất hẳn.

Trong mắt chàng, Hoa Xuân thực sự đã quá đỗi ngoan cố.

Phu thê bọn họ chịu đựng năm năm gian khổ, chẳng phải chính là vì để gia đình ngày càng hưng vượng đó sao? Hiện nay phúc khí đã ở ngay trước mắt, nàng còn muốn giày vò thêm chuyện gì nữa?

Lúc này đây nàng đã là phu nhân Thị lang tam phẩm, xa hơn chút nữa, vị trí phu nhân Các lão cũng chẳng còn bao xa.

Bất cứ người đàn bà nào chỉ cần có chút não, đều không thể chọn hòa ly với chàng vào lúc này.

Lục Thừa Tự tuy chung đụng với Hoa Xuân không nhiều, nhưng cũng nhìn ra thê tử của mình chẳng phải hạng người ngu đần vô tri. Nàng không phải thật lòng muốn hòa ly, nàng vẫn là đang giở tính tiểu thư mà thôi.

Những lời nói ra trong lúc hờn dỗi thì không thể tính là thật được.

Lục Thừa Tự chẳng buồn chấp nhặt.

Chàng một lần nữa đẩy tờ hòa ly thư ấy về lại trước mặt nàng, giọng nói kiên định lại xen lẫn vài phần ra lệnh: “Hai chữ hòa ly ta không muốn nghe lại lần nữa, lá thư này nàng hãy xé bỏ đi.”

“Nàng mệt rồi thì cứ nghỉ ngơi cho tốt, ta về thư phòng trước.”

Chàng đứng dậy, chắp tay sau lưng bước vào trong ánh nắng chiều tà. Bóng lưng thanh tú của chàng khẽ lay động dưới hoàng hôn, vẫn thong dong như trước, vẫn kiêu ngạo như xưa.

Hoa Xuân nhìn chằm chằm vào bóng lưng ấy hồi lâu mới hoàn hồn trở lại.

Chàng vậy mà không đồng ý? Tại sao chàng lại không đồng ý cơ chứ?

Nhưng chuyện này cũng chẳng tới lượt chàng không đồng ý.

Nàng khẽ “hừ” một tiếng lạnh lẽo, rồi thu lại tờ hòa ly thư vào trong lòng áo.

Muốn nàng xé bỏ tờ hòa ly thư này sao? Nằm mơ đi!

Thấy Lục Thừa Tự chỉ ngồi một lát rồi rời đi ngay, trong lòng Tuệ ma ma cảm thấy bồn chồn không yên, chậm rãi lần mò vào phòng chính. Thấy Hoa Xuân đang tựa mình trên giường lò thẫn thờ xuất thần, bà nhẹ chân nhẹ tay bước tới, rồi nghiêng mình hỏi khẽ: “Thiếu phu nhân, có chuyện gì vậy? Thất gia còn chưa dùng bữa tối mà đã đi rồi sao? Chẳng lẽ hai người lại cãi vã gì rồi?”

Hoa Xuân đưa tay day day trán, liếc nhìn Tuệ ma ma một cái, nhất thời không biết nên mở lời thế nào.

Chừng nào tờ thư hòa ly còn chưa được ký, nàng vẫn chưa thể ngả bài với Tuệ ma ma.

Một là vì không muốn ma ma phải lo lắng hãi hùng; hai là, Tuệ ma ma chắc chắn sẽ không tán thành việc nàng hòa ly. Đừng để đến lúc Lục Thừa Tự còn chưa giải quyết xong, mà người phe mình đã tự loạn trận tuyến trước.

“Trên người chàng ấy nồng nặc mùi rượu, khiến con ngửi mà khó chịu quá.”

“Con bé này thật là…” Tuệ ma ma nghe vậy thì thở phào nhẹ nhõm, trìu mến xoa nhẹ lọn tóc của nàng: “Giờ đây đã khác với lúc còn ở Ích Châu rồi. Ở đó Thái thái chẳng quản công việc, mọi việc đều do con quyết định, trong nhà ngoài ngõ không cho phép có lấy một chút mùi lạ. Nhưng nay bên cạnh đã có đàn ông rồi, mọi chuyện chẳng thể tùy ý con được nữa. Nhưng mà như thế cũng tốt, thế này mới gọi là cuộc sống phu thê chứ.”

Hoa Xuân không còn lời nào để nói lại.

Nói xong, ma ma mỉm cười: “Bữa tối con muốn dùng gì nào? Để ta xuống nhà bếp một chuyến, dặn dò bọn họ làm mấy món con thích ăn.”

Hoa Xuân tùy ý đọc tên vài món.

Đến đầu giờ Dậu, cơm canh đã được bày lên. Phái Nhi dùng bữa cùng Hoa Xuân, cậu nhóc ăn đến no căng bụng thì lại bị Hoa Xuân đuổi khéo ra tiền viện: “Con sang chỗ cha mà đọc sách viết chữ đi.”

Lần này Phái Nhi nhất quyết không chịu, cứ bám chặt lấy lòng nàng không rời: “Lúc nãy khi cha ra ngoài đã dặn Phái Nhi rồi, bảo là tối nay cho Phái Nhi ngủ với mẫu thân!”

Thằng bé là một tay Hoa Xuân nuôi lớn, một khắc cũng chẳng muốn rời xa.

Nhưng dù không nỡ rời, thì vẫn buộc phải rời đi thôi.

Hoa Xuân nhẫn tâm kéo cậu nhóc ra khỏi lòng mình, nâng khuôn mặt nhỏ nhắn giống Lục Thừa Tự như đúc lên, rồi khéo léo dỗ dành: “Ta hỏi con, con có thích cha không?”

Trong đầu Phái Nhi hiện lên dáng vẻ anh minh thần võ của cha, cậu nhóc gật đầu cái rụp: “Phái Nhi ngưỡng mộ cha lắm ạ!”

“Vậy Phái Nhi còn nhớ chuyện, năm ngoái có con chó hoang suýt chút nữa đã cắn mẹ, chính Vương thúc là người đã cứu mẹ không?”

Hồi tưởng lại sự việc kinh hoàng năm ấy, Phái Nhi vẫn còn chưa hoàn hồn, hai má phồng lên vì tức giận, cậu nhóc nghiến răng thật mạnh: “Con nhớ ạ!”

Hoa Xuân khẽ gật đầu: “Chỉ khi theo cha học chữ, lớn lên con mới có thể trở thành một người lợi hại như cha. Có như vậy, con mới bảo vệ được mẫu thân!”

Vừa nghe thấy bốn chữ “bảo vệ mẫu thân”, Phái Nhi tức thì tràn đầy hăng hái. Cậu nhóc lập tức nhảy xuống khỏi giường La Hán, dáng vẻ hùng dũng oai vệ bước ra ngoài: “Mẹ, con đi học bản lĩnh từ cha đây!”

Đúng là trẻ con, thật dễ dỗ dành.

Hoa Xuân tựa người vào giường sưởi, khẽ đẩy mở một góc khung cửa sổ, mắt dõi theo bóng dáng nhỏ bé của cậu nhóc, bước ra khỏi dãy hành lang nối giữa các viện rồi mới thu hồi tầm mắt lại.

Lục Thừa Tự vừa dùng xong bữa tối, đang bận rộn trong thư phòng thì đột nhiên nghe thấy tiếng gọi “Cha!” trong trẻo vang lên từ bên ngoài.

Chàng bỗng cảm thấy có gì đó “sai sai”.

Sao thằng bé lại quay lại rồi?

Chẳng bao lâu sau, Phái Nhi vòng qua kệ bách bảo, chạy đến trước mặt chàng, cung kính hành lễ bằng chất giọng sữa non nớt: “Nhi tử thỉnh an cha.”

Lục Thừa Tự bật cười, vẫy tay ra hiệu cho cậu nhóc lại gần rồi bế vào lòng: “Chẳng phải đã giao kèo tối nay con ngủ với mẹ sao? Sao lại chạy đến thư phòng rồi?”

Phái Nhi tựa vào đầu gối của cha mình, cậu bé nghiêm túc nói: “Cha phải dạy nhi tử bản lĩnh ạ.”

Đôi nhãn cầu đen láy tràn đầy vẻ kiên định, trông giống chàng như đúc.

Lục Thừa Tự xoa xoa cái đầu nhỏ của cậu nhóc: “Cha đương nhiên là sẽ dạy con bản lĩnh rồi. Thế này nhé, sau này mỗi tối con theo cha học chữ một canh giờ, sau đó lại về hậu viện bầu bạn với mẹ con, thấy sao nào?”

Phái Nhi chớp chớp mắt, rồi dõng dạc nói: “Mẫu thân nói rồi ạ, nhi tử họ Lục chứ không phải họ Cố, sau này nên đi theo cha thôi!”

Lục Thừa Tự nghẹn lời một hồi lâu.

Nàng vẫn còn đang dỗi chàng đấy à!

Nàng muốn giở tính trẻ con với chàng sao cũng được, nhưng sao có thể nói chuyện này với trẻ con cơ chứ?

Mà thôi, chẳng phải nàng nói là đang mệt sao, cứ để nàng nghỉ ngơi vài ngày vậy.

Lục Thừa Tự cũng chẳng quá để tâm đến chuyện này.

Hoa Xuân lúc đầu nghĩ mãi không thông, Lục Thừa Tự vốn chẳng có chút tình cảm nào với mình, tại sao lại không dứt khoát hòa ly cho rảnh nợ.

Luyến tiếc cuộc hôn nhân này sao? Chuyện đó tuyệt đối không thể nào.

Năm ấy nếu không phải vì Tứ lão gia khăng khăng ép buộc, thì với sự cao ngạo của Lục Thừa Tự, làm sao chàng có thể để mắt đến con gái của một hoàng thương như nàng? Nếu không phải vì chê bai xuất thân của nàng, thì hà cớ gì suốt năm năm trời chàng lại đối xử với nàng bằng thái độ thờ ơ, chẳng màng hỏi han như thế?

Mãi đến khi nằm xuống đi ngủ, nàng mới chợt vỡ lẽ ra.

Lục Thừa Tự kia vừa mới thăng chức Tam phẩm Thị lang, được điều chuyển về kinh đô. Nếu lúc này xảy ra chuyện hòa ly, chắc chắn sẽ kéo theo việc bị các quan Ngự sử dâng sớ đàn hặc.

Chàng vốn là hạng người coi đường quan lộ như mạng sống, lẽ nào lại để thanh danh của mình bị vấy bẩn hay sao.

Chàng vì tiền đồ mà có thể nhẫn nhịn cuộc hôn nhân không tình cảm này, còn nàng thì ham hố chi đây? Ham lòng dạ lạnh lùng của chàng, hay ham việc phải chăm lo cho cả gia đình già trẻ lớn bé nhà chàng?

Chẳng thà thành toàn cho chàng, cũng là thành toàn cho chính mình.

Đã quyết định ra đi, thì phải đi sao cho không còn chút vướng bận gì phía sau nữa.

Với những nữ quyến từ các gia đình quan lại bình thường ở kinh thành, Lục Thừa Tự có thể trấn áp được, con trai cũng chẳng đến mức phải chịu thiệt thòi lớn. Nhưng Thường Dương quận chúa thì khác, thân phận tông thất của cô ta đủ sức đè nặng trên đầu Lục Thừa Tự một bậc. Đừng nhìn việc Lục Thừa Tự ngoài miệng cứ khăng khăng sẽ không cưới quận chúa, mà Hoa Xuân lại dám ôm tâm lý cầu may. Lòng người như nước, mệnh lệnh tựa khói mây, chẳng ai có thể đoán định được tâm tư của những kẻ bề trên; nếu Thái hậu nhất quyết ban hôn, thì chuyện đó không phải là không thể xảy ra.

Ít nhất, nàng phải triệt tiêu khả năng này mới được.

Và nhân cơ hội đó, đưa cho Lục Thừa Tự một “bậc thang” để chàng chịu đặt bút ký vào tờ thư hòa ly kia.

Hoa Xuân suy tính suốt một đêm, cuối cùng cũng nghĩ ra được một kế sách “một mũi tên trúng hai đích”. Sáng sớm hôm sau, nàng lặng lẽ gọi Tùng Đào vào phòng, dúi vào tay cô ấy một thỏi bạc rồi dặn dò: “Mấy ngày tới, em hãy tìm cách lảng vảng quanh phủ Tương Vương, để thám thính động tĩnh của Thường Dương quận chúa. Nếu ngày nào thấy cô ta ra ngoài, hãy về báo ngay cho ta biết.”

Tùng Đào vốn không phải hạng tiểu thư khuê các nuôi trong nhung lụa, từ nhỏ cô ấy đã theo cha đi đây đi đó, quen biết đủ hạng người trong xã hội, nên giao việc này cho cô ấy là thỏa đáng nhất.

“Cô nương cứ yên tâm, em đi nghe ngóng tin tức ngay đây.”

Nha đầu này tuy có vóc dáng cao lớn, ít nói ít cười nhưng đầu óc lại không hề chậm chạp. Để tránh đánh động đến người nhà họ Lục, cô ấy đã âm thầm trèo qua một bức tường thấp ở phía nhà bếp để lẻn ra khỏi phủ.

Chương 6.

Lại bốn ngày nữa trôi qua, đã là ngày 29 tháng 8.

Trời tạnh ráo và hửng nắng trở lại, hương hoa quế trong viện tỏa thơm ngào ngạt.

Phía phủ Tương Vương vẫn chưa có động tĩnh gì, nhưng Hoa Xuân cũng không thể cứ giả bệnh mãi không lộ diện. Vừa hay ngày hôm qua Đại thiếu phu nhân đã đích thân đến thăm, có ý định tổ chức tiệc tẩy trần cho nàng vào ngày hôm nay. Hoa Xuân nhận lời, sáng sớm ngày hôm đó liền trang điểm chải chuốt, chuẩn bị đi thỉnh an lão thái thái.

Trong những gia đình danh gia vọng tộc vốn có nhiều quy củ, ngày thường các nàng dâu và tiểu thư đều phải thỉnh an sớm tối, đặc biệt là với “tân phụ” như Hoa Xuân, nàng còn phải bị rèn giũa quy tắc, học cách hầu hạ bề trên.

Hoa Xuân vốn đã định ngày hòa ly, nên dĩ nhiên chẳng màng đến những giáo điều này, nàng cứ thong thả ngồi trước bàn trang điểm để sửa soạn. Huệ ma ma vào thúc giục một lượt: “Thất gia đã đến ngoài dãy hành lang rồi, đang đợi người để cùng đi lên nhà trên đấy ạ.”

Hoa Xuân ngẩn người, nàng đưa mắt nhìn ma ma trong gương rồi khẽ hỏi: “Chàng đến đây làm gì?”

“Hôm nay trong phủ mở tiệc vì người, ngài ấy dù bận rộn đến mấy cũng phải lộ diện một chút chứ ạ.”

Hoa Xuân cũng chẳng nói thêm lời nào, nàng cài lại bộ dao khảm đá thanh kim mua được khi ngang qua Thông Châu, rồi thong dong đứng dậy.

Dẫn theo ma ma và nha hoàn ra đến bên ngoài xuyên đường, nàng đã thấy Lục Thừa Tự đứng đó bên gốc nguyệt quế. Chàng mặc một chiếc trường bào sắc ngọc giản dị, dáng người cao ráo, hiên ngang như tùng bách. Gương mặt chàng trắng trẻo như ngọc, hàng mi dày mà dài, dưới ánh nắng ban mai rạng rỡ lại càng thêm sóng sánh ánh vàng.

“Thất gia.”

Lục Thừa Tự đang mải suy tính việc của Hộ bộ, nghe tiếng động liền quay mắt nhìn sang. Chỉ thấy dưới hành lang, một bóng giai nhân đứng đó thanh mảnh như đóa sen, làn da trắng ngần mịn màng, sắc môi đỏ hồng nhuận sắc. Đôi mày của nàng cong vút tựa trăng non, hàng mi cực dài; cả người nàng toát lên vẻ diễm lệ kinh người, nhưng ý xuân trong đáy mắt lại có phần nhạt nhòa.

Lục Thừa Tự vốn dĩ ôm ấp hoài bão lớn, trước nay chưa từng để tâm đến chuyện nữ nhi thường tình, vậy mà hôm nay lại tinh tường nhận ra, Hoa Xuân đang mặc một chiếc bào cũ, chàng bèn hỏi: “Sao nàng không thay kiện xiêm y mới?”

Hoa Xuân bước xuống bậc thềm, khẽ nhún người hành lễ với chàng rồi tùy ý đáp: “Toàn bộ đều đang xếp trong rương hòm hồi môn, ta lười lôi ra quá.”

Lục Thừa Tự bỗng chốc sực tỉnh, Hoa Xuân mang theo mười mấy hòm hồi môn vào kinh, vậy mà trong phòng lại chẳng có chút bày biện gì, đủ hiểu những rương hòm ấy vẫn còn niêm phong chưa mở. Chàng nhất thời nghẹn lời, nhìn nàng chằm chằm mà không thốt nên câu.

Hoa Xuân chẳng mảy may để tâm đến sắc mặt của chàng, nàng bước lên phía trước một bước rồi ra hiệu: “Thời gian chẳng còn sớm nữa, e là lão thái thái đã thức giấc rồi, chúng ta mau qua đó thôi.”

Lục Thừa Tự mím chặt đôi môi mỏng, chẳng thốt lấy một lời, lẳng lặng theo sau nàng bước lên lên dãy hành lang.

Qua lại mấy dãy viện lạc, cuối cùng cũng đến được một gian sảnh ngang rộng rãi. Trong sảnh náo nhiệt vô cùng, có năm sáu đứa trẻ đang tụ tập vui chơi, xung quanh là không ít nha hoàn và bà vú canh chừng. Phái Nhi cũng ở trong số đó, nhưng có lẽ vì mới đến lần đầu, chưa mấy quen thuộc với đám trẻ này nên chỉ đứng một bên quan sát. Cho đến khi một cậu bé trạc tuổi chạy quá nhanh nên bị vấp chân ngã nhào, quả cầu da hổ trong tay cũng theo đà trượt về phía trước. Thấy vậy, Phái Nhi liền sấn tới, hai bước gộp làm một lao nhanh lên phía trước, đón trọn quả cầu vào lòng rồi nở nụ cười rạng rỡ.

Cậu bé kia ngã một cú đau nên vốn đã khóc rống lên, nay lại thấy bóng bị người khác cầm mất thì càng khóc dữ dội hơn. Đám bà vú sợ hãi vội vàng chạy lại đỡ dậy, nhưng cậu ta chẳng đợi bà vú phủi sạch bụi đất trên người, mà đã hằm hằm lao về phía Phái Nhi, chỉ tay vào quả cầu da hổ rồi nói: “Trả bóng cho ta!”

Phái Nhi vốn cực kỳ thích quả cầu ấy, đang ôm trong lòng nghịch rất vui vẻ, liền liếc nhìn cậu ta một cái: “Các người chơi trò bắt bóng, ngươi thua rồi, bóng rơi vào tay ta, tại sao ta phải trả lại?”

Cậu bé kia hung dữ quát: “Bọn ta có mời ngươi chơi cùng đâu, mau trả lại đây!”

Phái Nhi nghe vậy thì khịt mũi một cái, cũng chẳng thèm giận mà lại đưa quả cầu ra trước mặt, dùng ngón tay giữ lấy. Quả cầu da hổ xoay tít trên đầu ngón tay cậu như một con quay. Cậu vừa trêu chọc vừa nói: “Ngươi tới đây mà cướp, cướp được thì là của ngươi.”

Cậu bé kia nhào tới phía trước, mắt thấy quả cầu sắp rơi vào lòng mình, nhưng nó như thể có mắt, lướt qua dưới lòng bàn tay rồi lại thuận thế trượt sang một ngón tay khác của Phái Nhi. Cứ thế vài lần, quả cầu da hổ xoay nhanh như gió, nhất quyết không rời khỏi đầu ngón tay cậu. Chứng kiến cảnh đó, mấy cậu ấm cô chiêu khác đều vô cùng kinh ngạc, vội vàng vây quanh Phái Nhi: “Hay quá, hay quá!”

Phái Nhi trổ tài một phen rồi trả bóng lại cho bọn họ. Thoáng thấy cha mẹ đang đứng cách đó không xa, cậu bé lập tức chạy ùa tới: “Mẹ! Cha!”

Lục Thừa Tự thấy con trai có kỹ năng không tầm thường, liền cúi người xoa đầu cậu bé: “Cái tài này con học ở đâu thế?”

Phái Nhi tự hào nói: “Là Vương thúc dạy con ạ!”

Lục Thừa Tự hơi nhíu mày: “Vương thúc là ai…”

“Vương thúc chính là…”

“Chỉ là một người hàng xóm thôi.” Hoa Xuân ngắt lời Phái Nhi, nàng dắt tay đứa trẻ giao cho vú nuôi: “Chúng ta vào trong thôi.”

Lục Thừa Tự cũng không nói gì thêm, cùng Hoa Xuân bước qua dãy hành lang phía sau sảnh ngang.

Chính viện của lão thái thái tên là Vinh Hoa Đường, nằm ngay trên trục thần đạo của hậu viện toàn bộ phủ Quốc công. Viện rộng năm gian, diện tích cực kỳ lớn, hành lang được chạm trổ đủ loại hoa văn, trông vừa cao ráo, bề thế lại vừa uy nghiêm. Bước chân qua gian xuyên đường, trước mặt sừng sững một bức bình phong bằng ngọc Hòa Điền chạm rỗng vân mây. Vượt qua bức bình phong là một khoảng sân rộng rãi, trong sân bày biện đủ loại bồn hoa, hoa trong bồn được chăm sóc rất tốt, màu sắc rực rỡ, nở rộ thành từng chùm xinh đẹp.

Men theo con đường lát đá giữa sân đi về phía trước, chính là hiên nhà của gian nhà chính.

Trước cửa là các bà quản sự mặc trang phục đủ màu sắc đang đứng chờ, ai nấy đều nín thở tập trung. Thấy phu thê Lục Thừa Tự cùng đến, người thì vén rèm, người thì thông báo, những người còn lại lặng lẽ hành lễ, qua đó có thể thấy gia quy cực kỳ nghiêm ngặt.

Khi đến gần, từ trong phòng truyền ra tiếng cười nói ríu rít, âm thanh vừa phải, không quá ồn ào nhưng cũng không kém phần náo nhiệt.

Bước vào bên trong là một gian đường thiết kế rộng rãi. Phía bắc của gian phòng treo một bức tranh “Tùng Sơn Đồ”, nghe nói là do Tiên đế ban tặng; hai bên treo đôi câu đối đều là những lời ca tụng công đức. Dưới bức tranh đặt một chiếc án dài đầu vểnh chạm sơn mài, bên trên bày biện các loại hoa quả và bát hương.

Vòng qua bức tường chạm khắc ở phía bắc này, chính là gian chính. Hương trầm thoang thoảng vấn vương, một bầu không khí hoa lệ phả ngay vào mặt.

Chỉ thấy ở chính hướng Bắc đặt một bức bình phong thêu thục nữ mười hai tấm, dưới bình phong kê một chiếc sập Thái sư đủ chỗ cho ba người ngồi. Trên sập trải tấm đệm ngồi bằng da cáo dày dặn, phía trước sập đặt một chiếc bàn trà dài sơn mài, trên bàn không thiếu thứ gì từ hoa quả cho đến trà thơm.

Trên sập là một vị lão thái quân tóc bạc trắng đang ngồi ngay ngắn, trên trán thắt dải mạt ngạch, mình mặc áo bối tử dày loại đối khâm thêu chữ “Thọ”. Trông bà là một người cực kỳ phúc hậu, có điều mí mắt hơi sụp xuống, đường vân pháp lệnh bên cánh mũi sâu tựa rãnh mương, toát lên vẻ uy nghiêm dù không hề tức giận.

Hai bên trái phải của bà đặt mấy chiếc ghế bành, vài vị lão gia và phu nhân đang ngồi ở đó, còn lại các nàng dâu, thiếu gia và tiểu thư thì đứng hầu hạ xung quanh. Cả căn phòng đầy ắp người với đủ mọi dáng vẻ và thần thái khác nhau, tựa như một bức họa trải dài rực rỡ.

Vốn dĩ mọi người đang kể chuyện cười gì đó để chọc cho lão thái thái vui vẻ, nhưng thấy phu thê Hoa Xuân vào phòng thì liền dừng câu chuyện lại, đồng loạt nhìn về phía này.

Lục Thừa Tự rất hiếm khi lộ diện, năm năm qua lại càng ít khi về kinh. Trong phủ ngoài huynh đệ ruột thịt, còn có các tiểu thư, công tử là họ hàng xa đang nương nhờ tại các phòng, hôm nay tất cả đều có mặt, ai nấy đều tò mò muốn biết, vị Lục thất thiếu gia danh tiếng lừng lẫy khắp cả nước này là người như thế nào.

Còn Hoa Xuân, dù đã kết hôn được năm năm nhưng đây lại là lần đầu tiên về kinh, trước mặt lão thái thái chẳng khác nào dâu mới, bởi vậy ánh mắt của cả căn phòng cứ không ngừng đổ dồn về phía phu thê hai người.

Ma ma lập tức đặt hai chiếc bồ đoàn trước mặt lão thái thái, Lục Thừa Tự cùng Hoa Xuân bước lên phía trước hành đại lễ.

Hoa Xuân cũng dâng trà lên lão thái thái: “Cháu dâu thỉnh an tổ mẫu.”

Lão thái thái không chút biến sắc, chẳng để lộ cảm xúc gì, chỉ đến khi nàng đứng dậy mới hơi nâng mí mắt nhìn nàng một cái.

Môi đỏ răng trắng, mặt như hoa phù dung, tuy là tuyệt sắc giai nhân nhưng khí độ lại vô cùng trấn tĩnh.

Bà lão gật đầu: “Vào kinh rồi cũng tốt, bên cạnh Tự nhi cần có một người tâm phúc hầu hạ. Con phải nhớ kỹ, từ nay về sau con không còn là cô nương của một gia đình bình thường, hay thiếu phu nhân của riêng một phòng nào nữa, mà là phu nhân của đương triều Tam phẩm Thị lang. Phải thể hiện được khí chất của một phu nhân Thị lang, học hỏi bá mẫu, thẩm thẩm và tẩu tử chút đạo lý nhân tình thế thái, để làm một người hiền thê nội trợ cho Tự nhi.”

Hoa Xuân vốn đã quyết định sẽ hòa ly, nên những lời này đối với nàng cũng chẳng mảy may quan trọng. Nàng cúi đầu vâng dạ: “Cháu dâu xin tuân mệnh.”

Lão thái thái nhìn Lục Thừa Tự đang im lặng một lượt cuối, rồi lại dặn dò Hoa Xuân: “Đông con nhiều phúc, Phái Nhi cũng sắp năm tuổi rồi, hai đứa cũng đến lúc nên sinh thêm cho nó vài đứa đệ đệ muội muội nữa rồi.”

Lời này Hoa Xuân không đáp lại. Lục Thừa Tự thấy nàng không có phản ứng gì, bèn thay nàng nhận lời: “Cháu xin ghi nhớ lời dạy bảo của tổ mẫu.”

Lão thái thái dĩ nhiên không hề hay biết chuyện riêng giữa hai người, bà phẩy tay ra hiệu cho họ ngồi xuống.

Các cô nương tụ tập tại một chiếc bàn vuông phía Tây, các thiếu gia lần lượt ngồi xuống cạnh các lão gia và phu nhân, chỉ riêng các nàng dâu là phải đứng hầu hạ.

Hoa Xuân chỉ đành đứng cạnh mấy vị tẩu tẩu. Cửu thiếu gia Lục Thừa Gia vẫn chưa lấy vợ, còn Bát thiếu phu nhân Tô thị thì trước nay luôn tranh phần hầu hạ lão thái thái, chẳng bao giờ tụ tập vào đám đông mà chỉ lo đứng cạnh bà, vì thế Hoa Xuân đứng lùi lại ở phía cuối.

Hoa Xuân chỉ hận không thể để lão thái thái chẳng nhìn thấy mình, nên nàng đương nhiên cảm thấy an lòng.

Các nha hoàn bắt đầu dâng trà.

Bát thiếu phu nhân Tô thị cũng đang đứng phía trên hầu trà lão thái thái, liếc nhìn Hoa Xuân ở cuối hàng một cái, rồi nói với Đại thiếu phu nhân Thôi thị ở phía đối diện: “Thất tẩu vào kinh quả là một chuyện đại hỷ, sau này mấy người con dâu chúng ta lại thêm phần náo nhiệt, bên cạnh tổ mẫu cũng có thêm người hầu hạ, đúng không?”

Từ xưa đến nay, dâu mới về nhà đều phải học cách hầu hạ bậc bề trên. Theo quy củ của Lục gia, Hoa Xuân sau này cũng phải đến thượng phòng thỉnh an sớm tối mỗi ngày.

Tâm tư của Tô thị rất rõ ràng, nàng ta đang đợi Hoa Xuân bị tổ mẫu của mình quở trách một trận.

Thôi thị im lặng đưa khăn tay cho lão thái thái lau khóe miệng, cũng không tiếp lời này.

Ngược lại, Đại thái thái lên tiếng một câu: “Đúng là đạo lý này. Thê tử của lão Thất này, bắt đầu từ ngày mai, con cứ đi theo ta và các tẩu tẩu của con, hầu hạ sinh hoạt hằng ngày cho lão thái thái.”

Hoa Xuân không cử động, cũng chẳng đáp lại lời nào. Lục Thừa Tự đang ngồi ngay trước mặt nàng, nàng liền từ dưới ống tay áo thò tay ra, nhẹ nhàng chọc chọc vào vai chàng một cái.

Lục Thừa Tự đang trò chuyện với Ngũ gia bên cạnh, bất thình lình bị Hoa Xuân chọc một cái khiến chàng sững người lại.

Một cái chạm này, ý tứ đã quá rõ ràng.

Lục Thừa Tự thầm thở hắt ra một hơi.

Nếu là trước kia, Lục Thừa Tự chắc chắn sẽ không can thiệp vào.

Khắp kinh thành này, có con dâu nhà ai mà không quản gia, không hầu hạ bậc trưởng bối cơ chứ?

Nhưng nay đã khác, thê tử đã đưa đơn hòa ly đến hai lần, lại còn đang giận dỗi với chàng.

Vào cái thời điểm nhạy cảm này, tốt nhất là không nên chọc giận nàng thêm nữa.

Thế là Lục Thừa Tự chậm rãi đứng dậy, rồi hành lễ với lão tổ tông: “Tổ mẫu, Cố thị vừa mới vào kinh, còn lạ nước lạ cái, thân thể lại yếu, chuyến đi này đã lâm bệnh mười mấy ngày rồi. Xin tổ mẫu rộng lòng lượng thứ cho nàng, hãy để nàng tẩm bổ thêm cho khỏe hẳn, trước mắt cứ đi theo sau các tẩu tẩu học hỏi quy củ bản lĩnh, rồi sau này hãy đến hầu hạ tổ mẫu ạ.”

Tính toán của Tô thị bị đổ bể, nàng ta buột miệng phản bác theo bản năng: “Chuyện này không hợp lý cho lắm…”

Lời còn chưa dứt, một ánh mắt lạnh lùng của Lục Thừa Tự đã quét tới, khiến nàng ta sợ hãi lập tức cụp mắt xuống, im bặt không dám nói thêm lời nào.

Lục Thừa Tự liếc nàng ta một cái, rồi mới dời tầm mắt trở lại phía lão thái thái.

Lão thái thái tựa người vào chiếc gối dài, không lập tức lên tiếng. Năm xưa bà nhắm trúng Lục Thừa Tự là để giúp Tô gia trói chặt lấy gã con rể vàng này, sau đó chuyện không thành, kéo theo việc bà cũng chẳng mấy thiện cảm với Hoa Xuân. Thực ra bà cũng không muốn để Hoa Xuân hầu hạ, mắt không thấy thì lòng không phiền.

Thế nhưng, việc Lục Thừa Tự lên tiếng thay cho Hoa Xuân, thực sự đã khiến bà cảm thấy bất ngờ.

Lục Thừa Tự vốn do bà và lão thái gia đích thân nuôi dưỡng và dạy dỗ từ nhỏ, tính tình cháu trai thế nào, bà là người hiểu rõ nhất. Hôm nay quả là chuyện lạ đời, cháu trai lại vì thê tử mà làm trái ý trưởng bối, một việc cực kỳ hiếm thấy.

Nếu đổi lại là những đứa cháu khác, chẳng cần lão thái thái phải ra mặt, đám lão gia và phu nhân ngồi phía dưới đã mắng nhiếc một trận xối xả ngay tại chỗ rồi. Nhưng Lục Thừa Tự thì khác, đứa cháu này sớm muộn gì cũng vào nội các, lời nói của nó có sức nặng, không thể dễ dàng xem nhẹ hay phớt lờ được.

Thêm nữa, lời lẽ của nó lại vô cùng kín kẽ, không một kẽ hở, khiến lão thái thái chỉ còn cách chấp thuận: “Cháu nói cũng có lý.”

Tô thị tức đến mức chu cả môi ra, vẻ mặt lộ rõ sự uất ức và bất mãn.

Lão thái thái liếc nàng ta một cái, ý bảo nàng ta hãy bớt bày trò lại.

Việc ở đây đã xong, Lục Thừa Tự còn phải trở lại triều đình nên cùng với Đại lão gia và mọi người cáo lui, trong gian chính lúc này chỉ còn lại các nữ quyến.

Đại thiếu phu nhân Thôi thị dẫn Hoa Xuân đi giới thiệu với từng người một, không chỉ có các tiểu thư và con dâu trong phủ, mà ngay cả các biểu cô nương cũng đều được nhận mặt một lượt.

Đến giờ Ngọ, tiệc tẩy trần được bày tại sảnh Lưu Ly phía đông thượng phòng của lão thái thái. Sảnh Lưu Ly vốn là một gian sảnh mở dùng để tiếp khách, khi vào thu liền được vây lại bằng các tấm bình phong gỗ, phủ thêm rèm vải dày, bên trong đặt vài chậu than, ấm áp chẳng khác nào một gian phòng sưởi.

Sức khoẻ của lão thái thái vừa mới chuyển biến tốt, không tiện đi lại nhiều, nên ba vị thái thái ở lại dùng bữa cùng bà. Những người còn lại đều kéo đến sảnh Lưu Ly; nam ngồi phía đông, nữ ngồi phía tây, xếp tiệc riêng biệt, ở giữa ngăn cách bởi một tấm rèm ngọc.

Lục Thừa Tự cùng Đại lão gia đã lên triều, Tam lão gia và Tứ lão gia không có ở trong phủ, nên ở đây Nhị lão gia là người có vai vế cao nhất. Phía đám đàn ông chẳng mấy chốc đã lên rượu nóng, uống đến trời đất quay cuồng.

Để tránh việc mấy đứa nhỏ bị ám mùi rượu, người ta đã sắp xếp một bàn nhỏ bên phía nữ quyến cho bọn trẻ. Phái Nhi ăn được một lát thì chạy tót sang phía Hoa Xuân, Hoa Xuân liền chọn món bánh sữa mà cậu bé thích trên bàn để đút cho ăn. Tam thiếu phu nhân Đào thị thấy Hoa Xuân chỉ mải mê lo cho con, bèn đặc biệt gọi Phái Nhi lại: “Phái Nhi, lại đây với Tam bá mẫu nào, để bá mẫu đút con ăn, cho mẹ con nghỉ ngơi một lát.”

Phái Nhi vốn đã dần quen thân với Đào thị, nên cậu bé ngoan ngoãn ngồi nép bên cạnh Đào thị.

Lúc này Hoa Xuân mới bưng bát của mình lên, bắt đầu thong thả dùng bữa.

Bên kia, Nhị thiếu phu nhân Dư thị sai nhũ mẫu dẫn con gái ra một góc ăn bánh ngọt, thoáng thấy cảnh Đào thị làm vậy, đáy mắt lộ ra mấy phần khinh miệt. Nàng ta nói với mọi người: “Ta với Tam đệ muội vào phủ gần như cùng lúc, Tam đệ muội bao năm qua không có con cái, ta cũng lo lắng thay, bèn tốt bụng để muội ấy bế Quỳnh nhi nhà ta một chút cho có hơi hám trẻ nhỏ. Thế mà Tam đệ muội cứ luôn miệng nói mình chưa từng sinh nở, sợ làm ngã Quỳnh nhi nhà ta nên chẳng mấy thân cận. Nay đối với Phái ca nhi lại vui mừng hớn hở, coi như con đẻ, chẳng biết là chê Quỳnh nhi nhà ta là phận nữ nhi, hay là không ưa người làm tẩu tẩu này đây.”

Nhị thiếu phu nhân Dư thị bao năm qua dưới gối chỉ có mỗi một mụn con gái, trong lòng luôn khao khát có được mụn con trai, tính tình vì thế mà trở nên nhạy cảm, chấp nhặt, chỉ một chút chuyện cỏn con cũng có thể lái sang vấn đề này. Nàng ta vừa mở miệng, mấy vị thiếu phu nhân đều thầm than khổ trong lòng.

Đào thị vốn có tính cách nhút nhát, vốn dĩ theo phương châm “thêm một chuyện chi bằng bớt một chuyện”, nên trước nay đối với những lời bới lông tìm vết của người khác, nàng ấy đều chẳng buồn để tâm.

Hoa Xuân không thể ngồi yên nhìn Dư thị chèn ép Đào thị, bèn lên tiếng giải vây giúp nàng ấy: “Nhị tẩu đa nghi quá rồi. Trước kia muội vào kinh muộn nửa tháng, bèn phó thác hài nhi cho Tam tẩu trông nom. Chẳng ngờ Phái nhi vừa gặp Tam bá mẫu đã như thân thiết từ lâu, nó còn chê muội lải nhải, nên mới quấn quýt với Tam bá mẫu như thế.”

Dư thị xưa nay vốn là kẻ cậy lý không nhường người, nhưng hôm nay thấy Hoa Xuân mới chân ướt chân ráo đến kinh kỳ, nàng ta cũng nể mặt vài phần mà không tiếp tục đào sâu vào chuyện đó nữa.

Chẳng bao lâu sau tiệc tan, nắng nhuộm vừa đẹp. Mấy vị cô nương và biểu cô nương trong phủ đều trở về tú đường, theo phó mẫu học cắm hoa, vẽ tranh. Các tức phụ thì dời bước ra dưới hành lang hiên để sưởi nắng, vừa thong thả trò chuyện vừa trông chừng mấy đứa trẻ đang nô đùa giữa viện.

Vừa hay Bát thiếu phu nhân Tô thị và Đại thiếu phu nhân Thôi thị hầu hạ ở thượng phòng cũng vừa trở về. Co trai của Tô thị là Cẩn ca nhi, vừa nhác thấy mẫu thân liền lạch bạch chạy tới, ôm chầm lấy chân nàng ta mà mếu máo: “Mẫu thân, Phái ca ca cướp bóng hổ phù của con!”

Giữa viện, Phái nhi đang dẫn theo đám trẻ còn lại chơi đùa với quả bóng. Thằng bé vốn từ quê mới lên, không nuôi dưỡng theo kiểu nuông chiều lá ngọc cành vàng, quả bóng trong tay nó lúc tung lên cao, khi ném xuống thấp, khi lại đưa sang trái rẽ sang phải, chạy tới chạy lui nhanh như một cơn gió lốc, khắp người toát ra vẻ hăng hái, tràn đầy sinh khí.

Tô Vận Hương nhìn thấy cảnh ấy, trong lòng tự nhiên có chút không vui. Thôi Hiểu Nhàn đứng bên cạnh liền lên tiếng: “Thôi nào, lũ trẻ đùa nghịch với nhau cũng là chuyện thường tình. Cẩn ca nhi, các ca ca đang tranh bóng thì con cũng vào mà tranh, để ca ca dạy cho con xem, vì sao quả bóng kia lại có thể xoay nhanh đến thế.”

Tô Vận Hương nghe vậy cũng thu lại vẻ khó chịu trên mặt, vỗ vỗ vai con trai: “Xem kìa, bình thường mẫu thân bảo con ăn thêm cơm thì con nhất quyết chẳng nghe, giờ người không được rắn rỏi bằng người ta, tranh không lại rồi đúng không? Mau đi chơi tiếp đi!”

Cẩn ca nhi tiu nghỉu buông tay mẫu thân ra, rồi lủi thủi quay lại vườn hoa. Phái ca nhi thấy tiểu đệ vừa đi cáo trạng về với vẻ mặt không mấy đắc ý, liền cười ha hả rồi ném quả bóng sang: “Đệ ném đi, để ta tranh! Nếu ta tranh được thì đệ phải gọi một tiếng ‘ca ca’ đấy nhé!”

Cẩn ca nhi ôm lấy quả bóng, lập tức nín khóc mỉm cười. Đôi mắt của cậu bé đảo liên hồi, rồi ba chân bốn cẳng chạy tót vào bụi hoa, đám trẻ còn lại cũng ùa theo như ong vỡ tổ.

Mấy vị thiếu phu nhân thấy cảnh tượng ấy, đều được một phen cười rộ lên vui vẻ.

Ngũ thiếu phu nhân Giang thị chỉ tay về phía Phái nhi, rồi nói với Hoa Xuân: “Phái ca nhi này thật khéo nuôi, muội nhìn thằng bé xem, mới tới được bao lâu mà đã thành ‘đại ca’ của đám trẻ trong phủ rồi.”

Hoa Xuân nhìn con trai, lòng cũng thấy an ủi phần nào: “Ở dưới quê nó đã thế rồi, muội lại bận rộn không có thời gian quản thúc, thế là nó cứ chạy chơi khắp hang cùng ngõ hẻm, trẻ con mấy nhà quanh đó chẳng có đứa nào là không chơi thân với nó cả.”

Đào thị nghe vậy bèn khẽ liếc mắt nhìn sang, nắm lấy cổ tay nàng mà thủ thỉ: “Thật là khổ cho muội quá.”

Ngũ thiếu phu nhân Giang thị lại tỏ vẻ chẳng mấy để tâm, cười nói: “Tam tẩu thật là dễ xúc động quá, chuyện này có thấm tháp gì mà gọi là khổ, giờ chẳng phải đã khổ tận cam lai rồi sao? Tỷ nhìn Thất đệ mà xem, thật là tuổi trẻ tài cao, trẻ thế này đã thăng tới chức Hộ bộ Thị lang. Chẳng bù cho nhà muội, còn lớn hơn Thất đệ hai tuổi mà năm nay mới trúng Tiến sĩ. Nửa năm trôi qua rồi, giờ vẫn còn đang mài mực chép sử ở Hàn lâm viện, mòn mỏi chờ Lục bộ có chỗ trống đây.”

Tam thiếu phu nhân Đào thị khéo léo an ủi: “Muội đó, thật là chẳng biết thỏa lòng. Khắp kinh thành này, hạng công tử thế gia không dựa vào bóng tổ tiên mà tự mình thi đỗ Tiến sĩ, được mấy người chứ? Ngũ đệ như thế đã là xuất chúng lắm rồi, muội cứ việc thong thả mà chờ hưởng phúc đi.”

Ngũ thiếu phu nhân Giang thị vốn cũng nghĩ như vậy trong lòng, nghe xong bèn mỉm cười không nói gì thêm.

Phía bên kia, Tô Vận Hương cùng Đại thiếu phu nhân Thôi Hiểu Nhàn đã đến ngồi xuống dưới hành lang. Tô thị vốn chẳng ưa gì Giang thị, bèn hừ lạnh một tiếng: “Muội đã bảo mà, Ngũ tẩu xưa nay vốn là kẻ không có lợi lộc thì chẳng bao giờ dậy sớm. Bình thường tẩu ấy chẳng coi ai ra gì, ấy thế mà dạo gần đây lại năng chạy sang viện của Thất tẩu thế, hóa ra là đang mong bợ đỡ Thất huynh, để huynh ấy mưu cầu cho trượng phu nhà tẩu ấy một chức quan khuyết chứ gì!”

Lục Thừa Tự là hạng người nào? Chàng chính là học trò cưng của Thủ phụ, là người tâm phúc ngay trước mặt đương kim hoàng thượng, một tân quý đương triều quyền cao chức trọng, danh tiếng lẫy lừng.

Việc mưu cầu một chức quan cho huynh đệ, đối với chàng mà nói chẳng qua cũng chỉ là một câu nói mà thôi.

Ngũ thiếu phu nhân Giang thị bị đâm trúng tim đen, tức thì thẹn quá hóa giận, xoay người quát trả Tô Vận Hương một câu: “Phải đấy, ta chính là quý mến Hoa Xuân, ta cứ muốn kết thân với Hoa Xuân đấy, thì đã làm sao? Chẳng bù cho hạng người không biết kính trọng tẩu tử, lại còn thiển cận như cô! Trượng phu của ta và trượng phu của cô cùng đi khoa cử, nhà ta đỗ đạt còn nhà cô rớt bảng, cô sinh lòng đố kỵ, nhìn ta không thuận mắt nên mới đi khắp nơi kiếm chuyện với ta chứ gì!”

Tô thị bị nàng ấy xỉa xói đúng nỗi đau, cũng phẫn nộ khôn cùng, chỉ tay vào mặt đối phương mà cãi vã: “Cô giỏi lắm, cô giỏi thì sao không giữ chút khí tiết đi? Đệ đệ ruột bên nhà ngoại cô đang ăn chực nằm chờ trong phủ này, ăn của chúng ta, mặc của chúng ta…”

“Cô!…”

“Thôi nào, tất cả đừng cãi vã nữa.” Tứ thiếu phu nhân Tạ thị thấy hai bên đã tranh chấp đến đỏ mặt tía tai, vội vàng đứng ra dàn xếp: “Ai cũng tốt cả, nhìn xem nhân đinh của Lục gia chúng ta hưng vượng, bất kể là đệ đệ phòng nào cũng đều vô cùng có tiền đồ. Ngũ đệ muội có phúc, mà Bát đệ muội cũng có phúc vậy.”

Tạ thị xưa nay vốn chẳng màng thế sự, không tranh với đời, tính tình hiền lành tựa như Phật Di Lặc. Thế nhưng cứ hễ đến thời điểm mấu chốt thế này, nàng ấy lại thường đứng ra dập tắt tranh chấp, đóng vai người hòa giải.

Nhị thiếu phu nhân Dư thị cũng gật đầu tán đồng. Thấy cơn giận của Tô thị khó tan, nàng ta khẽ vuốt ve mu bàn tay đối phương mà vỗ về: “Phải đấy, Tứ đệ muội nói rất đúng, phủ chúng ta ai nấy đều có phúc phần. Tuy nhiên, nếu muốn luận xem ai là người có phúc khí nhất, thì chẳng phải ai khác ngoài Bát đệ muội đây đâu.”

“Bát đệ muội xuất thân từ danh môn Dương Châu, tổ phụ vốn là Lễ bộ Thượng thư, sau khi tạ thế còn được phối hưởng thái miếu. Gả vào phủ Quốc công làm thiếu phu nhân, bề trên lại chính là cô tổ mẫu ruột của mình, bà cưng chiều muội chẳng khác nào cháu gái ruột, hoàn toàn không phải lo chuyện bị ép lập quy cũ, so với gả về nhà đẻ cũng chẳng khác là bao. Còn nói về phu quân, ai mà không biết Bát đệ là người thương thê tử nhất mực, Bát đệ muội mới đến nghị sự sảnh, Bát đệ đã phải vội vã đuổi theo đưa tận tay cái lò sưởi, phu thê tình thâm ý nồng khiến người ngoài nhìn vào mà phát thèm. Dưới gối muội lại đủ cả nếp lẫn tẻ, còn ai có phúc phần lấn át được muội cơ chứ?”

Nói xong, nàng ta khẽ đẩy nhẹ vào người Tô thị một cái.

Tô Vận Hương được một phen nịnh hót đến mát lòng mát dạ, gương mặt tức thì rạng rỡ hẳn lên. Nàng ta bèn hạ giọng, nói vài câu khách khí: “Nhị tẩu quá khen rồi, chẳng qua cũng là nhờ tổ mẫu thương xót, cho muội gả vào phủ này để có phúc phần làm tỷ muội với các tẩu mà thôi.”

Giang thị quay mặt đi chỗ khác, vẩy mạnh chiếc khăn tay như muốn phẩy đi cơn giận còn sót lại trên mặt, đành nhẫn nhịn nhường nhịn một phen này.

Đại thiếu phu nhân Thôi thị sợ mọi người ngồi không cũng chán, bèn sai bà tử lấy bài lá ra. Hoa Xuân ngồi lại bồi các nàng đánh vài ván bài, mãi đến khi dùng xong bữa tối lúc chạng vạng thì mới trở về phòng.

Phái nhi sớm đã chạy nhảy đến mức mồ hôi nhễ nhại, được nhũ mẫu đưa về thư phòng để tắm rửa thay y phục. Hoa Xuân cùng Tùng Trúc thong dong tản bộ về phía Hạ Sảng Trai, hiềm nỗi chủ tớ hai người không thuộc đường, đi được nửa chừng lại rẽ nhầm lối, cuối cùng đi vòng tới tận khu vực gần phòng tổng quản phía ngoài thùy hoa môn.

Nào ngờ lại tình cờ bắt gặp Tô thị cũng vừa từ phòng tổng quản bước ra.

Gió thu hiu hắt, tựa như những nhát dao mềm cứa nhẹ vào mặt. Nha hoàn của Tô thị xách lồng đèn, dìu nàng ta từng bước chậm rãi bước xuống thùy hoa môn.

“Thỉnh an Thất tẩu!”

Tô thị khoác trên mình chiếc áo choàng bằng sa lông vũ màu hồng mới may, tay đặt lên tay nha hoàn, thong dong không vội vã hành lễ với Hoa Xuân.

Đây là lần đầu tiên hai tức phụ đối mặt riêng với nhau.

Kiểu người luôn thích nổi trội, đi đâu cũng muốn chiếm hết hào quang như Tô thị, thực lòng là Hoa Xuân không ưa, cũng chẳng buồn cùng nàng ta đứng chung một hàng. Nàng chỉ nhàn nhạt đáp lại một tiếng: “Bát đệ muội miễn lễ.”

Tô thị liếc mắt đánh giá Hoa Xuân một lượt, thấy nàng chỉ vận bộ y phục đã ngả màu, trong lòng thầm sinh ý khinh thường. Nàng ta mở lời: “Xin được tạ lỗi với tẩu tử. Ngày tẩu mới đến, muội đang bận hầu hạ tổ mẫu nên không dứt ra được để nghênh đón tẩu, mong tẩu chớ để bụng.”

“Ừm…” Hoa Xuân chẳng màng bận tâm đến nàng ta, nàng chỉ đáp lại một tiếng lãnh đạm.

“Tẩu tử ở trong phủ đã quen chưa? Nếu có chỗ nào không vừa ý, nhất định phải bảo với muội một tiếng, để muội còn liệu đường chu toàn cho tẩu.” Tô thị vốn đang nắm quyền quản lý trung khuy của tứ phòng, lẽ tất nhiên là muốn nhân cơ hội này mà phô diễn địa vị trước mặt Hoa Xuân.

Hoa Xuân vẫn còn đang mải suy tính về chuyện của Quận chúa, nên chẳng nghe rõ nàng ta đang nói gì, lại chỉ “ừm” một tiếng cho qua chuyện.

Lần này thì Tô thị thực sự nổi giận. Nàng ta tự cho rằng mình đã “hạ mình” cúi đầu trước Hoa Xuân, thế mà Hoa Xuân lại chẳng nể mặt chút nào. Cơn giận bốc lên hừng hực, nhìn thấy dáng vẻ điềm nhiên tự tại của Hoa Xuân, nàng ta không nhịn được mà buông lời đâm chọc: “Muội nghe đồn Quận chúa đã để mắt đến Thất huynh rồi, tẩu tử tốt nhất nên đề phòng một chút. À, có một chuyện muội quên chưa nói với tẩu, Quận chúa thuở nhỏ cũng từng thụ giáo tại phủ Thủ phụ, tính ra thì với Thất huynh cũng được coi là đồng môn sư huynh muội đấy.”

Hoa Xuân nghe vậy, đôi hàng mi mới chậm rãi ngước lên.

Những lời này của Tô thị rõ ràng là không có ý tốt.

Con người nàng vốn dĩ là vậy, người ngoài không động chạm đến mình, nàng thà cứ giả ngây giả ngô cho xong chuyện. Nhưng một khi đã có kẻ dám ngang nhiên đụng đến đầu mình, nàng tuyệt đối sẽ không dung thứ cho bất kỳ ai.

Đón lấy lời ấy, nàng thong thả tiến lên phía trước hai bước, dán chặt ánh mắt vào Tô thị một hồi lâu rồi mới cười nhạt mà đáp rằng: “Kẻ nhắm vào phu quân ta đâu chỉ có mỗi Quận chúa. Ta nhớ không lầm, thì năm xưa chính Bát đệ muội cũng từng nghị thân với phu quân ta trước nhất mà, đúng không? Phải chăng đến tận bây giờ muội vẫn còn lưu luyến phu quân ta khôn nguôi? Thực ra hà tất phải khổ thế, ta thấy Bát đệ cũng là bậc nhất biểu nhân tài, ngày đầu gặp gỡ ta đã kinh ngạc như thấy thiên nhân, còn không nhịn được mà gọi nhầm một tiếng ‘phu quân’. Bát đệ chẳng những không giận, lại còn đối với ta vô cùng hòa nhã đáng mến. Một vị phu quân dịu dàng chiều chuộng như thế, biết tìm đâu ra? Cái phúc phận này của Bát đệ muội, ta có muốn cũng chẳng dám tơ tưởng tới. Dù sao hai người họ cũng là một đôi song sinh, diện mạo vốn dĩ chẳng khác biệt là bao, hay là… tỷ muội ta đổi cho nhau chút chơi chơi?”

Lời nói ấy thốt ra nhẹ bẫng như mây khói, nhưng nện vào lòng Tô thị lại nặng tựa ngàn cân.

Tô thị kinh hãi đến mức loạng choạng lùi liên tiếp ba bước, va cả vào hàng cột nơi thùy hoa môn.

Cố thị này không chỉ có dung mạo diễm lệ, mà ngay cả tính tình cũng ra vẻ hiền thục hơn nàng ta. Nghĩ lại ngày hôm ấy, phu quân nàng ta vừa nghe Cố thị gọi một tiếng “phu quân”, là đã hồn siêu phách lạc, tâm thần bất định; nếu như người phụ nữ này còn cố ý trao cho Lục Thừa Đức vài ánh mắt lả lơi, thì chẳng phải hồn vía Lục Thừa Đức sẽ thực sự bị nàng câu mất hay sao?

Trời đất ơi, người phụ nữ này sao mà điên rồ đến thế?

Nàng nhắm vào trượng phu của mình để làm cái gì cơ chứ!

Lục Thừa Đức kia dù có ngàn cái không tốt, vạn cái không hay, nhưng đối với nàng ta thì chẳng có điểm nào để chê, bảo đi hướng Đông tuyệt không dám đi hướng Tây. Một vị phu quân như thế, lẽ nào lại để kẻ khác dòm ngó cho được?

“… Tẩu tử nói lời điên khùng gì vậy?” Tô thị siết chặt ống tay áo, giọng điệu đã bắt đầu lộ vẻ nôn nóng, cuống quýt.

Hoa Xuân mang thần sắc đầy thành kính, khẽ chớp chớp mắt nói: “Bát đệ muội à, cái người tên Lục Thừa Tự kia ai muốn lấy thì cứ lấy đi, ta thà mang chàng ấy ra để đổi lấy một vị phu quân dịu dàng thấu hiểu, ngày ngày bầu bạn bên cạnh mình, ví như… Bát đệ chẳng hạn…”

Tô Vận Hương thấy nàng mặt không đỏ, tim không đập nhanh, ánh mắt sâu thẳm như làn nước đầm, lại nói năng hết sức nghiêm túc, thì cảm thấy như vừa gặp phải quỷ thần, sợ tới mức quay người chạy thẳng.

Hoa Xuân nhìn bóng lưng nàng ta chạy trốn trối chết, chợt cảm thấy thật nhạt nhẽo. Nàng lơ đãng phủi nhẹ vạt áo, xoay người rẽ về hướng Tây. Đến Thùy Hoa môn thì nàng đã nhận ra đường, bèn bước lên dãy hành lang dài nơi mình từng đứng đón Lục Thừa Tự lần trước, bỗng nhiên thoáng thấy một góc áo màu đỏ thẫm vừa lướt qua phía sau cánh cửa.

Người nọ đứng sừng sững dưới ánh đèn vàng mờ ảo, im lìm như một ngọn núi, chẳng còn nghi ngờ gì nữa, chính là Lục Thừa Tự.

Hoa Xuân từ khóe mắt đã nhìn thấy chàng, nhưng nàng vẫn giả vờ như không thấy gì, tiếp tục rảo bước đi thẳng về phía trước.

Tùng Trúc cũng đã phát hiện ra Lục Thừa Tự, cô ấy hoàn toàn không dám ngoảnh đầu lại, chỉ biết dồn sức dìu Hoa Xuân đi tiếp, miệng run rẩy hỏi: “Thiếu phu nhân, người lúc nãy có phải là Thất gia không ạ?”

“Không biết.”

Mà cũng chẳng quan tâm.

Hoa Xuân xách váy trở về Hạ Sảng Trai, nhưng lòng dạ Tùng Trúc thì cứ như lửa đốt. Sau khi đưa chủ tử vào phòng, cô ấy liền bám vào cửa sổ, rồi ngó nghiêng về phía lối đi xuyên đường.

Quả nhiên, chỉ trong vài hơi thở, một bóng hình cao gầy đã sải bước tiến vào viện.

Tùng Trúc tuyệt vọng nhắm nghiền mắt lại, rồi quay người đi chuẩn bị trà nước.

Hoa Xuân vào bên trong thay một bộ thường phục, đến khi vòng qua bức bình phong, thì đã thấy Lục Thừa Tự ngồi bên chiếc bàn vuông dưới kệ bách bảo.

Một ngọn đèn bạc đặt trên mặt bàn, ánh nến bị gió thổi lúc tỏ lúc mờ. Bên cạnh là một tách trà nóng, làn khói nghi ngút bốc lên, che phủ đôi lông mày và ánh mắt lạnh lùng của chàng.

Người đàn ông ấy ngồi ngay ngắn, vạt áo trải phẳng phiu trên đầu gối, không hề mảy may xê dịch.

Hoa Xuân thấy sắc mặt chàng không vui nhưng cũng chẳng buồn bận tâm. Nàng lười nhác tựa vào bức bình phong, tự nhiên như không mà thong thả tô điểm móng tay.

Hồi còn ở Ích Châu, phu quân quanh năm vắng nhà, nàng sống chẳng khác nào một góa phụ. Ngày thường không dám ăn vận quá đỗi kiêu sa, trên mặt cũng chẳng dám dặm chút phấn son, lúc nào cũng giữ mình khuôn phép, an phận thủ thường, chỉ sợ rước lấy những lời đàm tiếu thị phi.

Còn bây giờ ư, lẽ tất nhiên là nàng chẳng còn gì phải lo ngại nữa. Sáng nay Hoa Xuân hái ít hoa ngoài viện, nha hoàn mang về chế thành thuốc nhuộm móng. Trên chiếc kỷ cao cạnh bức bình phong, bày sẵn mấy hộp đủ loại màu sắc, Hoa Xuân cứ thế tô mỗi ngón tay một màu khác nhau.

Trong phòng, một người mải miết uống trà, một người bận rộn trau chuốt cho bản thân, không gian tĩnh lặng đến lạ lùng.

Nàng biết chàng đã nghe thấy.

Chàng cũng biết là nàng biết chàng đã nghe thấy rồi.

>>

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *