Lạc Hoa Xuân – 7 – 8

Chương 7.

Có lẽ do tiết trời thu hanh khô, nên Lục Thừa Tự uống cạn một tách mà vẫn thấy chẳng hề bớt khát. Chàng định rót thêm nhưng đáy chén đã trống không, chỉ còn lại mặt sứ sáng loáng phản chiếu rõ mồn một đôi lông mày và ánh mắt của mình. Đầu ngón tay chàng vân vê rồi đặt nhẹ tách trà xuống, tạo ra một tiếng “cạch” nhẹ nhàng nhưng thanh mảnh.

Lục Thừa Tự vô thức thở dài một tiếng.

Nếu như trước kia chàng chỉ coi nàng đang dở chứng hờn dỗi, thì những gì nàng làm ngày hôm nay đã hoàn toàn vượt khỏi dự liệu của chàng.

Những lời nàng nói với Bát đệ muội có thể coi là quá đỗi lỗ mãng, không chút kiêng dè. Dẫu sao cũng là em dâu ruột thịt trong phòng, ngày ngày chạm mặt, lẽ ra phải nể mặt nhau đôi phần. Hành xử đến nước này, chỉ có thể nói là nàng thực sự muốn hòa ly, tuyệt nhiên không để lại cho mình một con đường lui nào nữa.

Hoặc giả, nàng vốn đã quá oán hận chàng, đến mức không thể không trút giận ra cho bằng được.

Nàng giận chàng vì lẽ gì chứ? Chẳng qua cũng chỉ vì chàng bỏ mặc nàng ở tổ trạch suốt năm năm trời, không thể ở bên cạnh bầu bạn.

Nhưng đó có phải là điều chàng mong muốn đâu?

Chàng phải dầm mưa dãi gió, xông pha trong ánh kiếm bóng đao, mang nàng theo bên mình chẳng phải là đang hại nàng sao?

Để nàng ở lại quê nhà vốn là muốn nàng được sống những ngày tháng bình an, ổn định.

Thế nhưng, khi nữ tử đang trong cơn thịnh nộ, có tranh biện với nàng cũng chỉ vô ích mà thôi.

“Phu nhân đã dùng bữa tối chưa?” Lục Thừa Tự nén lại nỗi bất lực dâng đầy trong lòng, ngước mắt nhìn về phía nàng.

Người phụ nữ kia lười nhác tựa mình vào chiếc kỷ cao, dán mắt vào bộ móng tay rực rỡ sắc màu, đôi đồng tử lấp lánh, chỉ tùy tiện đáp: “Ta ăn rồi.”

Giọng điệu của nàng phóng khoáng chẳng chút sợ hãi, lại mang theo vài phần nhẹ nhõm, vì cuối cùng cũng chẳng cần phải gồng mình diễn kịch nữa.

Lục Thừa Tự nhìn chằm chằm vào nàng, sắc mặt lúc trầm lúc bổng, tối sáng chẳng rõ ràng, lại có vài phần đau đầu: “Ta vẫn chưa dùng bữa.”

“Ồ…” Gương mặt rạng rỡ kia khẽ xoay lại, đôi mắt sáng long lanh, dường như cũng được sắc đỏ tươi thắm của lớp móng tay phản chiếu mà thêm phần rạng ngời. Nàng nở một nụ cười đầy ý nhị: “Vậy thì Thất gia về phòng mình mà dùng thôi.”

Lục Thừa Tự lại chẳng muốn thuận theo ý nàng, ngón tay thon dài khẽ gõ nhẹ lên mặt bàn gỗ: “Ta dùng ngay tại đây.”

Sau đó, chàng liền phân phó cho Tuệ ma ma: “Ma ma đi truyền thiện đi.”

Tuệ ma ma đứng bên ngoài rèm che đầy vẻ bất lực, bà ấy lén liếc nhìn Hoa Xuân một cái rồi mới lên tiếng nhận lệnh.

Hoa Xuân cũng chẳng buồn để tâm đến chàng, nàng cầm lấy ngọn đèn trên chiếc kỷ cao, rồi ung dung tự tại đi vào gian trong.

Gian phòng phía Đông vốn không quá rộng rãi, bên trong và bên ngoài chỉ được ngăn cách bởi một tấm bình phong thêu họa tiết Tô Châu tinh xảo.

Hoa Xuân đặt ngọn đèn lên bàn trang điểm cạnh chiếc giường bạt bộ. Khi thì nàng ngồi xuống đối gương vẽ hoa điền lên trán, lúc lại chê không đủ đẹp mà đứng dậy đi vào phòng tắm rửa sạch. Cứ thế đi đi lại lại, hương thơm từ y phục quyện cùng bóng tóc, dáng người uyển chuyển thanh tao hiện rõ mồn một qua tấm bình phong thêu.

Lục Thừa Tự nhìn thấy rất rõ ràng.

Khung cảnh này đối với chàng mà nói, vừa lạ lẫm lại vừa thân thuộc.

Trong vài lần về thăm quê ít ỏi trước đây, buổi đêm nàng luôn thu xếp phòng ốc sạch sẽ tinh tươm, tự tay thay y phục cho chàng. Sau khi tắt đèn, nàng sẽ đầy vẻ thẹn thùng, tình ý nồng nàn mà nép vào lòng chàng.

Chàng cứ ngỡ đón nàng vào kinh, gia đình đoàn tụ, nàng sẽ vui mừng khôn xiết và đối đãi với chàng vẫn như thuở ban đầu.

Chẳng thể ngờ được, nàng lại ném thẳng một tờ thư hòa ly vào mặt chàng, coi chàng như không khí.

Bữa cơm trôi qua nhạt nhẽo vô vị, Lục Thừa Tự đau đầu day day thái dương, rồi đứng dậy trở về thư phòng.

Hoa Xuân nghe thấy tiếng bước chân của chàng đi xa dần, thì mới ngồi dậy từ trên giường tầng.

Cái gã này lạ thật đấy, mình đã nói đến nước kia rồi, sao chàng vẫn chẳng có phản ứng gì là thế nào?

Giá mà chàng cứ thế nổi trận lôi đình, rồi dứt khoát ký tên vào đơn, có phải là giúp nàng đỡ tốn bao nhiêu công sức bày trò hay không.

Hoa Xuân cảm thấy có chút thất vọng.

Trong khi đó tại gian đông của thư phòng, Phái Nhi đang chăm chú luyện chữ.

Đứa trẻ này ban ngày đã được chơi đùa thỏa thích, nên buổi tối chẳng cần ai phải đốc thúc, tự giác lật mở sách vở và dồn hết tâm trí vào bài vở.

Lục Thừa Tự trở lại thư phòng, chàng đi đến dưới hành lang gian đông, liếc nhìn con trai qua khung cửa sổ. Thấy cậu bé chăm chú như vậy, lòng chàng không khỏi cảm thấy an ủi. Chàng vào phòng cùng Phái Nhi viết xong một trang chữ, tận tình chỉ dẫn những chỗ sai, rồi lại dắt tay con đọc thêm vài chương Luận Ngữ.

Sau đó, chàng quay về thư phòng để xử lý công vụ.

Ngồi xuống chưa đầy một tuần trà, ngoài hành lang bỗng vang lên tiếng bước chân.

Chẳng bao lâu sau, một bóng dáng quen thuộc rẽ vào.

Bát gia Lục Thừa Đức bưng một cuốn sách trên tay, hớn hở bước vào trong thư phòng.

Thấy Lục Thừa Tự đang cúi đầu lật xem văn kiện, hắn cung kính đưa cuốn sách đó qua: “Ca ca, hôm nay đệ đến Quốc Tử Giám, tình cờ gặp được Quốc Tử Giám Tư nghiệp, Cừu lão tiên sinh, ông ấy có dặn đệ mang cuốn sách này về cho huynh.”

Đây vốn là cuốn sách mà Lục Thừa Tự cho mượn, chàng gật đầu tỏ ý đã biết. Vì không mấy mặn mà muốn tiếp chuyện đệ đệ, nên chàng cũng chẳng buồn ngẩng đầu lên.

Thế nhưng Lục Thừa Đức vẫn chưa rời đi, hắn sực nhớ ra một chuyện liền hỏi: “Đúng rồi ca ca, đệ nghe nói hôm nay trong phủ mở tiệc tẩy trần cho tẩu tẩu. Ngặt nỗi hôm nay đệ bận việc không dứt ra được, nên chẳng kịp tham gia. Đệ đang tính thế này, hay là cứ để thê tử của đệ chuẩn bị một bàn tiệc, bốn người nhà chúng ta lại tụ họp riêng một bữa để mừng tẩu tẩu vào kinh, cũng là để bày tỏ lòng kính trọng, huynh thấy sao?”

Lục Thừa Tự nghe vậy, thì chậm rãi đặt chiếc bút lông Hồ Châu trong tay xuống, rồi từ từ ngước mắt lên.

Con người chàng vốn xưa nay luôn lấy lý lẽ để thu phục người, chẳng bao giờ gắt gỏng hay sa sầm nét mặt, lại càng hiếm khi nổi giận, càng không đời nào mất đi lý trí mà giận cá chém thớt. Thế nhưng chẳng hiểu sao hôm nay, đối diện với Lục Thừa Đức, chàng lại chẳng còn chút kiên nhẫn nào nữa.

“Đệ rảnh rỗi lắm sao?”

Lục Thừa Đức bắt gặp ánh mắt lạnh lẽo thấu xương của ca ca mình, mơ hồ cảm nhận được một luồng địch ý nồng nặc: “Không phải… chẳng là tẩu tẩu vào kinh cũng đã gần nửa tháng, chúng đệ vẫn chưa chính thức sang thỉnh an, nên mới muốn…”

“Không cần!” Lục Thừa Tự thu lại cảm xúc, chàng lạnh lùng ngắt lời hắn: “Bảo thê tử của đệ cứ an phận thủ thường, biết điều một chút, đừng có sang trêu chọc nàng ấy nữa, thế đã là cung kính lắm rồi.”

Lục Thừa Đức nghe xong, khuôn mặt trong nháy mắt đỏ bừng vì xấu hổ.

Tâm tư của thê tử mình thế nào hắn còn lạ gì nữa, nàng ấy sợ nhất là tẩu tẩu sẽ thâu tóm quyền quản gia, nên chắc chắn đã âm thầm gây khó dễ cho tẩu tẩu, khiến ca ca phải giận lây sang cả hắn.

Lục Thừa Đức lập tức tạ lỗi: “Lời ca ca dặn dò, ngu đệ xin ghi tạc trong lòng. Lần này về đệ nhất định sẽ quản dạy thê tử nhà đệ cho thật tốt. Chỉ là ca ca cũng biết đấy, Tô thị vốn từ nhỏ đã được nuông chiều quá mức, tính tình có phần ngạo mạn, nhưng thực tâm không có ác ý gì đâu, mong ca ca và tẩu tẩu đại xá cho, đừng chấp nhặt với nàng ấy…”

Lục Thừa Đức trước mặt vẫn đang thao thao bất tuyệt để biện bạch và xin xỏ cho thê tử của mình, thế nhưng Lục Thừa Tự chẳng lọt tai lấy một chữ nào.

“Cái tên Lục Thừa Tự đó ai thích thì cứ việc mà rước lấy, ta chỉ mong đổi chàng ấy lấy một người phu quân dịu dàng, biết quan tâm, ngày ngày ở bên cạnh mình, chẳng hạn như Bát đệ đây…”

“Ra ngoài!” Lục Thừa Tự nhìn chằm chằm vào gương mặt có nhiều nét tương đồng với mình kia, đột ngột quát lên.

Giọng nói của Lục Thừa Đức im bặt ngay lập tức. Hắn bị mắng mà đầu óc mịt mờ chẳng hiểu mô tê gì. Thấy ca ca hiếm khi nổi trận lôi đình như vậy, hắn cam đoan lần này thê tử của mình chắc chắn đã gây ra họa lớn tày đình rồi. Không dám trêu vào cơn thịnh nộ của ca ca, hắn vội vàng xoay người định chuồn thẳng.

Thế nhưng ngay sau đó, từ phía sau lại vang lên tiếng quát trầm thấp của Lục Thừa Tự: “Quay lại đây!”

Lục Thừa Đức suýt chút nữa thì va sầm vào ngưỡng cửa, hắn lại khổ sở quay trở vào, ló đầu ra từ sau chiếc kệ bách bảo: “Ca ca còn có gì sai bảo ạ?”

Lục Thừa Tự dùng đầu ngón tay vê nhẹ cán bút lông, chân mày nhíu chặt, dáng vẻ hệt như đang gặp phải chuyện gì nan giải lắm. Chàng lưỡng lự hồi lâu, cuối cùng cũng chịu mở miệng: “Ta hỏi đệ, ngày thường thê tử của đệ dỗi hờn với đệ, đệ làm thế nào để dỗ dành nàng ta?”

Lục Thừa Đức nghe xong, đôi mắt tức khắc sáng rực lên như bắt được vàng. Té ra nút thắt nằm ở đây chứ đâu!

“Chuyện này huynh hỏi đệ là đúng người rồi đấy!” Lục Thừa Đức vỗ ngực đôm đốp, hiên ngang ưỡn ngực bước trở vào phòng.

Hắn vốn chẳng phải kẻ ngốc, việc Phái Nhi phải dọn sang ở thư phòng cùng Lục Thừa Tự, hắn cũng đã nghe phong phanh. Đều là người từng trải, hắn đương nhiên nhìn ra được manh mối, bèn có ý muốn giúp ca ca hiến kế thoát khỏi cảnh dầu sôi lửa bỏng: “Ca ca cũng đừng trách ngu đệ nhiều chuyện, tẩu tẩu một mình giữ cửa giữ nhà ở Ích Châu suốt năm năm trời, phu quân không ở bên cạnh, chuyện gì cũng phải đơn thương độc mã gánh vác, lại thêm chuyện của Quận chúa xen vào giữa, trong lòng chắc chắn là đang uất nghẹn lắm. Các bậc sĩ phu vốn coi trọng tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ; ca ca dù bận rộn đến mấy cũng nên để mắt tới chuyện hậu đình một chút mới được.”

“Đệ biết ca ca bận rộn chuyện triều chính, chẳng được thong dong như hạng người nhàn rỗi như đệ. Thế nhưng trên đường tan sở tiện tay mua ít đồ ăn vặt, hay lúc phát bổng lộc thì giao tận tay thê tử, thỉnh thoảng mua thêm cho tẩu ấy chiếc vòng tay hay thứ gì đó mà thường ngày tẩu ấy chẳng nỡ mua… những việc đó thực ra chẳng tốn bao nhiêu công sức cả.”

“Phụ nữ mà, cứ dỗ dành một chút là xong ngay thôi.”

Ngày 30 tháng 8, nhằm kỳ đại triều Sóc Vọng. Thiết kỵ Mông Ngột ở phương Bắc tiến đánh vùng Di Lâm, các bộ lại tranh chấp không thôi về vấn đề quân phí; tiền lương nợ của các quận huyện địa phương đã được phát xuống, nhưng lương quan lại ở kinh thành vẫn còn thiếu hụt. Ngày hôm ấy, Lục Thừa Tự bận rộn đến mức chân không chạm đất.

Đến giờ Dậu buổi chiều lúc tan sở, bầu trời lại bắt đầu giăng những hạt mưa bụi lất phất.

Bên dưới có một vị Lang trung của Kim bộ, vì có việc cần bàn bạc nên đã xin đi nhờ xe ngựa của chàng một đoạn.

“Lục đại nhân, dẫu cho hôm nay đã ép được Thái hậu mở nội kho, hứa cấp hai triệu lượng quân phí này, nhưng đây chẳng phải là kế sách lâu dài đâu.”

Lục Thừa Tự lẽ nào lại không biết rõ điều đó: “Lỗ đại nhân, Kim bộ trực tiếp quản lý Diêm chính ti, ta đã tra soát sổ sách mấy năm nay do Diêm chính ti nộp lên, tất cả chỉ là một đống sổ sách giả, nợ nần be bét!”

“Còn phải nói sao!” Lỗ Lang trung vừa nhắc đến chuyện này liền vỗ hai tay vào nhau, lửa giận bốc lên đùng đùng: “Lục đại nhân, đó là Diêm chính ti đấy! Nơi vốn được mệnh danh là túi tiền của Đại Tấn chúng ta, tiền thuế muối thu về mỗi năm chiếm tới một nửa tô thuế của cả thiên hạ. Đáng tiếc là bao năm qua, Diêm chính ti hoàn toàn bị Ty lễ giám thâu tóm trong tay, vị Thượng thư đại nhân nhà chúng ta lại việc gì cũng nghe theo bên đó mà hành sự. Rất nhiều sổ sách căn bản không hề qua tay tôi, chỉ cần Thượng thư đại nhân ký tên, Ty lễ giám đóng dấu là mọi chuyện đều được khỏa lấp qua hết. Nhưng thực chất thì sao, từng thuyền bạc thuế đó đều chảy sạch vào nội kho rồi.”

“Lục đại nhân, theo ý tôi, việc chặn giữ vài thuyền bạc cũng chỉ như muối bỏ bể, ngày ngày tranh cãi với Thái hậu trên triều đường cũng chỉ là giải pháp tạm thời. Suy cho cùng, gốc rễ vẫn nằm ở việc phải thu phục Diêm chính ti về dưới trướng mình, có thế thì sau này quốc khố mới không lo thiếu bạc, mà ngài cũng chẳng còn phải chịu sự kìm kẹp của Thái hậu nữa.”

Lục Thừa Tự lẽ nào lại không nghĩ đến điều đó, chàng day day thái dương rồi gật đầu: “Bản quan cũng đang có ý này.”

Câu chuyện tạm dừng tại đó. Lỗ Lang trung nghe thấy tiếng xe ngựa ồn ã ngoài rèm, thì biết đã vào đến khu chợ sầm uất. Ông vén rèm nhìn ra, thấy tiệm bánh bao “Dương Châu Tam Đinh” quen thuộc đã ở ngay trước mắt, liền cười híp mắt gọi phu xe dừng ngựa.

“Lục đại nhân, phu nhân nhà tôi vốn là người Dương Châu, từ nhỏ đã thích mê món bánh bao Tam Đinh này, nên tôi không thể tháp tùng ngài tiếp được nữa. Tôi phải xuống mua một lồng bánh mang về ‘kính dâng’ cho phu nhân đây.”

Nói xong, ông ấy chắp tay thi lễ, rồi cười híp mắt bước xuống xe.

Lục Thừa Tự hơi thẫn thờ một chút.

Chàng chợt nhớ ra thê tử mình cũng là người Kim Lăng, mà Kim Lăng với Dương Châu chỉ cách nhau một con sông, khẩu vị chắc hẳn cũng chẳng khác biệt là bao. Hay là… chàng cũng mua một lồng mang về nhỉ?

Lục Thừa Tự hạ quyết tâm, sai tuỳ tùng lấy bạc đi mua một lồng bánh bao Tam Đinh.

Màn mưa mờ ảo như sương khói, bóng hoàng hôn dần bao phủ khắp không gian.

Bình thường Lục Thừa Tự hay về muộn, nên ngoại trừ bữa sáng, Phái Nhi đều dùng bữa trưa và bữa tối cùng với Hoa Xuân, hôm nay cũng không ngoại lệ.

Trên chiếc bàn bát tiên ở gian phòng phía Tây, đã bày sẵn sáu món mặn và hai món canh, hai mẹ con đang cùng nhau dùng bữa.

Chẳng mấy chốc, một bóng người mang theo cả hơi lạnh của sương gió và màn mưa bước vào nhà.

Lục Thừa Tự vẫn còn mặc nguyên bộ quan phục trên người, cứ thế sải bước vào Hạ Sảng Trai.

Hoa Xuân nhìn thấy Lục Thừa Tự thì hơi ngẩn người. Trước đây, chàng hoặc là về rất muộn, hoặc chỉ ghé qua ngó một cái rồi đi, hôm nay thật hiếm khi lại bắt đúng vào lúc đang dùng bữa tối thế này.

“Cha!”

Phái Nhi nhìn thấy cha thì vui mừng khôn xiết.

Nể mặt con trai, Hoa Xuân vẫn giữ cho chàng chút thể diện: “Thất gia đã về rồi, ngài đã dùng bữa tối chưa?”

“Chưa!” Lục Thừa Tự đặt hộp bánh bao lên bàn trước, sau đó mới sang chiếc kệ cao bên cạnh để rửa tay.

Phần cơm của Lục Thừa Tự hằng ngày vốn được đưa thẳng tới thư phòng, thấy dáng vẻ này của chàng là muốn dùng bữa tại đây, Hoa Xuân đành phải ra hiệu cho ma ma đi truyền mang phần của chàng sang.

Bên này Lục Thừa Tự ngồi xuống, đẩy hộp bánh bao đến trước mặt Hoa Xuân: “Đồng liêu mua bánh bao mang về phủ, tiện tay cũng đưa cho ta một lồng, nàng nếm thử xem có hợp khẩu vị không?”

Hoa Xuân cảm nhận được từ khóe mắt rằng, chàng đang dán chặt ánh nhìn vào mình, nhưng nàng vẫn chẳng buồn ngước lên. Nàng đặt bát đũa trong tay xuống, nhận lấy hộp thức ăn, lấy lồng bánh bao ra rồi đặt ngay trước mặt Phái Nhi: “Phái Nhi nếm thử xem, đây là bánh bao Tam Đinh của Dương Châu đấy, xem có hợp khẩu vị con không?”

Phái Nhi vốn thừa hưởng sở thích của Hoa Xuân, từ nhỏ đã mê ăn bánh bao, ngửi thấy mùi hương tỏa ra là đôi mắt sáng rực lên. Cậu bé lập tức buông đũa, bốc luôn hai chiếc bánh bao nhét đầy vào miệng.

Hoa Xuân đầy âu yếm xoa xoa đôi má của con trai, rồi cầm khăn tay lên lau miệng cho cậu bé.

Một lồng bánh có tám chiếc thì hầu hết đều đã chui tọt vào bụng Phái Nhi, hai chiếc còn lại vẫn nằm trơ trọi trong lồng. Từ đầu đến cuối, Hoa Xuân chẳng hề động đũa lấy một lần.

Lục Thừa Tự nhìn thấy Hoa Xuân “mềm cứng đều không an” như vậy, giờ đây không chỉ đơn thuần là đau đầu nữa rồi.

Sau khi dùng xong bữa tối được một lát, Lục Thừa Tự lên tiếng: “Tuệ ma ma, bà dẫn Phái Nhi đi tiêu thực đi, ta có chuyện cần bàn bạc với phu nhân.”

Hoa Xuân vốn đã đợi giây phút này từ lâu, nên cũng chẳng hề né tránh. Nàng chậm rãi nhấp một ngụm trà, rồi ngồi sang một bên chờ chàng mở lời.

Tuệ ma ma đương nhiên biết rõ, đôi phu thê này bấy lâu nay vẫn luôn cơm không lành canh không ngọt, bà im lặng dỗ dành Phái Nhi ra khỏi phòng, rồi dắt cậu bé ra phía hành lang chơi đùa.

Lục Thừa Tự đợi đến khi tiếng bước chân của con trai đã đi xa, chàng là người bước vào gian phòng phía Đông trước.

Hoa Xuân nhìn theo bóng lưng chàng một cái, nàng đặt chén trà xuống rồi cũng bước theo sau. Khi đã vào trong phòng, nàng khoanh hai tay trước ngực, tựa lưng vào tấm bình phong, lười biếng nhìn chàng: “Thất gia có gì sai bảo?”

“Phải là ta hỏi phu nhân mới đúng, trong lòng phu nhân có gì cảm thấy bất mãn sao?” Lục Thừa Tự vẫn ngồi trên chiếc ghế bành hôm trước, tư thế vẫn chẳng đổi khác là bao, ánh mắt sắc lẹm của chàng quét về phía nàng.

“Nếu phu nhân có lửa giận trong lòng, chi bằng cứ trút hết lên ta một lần cho thỏa. Có lời gì thì nói ra, có điều gì bất mãn cũng cứ bày tỏ cho rõ ràng. Những gì Lục Thừa Tự này làm được, ta tuyệt đối sẽ thực hiện, chứ đừng mãi cứ hờn dỗi kiểu này, chỉ khiến con trẻ phải chịu thiệt thòi theo mà thôi.”

Hồi nãy nhìn Phái Nhi cứ đi một bước lại quay đầu nhìn lại ba lần mới chịu rời đi, trong lòng chàng cảm thấy chẳng dễ chịu chút nào.

Hoa Xuân không chút biểu cảm, chỉ nhìn chằm chằm chàng hồi lâu, rồi từ từ di chuyển đến ngồi trên chiếc giường La Hán đối diện. Nàng đặt hai tay sang hai bên sườn, tĩnh lặng nhìn thẳng vào mắt chàng: “Thất gia, lúc đầu gả cho chàng, ta cũng từng có lòng hoan hỷ. Chỉ là năm năm qua đã tiêu tốn hết mọi tâm lực của ta rồi… Nhân tình thế thái nhà họ Lục quá phức tạp, bên trên lại có hai tầng cha mẹ chồng, ta không muốn hầu hạ nữa. Sau này ta chỉ muốn sống những ngày tháng một mình yên tĩnh, không muốn nhìn sắc mặt người khác, cũng không muốn thức khuya dậy sớm. Ta thật lòng muốn hòa ly, Thất gia không cần nghi ngờ, càng không cần phải do dự.”

Lục Thừa Tự cảm thấy những suy nghĩ này của Hoa Xuân quá đỗi phi thực tế, chàng cau mày nói: “Nàng gả đến nhà ai mà lại không phải phụng dưỡng bề trên, không phải giúp trượng phu dạy nhi tử?”

Đối mặt với giọng điệu đầy vẻ hiển nhiên của chàng, một nỗi xót xa tức thì dâng lên nghẹn đắng nơi cổ họng, nhưng Hoa Xuân vẫn cứng rắn kìm lại. Nàng lãnh đạm nhìn chằm chằm vào tấm bổ tử, thêu hình khổng tước hàng tam phẩm, tượng trưng cho quyền lực trên ngực áo chàng, rồi bình thản đáp: “Ít nhất thì trượng phu nhà người ta, dù không thể ở bên cạnh mỗi ngày, thì vẫn còn nghe thấy tiếng phản hồi.”

Chẳng giống như nàng, cái lần sinh nở ấy, nàng đã dạo quanh một vòng nơi cửa tử, đau đớn suốt một ngày một đêm, gọi trời trời không thấu, gọi đất đất chẳng hay.

Lục Thừa Tự tức khắc á khẩu không trả lời được, nói cho cùng thì năm năm chia cách đã làm nguội lạnh trái tim nàng.

Gió đêm chầm chậm thổi vào, lướt qua làn khói hương vừa thắp trên chiếc kỷ cao bên cửa sổ, khiến làn khói ấy nằm ngang ngăn cách giữa hai người.

Cổ họng Lục Thừa Tự như nghẹn lại, đôi bàn tay đang đặt trên đầu gối theo bản năng hơi nhích về phía trước: “Phu nhân…”

Nhìn gương mặt lạnh nhạt đến mức không gợn lấy một chút sóng lòng của Hoa Xuân, Lục Thừa Tự nhắm mắt lại, giọng điệu cũng dịu xuống: “Lúc đầu nàng đang mang thai, sau này khi ta nam hạ, đứa trẻ lại còn quá nhỏ. Bản thân ta khi ấy còn chưa biết sống chết ra sao, nay ở Hà Đông, mai đã ở Hà Tây, thật không tiện để mang nàng theo cùng, sau đó thì…”

“Mọi chuyện đã qua rồi.” Hoa Xuân ngắt lời chàng, nàng ngước mắt lên một lần nữa, thần sắc đã khôi phục lại vẻ bình thản như thường lệ: “Mong Thất gia xem xét nỗi vất vả của ta trong năm năm qua mà cho ta tự do, mau ký vào đơn hòa ly này đi.”

Sắc mặt của Lục Thừa Tự biến đổi, chàng mím môi nhìn nàng hồi lâu, giọng điệu đanh thép: “Phu nhân, hòa ly là chuyện không thể nào. Những việc khác ta đều có thể thuận theo nàng, riêng điều này thì không có gì để thương lượng cả.”

Lửa giận trong lòng Hoa Xuân bùng lên ngay tức khắc, nàng đứng bật dậy nói: “Tại sao?”

Lục Thừa Tự cũng đứng lên theo nàng, chàng kiên nhẫn giải thích: “Nàng là thê tử kết tóc của ta. Lục Thừa Tự ta vừa mới thăng quan tiến chức đã ruồng bỏ nàng, vậy ta còn là con người nữa sao?”

Chàng vẫn chưa đến mức làm ra loại chuyện bội nghĩa bạc tình như thế.

“Ta không quan tâm!”

“Nhưng ta quan tâm.”

Hoa Xuân bắt đầu nổi giận, vốn dĩ nàng muốn đôi bên chia tay trong êm đẹp, nàng thật sự chẳng muốn phải làm mình làm mẩy với chàng. Nàng đứng dậy, từng bước một ép sát lại gần, nhìn thẳng vào gương mặt bình thản kia, rồi gằn từng chữ một: “Lục Thừa Tự, chàng dám nói rằng, lúc mới thành hôn, chàng chưa từng chê bai ta không?”

Lục Thừa Tự ngẩn người. Chiếc đèn lồng sáu mặt bằng sừng dê treo trên đỉnh đầu tỏa xuống một vùng ánh sáng rạng rỡ, bao phủ lấy thân hình chàng. Ngũ quan sâu sắc thanh tú, phong thái tựa chi lan ngọc thụ, lại có tổ phụ là Nhất phẩm Quốc công, vốn là một vị thiếu công tử danh môn sống trong nhung lụa, lại xuất thân Trạng nguyên, lẽ nào lại cam lòng cưới con gái của một quan viên bỏ tiền mua chức?

Chẳng qua là ván đã đóng thuyền, lại phải giữ chữ tín với đời mà thôi.

Chàng không có lựa chọn nào khác.

Tình thế triều đình hiện tại đang vô cùng hiểm hóc, các phe phái đấu đá lẫn nhau, người vợ tào khang bên cạnh suốt năm năm trời, mà lại đòi hòa ly vào đúng thời điểm nhạy cảm này, thì nước bọt của đám quan Ngự sử cũng đủ để dìm chết chàng rồi.

Lục Thừa Tự hơi nâng mí mắt, thản nhiên nói một cách cực kỳ bình tĩnh: “Phu nhân, chuyện quá khứ cứ để nó trôi qua đi. Ở chỗ Lục Thừa Tự ta không có hai chữ hòa ly, sau này chúng ta hãy cứ chung sống cho tốt đi.”

Gió thổi xào xạc lướt qua, thổi rụng một lớp hoa quế vàng đầy mặt đất.

Hoa Xuân đứng dưới cửa sổ, dõi mắt theo bóng chàng rời khỏi xuyên đường, thật lâu vẫn không thu hồi tầm mắt. Miếng hoa lụa trong tay bị nàng bẻ đi bẻ lại vẫn không nguôi giận. Đúng lúc này, một bóng người lách nhanh vào phòng.

“Cô nương!”

Là Tùng Đào.

Hoa Xuân lập tức quay người lại, đầy mong chờ hỏi: “Có tin tức gì chưa?”

“Có rồi ạ!” Tùng Đào phủi đi lớp sương gió trên người, ngước mắt nói: “Ngày mai mùng một, Thường Dương quận chúa sẽ tháp tùng Vương phi ra ngoại thành, đến chùa Long Các thắp hương.”

Quả đúng là “sau cơn mưa trời lại sáng”, mọi chuyện bỗng chốc trở nên thông suốt hơn.

Hoa Xuân mỉm cười, khẽ vuốt ve hàng lông mày của cô ấy: “Mau đi chuẩn bị đi, ngày mai chúng ta cũng đi.”

Chương 8.

Hoa Xuân vốn chẳng thông thuộc kinh thành, cũng không tiện đơn thương độc mã ra ngoài, nên ngay trong đêm nàng đã đến khẩn khoản nhờ vả Tam tẩu Đào thị.

“Muội bị nhốt trong phủ bấy lâu nay cũng thấy bí bách, muốn ra ngoài hít thở chút không khí. Nghe danh chùa Long Các ở ngoại thành cực kỳ linh ứng, muội định bụng đến đó cầu một lá bùa bình an, chẳng hay tẩu tẩu có thể đi cùng muội không?”

Lúc nàng sang thì vừa vặn bắt gặp Ngũ thiếu phu nhân Giang thị, cũng đang ngồi chơi trong phòng Đào thị, Giang thị cười nói: “Tẩu tẩu nhiều năm vẫn chưa có con, hay là nhân cơ hội này cũng đi cầu một lá bùa cầu con xem sao?”

Hoa Xuân cũng có ý đó, nàng bèn nhìn về phía Đào thị.

Đào thị ngồi dưới ánh đèn dầu, dáng vẻ dịu dàng và tĩnh lặng. Nghe thấy lời ấy, nàng ấy chỉ khẽ nắm chặt chén trà rồi mỉm cười một cách cực kỳ nhạt nhẽo.

Bùa cầu con giấu dưới gối của nàng ấy đã sắp chất cao như núi rồi, liệu còn có ích chi nữa đây.

Nàng ấy không có con, vốn dĩ chẳng phải là chuyện của mấy tấm bùa cầu tự.

Thế nhưng ngoài mặt, nàng ấy vẫn nói: “Được thôi, ta đi cùng mọi người.”

Sáng sớm hôm sau, Đào thị sai ma ma đến bẩm báo với Đại thái thái sắp xếp việc này. Đại thái thái liền sai người chuẩn bị xe ngựa, cắt cử thêm vài bà tử và gia đinh đi theo hộ tống. Thông thường, phủ đệ bình thường không được phép nuôi dưỡng thị vệ riêng, nhưng để bảo đảm an toàn cho nữ quyến khi ra ngoài, các gia đình quan lại vẫn thường bí mật chiêu mộ những tay đấm có chút võ nghệ, cho cải trang thành tiểu sai hoặc gia đinh; quan phủ cũng thường mắt nhắm mắt mở cho qua chuyện này.

Ở Lục phủ, những hạng người như vậy không hề ít.

Sáng sớm hôm sau, Hoa Xuân giao Phái Nhi cho Tuệ ma ma và vú nuôi Thường ma ma, rồi dẫn theo Tùng Trúc và Tùng Đào ra ngoài.

Nữ quyến trong phủ Quốc công đi lại không phải là chuyện nhỏ. Từ sớm, bà tử quản việc đối ngoại, đã cầm hối phiếu của Đại thái thái đến kho bạc của phủ để đổi bạc dâng hương. Đồng thời, phủ cũng sắp xếp năm bà hầu thô kệch khỏe mạnh, cùng sáu gia đinh đi theo hộ tống. Cộng thêm các tỳ nữ thân cận và ma ma của các vị thiếu phu nhân, đoàn người gồm năm, sáu cỗ xe ngựa nhộn nhịp tiến về phía ngoại ô phía Đông.

Chùa Long Các tọa lạc gần hồ Yến Tước, thuộc vùng ngoại ô phía Đông, bên ngoài cửa Đông Tiện Môn.

Nơi đây non xanh bao bọc, đồng nội xanh rì, xung quanh chùa còn trồng một rừng phong tuyệt đẹp. Đến độ cuối thu này, sắc vàng rực rỡ phủ kín khắp núi rừng, nhìn từ xa tựa như những áng mây rực rỡ hay ráng chiều lung linh, vô cùng diễm lệ.

Không ít nữ quyến trong thành tìm đến đây chính là vì cảnh sắc này. Thật đúng lúc hôm nay trời thu trong xanh cao vời vợi, trước cổng chùa Long Các người xe qua lại tấp nập, đông đúc không ngớt. Nhà họ Lục vốn là danh gia vọng tộc có tiếng trong triều, họ đã cử một bà tử đi tiền trạm từ trước, nên khi nhóm người Hoa Xuân vừa xuống xe, đã có khách tăng ra đón tiếp. Ba vị thiếu phu nhân cùng dắt tay nhau đi từ cổng sơn môn, dọc theo bậc thang đá mà leo lên Đại Hùng Bảo Điện.

Đến được nơi này thì cũng coi như đã tới lưng chừng núi. Đứng bên cạnh cột đá chạm khắc ở quảng trường trước điện, người ta có thể phóng tầm mắt nhìn xa về phía thủy quan cổng Đông Tiện Môn. Những tòa thành lầu uy nghiêm của kinh thành san sát nối đuôi nhau, trải dài đến tận phía chân trời, tạo nên một khung cảnh vô cùng hùng vĩ.

Đào thị và Giang thị thường xuyên tới đây nên không lấy gì làm lạ, chỉ đứng nghỉ chân một lát bên quảng trường rồi định tiến vào nội điện. Ngược lại, Hoa Xuân lần đầu gặp cảnh này nên không tránh khỏi lưu luyến, bèn khẩn khoản xin hai vị tẩu tẩu: “Các tẩu cứ vào lễ Phật trước đi ạ, muội muốn đi dạo quanh đây một chút, lát nữa sẽ quay lại tìm mọi người sau.”

Giang thị cười nói: “Hoá ra đệ muội cũng là người ham chơi đấy, không lo lễ Phật trước mà đã lo đi chơi rồi, như thế này là bất kính với Phật tổ đấy nhé.”

Đời này, Hoa Xuân cũng được coi là đã trải qua thăng trầm, nếm đủ nóng lạnh của nhân gian, nàng vốn chẳng tin vào chuyện quỷ thần, bèn vội vàng tạ lỗi: “Muội thấy phong cảnh nơi này cực đẹp, các tẩu tẩu hãy lượng thứ cho muội một chút, để muôi đi dạo loanh quanh rồi quay lại sau.”

Thấy nàng lộ rõ vẻ tò mò trên mặt, Đào thị cũng không muốn làm nàng mất hứng, bèn dặn dò: “Chúng ta sẽ đến Đại Hùng Bảo Điện trước, sau đó đi ra từ cửa tây ở hậu viện là sẽ tới miếu Thiên Thủ Quan Âm, cuối cùng cầu bùa bình an xong mới về viện dành cho khách nghỉ ngơi. Muội tự tính toán trong lòng, đừng để tìm sai chỗ đấy.”

“Đa tạ tẩu tẩu.”

Chờ hai người vào trong điện, Hoa Xuân dẫn theo Tùng Trúc và Tùng Đào đi vòng qua phía tây. Tìm được một nơi hẻo lánh, nàng liền dặn dò Tùng Đào: “Em đi nghe ngóng hành tung của Quận chúa, ta sẽ đợi em ở bên cạnh hồ phóng sinh.”

“Vâng.” Tùng Đào xoay người, nhanh chóng hòa mình vào dòng người đông đúc.

Hoa Xuân phía bên này cùng Tùng Trúc đến viện khách trước. Nàng cố ý cởi bỏ chiếc áo bối tử màu xanh nhựa thông đang mặc trên người, thay bằng một bộ trường sam tay rộng, phối hai màu đỏ xanh xen kẽ; lại cắm cùng lúc hai chiếc trâm vàng cùng bộ trâm cài đầu hình hoa sen bằng đá thanh kim. Thoạt nhìn qua, cách phối đồ này chẳng hề cao sang, màu sắc rườm rà, toát lên chút phong thái của chốn phố thị tầm thường.

Sau đó, nàng mới cùng Tùng Trúc tới hồ phóng sinh. Nơi này người đông nườm nượp, không ít tiểu thư công tử trẻ tuổi đều đang tung đồng xu bên hồ, tiếng cười nói hết đợt này đến đợt khác vang lên, còn ồn ào náo nhiệt hơn cả nơi bảo điện.

Hai chủ tớ lánh vào dưới một hành lang hiên nhà để đợi, chưa đầy một hơi thở đã thấy Tùng Đào chen ra từ một lối đi hẹp phía đông, vẻ như đang tìm bọn họ. Tùng Trúc vội vàng tiến lên ra hiệu, Tùng Đào phát hiện ra Hoa Xuân liền rảo bước đi tới, ghé sát vào nàng nói:

“Tương Vương phi chắc là đang lễ Phật ở Phật Kinh các, còn Quận chúa thì đang ngồi chơi ở phòng nghỉ phía dưới mạn tây của các. Nô tỳ đã lén nấp dưới chân tường sau nghe ngóng được một chút, vị Quận chúa kia đang ở trong phòng nổi trận lôi đình, có vẻ là chê Vương phi gò bó, quá nhàm chán. Nô tỳ đã theo lời dặn của người, cố ý tung tin người đến chùa Long Các thắp hương ra ngoài, cô nương cứ đợi một lát xem vị Quận chúa này có cắn câu hay không?”

Chuyện này vốn dĩ đều được giữ kín với Tùng Trúc. Sau khi nghe xong những lời này, Tùng Trúc không khỏi ngơ ngác, trong lòng thầm dấy lên mấy phần lo âu: “Thiếu phu nhân, người làm thế này là có ý gì ạ?”

“Em đừng hỏi, cũng không được tiết lộ ra ngoài, cứ việc đi theo ta là được, rõ chưa?”

Tùng Trúc vốn dĩ cũng là người có tâm tư linh hoạt. Quan sát suốt nửa tháng qua, cô ấy thấy cô nương chẳng hề gần gũi với cô gia, hòm xiểng hồi môn vẫn để im bất động, cô ấy đã thầm sợ rằng người nảy sinh ý định rời đi. Hôm nay thấy người sắp xếp mọi chuyện như vậy, cô ấy càng thêm khẳng định suy đoán của mình. Tuy lòng không khỏi lo âu, nhưng đáng tiếc chuyện của chủ tử cũng không đến lượt một nô tỳ như cô ấy định đoạt, chỉ đành thưa: “Nô tỳ đều nghe theo sắp xếp của thiếu phu nhân ạ.”

Sau khi đã buông mồi, Hoa Xuân liền yên tâm ngồi chờ ở bên hồ phóng sinh.

Thường Dương quận chúa lúc này đang bị Vương phi ép vào mật thất chép kinh Phật. Đang chép đến mức phát hỏa trong người, thì bỗng đâu một tiểu thái giám lách người vào cửa, bẩm báo: “Quận chúa, quận chúa! Tiểu nhân nghe ngóng được, vị Cố thị, thê tử của Lục Thị lang, hôm nay cũng đến chùa Long Các thắp hương đấy ạ!”

Bên cạnh bất kỳ vị chủ tử kiêu căng hống hách nào, cũng chắc chắn sẽ có một lũ nô tài làm càn, tên tiểu thái giám này chính là một kẻ như thế. Thấy quận chúa đang buồn bực không vui, hắn liền vắt óc tìm cách kiếm trò tiêu khiển cho cô ta.

Lục Thừa Tự vốn là một “tâm bệnh” bấy lâu nay của Thường Dương quận chúa. Thuở nhỏ, khi còn ở phủ Thủ phụ, cô ta đã từng gặp chàng một lần. Thiếu niên mười mấy tuổi đầu khi ấy có dáng vẻ ngọc thụ lâm phong, phong thái chính trực lỗi lạc, lại khiêm nhường ít lời, khí chất xuất chúng vô cùng, cứ thế mà lọt vào mắt xanh của cô ta. Đáng tiếc là còn chưa kịp để cô ta tìm đến, thì Lục Thừa Tự đã quay về Ích Châu rồi.

Nhiều năm sau, trong một lần về nhà ngoại nghỉ ngơi đúng vào tiết Hoa Triều, cô ta đã hoán đổi y phục với nữ tỳ để trốn ra ngoài chơi. Chẳng ngờ lại vô tình đụng phải một toán cướp, chúng bắt giữ cô ta cùng mấy cô nương khác trong đình, định bụng ép tất cả phải lên thuyền tặc.

Cũng may khi ấy có một nam tử thanh tú thoát tục cưỡi bạch mã đi ngang qua, tựa như thần tiên từ trên trời giáng xuống cứu giải cho bọn họ. Cuộc tương phùng bất ngờ nơi cách xa nghìn dặm ấy, đã khiến Thường Dương quận chúa ngày đêm nhung nhớ, sau khi về kinh liền hạ quyết tâm không phải Lục Thừa Tự thì chẳng gả cho ai.

Nào ngờ vừa dò hỏi thì hay tin Lục Thừa Tự đã cưới vợ sinh con, khiến cô ta được một phen khóc lóc thảm thiết. Về sau nghe nói, người phụ nữ kia chẳng qua chỉ là con gái của một viên quan mua tước, cô ta chỉ thấy hạng người ấy đã làm vấy bẩn “Lục lang” của mình, thế nên mới quyết tâm phải giành lấy Lục Thừa Tự cho bằng được.

Khổ nỗi Lục Thừa Tự kia lại là kẻ “mềm cứng đều không ăn”, chàng dứt khoát tuyên bố đời này chỉ cần một mình Cố thị, một ngày là vợ, cả đời là vợ, tuyệt đối không bao giờ thay đổi. Lời tuyên bố ấy khiến cô ta tức đến mức hai ngày không ăn không uống, suýt nữa thì ngất lịm đi.

Cô ta vô cùng tò mò, rốt cuộc là hạng nữ nhân thế nào, mà lại có thể khiến “Lục lang” của cô ta mê muội đến mức thần hồn điên đảo như vậy.

Kết quả là, ngay hôm nay lại tình cờ gặp được sao?

“Mau, đưa nàng ta đến kiến diện bản quận chúa!” Thường Dương quận chúa quăng mạnh cán bút sang một bên, tinh thần lập tức phấn chấn hẳn lên, hạ quyết tâm phải hội ngộ để “cân não” với vị Cố thị kia một phen.

Mệnh lệnh vừa ban xuống, Quận chúa liền đi thẳng tới chiếc ghế bành ở phía Bắc phòng khách ngồi xuống, bày ra một tư thế hiên ngang, bệ vệ như đang trấn giữ đại đàng.

Một lát sau, ánh sáng nơi hành lang phía trước tối sầm lại, chỉ thấy một nữ nhân thướt tha tiến bước đi vào. Nhìn cách ăn vận, nàng ta chẳng hề có lấy một chút khí chất của một phu nhân quyền quý, thần sắc lại còn có vẻ run rẩy, e dè. Quận chúa thấy vậy liền thất vọng tràn trề: “Ngươi chính là Cố thị, thê tử của Lục lang đó sao?”

Lục lang…!

Hoa Xuân và Lục Thừa Tự thành hôn năm năm, ngay cả nàng cũng chưa từng gọi chàng một tiếng “Lục lang” như vậy.

Tiếng “Lục lang” này khiến Hoa Xuân suýt nữa thì buồn nôn. Nàng nhìn Quận chúa, rồi chắp tay khom mình hành lễ: “Thần phụ Cố thị xin thỉnh an Quận chúa.”

Chẳng đợi Quận chúa kịp thẩm vấn, nàng đã tỏ vẻ vồn vã ngay: “Vừa rồi ở quảng trường bên cạnh hồ phóng sinh, gặp được công công của Vương phủ, thần phụ vừa kinh ngạc vừa vui mừng. Dẫu cho hôm nay Quận chúa không tuyên triệu, thì thần phụ vốn cũng định đến xin được yết kiến người.”

Thường Dương Quận chúa nghe vậy thì sững người, trong lòng bỗng dấy lên vài phần tò mò: “Ngươi nói thử xem, ngươi tìm bản Quận chúa có việc gì?”

Hoa Xuân lại vái chào một lần nữa: “Cầu xin Quận chúa hãy giúp thần phụ được hòa ly với Lục… Lục đại nhân.”

Đôi mày của Thường Dương Quận chúa khẽ nhướn lên đầy kinh ngạc, cô ta sải bước tiến lại gần: “Ngươi mà lại muốn hòa ly với Lục lang sao?”

“Chẳng phải sao?” Hoa Xuân ngước mắt, cũng nhân cơ hội này đánh mắt quan sát vị Quận chúa này một lượt. Tuy xuất thân cao quý, nhưng cách ăn vận của cô ta lại không quá xa hoa, chỉ khoác trên mình chiếc áo choàng cổ tròn màu xanh thẫm dệt chỉ vàng, tóc búi kiểu nam nhân, ánh mắt sáng quắc đầy vẻ bức người, trông có vài phần khí chất khó phân biệt nam nữ. Có thể nhìn ra ngay, đây là một thiếu nữ hống hách nhưng tâm cơ chẳng có mấy sâu xa.

“Chẳng giấu gì Quận chúa, thần phụ từ lúc thành hôn đã không được Lục Thừa Tự kia yêu thích. Chàng ta bỏ mặc vợ con ở quê cũ suốt năm năm trời, trong lòng thần phụ oán hận đến tột cùng. Thử hỏi Quận chúa, có người phụ nữ nào lại cam lòng không phòng chiếc bóng suốt năm năm ròng rã?” Hoa Xuân nói đến đây, nơi đáy mắt ẩn hiện vài phần lệ quang và sự phẫn uất: “Vậy nên khi nghe tin Quận chúa để mắt đến chàng ta, thần phụ chẳng nói hai lời, lập tức viết một bức thư hòa ly, muốn thành toàn cho chàng ta và Quận chúa!”

Thường Dương Quận chúa nghe xong thì vô cùng chấn động, thấy Hoa Xuân nước mắt chực trào, cô ta không kìm được mà nắm lấy cổ tay Hoa Xuân: “Ngươi lại có thể thông tình đạt lý đến thế sao?”

Hoa Xuân đầy vẻ thấu hiểu mà nói: “Thần phụ chẳng qua chỉ là con gái của một viên quan mua tước, sao có thể xứng với vị Trạng nguyên đương triều, Hộ bộ Thị lang hàm chính tam phẩm cho được? Duy chỉ có Quận chúa đây, với dung mạo như thiên tiên, lại là dòng dõi hoàng gia cao quý, thì mới thực sự là đôi lứa xứng đôi với chàng.”

Những lời này lọt vào tai khiến Thường Dương Quận chúa vô cùng đắc ý. Cô ta nhân tiện cũng đánh giá Hoa Xuân một lượt từ đầu đến chân, thầm nghĩ nữ nhân này tuy có nhan sắc, nhưng toàn thân lại toát ra vẻ dung tục của chốn thị thành, gả nàng cho Lục Thừa Tự đúng là không ổn chút nào.

“Có điều, trước đây ta cũng đã nói với Lục Thừa Tự y như vậy, nhưng chàng nhất quyết không chịu!”

“Chẳng phải sao!” Hoa Xuân cũng tỏ vẻ giận dữ, lại thêm vài phần đồng lòng như cùng chung chiến tuyến với Quận chúa. Nàng rút từ trong tay áo ra bức thư hòa ly kia, hai tay dâng lên cho Thường Dương Quận chúa: “Từ khi vào kinh đến nay, bức thư hòa ly này tôi đã đưa cho chàng tận hai lần rồi. Nhưng vị Lục lang này lại cứ tự cho mình là bậc quân tử, không muốn mang danh ruồng bỏ người vợ tào khang để thiên hạ đàm tiếu. Dẫu cho tôi có khuyên giải thế nào, chàng cũng cắn răng không chịu ký. Chính vì thế, hôm nay tôi chỉ còn cách cầu xin đến trước mặt Quận chúa mà thôi!”

Sau khi nghe rõ đầu đuôi ngọn ngành, Thường Dương Quận chúa chép miệng cảm thán một hồi, nhưng cô ta cũng chẳng dễ bị lừa đến thế. Cô ta không nhận lấy bức thư hòa ly kia mà lùi lại vài bước, nheo mắt nhìn Hoa Xuân đầy vẻ dò xét: “Cố thị, Lục Thừa Tự từ thuở thiếu thời đã được lòng các tiểu thư khuê các trong chốn quan trường. Chàng không chỉ có xuất thân tốt mà còn là bậc tài hoa lỗi lạc, dung mạo lại tuấn tú vô song. Ngươi mà lại nỡ bỏ chàng sao?”

Hoa Xuân nghe vậy liền thở dài một tiếng, vẻ mặt có chút ngần ngại như khó lòng mở miệng: “Quận chúa, ban đầu thần phụ cũng có lòng ngưỡng mộ, nhưng ngặt nỗi trái tim chàng vốn không đặt nơi thần phụ, thần phụ hà tất phải khổ sở đeo bám làm chi. Cũng không giấu gì Quận chúa, suốt năm năm chàng không ở bên cạnh, trong lúc lòng nguội lạnh như tro tàn, thần phụ đã… đã có ý trung nhân khác rồi!”

Lời này tựa như sấm sét giữa trời quang, đánh mạnh vào tâm trí của Quận chúa. Cô ta một lần nữa sấn tới, siết chặt lấy tay Hoa Xuân: “Lời này là thật sao?”

“Chuyện hệ trọng thế này, sao tôi dám lừa gạt người…” Gương mặt Hoa Xuân thoáng hiện lên vẻ thẹn thùng: “Nếu không phải vậy, tôi việc gì phải cuống cuồng đòi hòa ly cho bằng được chứ?”

“Chỉ tiếc là Lục Thừa Tự kia quá đỗi cổ hủ và lạc hậu, chàng coi danh tiếng còn nặng hơn cả sinh mạng, cứ khăng khăng không muốn làm kẻ vong ơn bội nghĩa, sống chết cũng chẳng chịu đồng ý.”

Lời này rất khớp với tính tình của Lục Thừa Tự, Thường Dương quận chúa không chút mảy may nghi ngờ.

“Lục lang lấy chữ tín làm trọng ở đời, không muốn ruồng bỏ ngươi cũng là lẽ thường tình.”

Vốn dĩ ban đầu Tương Vương phủ vẫn còn lo ngại cái danh ác độc, là kẻ phá hoại nhân duyên nhà người khác, nên chưa muốn ra tay. Nay chính bản thân Cố thị đây đã chủ động xin được nhường đường, thì còn gì phải chần chừ nữa? Chỉ cần vào cung cầu xin Thái hậu một phen, chuyện này coi như xong xuôi rồi.

“Đã như vậy, chuyện này cứ giao cho ta lo liệu.”

Hoa Xuân lại nói thêm: “Tuy nhiên, thần phụ đã có một mụn con trai, Lục Thừa Tự chắc chắn sẽ không đời nào cho phép thần phụ mang thằng bé đi cùng, kính mong Quận chúa hãy đối xử tốt với nó!”

“Chuyện nhỏ!” Thường Dương Quận chúa lúc này chỉ cần vị phu quân mỹ nam kia thôi, chứ nào có bận tâm việc chàng đã có con hay chưa, cô ta hào sảng đáp: “Ta nhất định sẽ coi nó như con đẻ của mình.”

Câu chuyện nói đến đây vốn dĩ đã coi như viên mãn, nhưng Hoa Xuân lại nhìn về phía Quận chúa, dáng vẻ ấp a ấp úng: “Chỉ là… vẫn còn một chuyện nữa…”

Quận chúa thấy thần sắc của nàng do dự không dứt, thì lấy làm nghi hoặc: “Còn chuyện gì nữa? Cứ nói thẳng ra xem nào.”

Hoa Xuân thấy cô ta đã mở lời, bèn vờ như không kìm được mà trút bầu tâm sự: “Quận chúa, từ ngày Tứ phòng cưới thần phụ về, vốn đã không được lòng lão thái thái. Mỗi năm phủ họ Lục chia hoa lợi, Tứ phòng chúng tôi luôn nhận được ít nhất. Năm năm ở Ích Châu vừa qua, mẹ chồng tôi thì mười ngày hết tám ngày nằm liệt giường vì bệnh tật, lại thêm việc đối nội đối ngoại của phủ, thần phụ chẳng biết đã phải bỏ tiền túi của mình ra bù đắp vào đó bao nhiêu nữa… chuyện này… chuyện này quả thực là…”

Quận chúa nghe nhạc điệu mà đoán được chương trình, lập tức hiểu ra ngay vấn đề.

Nếu như Cố thị này thực sự chẳng cầu mong gì, mà cứ thế nhường Lục Thừa Tự lại cho cô ta, cô ta trái lại còn thấy không yên tâm. Hiện giờ thấy đối phương chủ động mở miệng, chuyện này liền trở thành một cuộc giao dịch, ngược lại còn khiến cô ta thấy vững dạ hơn.

“Ngươi muốn gì? Những gì Lục lang nợ ngươi, ta sẽ thay chàng bù đắp!”

Hoa Xuân lập tức giơ hai ngón tay lên.

Vị ma ma và tên nội thị thân cận bên cạnh Quận chúa đều đồng loạt nhìn sang.

“Ý gì đây?” Quận chúa không hiểu,

Là hai vạn lượng? Hay là hai mươi vạn lượng?

Hoa Xuân nói: “Kính mong Quận chúa ban cho thần phụ hai cửa tiệm, để thần phụ có thể lấy đó làm kế sinh nhai, an thân lập mệnh ở chốn kinh thành này!”

Quận chúa còn chưa kịp phản ứng gì, thì vị ma ma đứng bên cạnh đã lập tức nổi giận, quát mắng Hoa Xuân một câu: “Láo xược! Ngươi sao dám ăn nói ngông cuồng, mở miệng đòi Quận chúa ban cửa tiệm? Quận chúa nợ gì ngươi sao?”

Hoa Xuân còn chưa kịp lên tiếng, thì về phía mình, Quận chúa đã tỏ rõ vẻ không hài lòng trước việc ma ma xen ngang. Cô ta quét một ánh mắt lạnh lẽo, sắc như dao về phía bà ta: “Chẳng lẽ Lục lang chỉ đáng giá có hai cửa tiệm thôi sao?”

Vị ma ma lập tức câm nín. Bà ta tiến lại gần sát bên cạnh Quận chúa, chỉ tay về phía Hoa Xuân rồi hạ thấp giọng khuyên nhủ: “Nữ nhân này toàn thân đầy vẻ chợ búa, chẳng biết trong hồ lô của nàng ta đang bán thuốc gì. Quận chúa tuyệt đối đừng mắc mưu nàng ta. Chuyện này nhất định phải hỏi qua ý kiến của Vương phi và Tiểu vương gia rồi mới được định đoạt!”

“Bà tránh ra một bên đi!” Thường Dương Quận chúa đẩy bà ta ra, dứt khoát giật lấy bức thư hòa ly trong tay Hoa Xuân, rồi chỉ vào vết mực trên phong thư mà nói với ma ma: “Nhìn thấy chưa? Vết mực trên này ít nhất cũng phải được viết từ một tháng trước trở lên. Lúc đó nàng ta còn chưa vào kinh, chứng tỏ ngay từ đầu nàng ta đã định sẵn ý muốn hòa ly, chứ không phải đến hôm nay mới nhất thời nảy ý để cố tình lừa gạt ta.”

Quận chúa tuy không có tâm cơ sâu xa, nhưng nhãn lực lại chẳng hề tầm thường, lời này thốt ra lập tức khiến vị ma ma kia phải câm nín.

Thấy ma ma đã ngậm miệng, Quận chúa lại quay sang nhìn Hoa Xuân, giọng nói đã dịu dàng hơn hẳn: “Hai cửa tiệm có đủ không?”

Hoa Xuân: “…”

“Còn… còn có thể đòi thêm sao?”

Bổng lộc của quan viên Đại Tấn tuy không cao, nhưng triều đình dành cho tông thất lại cực kỳ xa hoa, lãng phí. Ngoài ruộng đất trang viên, hằng năm các khoản cung phụng như lương thực, tơ lụa, trà, than… đều là những con số khổng lồ. Đối với quốc khố và bách tính mà nói, đây là một gánh nặng trầm trọng. Thêm vào đó, Tương Vương phủ lại là vây cánh của Thái hậu, những năm qua cậy nhờ quyền thế của bà mà nhúng tay vào triều chính, vơ vét lợi lộc không biết bao nhiêu mà kể.

Thế nên, dăm ba cái cửa tiệm đối với Quận chúa mà nói cũng chỉ như hạt cát sa mạc, chẳng đáng bận tâm.

Nhưng suy ngẫm một lát, cô ta lại nhớ ra mọi chi tiêu trong phủ đều phải có huynh trưởng ký tên mới được. Nếu một lúc cho đi quá nhiều, e rằng sẽ bị huynh trưởng quở trách, chi bằng đợi mọi chuyện thành công rồi từ từ bù đắp sau. Thế là Quận chúa đổi ý nói: “Được rồi, ngươi cứ yên tâm. Bức thư hòa ly này cứ để ta giữ, ta sẽ thay ngươi vào cung một chuyến, giúp ngươi giải quyết dứt điểm cuộc hôn nhân này. Sau khi thành công, ta sẽ sai người trong phủ giao tận tay khế ước cửa tiệm cho ngươi.”

Hoa Xuân nào có dễ bị đuổi khéo như vậy, nàng thong dong chỉ vào bức thư hòa ly đang nằm trong tay đối phương: “Quận chúa, thư hòa ly người đã cầm đi rồi, lỡ như…”

Ngụ ý của nàng là sợ Quận chúa sẽ nuốt lời.

Quận chúa vừa chạm phải ánh mắt đầy vẻ toan tính, sặc mùi con buôn của nàng, trong lòng lập tức dâng lên một cơn giận dữ.

Nàng đường đường là một Quận chúa, lẽ nào lại có thể thất hứa với người khác sao?

Nhưng nhìn thấy Hoa Xuân lệ đẫm bờ mi, cô ta lại tự nhủ rằng hạng phụ nhân tầm thường chưa từng thấy qua sự đời lớn lao gì, tâm địa hẹp hòi chút cũng là chuyện thường tình.

“Được rồi.” Quận chúa quay người sai nội thị chuẩn bị bút mực, “Ta lập tức viết cho ngươi một tờ cam kết, chuyện này có gì khó khăn đâu?”

Vị ma ma vẫn định ra sức ngăn cản, nhưng về phía Quận chúa, cô ta vốn là người đã nói là làm, dứt khoát viết ngay một tờ cam kết, lại còn ấn thêm dấu vân tay rồi đưa cho Hoa Xuân: “Đây, thư hòa ly của ngươi thuộc về ta, còn tờ cam kết này ta đưa cho ngươi, lần này thì đã yên tâm rồi chứ.”

Một khi bức thư hòa ly đã trao đi, thì con đường này sẽ không còn lối quay đầu lại nữa.

Tờ cam kết này, đương nhiên phải nắm thật chặt trong tay mới yên tâm được.

Hoa Xuân tỏ vẻ cảm kích khôn cùng, tạ ơn rối rít rồi mới lui ra.

Về phía Quận chúa, cô ta đang sốt sắng muốn vào cung ngay lập tức, nhưng lại bị tên nội thị và vị ma ma ra sức ngăn cản: “Người đừng vội, dù sao cũng phải đợi Vương phi lễ Phật trở về, để người định liệu rồi hãy vào cung… Suy cho cùng thì bức thư hòa ly do chính tay Cố thị viết đã nằm ở đây rồi, người có đi sớm hay muộn một ngày thì cũng chẳng có gì khác biệt đâu!”

Về phần Hoa Xuân, sau khi lo liệu xong xuôi mọi việc, nàng quay lại hội họp cùng bọn người Đào thị. Sau khi dùng xong bữa cơm chay, cả nhóm liền khởi hành trở về phủ.

Cũng thật khéo, hôm nay Lục Thừa Tự phải trực đêm nên không có mặt ở phủ, mãi đến giờ Ngọ ngày hôm sau mới về.

Theo quy định của Đại Tấn, quan viên trực đêm thì giờ Ngọ ngày kế tiếp có thể tan sở về phủ nghỉ ngơi. Nếu là trước kia, Lục Thừa Tự chẳng bao giờ dành chút thời gian rảnh rỗi này để về nhà, nhưng chẳng phải bây giờ chàng đã quyết tâm sẽ sống thật tốt với Hoa Xuân đó sao, thế nên mới mang theo cả công văn về phủ để vừa làm vừa nghỉ.

Vẫn như lệ thường, chàng sai Lục Trân mang tráp đựng công văn đến thư phòng, còn bản thân thì đi về phía Hạ Sảng Trai trước.

Vừa mới vào cửa, nghe quản gia báo lại rằng hôm qua Hoa Xuân đã ra ngoài, Lục Thừa Tự cảm thấy rất an lòng. Chàng nghĩ nàng nên đi đây đi đó nhiều hơn để thưởng ngoạn sự phồn hoa của kinh thành, từ đó mà yên tâm làm thiếu phu nhân của Lục phủ, đừng bao giờ nhen nhóm ý định hòa ly thêm lần nào nữa.

Nào ngờ lòng mới vừa ổn định được chưa đầy một khắc, ngay khi chàng bước chân vào cửa, Hoa Xuân đã với đôi mắt đỏ hoe, ném thẳng tờ cam kết kia vào lòng chàng:

“Thất gia xem đi! Thần phụ đã nói người hãy ký tên đi để thần phụ được yên thân rời khỏi đây, sống những ngày tháng thái bình, nhưng Thất gia nhất quyết không nghe. Giờ thì hay rồi, vị Quận chúa kia đã tìm đến tận cửa, tuyên bố dùng hai cửa tiệm để đổi lấy việc thần phụ tự xin rút lui, bằng không thì người ta chỉ cần nhấc tay một cái là có thể bóp chết cha của thần phụ rồi!”

Cha của Hoa Xuân vốn xuất thân là hoàng thương, thuộc quyền quản lý của Cục Dệt may Giang Nam dưới trướng Ty Lễ giám. Nhờ tính tình lanh lợi, lại có tài tính toán sổ sách cực giỏi, Cố Chí Thành đã lọt vào mắt xanh của Thái giám Thủ bị Kim Lăng, được cho phép quyên tiền mua quan. Suốt mười mấy năm qua, ông đã từ một viên quan nhỏ không nằm trong phẩm cấp, lăn lộn lên tới chức Lang trung Bộ Hộ tại kinh đô phụ Nam Kinh, chuyên trách việc giao thiệp với kho riêng của Hoàng đế.

Một viên quan như thế, chẳng phải chính là đang kiếm cơm dưới trướng của Tương Vương phủ và Ty Lễ giám đó sao?

“Cha ta chẳng qua chỉ là một Lang trung Bộ Hộ ở kinh đô phụ, phải nhìn sắc mặt của Ty Lễ giám mà sống. Họ chỉ cần dùng chút thủ đoạn thôi là cả nhà họ Cố sẽ phải chịu khuất phục. Dám hỏi Thất gia, lúc đó ta còn có thể làm gì khác được đây?”

Lục Thừa Tự siết chặt tờ cam kết trong tay, đưa mắt lướt qua một lượt, trong lòng đã nắm chắc phần thắng.

Đồ ngu xuẩn, viết ra tờ cam kết này chẳng, khác nào dâng tận tay chứng cứ phạm tội cho quan trên.

Chàng ngước mắt nhìn người vợ đang nước mắt đầm đìa của mình, lên tiếng trấn an bằng giọng dịu dàng: “Phu nhân đã chịu kinh động rồi, nàng cứ ở lại trong phủ nghỉ ngơi, chuyện này cứ giao cho ta lo liệu.”

Chẳng kịp uống lấy một ngụm trà, Lục Thừa Tự đã quay người bước ra ngoài, ra lệnh cho tiểu sai: “Chuẩn bị ngựa, lập tức vào cung!”

Nhìn theo bóng lưng chàng rời đi, cảm xúc trên gương mặt của Hoa Xuân thu lại toàn bọ. Nàng thong dong phân phó: “Tùng Trúc, đi pha một ấm trà ngon.”

Nàng phải xem kịch thôi.

>>

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *