Hầu Môn – Chương 110

Chương 110: Tại hạ Bùi Việt, bái kiến Thiếu tướng quân.

Gió ở ngoài biên thùy buốt thấu xương, điều này khiến một người mới đến như Bùi Việt cảm thấy khó lòng thích ứng ngay được.

Ánh hoàng hôn rực cháy như lửa, gió chiều thổi phần phật vào vạt áo. Chàng đứng ngoài cổng doanh trại trong bộ thanh bào thêu bổ tử hình chim lộ ty của quan lục phẩm. Theo sau chàng là hai viên văn lại: một người ôm tráp đựng công văn đứng trang nghiêm, người còn lại đeo hành lý trên lưng, thỉnh thoảng lại ngó nghiêng vào phía trong doanh trại, dáng vẻ như đã đợi đến sốt ruột.

“Bùi đại nhân, công văn của Lại bộ đã gửi vào trong được nửa khắc rồi, sao vẫn chưa thấy có người ra đón vậy ạ?”

Bùi Việt không đáp lời hắn, chỉ chắp tay sau lưng quan sát toàn bộ quân doanh. Đây là đại doanh của quân Túc Châu đóng bên ngoài thành ba mươi dặm, xung quanh có những ngọn núi thấp bao bọc tạo thành bức bình phong tự nhiên. Phía trước doanh trại hướng ra thảo nguyên rộng lớn, bên phải có đường mòn nằm giữa hai ngọn núi dẫn đến thành Túc Châu, bên trái có dòng sông rộng uốn lượn chảy qua. Lưng tựa núi, mặt hướng sông, quả là nơi thích hợp để đóng quân.

Vụ thu hoạch mùa thu đang cận kề, quân Túc Châu và Bắc Yến không ngừng giao tranh để tranh giành lương thực, Lý Hầu bận rộn quân vụ nên không thể dứt ra ngay cũng là chuyện thường tình.

Đang mải suy tính về mục đích của chuyến đi này, phía doanh trại trước mặt bỗng có tiếng động. Bùi Việt ngước mắt lên, trước tiên nghe thấy một tràng cười sảng khoái truyền đến: “Hiền điệt, sớm nghe nói triều đình sẽ phái người đến Túc Châu, không ngờ người tới lại là cháu!”

Người vừa đến diện bộ trường bào màu xanh sẫm đã hơi cũ, tuổi chừng tứ tuần, đuôi lông mày điểm một nốt ruồi son, dưới mũi để chòm râu ngắn, lông mày mắt mũi thanh thoát, khí thái hiên ngang.

Người đó chính là Lý Tương.

Bùi Việt không ngờ Lý Tương lại đích thân ra đón, một tiếng ‘hiền điệt’ này càng khiến trong lòng chàng thêm phần kinh ngạc. Bùi gia và phủ Bắc Định Hầu vốn không có mối quan hệ quá thân thiết, cha chàng với Lý Tương cũng chỉ là quan hệ xã giao gật đầu chào nhau, cớ sao Lý Tương lại đối đãi với chàng thân thiết đến thế? Tuy nhiên, một vị chủ soái biên thùy đường đường chính chính lại có thái độ lễ hiền hạ sĩ như vậy, Bùi Việt cũng không thể không biết điều. Chàng gạt bỏ quan chức sang một bên, rồi hành lễ theo đúng phận con cháu.

“Vãn bối Bùi Việt, bái kiến Lý Hầu.”

“Ha ha ha!” Lý Tương bước tới, đưa tay nắm chặt lấy cánh tay chàng, rồi ôn tồn hỏi: “Dọc đường xe ngựa vất vả, chắc cháu cũng mệt rồi, mau theo ta vào trướng nói chuyện đi.”

Lý Tương dắt tay Bùi Việt đi trước về phía trướng chính, mấy vị quan viên theo sau cũng chào hỏi hai viên văn lại, rồi khách khí dẫn họ vào trong.

Chẳng mấy chốc, hai người đã vào trong trướng. Lý Tương sai thuộc hạ dâng trà, rồi không khỏi đưa mắt quan sát kỹ vị thiếu niên trẻ tuổi trước mặt.

Quả thực là một dung mạo xuất thần, rạng rỡ như ngọc quý, khí thái áp người. Ở cái tuổi mười bảy, lại là Tân khoa Trạng nguyên, được triều đình tin tưởng giao phó trọng trách phái đến biên ải.

Lý Tương càng nhìn càng ưng ý, sau vài câu hàn huyên chuyện nhà cửa, ông ấy bất chợt hỏi: “Ta nghe nói hiền điệt đã sớm định thân rồi sao?”

Bùi Việt đang nhấp trà, bất thình lình bị hỏi một câu như vậy thì vội buông chén trà xuống, chàng nâng tay áo đáp lời: “Bẩm Hầu gia, vãn bối đã đính hôn từ năm lên bảy, vị hôn thê là người ở Đàm Châu…”

“Tên gọi là Lý Minh Di?”

“……” Ánh mắt của Bùi Việt khựng lại trong thoáng chốc, chàng chậm rãi buông xuôi cánh tay, rồi kinh ngạc hỏi: “Hầu gia sao lại biết được khuê danh vị hôn thê của vãn bối?”

E rằng ngay cả cha chàng cũng chưa chắc đã biết người nhà họ Lý kia tên gọi là Minh Di.

Lý Tương bật cười sảng khoái, không đáp lời chàng mà xoay sang hỏi han tình hình trong triều, bàn luận vài chuyện công vụ, cuối cùng mới thong thả nói: “Hiền điệt à, quân doanh không được như quán trọ trong thành Túc Châu, càng không thể so với kinh thành, chuyện ăn ở e là phải để cháu chịu thiệt thòi rồi.”

Bùi Việt bật cười đáp: “Vãn bối tự nguyện cùng ăn cùng ngủ với các tướng sĩ.”

“Được, hiền điệt. Giờ cũng không còn sớm nữa, ta vẫn còn chút quân vụ cần xử lý, tối nay sẽ mở tiệc tẩy trần cho cháu. Cứ để thư lại dẫn cháu về doanh trướng nghỉ ngơi một lát đã.”

Đợi sau khi Bùi Việt rời đi, Lý Tương một tay cầm công văn trên án lên, một tay vẫy thị vệ lại gần hỏi: “Thiếu tướng quân đang ở đâu? Bảo nó đến gặp ta.”

“Thiếu tướng quân đang dẫn người đi canh giữ lương thực rồi ạ, e là phải đến chập tối mới về.”

Lý Tương không nói gì thêm, chỉ mải miết xử lý xong quân vụ trên tay. Khi ngước mắt lên nhìn thì thấy trời đã tối mịt, ông đang thầm thắc mắc tại sao Lý Lận Chiêu vẫn chưa về doanh trại, thì bỗng nhiên từ phía sau truyền đến một giọng nói lười nhác, pha chút thiếu kiên nhẫn: “Cha, cha tìm con có việc gì thế?”

Lý Tương bị tiếng động này làm cho giật mình, ông quay đầu nhìn lại, chỉ thấy một bóng dáng cao ráo đang khoanh tay tựa vào cột hành lang. Đôi mắt và khuôn mặt bị che khuất sau lớp mặt nạ bạc, nên chẳng thể nhìn rõ diện mạo thực sự, nhưng nét phóng khoáng và tùy tiện nơi khóe môi thì vẫn chẳng hề thay đổi.

Lý Tương lườm con gái một cái cháy mặt: “Suốt ngày cứ xuất quỷ nhập thần như thế, không sợ làm cha con đứng tim à!”

Lý Lận Chiêu xì một tiếng, rồi sải bước về phía ông: “Cha tìm con có việc gì?”

Lý Tương nhận ra dáng vẻ nàng có chút mệt mỏi, liền đứng dậy rót một chén trà đưa qua, đổi sang giọng quan tâm: “Sao giờ mới về?”

Lận Chiêu đón lấy chén trà, uống cạn sạch trong một hơi, rồi vẩy tay một cái, chén trà rơi xuống mặt bàn vững chãi không hề lay chuyển. Nàng uể oải đáp: “Bày ra một cục diện thế mà lại không tóm được A Nhĩ Nạp, chỉ bắt được mấy tên hiệu úy, thật chẳng bõ công.”

Vụ thu hoạch đang cận kề, Nam Tĩnh Vương nghe tin đã đặc biệt cho đóng trại bên kia sông Thiên Thủy, thi thoảng lại phái tướng sĩ sang đánh lén các ruộng lúa mạch hòng cướp phá. Tiền Phong vệ nơi Lận Chiêu trấn giữ chịu trách nhiệm đánh chặn, hai bên đã giao tranh ròng rã hơn một tháng trời, thắng thua chia đều. Hai ngày trước, Lận Chiêu nhận được tin báo mật rằng, người con trai thứ bảy của Nam Tĩnh Vương là A Nhĩ Nạp sẽ đến cướp lương thực, bèn quyết ý dùng chiêu ‘bắt ba ba trong hũ’, hiềm nỗi vẫn để hắn chạy thoát, chỉ bắt được vài trăm binh sĩ cùng một số ngựa chiến.

Lý Tương thừa hiểu tính khí kiêu ngạo của Lý Lận Chiêu, bấy nhiêu chiến tích vốn không lọt được vào mắt xanh của con bé, nên lựa lời khuyên giải: “A Nhĩ Nạp là đứa con dũng mãnh nhất của Nam Tĩnh Vương, không dễ sa lưới thế đâu. Ngoan nào con gái, đừng giận, chúng ta lại tính kế khác.”

Lận Chiêu nghe thấy hai chữ “ngoan nào” thì khẽ chau mày lại.

Lý Tương chẳng thèm bận tâm nàng có bằng lòng nghe hay không, ông vốn thích gọi nàng như thế, liền nói tiếp: “Ngoan nào con gái, cha có việc này muốn giao cho con.”

“Việc gì ạ?” Lận Chiêu nghiêm mặt hỏi.

“Trong triều vừa có một người mới đến, đêm nay con hãy đi tiếp đãi hắn…”

Cứ tưởng là việc gì quan trọng lắm!

“Con không rảnh!” Đêm nay nàng còn phải tới sông Thiên Thủy bố trí phòng thủ, đâu có thời gian mà hàn huyên với mấy tên quan lại trong triều. Lận Chiêu quay đầu định bước đi thẳng.

“Hắn tên là Bùi Việt!”

“Có tên là Chu Việt cũng vô dụng thôi!”

“Hắn là vị hôn phu của con…”

Bước chân của Lận Chiêu khựng lại. Nàng chống tay lên hông rồi từ từ xoay người lại, đôi mắt thâm trầm xuyên qua lớp mặt nạ bạc nhìn thẳng vào Lý Tương, đôi môi mím chặt không nói lời nào.

Lý Tương thấy trong mắt nàng đầy vẻ bất mãn và chất vấn, bèn vội vàng bước xuống bậc thềm đến bên cạnh nàng, rồi thấp giọng giải thích: “Con quên rồi sao? Năm xưa tổ phụ đã mượn danh nghĩa của Lý Minh Di để đính ước cho con một cuộc hôn nhân. Giờ người ta đang ở ngay trong trướng khách rồi kìa…”

Không đợi ông nói hết câu, Lận Chiêu đã bực dọc vặn lại: “Cha còn hy vọng con sẽ gả cho người ta sao?”

“Không không không!” Lý Tương vội vàng dỗ dành: “Ý của cha là, người ta đã lặn lội đến tận đây rồi, con cứ gặp mặt một lần xem sao. Nếu thích thì tìm hiểu nhau, còn nếu không ưng thì quay về bảo đám người bên phía Đàm Châu hủy bỏ hôn sự này đi. Mọi chuyện đều do con tự mình quyết định, cha tuyệt đối không có ý ép buộc con.”

“Hủy đi!” Lận Chiêu không chút do dự quăng lại hai chữ, rồi xoay người tiếp tục bước về phía cổng.

Lý Tương cuống quýt đến mức phát bực, đành tung ra chiêu cuối cùng: “Lý Lận Chiêu nghe lệnh!”

Lận Chiêu nghe tiếng gọi thì khựng lại ngay lập tức. Nàng ngoái đầu nhìn cha mình với vẻ mặt nhăn nhó như đau răng, rồi bất đắc dĩ hành quân lễ: “Mời Hầu gia phân phó!”

Lý Tương chắp tay sau lưng tiến đến trước mặt nàng, cười híp mắt nói: “Hắn phụng chỉ mà đến, đêm nay con hãy đi tiếp đón rồi cùng hắn dùng một bữa tối đi, cũng chẳng mất mát gì mà.”

“Con thật sự không có thời gian đâu!”

“Cho con uống rượu.”

“Rượu gì ạ?”

“Tây Phong Liệt!”

“Thế thì cha phải nói sớm chứ…”

Lận Chiêu cười rồi nhún vai một cái, sau đó thong dong bước đi.

Lý Tương nhìn nàng bước ra khỏi trướng chính của trung quân, nghe thấy nàng gào lên một tiếng với đám tướng sĩ bên ngoài: “Các tướng sĩ nghe đây, có một vị quan lớn từ kinh thành đến, mau “mời” người ta đến doanh trại ẩm thực, nhóm lửa hồng lên, phải tiếp đãi cho thật chu đáo vào!”

“Tuân lệnh!” Đám tướng sĩ cười hi hi đáp lời, rồi nhanh chóng kéo nhau tới khách trướng để “mời” Bùi Việt.

Đám tiểu tử ngỗ ngược, chẳng coi ai ra gì trong quân doanh này ra tay vốn không biết nặng nhẹ, chẳng biết vị Bùi Việt kia có chống đỡ nổi hay không.

Lý Tương nở nụ cười thầm trong lòng, rồi thong thả bước lại bàn làm việc để tiếp tục viết thư hồi đáp cho hoàng đế.

Lận Chiêu không vội vã đến doanh trại ẩm thực gặp Bùi Việt ngay, mà trước tiên trở về lều trại của mình để tắm rửa và thay trang phục.

Túc Châu thiếu thốn lương thực, tướng sĩ thường xuyên ăn uống chẳng ra sao nên trong lòng nảy sinh oán hận với các quan lại trong triều. Mỗi khi có quan triều đình tới, họ luôn muốn cho đối phương một vố “dằn mặt”. Lận Chiêu dự định xử lý xong xuôi các việc trong doanh trại rồi mới đi giải vây cho Bùi Việt.

Nào ngờ đâu, nửa canh giờ sau khi nàng đến nơi, chỉ thấy bên đống lửa trại bập bùng là một nam tử với dáng người cao ráo và hiên ngang. Người đó vận bộ thanh bào, khí chất thanh cao thoát tục, chân mày ánh mắt đẹp tựa tranh vẽ. Chẳng biết người đó đang trò chuyện gì với Triều Chân huynh mà lại khiến huynh ấy vừa cười vừa khóc như thế.

Gương mặt kia quả thực là một dung mạo cực phẩm mà nàng chưa từng thấy bao giờ.

Lận Chiêu không khỏi tò mò, nàng đứng khoanh tay từ đằng xa dõi mắt quan sát.

Đúng lúc này Đông Tử trông thấy nàng, liền vội vàng chạy tới, chỉ tay về phía Bùi Việt trong đám đông mà nói: “Thiếu tướng quân, không trêu chọc nổi rồi! Vị Bùi đại nhân này lợi hại thật đấy, vừa gặp mặt đã ‘nắm thóp’ được Triều Chân huynh, còn đưa cho huynh ấy một bức gia thư rồi kể về chuyện của người biểu đệ của huynh ấy nữa. Hóa ra Bùi đại nhân và biểu đệ của Triều Chân là bạn cùng khóa, lần này đến Túc Châu, ngài ấy còn mang theo mấy trăm xe áo bông để chuẩn bị cho tướng sĩ qua mùa đông. Giờ thì chẳng huynh đệ nào còn can đảm mà gây khó dễ cho ngài ấy nữa.”

“Ồ, vậy sao?” Điều này thực sự khiến Lận Chiêu phải nhìn đối phương bằng con mắt khác.

Bất kể quan viên nào trong triều đến Túc Châu mà chẳng bị một trận giễu cợt, bắt nạt, vậy mà vị Bùi đại nhân này lại có thủ đoạn thật mềm mỏng, chỉ trong chốc lát đã thu phục được lòng người rồi.

Bùi Việt dường như cũng cảm nhận được có ai đó đang quan sát mình, chàng vô thức liếc mắt nhìn sang, liền thấy một người đang đứng giữa hai lều trại cách đó không xa. Người nọ khoác trên mình bộ áo bào mỏng màu xanh xám, vóc dáng không hề vạm vỡ mà cực kỳ thanh mảnh, hiên ngang như một thanh bảo kiếm đã tuốt khỏi bao, lộ rõ vẻ sắc sảo. Dù không nói không cười, dù cách một lớp mặt nạ, nhưng dường như chàng vẫn có thể nhìn thấu phong thái hào hùng ẩn chứa trong đôi mắt đen sâu thẳm ấy.

Năm mười lăm tuổi, Lý Lận Chiêu trở về kinh thành ăn mừng công trạng, cưỡi ngựa băng qua phố dài. Khi ấy, Bùi Việt đã từng trông thấy nàng từ xa ở trước cửa Chính Dương. Tuy hai người chưa từng chính thức gặp mặt, nhưng lớp mặt nạ đó, cùng khí thế áp đảo lòng người kia, ngoại trừ Lý Lận Chiêu ra thì chẳng thể là ai khác.

Bùi Việt nhấc tay áo, trịnh trọng cúi người hành lễ với nàng: “Tại hạ Bùi Việt, bái kiến Thiếu tướng quân!”

“Bùi đại nhân đường xa vạn dặm mới tới, Lận Chiêu chậm trễ đón tiếp, mong ngài lượng thứ cho.” Lý Lận Chiêu lập tức thay đổi sắc mặt, nàng mỉm cười tiến tới hành lễ đáp từ.

Tiếp đó, hai người phân chia vị trí chủ khách rồi ngồi xuống. Lận Chiêu vung tay ra hiệu, lệnh cho các tướng sĩ tới kính rượu Bùi Việt. Thế nhưng lần này, Bùi Việt lại vô cùng kiên định, bất kể ai đến mời rượu thì chàng cũng chỉ đáp lại đúng một câu: “Tại hạ từ trước đến nay không uống rượu, xin tướng quân thứ lỗi cho…”

“Lúc đại nhân đỗ Trạng nguyên, tại tiệc Quỳnh Lâm ngài cũng không uống rượu sao?”

“Không uống!”

Mọi người đều cho rằng chàng không nể mặt, nên cảm thấy rất thất vọng.

Hai viên quan văn đi cùng thấy tình cảnh này, đành phải nâng ly luân phiên kính rượu để giữ thể diện cho Bùi Việt, giúp buổi tiệc không bị rơi vào cảnh tẻ nhạt.

Đúng là kiểu thư sinh mặt trắng, đến rượu cũng không biết uống.

Lận Chiêu dĩ nhiên có chút thất vọng, nhưng nàng cũng chẳng nói gì, chỉ giục người sang chỗ Lý Tương lấy rượu Tây Phong Liệt tới. Sau khi rượu quá ba tuần, Lận Chiêu vẫn khách sáo hỏi qua về ý định của Bùi Việt khi tới đây.

Nào ngờ, vị thiếu chủ nhà họ Bùi lại rất trịnh trọng đáp rằng: “Thưa Thiếu tướng quân, tại hạ phụng mệnh đến Túc Châu là để giải quyết khó khăn về việc thiếu hụt quân nhu.”

Lý Lận Chiêu sững người, ánh mắt nàng đảo quanh khuôn mặt tuấn tú trắng trẻo kia đầy vẻ dò xét: “Chỉ dựa vào một mình ngài thôi sao?”

“Phải, chỉ mình tại hạ.”

Đôi lông mày của Lận Chiêu hơi nhíu lại. Không phải nàng không tin tưởng chàng, mà thực tế là trước đây đã có biết bao quan viên triều đình đến đây, nghĩ đủ mọi mưu kế cũng chẳng thể giải quyết được vấn đề quân lương nan giải ở Túc Châu. Chính vì Túc Châu thiếu lương thực, nên Nam Tĩnh Vương đã nhắm chuẩn điểm yếu này, năm nào cũng xua quân tấn công ồ ạt vào vụ thu hoạch, ý đồ dồn quân đội Túc Châu vào đường cùng.

Nghe vậy, Lận Chiêu vừa xoay xoay chén rượu trong lòng bàn tay, vừa nhìn chàng với ánh mắt thấm đẫm ý cười: “Bùi đại nhân, số quan viên mà triều đình phái đến Túc Châu này nếu không đến một trăm thì cũng phải tám mươi người, nhưng chưa một ai có thể giải quyết được nỗi lo quân nhu cả.”

Trong lời nói của nàng tràn ngập sự nghi ngờ.

Ánh lửa bập bùng soi rọi khuôn mặt rõ nét và nhạy bén của người đàn ông đối diện. Chàng giữ tư thế ngay ngắn, chỉ bình thản đáp lại: “Vậy thì phải xem người đến là ai đã.”

Ồ… khá lắm, có bản lĩnh.

Nàng rất thích.

Lận Chiêu đặt chén rượu xuống, nửa phần nghiêm túc nửa phần trêu chọc: “Bùi đại nhân, trong quân doanh có một quy tắc bất thành văn, hễ là ai đã buông lời ngông cuồng thì đều phải lập một bản cam kết.”

Không gian xung quanh lập tức rơi vào tĩnh lặng.

Các tướng sĩ đồng loạt dừng chén rượu trong tay, đổ dồn ánh mắt về phía Bùi Việt.

Hai viên quan văn cho rằng Lý Lận Chiêu đang cố tình làm khó Bùi Việt, nên vội vàng lên tiếng phản đối nhằm ngăn cản việc này.

Nào ngờ Bùi Việt giơ tay ra hiệu cho hai viên quan văn bên cạnh dừng lại. Chàng nhìn thẳng vào đôi mắt sâu thẳm và tĩnh lặng của Lý Lận Chiêu, rồi nghiêm nghị nói: “Mang bút mực tới đây.”

Cứ thế, trước bàn dân thiên hạ, Bùi Việt lập một bản cam kết, tuyên bố rằng nếu không giải quyết xong vấn đề quân nhu ở Túc Châu, thì chàng sẽ không trở về kinh thành.

Các tướng sĩ chứng kiến đều hết lòng bái phục.

Đêm ấy tiệc tàn, Lận Chiêu không nán lại lâu mà nhanh chóng quay trở lại tiền tuyến.

Chuyến đi này kéo dài hai ngày mà nàng vẫn chưa về. Bùi Việt cần điều động danh sách đồn điền trong quân doanh, mà nơi này lại do Thiếu tướng quân trực tiếp quản lý, các văn lại yêu cầu phải có chữ ký xác nhận của Lận Chiêu. Đợi mãi không thấy nàng quay về, Bùi Việt đành phải cưỡi ngựa tìm đến tận đồn canh Kiều Đầu.

Chưa đến giờ Dậu, một trận mưa phùn giăng lối bỗng chốc ập đến.

Cơn mưa chiều lồng lộng như gió, rải lên người chàng tựa như những lớp sương lạnh.

Bùi Việt lần theo lối đi dành cho ngựa mà lên pháo đài Kiều Đầu. Sau khi xuống ngựa, chàng tung dây cương cho binh sĩ giữ thành, hỏi thăm tung tích của Lận Chiêu rồi dọc theo tường thành đi về phía một vọng gác.

Hai tên phó tướng mỗi người cầm một ngọn đuốc, tay trải rộng một tấm bản đồ bố trí phòng thủ sơ lược. Lận Chiêu đang cùng hai người bọn họ bàn bạc chiến thuật, Bùi Việt thấy không tiện ngắt lời nên đứng đợi một lát. Đợi đến khi hai người kia xuống lầu thì chàng mới bước tới, đứng cách Lận Chiêu vài bước chân mà chắp tay hành lễ: “Thiếu tướng quân!”

Lận Chiêu ngoảnh lại, thấy là Bùi Việt thì nàng hơi lộ ra vẻ ngạc nhiên: “Bùi đại nhân?”

Bùi Việt biết nàng đang bận rộn quân vụ nên không dám làm mất thời gian, lập tức lấy công văn ra đưa cho nàng và giải thích rõ mục đích mình tìm đến.

Lận Chiêu dẫn chàng vào một căn phòng nhỏ xây bằng đá ngay phía sau. Căn phòng cực kỳ chật chội, chỉ rộng bằng một phòng tắm thông thường. Trên tường thắp một ngọn nến le lói, Lận Chiêu đi tới ngồi xuống trước chiếc bàn dài, sau khi kiểm tra văn thư thấy không có sai sót gì, thì nàng liền ký xác nhận ngay tại chỗ.

Bùi Việt cất kỹ văn thư rồi nói lời cảm ơn nàng.

Lận Chiêu nghĩ đến việc chàng không quản ngại đường xa tới đây nên đi rót cho chàng một chén trà.

Trong lúc uống trà, cả hai nhìn nhau, nhất thời không ai nói câu nào.

Thấy gương mặt Lận Chiêu lộ vẻ mệt mỏi vì sương gió, Bùi Việt lên tiếng quan tâm: “Mạn phép hỏi Thiếu tướng quân, chiến sự đang rất căng thẳng sao?”

Pháo đài Kiều Đầu cách đại doanh không quá năm mươi dặm, vậy mà Lận Chiêu lại biền biệt hai ngày không về, đủ thấy tình hình cấp bách đến nhường nào.

Trong lòng Lận Chiêu đầy nỗi lo âu nhưng không hề lộ ra ngoài mặt, nàng cười bảo: “Cũng ổn thôi. À đúng rồi,” Nhớ lại chuyện đêm đó ép Bùi Việt phải lập bản cam kết, Lận Chiêu lộ vẻ hối lỗi: “Bùi đại nhân có biết tại sao đêm đó ta lại ép ngài phải lập bản cam kết không?”

Bùi Việt nhìn nàng một cách nghiêm túc: “Thiếu tướng quân là muốn giúp Bùi mỗ lập uy.”

Bùi Việt vốn là kẻ thư sinh, lại chưa đến tuổi trưởng thành, nếu cứ khẳng định chắc nịch rằng sẽ giải quyết được quân nhu thì chẳng khác nào kẻ nói khoác không biết ngượng. Trong quân đội thì mãnh tướng như mây, còn trong giới quân hộ lại càng là nơi rồng rắn lẫn lộn, hạng người nào cũng có, nếu chỉ dựa vào danh nghĩa cá nhân, thì Bùi Việt căn bản không thể trấn áp nổi đám người đó.

Thế nhưng, chính một con người như vậy, một thiếu chủ xuất thân thế gia, đơn thương độc mã đến biên thùy, dám lập cả bản cam kết trong quân đội, thì khí phách ấy ít nhất cũng đủ để răn đe được phân nửa số quan lại và quân hộ nơi đây. Một khi Bùi Việt đến cái chết còn chẳng sợ, liệu chàng còn sợ gì việc đắc tội với bọn cường hào hay đám quân hộ hung hãn kia?

Xem chừng Lận Chiêu như đang đẩy Bùi Việt vào thế cưỡi trên lưng hổ, nhưng thực chất nàng lại đang tiếp thêm cho chàng một cánh tay đắc lực.

Bùi Việt dám lập bản cam kết, và Lận Chiêu thực sự trân trọng khí phách cũng như quyết tâm đó của chàng.

Việc Bùi Việt có thể nhìn thấu dụng ý sâu xa của nàng chứng tỏ chàng là người có tâm tư cực kỳ nhạy bén và thông tuệ.

Lận Chiêu vì thế mà càng thêm thiện cảm với chàng.

Nhớ lại chuyện đêm đó bị chàng từ chối rượu, Lận Chiêu lại nảy sinh ý định trêu chọc. Nàng chỉ tay về phía màn đêm mênh mông ngoài tường thành, rồi nói: “Bùi đại nhân, quân đội Túc Châu có một quy tắc bất thành văn, bất kể là quan viên hay tân binh mới đến biên ải, ngày đầu tiên đều phải uống một chén rượu tại nơi này để tế vong linh các chiến sĩ. Không biết đại nhân có nể mặt ta mà uống chén này không?”

Bùi Việt nghe xong thoáng chút sững sờ, nhưng ngay sau đó chàng lộ vẻ nghiêm nghị, khẽ gật đầu: “Đúng là nên như vậy.”

Lận Chiêu mỉm cười, lập tức đi tới chiếc bàn nơi góc tường rót hai chén rượu. Nàng đưa một chén cho Bùi Việt, tay kia cầm một chén, rồi cả hai cùng bước tới bên cạnh tường thành.

Bốn phía đồng không mông quạnh, vạn vật chìm trong thinh lặng.

Lận Chiêu uống trước nửa chén, phần còn lại nàng hất tay đổ xuống phía ngoài tường thành.

Bùi Việt liếc nhìn nàng một cái, rồi lại nhìn xuống làn rượu vàng óng trong lòng bàn tay. Chàng vốn dĩ không bao giờ uống rượu, cũng chẳng biết đây là loại rượu gì, chỉ thấy mùi hương có vẻ không nồng nặc lắm, thế là chàng nhấc tay áo lên nhấp một ngụm nhỏ. Ngờ đâu, chất lỏng lạnh buốt ấy vừa trôi vào cổ họng đã khiến sống mũi chàng cay xè, hơi nóng hừng hực bốc lên như muốn thiêu đốt cả lục phủ ngũ tạng.

Bùi Việt còn chưa uống xong một ngụm đã ho sặc sụa đến mức không thở nổi.

Lận Chiêu giương mắt nhìn vị Trạng nguyên lang kia ho lấy ho để, chẳng còn vẻ thanh cao quý phái như lúc ban đầu, nàng ngẩn người ra một lúc rồi cười hỏi: “Bùi đại nhân, ngài không biết uống rượu thật đấy à?”

Bùi Việt khó khăn lắm mới đổ được phần rượu còn lại ra ngoài thành. Chàng vịn tay vào tường thành, rồi nhìn nàng đầy ngượng nghịu: “Xin tạ lỗi với Thiếu tướng quân, tại hạ thực sự là không biết uống rượu…”

Lận Chiêu đón lấy chén không trong tay chàng, nàng đặt tay lên lưng chàng rồi vận khí giúp chàng bình phục lại hơi thở. Nhìn vị hôn phu đẹp tựa băng sơn mỹ nam này, nàng lại nảy ra ý định trêu chọc: “Bùi đại nhân, ở quân doanh Túc Châu vẫn còn một quy tắc bất thành văn nữa…”

Sau khi được nàng vận khí, lồng ngực Bùi Việt đã dễ chịu hơn đôi chút. Hắn cố giữ vẻ nghiêm túc dù gương mặt tuấn tú vẫn còn đỏ bừng vì trận ho, thẳng lưng lên rồi hỏi như thật: “Chuyện gì vậy?”

“Đó là phải kính tặng Thiếu tướng quân một bình rượu!”

Bùi Việt nhìn nàng với vẻ nghi hoặc, sau đó né sang bên cạnh vài bước để giữ khoảng cách, rồi đáp lại một cách cứng nhắc: “Quy tắc này, xin lỗi nhưng Bùi mỗ không thể làm theo.”

Sắc mặt Lận Chiêu tối sầm lại.

Cái tên đầu gỗ này!

Lấy cái loại hôn phu này thì có tác dụng gì chứ!

Ngay lúc đó, từ trong màn đêm phía trước bỗng vang lên một tiếng thú gầm trầm đục.

Là ám hiệu quân đội!

Lận Chiêu bỏ mặc Bùi Việt ở đó, nàng không nói không rằng xoay người, sải bước thật nhanh xuống khỏi thành lâu.

Bùi Việt nhận ra chiến sự đã nổ ra, lập tức vịn vào tường thành rồi đưa mắt dõi theo. Gió chiều nổi lên bốn phía, chỉ thấy dưới con đường hẻm, một người một ngựa phóng vụt ra. Tấm áo choàng bạc tung bay phần phật trong gió, tôn lên dáng vẻ vô cùng hiên ngang và dứt khoát của nàng, tựa như một thanh bảo kiếm vừa tuốt khỏi vỏ, trong nháy mắt đã tan biến vào màn đêm.

Thật đúng là vị Thiếu tướng quân tựa nắng mai rạng rỡ, phóng khoáng vô ngần!

Bùi Việt đứng nhìn theo bóng nàng hồi lâu, sau đó mới quay người rời đi.

Suốt bảy ngày liên tiếp, Lận Chiêu dẫn dắt binh sĩ đánh lui bảy đợt tập kích của quân địch, khiến toán mật kỵ Bắc Yến gần như một đi không trở lại. Hành động này đã chọc giận Nam Tĩnh Vương, đến ngày thứ tám thì lão ta đích thân xuất quân, chiến sự diễn ra vô cùng ác liệt.

Nhận thấy hậu cần không kịp đáp ứng, những ngày qua Bùi Việt cũng buộc phải tất tả ngược xuôi giữa hai nơi.

Trước đây ở xa tận kinh thành nên không thể cùng sẻ chia cảm xúc, giờ đây đích thân tới tiền tuyến mới thấu hiểu chiến trường tàn khốc đến nhường nào. Từng người, từng người thương binh được cáng từ trận địa trở về, những chàng trai lành lặn khi đi, chỉ sau nửa ngày đã mất đi tay chân lúc trở lại, thử hỏi ai trông thấy mà không đau đớn như dao cắt? Nơi chiến trường thuốc men khan hiếm, Bùi Việt với thân phận Khâm sai đã ngày đêm điều phối vật tư, bận rộn đến mức chân không chạm đất.

Cuối cùng cũng đến ngày thứ chín, Nam Tĩnh Vương và Lận Chiêu bất phân thắng bại, cả hai bên cùng khua chiêng thu quân.

Nắng thu hôm nay rạng rỡ lạ thường, chiếu rọi những con đường rộng lớn trong ngoài pháo đài Kiều Đầu đến trắng xóa. Những tướng sĩ bị thương nặng đã được chuyển vào trong thành, nhưng vẫn còn không ít thương binh không có chỗ nương náu, đành ngồi rải rác khắp các lối đi, tiếng thở dài và tiếng rên rỉ vì đau đớn vang lên khắp nơi không ngớt.

Bùi Việt cho dựng thêm một dãy lều trại sát chân tường thành để sắp xếp chỗ ở cho thương binh.

Ngay lúc đó, từ phía sau truyền đến một giọng nói quen thuộc mang theo vẻ gấp gáp: “Bùi đại nhân, chỗ ngài còn dư thuốc cầm máu không? Mau lấy cho ta một ít!”

Đó là Triều Chân tướng quân, một trong những phó tướng của Thiếu tướng quân.

Bùi Việt lập tức quay đầu lại, đưa mắt quan sát đối phương một lượt rồi hỏi: “Tướng quân bị thương sao?”

Triều Chân lo lắng lắc đầu: “Là Thiếu tướng quân bị thương.”

Sắc mặt của Bùi Việt biến đổi hẳn: “Người đang ở đâu? Vết thương có nặng không?”

Triều Chân gãi đầu, vẻ mặt có chút khó xử, thở dài nói: “Khi Thiếu tướng quân giao phong với Nam Tĩnh Vương, sau lưng đã bị gai nhọn trên Lang Thủ Chùy đâm trúng, kéo rách một đường dài chảy máu đầm đìa. Vì thế ta mới tìm tới Bùi đại nhân để hỏi xin chút thuốc trị thương…”

Bùi Việt nghe vậy liền biết vết thương của Lận Chiêu vô cùng nghiêm trọng. Chàng không nói hai lời, lập tức vào trong doanh trại gọi theo một người quân y, rồi cùng nhau tiến lên thành lâu.

Men theo tường thành đi tới căn thạch thất nơi uống rượu đêm nọ, chàng thấy Lận Chiêu cùng ba vị hiệu úy đang đứng bên lỗ châu mai, dường như đang bàn bạc việc bố trí phòng thủ. Tấm áo sau lưng đã bị máu thấm đẫm một mảng lớn, trông vô cùng hãi hùng.

Thế nhưng người ấy lại như chẳng hề hay biết, vẫn chuyên tâm vẽ bản đồ phòng thủ, tỉ mỉ dặn dò ba vị hiệu úy cách dàn quân, thậm chí ngay cả nhịp thở cũng không hề rối loạn một chút nào.

Liên quan đến quân cơ mật vụ nên Bùi Việt không dám tiến lên, chàng đành cùng người quân y đứng chờ ở một bên.

Chờ mãi cũng gần một khắc đồng hồ, cuối cùng bên kia cũng xong việc. Chàng nhíu chặt lông mày, rồi cất tiếng gọi vọng sang: “Thiếu tướng quân!”

Lúc này Lận Chiêu mới nhận ra chàng, nàng ngẩn người một lát rồi chuyển ánh mắt sang Triều Chân.

Từ trước đến nay, bất kể vết thương lớn hay nhỏ, thì Lận Chiêu đều không bao giờ nhờ người khác xử lý, hoặc là nàng về trại để Thanh Hòa giúp một tay, hoặc là tự mình sơ cứu qua loa cho xong. Cái tính nết này cả quân doanh đều biết rõ. Thế nhưng hôm nay không giống mọi khi, Triều Chân xoa xoa sống mũi, đành đánh bạo nói: “Hôm nay ngài bị thương ở sau lưng, vết rách lại sâu như thế, nếu không kịp thời xử lý thì sẽ để lại di chứng.”

Lận Chiêu còn đang định nói thêm gì đó, nhưng phía bên kia Bùi Việt đã đợi đến mức mất hết kiên nhẫn. Hắn bước tới cắt ngang lời nàng bằng một câu dứt khoát:

“Thiếu tướng quân trên vai gánh vác vạn dân, nên biết quý trọng thân mình!”

Nói đoạn, hắn ra hiệu cho quân y tiến lên xử lý vết thương cho Lận Chiêu.

Lận Chiêu không khỏi cảm thấy nhức đầu. Chuyện nàng là nữ nhi, cả quân doanh này ngoài cha nàng và Thanh Hòa ra thì không còn ai biết cả. Trước đây tổ mẫu vốn có cử một bà vú già theo chăm sóc nàng, nhưng không may gần đây bà ấy đã về quê, lúc này dù thế nào nàng cũng không thể để tên quân y này chữa trị cho mình được.

Có điều lúc này tấm lưng nàng thực sự đau thấu xương… không thể trì hoãn thêm được nữa.

Ánh mắt lướt nhanh qua lại giữa người quân y và Bùi Việt, Lận Chiêu lập tức đưa ra quyết định.

“Bên dưới có vô số thương binh, Lưu quân y không cần lãng phí thời gian ở đây làm gì. Cứ để thuốc lại đó rồi mau xuống dưới xử lý công việc đi. Còn về vết thương này…” Nàng từ xa chỉ chỉ về phía Bùi Việt: “Đành làm phiền Bùi đại nhân xử lý giúp vậy…”

Bùi Việt nghĩ đến cảnh có vô số thương bình cần chữa trị thì cũng không hề do dự. Chàng nhận lấy hòm thuốc từ tay quân y, rồi theo chân Lận Chiêu bước vào căn phòng nhỏ.

Đông Tử xách một thùng nước ấm lên lầu cho Lận Chiêu, cậu ta đứng đợi ở một góc, định bụng sẽ giúp Bùi Việt một tay bôi thuốc cho nàng. Chẳng ngờ Lận Chiêu nhìn thấy, liền gắt lên một câu: “Còn ngẩn ra đó làm gì? Sao không mau ra tiền tuyến thám thính tình hình của quân địch! Nam Tĩnh Vương xưa nay vốn xảo quyệt, nếu lỡ như lão ta quay lại đánh úp thì chúng ta gánh không nổi đâu!”

“Rõ!”

Đuổi hết đám người kia đi xong, Lận Chiêu mới khép chặt cửa phòng lại. Nàng ngoảnh lại nhìn Bùi Việt, thì thấy vị vị hôn phu nọ đã chuẩn bị xong xuôi bình thuốc, nước ấm và khăn tay một cách cực kỳ tỉ mỉ.

Lận Chiêu đưa tay đỡ trán, đành bất lực ngồi xuống chiếc ghế đẩu nhỏ ngay trước mặt chàng.

Túc Châu khô lạnh, gió cát lại lớn, căn thạch thất này vốn nhỏ hẹp và kín mít, chỉ mở duy nhất một ô cửa sổ nhỏ ở phía Bắc nên ánh sáng không mấy sáng sủa. Để thuận tiện cho việc lau rửa vết thương, Bùi Việt thắp một ngọn đèn nến lên.

Vết thương nằm ngay dưới vai chừng một tấc. Lận Chiêu cởi bỏ áo ngoại, bên trong chỉ còn lại một lớp áo trung y mỏng manh. Khi lớp áo ấy được kéo xuống hơn ba tấc, bờ vai trắng ngần như tuyết của nàng liền lộ ra trước mắt.

Ban đầu Bùi Việt chưa nhận ra điều gì bất thường, chàng nhìn chằm chằm vào vết thương của nàng không rời mắt. Chỉ thấy ở bả vai phải của nàng bị gai dài của Lang Thủ Chùy khoét mất một miếng thịt, máu đã đông cứng lại che lấp miệng vết thương, nên nhìn không rõ bên trong ra sao.

Bùi Việt vốn dĩ sống trong lụa là nhung gấm, chưa từng phải hầu hạ ai, càng đừng nói đến việc lau rửa vết thương. May mà mấy ngày nay giúp đỡ chăm sóc thương binh ở pháo đài Kiều Đầu nên cũng học lỏm được chút ít, lúc này ra tay làm cũng có vẻ rất bài bản và thành thục.

Chàng là người chu đáo lại kiên nhẫn, trước tiên tưới một lớp thuốc nước để làm mềm lớp máu đông, sau đó dùng dao nhỏ cẩn thận bóc tách từng mảng vảy máu ra. Mất chừng một tuần trà thì chàng mới làm sạch được vết thương, lộ ra một vết hõm không sâu không cạn, thấp thoáng thấy cả xương trắng, khiến trái tim của Bùi Việt thắt lại một cơn.

“Thiếu tướng quân, có đau không?”

“Không sao.”

Người ngồi trước mặt chàng, hai tay đặt trên đầu gối, dáng ngồi ngay ngắn nghiêm chỉnh. Không chỉ không thốt ra một lời đau đớn, mà ngay cả nhúc nhích cũng không hề.

Đúng là không hổ danh vị thiếu soái chinh chiến sa trường, anh dũng vô song.

Trong lòng Bùi Việt dâng lên niềm khâm phục, chàng không dám chậm trễ thêm nữa, lập tức làm theo các bước, lần lượt đắp thuốc lên. Cuối cùng, trước khi băng bó, chàng thấm ướt khăn tay, giúp nàng lau sạch vùng vai và lưng.

Ánh mắt chàng vô tình lướt qua toàn bộ đường vai của nàng. Thấy xương vai thanh mảnh mượt mà, làn da trắng ngần khác hẳn với bờ vai thô to của đàn ông bình thường, trong lòng Bùi Việt chợt dấy lên một cảm giác khác lạ khó tả.

Trong mắt người đời, Thiếu tướng quân kiêu dũng thiện chiến, hào khí ngất trời, vốn cứ ngỡ phải là một bậc mình đồng da sắt, chẳng thể ngờ lại là một vẻ “băng cơ ngọc cốt”…

Bốn chữ “băng cơ ngọc cốt” vừa lướt qua tâm trí, Bùi Việt sững sờ một chốc, chính chàng cũng bị ý nghĩ của mình làm cho giật mình kinh hãi.

Chàng bị làm sao thế này, sao lại có thể nghĩ về Thiếu tướng quân như thế chứ…

Chàng lập tức gạt bỏ tạp niệm, rồi cẩn thận giúp nàng lau sạch vết thương.

Thế nhưng ngay sau đó, ánh mắt chàng bất chợt dừng lại ở lớp trung y đang xô lệch, lờ mờ nhìn thấy những vòng băng vải quấn chặt quanh ngực và lưng nàng. Phản ứng đầu tiên của Bùi Việt là: “Thiếu tướng quân, ngài vẫn còn vết thương cũ sao?”

Lận Chiêu chỉ để lộ một phần xương vai, nên Bùi Việt nhất thời nhìn không rõ lắm. Tuy nhiên, Lận Chiêu hiểu rõ chàng đã nhìn thấy thứ gì. Nàng không giải thích, cũng chẳng buồn che đậy, mà chỉ nói: “Không có, mau băng bó đi, ta còn có việc.”

Bùi Việt không chút chần chừ, lấy ra dải băng trắng đã chuẩn bị sẵn để giúp nàng băng bó vết thương. Có điều dải băng đó phải quấn vòng quanh người, Bùi Việt liền nói: “Mời Thiếu tướng quân cởi lớp trung y ra, Bùi mỗ phải giúp ngài quấn chặt dải băng mới được.”

Nghe vậy, Lận Chiêu khựng lại một lát, cuối cùng nàng chẳng nói lời nào, mà cởi thẳng lớp áo trung y ra.

Giờ đây, cả một tấm lưng trắng ngần như ngọc phơi bày ngay trước mắt.

Tuy làn da không hẳn là trắng như mỡ đông, nhưng tuyệt đối không hề thô ráp, trái lại, khung xương và cơ thể nàng vô cùng cân đối, đường nét thanh thoát, mảnh mai, mang một vẻ đẹp cực kỳ cuốn hút.

Những từ ngữ lộn xộn cứ nhảy ra trong đầu khiến tâm trí Bùi Việt rối bời và hỗn loạn. Lòng bàn tay chàng siết chặt dải lụa nhưng chẳng biết phải bắt đầu từ đâu. Lận Chiêu nhận ra sự ngập ngừng của chàng, nàng liền đưa tay ra sau nhận lấy dải băng, rồi tự mình băng bó lại. Ngay sau đó, nàng khoác nhanh lớp trung y, thắt lại đai lưng một cách gọn gàng, rồi quay người lại và bình thản nhìn chàng.

“Xong rồi, đa tạ Bùi đại nhân, ta đi xuống trước đây…”

Nói dứt lời, nàng lập tức đẩy cửa rời đi.

Trong đầu Bùi Việt cứ hiện lên cảnh tượng vừa rồi, chàng cảm thấy có gì đó rất không ổn nhưng lại chẳng dám nghĩ sâu thêm, cứ tự nghi ngờ rằng đó chỉ là ảo giác của mình. Chàng thu dọn hòm thuốc, rồi lẳng lặng bước xuống lầu.

Suốt cả ngày hôm đó tâm trí của chàng cứ rối bời, chàng nghi là mình đã tình cờ va phải một bí mật động trời nào đó. Thế nhưng, nếu thực sự là bí mật, liệu Lý Lận Chiêu có thể dễ dàng để chàng nhìn thấu như vậy sao?

Chắc là do chàng nghĩ ngợi lung tung mà thôi.

Bùi Việt ép bản thân phải đè nén những suy nghĩ ấy xuống, rồi đưa các thương binh lần lượt rút về doanh trại.

Ba ngày sau, khi đã chắc chắn Nam Tĩnh Vương đã rút quân, Lận Chiêu để lại một bộ phận nhỏ binh mã trấn giữ pháo đài Kiều Đầu, rồi dẫn quân trở về doanh trại.

Lần tiếp theo Bùi Việt gặp lại nàng là trong một buổi dạ yến.

Chỉ thấy Lý Lận Chiêu được các tướng sĩ vây quanh, đang ca múa bên đống lửa bập bùng. Nàng múa kiếm thật điêu luyện, chén rượu trong tay không dứt, thân hình uyển chuyển mà mạnh mẽ tựa chim ưng đêm, không ngừng xoay vần giữa sắc đêm rực rỡ ánh lửa.

Sau một ngụm rượu, đôi mắt sáng ngời ấy dường như thu trọn cả vẻ đẹp của xuân hoa thu nguyệt, khiến vùng thảo nguyên đầy binh đao khói lửa này bỗng chốc ngập tràn ánh sáng trong trẻo.

Đúng lúc ấy, Đông Tử đến mời rượu Bùi Việt. Chàng lấy trà thay rượu để đáp lễ, rồi cố tình giữ cậu ta lại để hỏi: “Vết thương của Thiếu tướng quân thế nào rồi?”

Đông Tử uống cạn một chén đầy rồi tùy tiện đáp: “Chắc cũng ổn rồi, có điều Thiếu tướng quân vốn không câu nệ tiểu tiết, mấy vết thương nhỏ đó ngài ấy chẳng bao giờ để tâm đâu.”

Bùi Việt lại hỏi tiếp: “Trên chiến trường đao thương không có mắt, chắc đây cũng chẳng phải lần đầu Thiếu tướng quân bị thương, lẽ nào lần nào ngài ấy cũng mặc kệ như vậy sao?”

Đông Tử thấy chỗ bên cạnh chàng còn trống, liền dứt khoát ngồi phịch xuống: “Nếu không thì sao? Lần này cũng may là có Bùi đại nhân ở đó, chứ mấy huynh đệ chúng tôi làm sao mà thuyết phục được Thiếu tướng quân. Ngài ấy ấy mà, chẳng bao giờ coi vết thương ra gì đâu.”

Là không coi vết thương ra gì sao?

Hay là vì không tiện để người khác xử lý giúp?

Sự nghi hoặc trong lòng Bùi Việt càng sâu sắc hơn, chàng tiếp tục dò hỏi: “Tôi thấy cậu và Thiếu tướng quân đi lại rất thân thiết, xem ra ngày thường đều là cậu hầu hạ trong trướng của Thiếu tướng quân sao?”

“Đâu có đâu!” Đông Tử vốn có tính cách vô tư dễ tin người, nên rất dễ dàng bị Bùi Việt gài lời: “Thiếu tướng quân dù sao cũng là thiếu gia của Hầu phủ, nên kỹ tính lắm. Trong doanh trại, ngoài tiểu đồ đệ nhỏ của ngài ấy ra, thì lão thái quân còn phái một lão bộc đi theo để chuyên trách việc hầu hạ ngài ấy nữa.”

“Nói cũng lạ, Thiếu tướng quân trước giờ đều đeo mặt nạ như vậy sao?”

“Đúng thế, năm Thiếu tướng quân tám tuổi, trán ngài ấy bị mãnh thú cắn trọng thương, để lại một vết sẹo rất đáng sợ. Kể từ đó ngài ấy bắt đầu đeo mặt nạ.”

Bùi Việt siết chặt chén trà trong tay, đưa mắt nhìn sâu về phía Lý Lận Chiêu rồi không nói thêm lời nào nữa.

Tiệc tan, Bùi Việt đang định trở về doanh trại của mình thì bất chợt một thị vệ chạy tới gọi lớn: “Bùi đại nhân, Thiếu tướng quân mời ngài qua trướng của ngài ấy.”

Bùi Việt chỉ nghĩ là có việc công nên cũng không suy nghĩ nhiều, chàng dứt khoát quay người sải bước về phía quân trướng của Lý Lận Chiêu. Trướng của nàng nằm ngay phía sau trướng trung quân. Hôm nay Lý Tương không có mặt trong doanh trại, lúc này chủ trướng tối đen không một ánh đèn, Bùi Việt đi vòng qua đó để đến trước trướng của Lận Chiêu.

Bên trong trướng đèn lửa đã thắp sáng nhưng không nghe thấy tiếng người. Bùi Việt bước lên bậc thềm, đứng cách lớp rèm trướng mà cất tiếng gọi: “Thiếu tướng quân?”

Bên trong vọng ra một tiếng nói: “Mời vào!”

Bùi Việt vén rèm bước vào đại trướng. Đảo mắt nhìn quanh, bên trong trướng không một bóng người, trái lại phía sau lớp màn ngăn với nội trướng thấp thoáng có bóng người đang lay động.

Trong lòng Bùi Việt cảm thấy kỳ lạ, chàng đứng yên giữa sảnh, rồi hỏi lại lần nữa: “Thiếu tướng quân tìm tại hạ có việc gì?”

“Có việc muốn thỉnh cầu Bùi đại nhân giúp đỡ, mong đại nhân vào trong trướng cho!”

Lúc đầu Bùi Việt sững người, ngay sau đó rơi vào do dự.

Trong lòng chàng là mười phần không muốn.

Thế nhưng chàng lại chẳng thể đoán định được ý đồ của Lý Lận Chiêu.

Nếu thân phận của nàng thực sự có vấn đề, tại sao nàng lại chẳng chút kiêng dè với chàng như vậy? Bùi Việt luôn cảm thấy, mối giao tình giữa mình và Lý gia cũng chưa sâu đậm đến mức khiến Lý Lận Chiêu phải thành thật, không chút giấu giếm gì với mình như vậy.

Chẳng lẽ là do chàng đa nghi quá rồi sao?

Bùi Việt nghiến chặt răng, rồi dứt khoát vén rèm bước vào.

Thế nhưng mới chỉ liếc nhìn một cái đã khiến chàng chết lặng tại chỗ.

Chỉ thấy phía sau chiếc án dài có một người đang ngồi ngay ngắn. Gương mặt nàng đẹp như ngọc, đôi mắt đen láy bình thản mà trong trẻo đang nhìn thẳng vào chàng. Vầng trán của nàng đầy đặn, sạch sẽ, nào có chút dấu vết gì của vết sẹo năm xưa.

“Người là…”

Lời còn chưa dứt, ánh mắt của chàng đã chạm phải nửa chiếc mặt nạ bạc đặt trên bàn, cả người bỗng chốc sững sờ lại.

Bùi Việt hít một hơi thật sâu, nhắm nghiền mắt lại rồi mới nhìn lại gương mặt nàng, trong lòng cuộn trào những suy tư sâu kín: “Thiếu tướng quân?”

Lận Chiêu chẳng còn hơi sức đâu mà nói mấy lời thừa thãi, nàng chỉ tay về phía sau lưng mình, sắc mặt tái nhợt nói: “Bùi đại nhân, vết thương lại nứt ra rồi, phiền ngài giúp ta bôi thêm chút thuốc.”

Thanh Hòa không có mặt ở đây, ma ma cũng có việc riêng nên đã về lại quê nhà ở Lũng Tây. Không có ai giúp đỡ, mà “một lần lạ, hai lần quen”, nàng đành phải gọi Bùi Việt tới.

Thế nhưng lần này Bùi Việt lại không cử động. Ánh mắt sâu thẳm của chàng đảo quanh người nàng, rồi hững hờ hỏi: “Tại sao Thiếu tướng quân lại để Bùi mỗ đến bôi thuốc? Chẳng lẽ bên cạnh Thiếu tướng quân không còn ai đáng tin cậy hay sao?”

Chàng và Lý Lận Chiêu vốn chẳng có giao tình gì sâu đậm.

Đối diện với ánh mắt đầy vẻ xét nét, thậm chí là cảnh giác của chàng, Lận Chiêu chỉ biết cười khổ trong lòng.

Nếu không phải ngày hôm đó chàng xông thẳng lên thành lũy, nhất quyết đòi chữa trị vết thương cho nàng, thì nàng đâu đến mức phải “ngửa bài” với chàng thế này?

Dù sao thì, chàng vẫn là hôn phu trên danh nghĩa của nàng mà.

“Ngài là người thích hợp nhất.”

Bùi Việt nghe câu nói đó mà càng thêm mờ mịt, chẳng hiểu ra làm sao cả.

Bên cạnh nàng thiếu gì những người huynh đệ vào sinh ra tử, kéo bừa một người tới là có thể giúp nàng thay thuốc, hà tất cứ phải là chàng mới được?

Chẳng lẽ nàng thật sự là…

Bùi Việt một lần nữa lướt nhìn gương mặt trắng ngần như ánh trăng của nàng, trong đầu lại hiện lên tấm lưng ngọc ngà mịn màng ngày hôm ấy, ý nghĩ ban đầu lại càng thêm bén rễ sâu sắc.

Chẳng lẽ nàng thực sự là phận nữ nhi hay sao?

Nếu nàng là phận nữ nhi, thì lại càng không thể để chàng đến bôi thuốc cho được.

Bùi Việt chợt nhớ ra mình là người đã có hôn ước, mồ hôi lạnh lập tức túa ra trên trán. Chàng vội vàng dời tầm mắt đi chỗ khác, xoay người định bước ra ngoài: “Xin lỗi, tại hạ có việc bận, không thể giúp Thiếu tướng quân được!”

Lận Chiêu vịn tay vào chiếc án dài, giọng nói bình thản đến lạ lùng: “Nam Tĩnh Vương vô cùng xảo quyệt, lão ta đã tẩm độc lên chiếc chùy đầu sói đó. Loại độc này cực kỳ hiếm gặp, lúc đầu chẳng có chút dấu hiệu gì, nhưng sau khi bôi thuốc trị thương vào, nó sẽ phản ứng với thuốc mỡ tạo thành một loại độc chất khiến cơ thể rã rời và vô lực. Nếu ta đoán không lầm, Nam Tĩnh Vương nhất định đang đợi lúc độc tính trong người ta phát tác để tấn công lần thứ hai. Bùi đại nhân, một việc không phiền đến hai người, việc này nhất định phải là ngài!”

Nghe những lời ấy, bước chân của Bùi Việt không kìm được mà khựng lại một chút, ngay sau đó trong lòng dâng lên nỗi lo âu và cả sự giận dữ khôn cùng.

Thế nào gọi là nhất định phải là chàng?

Tại sao lại cứ phải là chàng mới được?

Khắp cả quân doanh này, ai cũng được, duy chỉ có chàng là không thể.

“Trong quân trại vẫn còn mấy bà lão nấu bếp, Thiếu tướng quân có thể gọi họ đến giúp!”

“Ngài thấy như vậy có thích hợp không?”

Lận Chiêu từ từ đứng dậy, đi vòng qua bàn án để đến sau lưng chàng. Nàng nhìn chàng, nơi đáy mắt dần hiện lên ý cười: “Bùi đại nhân chẳng phải đã đoán ra thân phận của ta rồi sao? Chuyện này càng ít người biết càng tốt, ta làm sao dám gọi người khác đến giúp?”

Bùi Việt nghe vậy thì càng thêm bực mình, chàng nghiến răng rồi gằn giọng thốt lên từng chữ: “Thiếu tướng quân, Bùi mỗ là người đã có hôn ước trên mình…”

“Ồ…” Nàng kéo dài giọng, vòng tay trước ngực, lững thững rảo bước tới bên cạnh hắn rồi nheo mắt nhìn: “Thế thì đã sao?”

Thế thì đã sao?

Một ngụm khí nghẹn ngay lồng ngực của Bùi Việt, lên không được mà xuống cũng chẳng xong.

Nàng rốt cuộc có hiểu thế nào là nam nữ thụ thụ bất thân hay không vậy?

Bùi Việt chỉ còn biết nén giận, cố kiên nhẫn giải thích với nàng: “Thiếu tướng quân, Bùi mỗ đã sớm đính hôn với người ta, nên không thể có bất kỳ mối quan hệ mập mờ nào với người khác được nữa. Thiếu tướng quân thân ngọc mình vàng, Bùi mỗ càng không dám mạo phạm, lần trước đã là thất lễ lắm rồi…”

“Ngài cũng đã nói rồi đó thôi, ngài vốn đã mạo phạm ta từ trước, hôm nay có mạo phạm thêm lần nữa thì đã sao?” Lận Chiêu ngắt lời chàng.

Bùi Việt nghe vậy, thì vành tai nóng bừng lên đến mức không thể tả nổi. Chàng không thể tin được, vị Thiếu tướng quân danh tiếng lẫy lừng thiên hạ, lại có thể thốt ra những lời phóng túng đến nhường này.

“Thiếu tướng quân có biết mình đang nói gì không?”

“Biết thì đã sao, mà không biết thì đã sao?” Lận Chiêu lững thững bước đến trước mặt chàng, ung dung thưởng thức vẻ mặt đang biến hóa liên tục của đối phương.

Gương mặt tuấn tú của Bùi Việt lúc xanh lúc tím, nhìn bóng người thanh mảnh đã chặn đứng lối đi của mình, chàng tức đến mức môi cũng phải run lên.

Nàng rõ là định bám chặt lấy chàng không buông đây mà.

Tuyệt đối không thể có chuyện đó.

Bùi Việt nhắm nghiền mắt lại, nhất quyết không lung lay, nỗ lực bảo vệ sự “trong sạch” của bản thân: “Bùi mỗ lấy chữ tín làm gốc, tuyệt đối không thể làm chuyện có lỗi với vị hôn thê. Lần trước là vì không biết nên không có tội, nhưng hôm nay biết rõ mà vẫn phạm phải thì không phải là hành vi của bậc quân tử. Thiếu tướng quân dù có giết Bùi mỗ đi chăng nữa, thì thứ lỗi cho ta cũng không thể giúp ngài bôi thuốc được…”

Lận Chiêu nhìn dáng vẻ “cứng như sắt đá” của chàng, thì trong lòng lại càng nảy sinh ý muốn trêu chọc.

“Vậy là ngài đành lòng giương mắt nhìn ta rơi vào bẫy của Nam Tĩnh Vương, để vùng biên ải này trắng tay, quân triều đình đại bại sao?”

Bùi Việt nghẹn đắng trong cổ họng, chàng cụp mắt xuống đầy vẻ giằng xé, cố gắng lắm mới thốt ra được một câu từ tận đáy lòng: “Thiếu tướng quân… hay là ngài gọi người khác đi…”

“Nhưng mà ngài cũng đã nhìn thấy hết rồi còn đâu…”

Trong đáy mắt Bùi Việt thoáng qua một tia tuyệt vọng: “Cái đó không tính…”

Lận Chiêu bước từng bước một tiến sát lại gần chàng, hơi thở nóng hổi gần như phả thẳng vào môi và chóp mũi của chàng. Nàng đầy vẻ châm chọc nhưng gương mặt lại giả vờ ngây ngô: “Sao lại không tính? Đã nhìn thì chính là đã nhìn, chẳng lẽ Bùi đại nhân muốn tự lừa mình dối người sao…”

Bùi Việt ngửi thấy mùi rượu trên người nàng, liền vội vã lùi lại vài bước cho đến khi bị ép vào góc giường. Nghĩ đến việc bản thân tự dưng bị kéo vào vũng bùn lầy này, chàng cảm thấy quẫn bách vô cùng. Thế nhưng, dù là vậy, khi đối diện với vị Thiếu tướng quân uy trấn bốn phương này, thì chàng vẫn chẳng thể nảy sinh lấy một chút ý niệm oán trách.

Chàng nhắm chặt mắt lại, tay vịn chặt vào một góc bình phong, gian nan khuyên nhủ: “Chuyện ngày hôm đó là lỗi của Bùi mỗ, xin Thiếu tướng quân hãy đại xá cho ta…”

Lận Chiêu thấy chàng sắp va phải chiếc sập mềm phía sau bàn án, liền dứt khoát tiến tới, đầu gối tì sát vào chân chàng, ép Bùi Việt phải ngã ngồi xuống. Nàng đưa chân ra chặn đứng lối thoát của chàng, rồi cúi người áp sát từ trên cao, ánh mắt từng chút một một ép sát vào chàng: “Nếu ta cứ nhất quyết bắt ngài phải chịu trách nhiệm với ta thì sao?”

Sắc mặt của Bùi Việt trắng bệch, chàng vịn tay vào chiếc sập mềm, chút hồng hào cuối cùng trên môi cũng tan biến sạch sẽ.

“Ngài…”

Trông chàng bây giờ chẳng khác nào một “trai lành” đang bị ép đi khách.

Cả khuôn mặt đều hiện lên vẻ không chịu khuất phục.

Lận Chiêu bật cười, không nỡ trêu chọc chàng thêm nữa. Nàng buông lỏng gông cùm đang vây hãm lấy chàng, xoay người ngồi xuống chiếc ghế nhỏ trước sập, quay lưng về phía chàng rồi thay đổi giọng điệu: “Được rồi, Bùi đại nhân, những lời vừa rồi chỉ là ta nói đùa thôi, mong đại nhân đừng để bụng. Quân tình khẩn cấp, cha ta lại không có mặt trong doanh trại, lúc này ngoài ngài ra thì không còn ai có thể giúp ta cả. Ngài cứ coi ta như huynh đệ là được. Nếu ta thực sự để tâm đến chuyện nam nữ thụ thụ bất thân, thì số đàn ông ta phải chịu trách nhiệm chắc phải xếp thành hàng dài rồi. Bùi đại nhân mau vứt bỏ mấy cái tư tưởng cứng nhắc và cổ hủ đó đi, rồi giúp ta bôi thuốc.”

Bùi Việt nghe vậy, đầu tiên là thở phào nhẹ nhõm, nhưng ngay sau đó lại dâng lên chút cảm giác mất mát bâng quơ. Tuy rằng Lận Chiêu không để tâm, nhưng xét cho cùng thì việc này vẫn là trái với lễ tiết.

Chỉ là trong tình cảnh này, dường như cũng chẳng cho phép chàng thoái lui thêm nữa. Bùi Việt hít một hơi thật sâu, vịn vào thành sập ngồi dậy, khó nhọc mở khẽ đôi mắt, ép bản thân phải tập trung nhìn vào vết thương của nàng để giúp nàng lọc bỏ phần thịt bị hoại tử và đắp thuốc giải lên.

Sau khi lặng lẽ hoàn thành tất cả những việc đó, chàng không ngoảnh đầu lấy một lần mà rời thẳng khỏi quân doanh.

Lận Chiêu nhìn bóng lưng chạy trốn như bị ma đuổi của chàng, nàng lắc đầu cười khổ rồi cứ thế mặc nguyên y phục mà nằm xuống ngủ. Sáng sớm ngày hôm sau, nàng lại tức tốc lên đường tiến về phía đồn tiền tiêu.

Mọi việc quả nhiên đều nằm trong dự liệu của Lận Chiêu.

Nam Tĩnh Vương mở cuộc tấn công lần thứ hai.

Đêm xuống, lính canh mang mật báo về.

“Ngươi nói cái gì? Nam Tĩnh Vương để mười đứa con trai của lão chia nhau đi tập kích ruộng lúa của chúng ta, ai thắng được chúng ta thì sẽ hứa ban cho ngôi vị Thế tử sao?” Triều Chân nghe xong tin tức, lập tức cảm thấy vừa giận vừa hoảng.

Mấy vị phó tướng đi cùng ai nấy mặt mày sầm sì như nước, trong miệng không tiếc lời lôi tổ tông mười tám đời của Nam Tĩnh Vương ra mà chửi rủa thậm tệ.

“Mẹ kiếp! Đúng là không từ một thủ đoạn nào!”

“Lão già Nam Tĩnh Vương thật là thứ khốn nạn, thâm độc và hiểm ác vô cùng!”

“Chứ còn gì nữa!” Triều Chân hít một hơi thật sâu, nhìn Lận Chiêu vẫn đang im lặng không nói gì, thì lo lắng sốt sắng: “Thiếu tướng quân, mưu kế này của Nam Tĩnh Vương thật độc địa. Đám con trai của lão vì cái ghế Thế tử chắc chắn sẽ dốc toàn lực để đến cướp lương của chúng ta!”

Lận Chiêu ôm cặp kiếm trong lòng, đăm đăm nhìn vào màn đêm phía trước thật lâu. Cơn giận trong lòng nàng cuộn trào dữ dội. Trên đời này, nếu luận về sự nham hiểm và xảo quyệt, Nam Tĩnh Vương mà xưng thứ hai thì chẳng ai dám nhận thứ nhất cả.

Không được, cứ tiếp tục thế này thì lương thực năm nay sẽ không giữ nổi mất.

Lận Chiêu lấy lại bình tĩnh, ánh mắt lạnh lẽo quét qua một lượt các vị phó tướng: “Ta hỏi các ngươi, cách phòng thủ tốt nhất là gì?”

Mọi người ngẩn ra một lúc, rồi ngay lập tức đồng thanh hô vang: “Là tấn công!”

“Chính xác!” Lận Chiêu tiến tới một bước, đứng ở nơi cao nhất trên sườn đồi, phóng tầm mắt nhìn về phía quân trại Bắc Yến ở đằng xa. “Có đi có lại mới toại lòng nhau, đã là chiêu hiểm của Nam Tĩnh Vương thì chúng ta sẽ tiếp chiêu tới cùng. Triều Chân huynh, Thanh Từ huynh, hai người hãy chia đội quân tiên phong của chúng ta thành mười doanh. Kể từ đêm nay, thay phiên nhau tập kích doanh trại Bắc Yến, cho Nam Tĩnh Vương nếm mùi chiến thuật luân phiên là như thế nào!”

“Tuân lệnh!”

Suốt ba đêm liền, Đại Tấn ra tay trước để giành thế chủ động, liên tục tập kích quân doanh Bắc Yến nhằm đánh loạn sự bài binh bố trận của Nam Tĩnh Vương. Thế nhưng, Nam Tĩnh Vương rốt cuộc cũng chẳng phải hạng tầm thường, lão đích thân trấn thủ doanh trại, hạ lệnh cho đám con trai cứ việc ai làm việc nấy, xuất binh theo đúng kế hoạch ban đầu.

Chiêu bài này của Nam Tĩnh Vương quả nhiên là vô cùng lão luyện và tàn độc.

Mấy vị Quận vương của Bắc Yến vì muốn đoạt lấy ngôi vị Thế tử mà dẫn theo thân binh, dồn hết sức lực lao vào tàn sát biên giới Đại Tấn.

Lận Chiêu thân chinh ra trận, dẫn đầu quân sĩ đánh lui hết đợt tấn công này đến đợt tấn công khác. Thế nhưng quân lính Bắc Yến dưới sự khích lệ của trọng thưởng nên chiến đấu vô cùng dũng mãnh, khiến thương vong của binh sĩ Đại Tấn hiện ra đầy đau xót trước mắt.

Cứ tiếp tục giằng co thế này cũng không phải là cách hay.

Lận Chiêu nảy ra một kế, mỗi khi đối phó với một đợt tấn công, nàng lại cho chiến tuyến lùi lại một chút, tạo ra ảo giác rằng quân sĩ Đại Tấn đang ngày càng kiệt sức. Quả nhiên, quân sĩ Bắc Yến nhận thấy động tĩnh này, đám Quận vương bắt đầu rục rịch ý đồ thừa thắng xông lên.

“Ta nghe Lâu tướng quân bên cạnh phụ vương nói, Lý Lận Chiêu đã trúng độc Nhuyễn Gân Tán của phụ vương rồi!”

“Tin này có chính xác không? Mấy đêm nay ta thấy rõ ràng chiêu thức của Lý Lận Chiêu vẫn vô cùng sắc bén, chẳng giống người đang bị thương chút nào.”

“Cái này thì ngươi không biết rồi, con người hắn vốn dĩ cực kỳ kiêu ngạo. Nếu có trúng độc thật thì chắc chắn hắn cũng sẽ cắn răng chịu đựng, tuyệt đối không dám đánh tiếng ra ngoài vì sợ làm loạn quân tâm. Theo ta thấy, việc chiến tuyến của Đại Tấn đang dần lùi lại chính là bằng chứng trực tiếp nhất cho thấy Lý Lận Chiêu đã bị thương!”

“Cũng phải, hắn vừa phải chia quân để luân phiên tập kích doanh trại của ta, lại vừa phải giữ ruộng lương, binh sĩ dưới quyền chắc chắn là đã mệt lử rồi. Theo ta thấy thì đêm nay chúng ta cứ dứt khoát thừa thắng xông lên, đánh chiếm bằng sạch ruộng lúa của bọn chúng!”

“Việc không nên chậm trễ, phải hành động ngay thôi, đừng để tên A Nhĩ Nạp kia cướp mất cơ hội!”

Cứ như thế, đích trưởng tử của Nam Tĩnh Vương là Ma Ha đã dẫn binh kéo đến tập kích.

Và bản tình báo này cũng được gửi đến bàn của mấy vị Quận vương khác vào cùng thời điểm đó.

Chẳng ai muốn để kẻ khác chiếm mất công đầu, thế là bọn họ lần lượt âm thầm dẫn quân xuất kích.

Bình thường, để bảo toàn thực lực, Nam Tĩnh Vương vẫn luôn bảo mấy đứa con trai thay phiên nhau tác chiến nhằm tiêu hao sức lực của Lý Lận Chiêu.

Thế nhưng đêm nay, mấy vị Quận vương ai nấy đều mang mưu đồ riêng, gần như đã dốc toàn bộ lực lượng ra quân.

Đối mặt với quân địch đông gấp nhiều lần mình, Lận Chiêu vẫn điềm nhiên như không. Nàng vẫn cắt cử một toán tinh nhuệ đêm nay tập kích doanh trại Bắc Yến như cũ để cầm chân Nam Tĩnh Vương, sau đó đích thân dẫn theo hai ngàn tướng sĩ bố trí phòng thủ xung quanh ruộng lúa.

Đêm nay, người đi cùng Lận Chiêu canh giữ ruộng lúa chỉ có Đông Tử. Hai người phục kích trên một sườn núi, đăm đăm quan sát phía trước. Trong màn đêm mịt mùng, bọn họ lờ mờ nhận ra có một lượng lớn binh mã đang áp sát về phía ruộng lúa mạch.

Đông Tử cuống cuồng đến mức đổ mồ hôi đầm đìa, cậu ta liếc nhìn Lận Chiêu rồi nói: “Thiếu tướng quân, ngài đã chọc giận hết thảy mấy tên con trai của Nam Tĩnh Vương tới đây rồi. Quân địch đêm nay chắc chắn không dưới một vạn, chúng ta chỉ có hai ngàn người, làm sao phá địch đây?”

Lân Chiêu ngồi xổm sau bụi cỏ bồng đang dần héo úa, mắt không rời mọi động tĩnh trên ruộng lúa mạch, chỉ trầm giọng đáp: “Đừng hoảng, ta tự có đối sách.”

Mắt thấy người của Ma Ha đã lọt vào vòng phục kích, Lận Chiêu lập tức thổi vang một tiếng còi đêm. Tức thì, tên bay như mưa dày đặc cắm phập vào quân địch, toán quân tiên phong của Ma Ha ngã rạp. Chiến sự nhanh chóng bùng nổ, người Bắc Yến tựa triều dâng tràn vào ruộng lúa mạch, Lận Chiêu đích thân dẫn binh từ sườn núi xông xuống, đôi bên giao tranh ác liệt.

Đến khi A Nhĩ Nạp dẫn binh tới nơi thì tiếng giết chóc đã vang trời dậy đất. Ba vị Quận vương đã tham chiến khiến Lận Chiêu nhất thời không biết nên tập trung đánh trả kẻ nào. A Nhĩ Nạp nấp một bên, thấy Lận Chiêu đang phải chật vật chống đỡ, binh lực thiếu hụt, bèn không nhịn được mà cười lớn: “Hỡi các chiến sĩ, mau theo ta vòng ra sau sườn núi! Bản vương đã sớm nghe ngóng được mấy ngày nay quân sĩ Đại Tấn đều cắt mạch vào ban ngày, giờ đây phần lớn lúa mạch đã được cất giấu trong thung lũng sau núi, chúng ta mau đi cướp lương thôi!”

Đúng là “hổ phụ sinh hổ tử”, các con trai của Nam Tĩnh Vương không chỉ kiêu dũng thiện chiến mà còn mưu sâu kế hiểm. Điển hình như A Nhĩ Nạp này cũng cực kỳ xảo quyệt, mấy ngày nay hắn tấn công không mấy dốc sức, ngược lại liên tục phái mật thám dò la động tĩnh của Lận Chiêu. Nhờ nắm thóp được thực hư, hắn đã tung ra một chiêu “đánh úp sau lưng”, vào thẳng căn cứ trung tâm.

A Nhĩ Nạp lập tức dẫn người vòng ra sau sườn núi, dễ dàng hạ gục toán lính canh lương thảo. Hắn ra lệnh cho quân lính lùa từng xe lương thực, không chút chậm trễ mà hối hả rút quân về.

Tiếc thay, ngay khi sắp rời khỏi đường biên giới của Đại Tấn, thì từ trong một cánh rừng hồ dương bỗng nhiên có mấy toán quân lao ra giết tới.

“Ha ha ha! A Nhĩ Nạp, không ngờ tới phải không? Ca ca đây ‘ôm cây đợi thỏ’, cuối cùng cũng đợi được ngươi rồi!”

Hóa ra tam tử của Nam Tĩnh Vương là Chu Nguyên đã âm thầm lôi kéo thêm hai người huynh đệ khác, dùng kế ‘lấy sức nhàn đợi quân mỏi’, chỉ chờ A Nhĩ Nạp và Ma Ha đánh nhau sứt đầu mẻ trán, là bọn họ sẽ nhảy ra ngư ông đắc lợi.

A Nhĩ Nạp cũng chẳng hề nổi giận, ngược lại còn chuẩn bị nhân lúc hỗn loạn này mà kết liễu luôn gã đối thủ cạnh tranh kia.

Tiếc thay, A Nhĩ Nạp vừa mới rời đi, Lận Chiêu đã lập tức cho người tiết lộ tin tức cho Ma Ha. Ma Ha vừa nghe tin A Nhĩ Nạp đã nẫng tay trên toàn bộ lương thảo, thì chẳng còn tâm trí đâu mà dây dưa với Lận Chiêu nữa, không nói hai lời liền lập tức dẫn binh đuổi giết A Nhĩ Nạp.

Còn Lận Chiêu thì sao? Nàng nhanh như cắt nhảy vọt lên lưng ngựa, vung cây trường thương chém gục mấy tên lính Bắc Yến không kịp né tránh, rồi thét lớn một tiếng với các tướng sĩ phía sau: “Các tướng sĩ, mau theo ta giết sạch quân thù!”

“Rõ!”

Đợi đến khi nàng đuổi tới biên giới hai nước, thì mấy gã con trai của Nam Tĩnh Vương đã sớm lao vào giết chóc lẫn nhau. Đúng lúc đó, Lận Chiêu dứt khoát bắn ra những mũi hỏa tiễn về phía mấy chục xe lương thực. Trong xe vốn đã giấu sẵn hỏa dầu, tàn lửa vừa chạm vào liền bùng lên dữ dội, thiêu rụi cả đoàn xe thành một biển lửa. Lúc này bọn A Nhĩ Nạp mới bừng tỉnh nhận ra, mình đã trúng kế của Lý Lận Chiêu rồi.

Đầu tiên là giả vờ yếu thế để đánh lừa quân địch, kế đến là dụ địch tiến sâu, dùng kế ly gián, và cuối cùng là ‘bắt ba ba trong hồ lô’.

Cho dù Nam Tĩnh Vương có dẫn binh đến cứu viện, thì thất bại của Bắc Yến trong trận này cũng đã định. Quân địch thương vong thảm trọng, cuối cùng với cái chết của Ma Ha và Chu Nguyên trên chiến trường, thì cuộc chiến cướp lương mùa thu năm nay chính thức khép lại.

Đây là chiến tích lớn nhất của Lý Lận Chiêu đối với Bắc Yến kể từ khi cầm quân đến nay. Trận đánh này đã đập tan nhuệ khí của quân Bắc Yến, khiến ngay cả một kẻ cương mãnh như Nam Tĩnh Vương, trong nỗi đau mất đi hai người con trai thì cũng buộc phải thu quân trở về.

Tiếng reo hò khắp quân doanh Túc Châu vang dội như sấm dậy, ai nấy đều hết lời ca ngợi Thiếu tướng quân dùng binh như thần.

Bùi Việt đương nhiên cũng đã nghe nói về chiến công của Lân Chiêu, trong lòng vừa bội phục lại vừa có thêm vài phần phức tạp. Tuy nhiên, lần này chàng không theo ra tiền tuyến, dù sao mục đích chàng đến đây cũng là để điều động lương thảo. Nếu không giải quyết được tận gốc vấn đề quân nhu, thì quân Túc Châu sẽ mãi luôn bị kìm chân kìm tay.

Chính vì thế, trong khoảng thời gian tiếp theo, Bùi Việt đã đi thị sát khắp các hộ quân nhu trên toàn cõi Ung Châu.

Đừng nhìn Lý Tương là chủ soái của quân Túc Châu mà lầm, riêng về mảng dân chính, thì ông ấy hoàn toàn không thể can thiệp vào được.

Dân chính tại các cửa ải biên thùy như Túc Châu đều do Bố chính sứ Thiểm Cam quản lý. Để tránh việc chủ soái biên cương nắm quyền lực quá lớn, ba vị Bố chính sứ, Án sát sứ và Lý Tương nắm giữ quyền hạn kiềm chế lẫn nhau, không ai thuộc quyền điều hành của ai. Quân hộ trong thời chiến sẽ thuộc quyền cai quản của Lý Tương, nhưng lúc nhàn rỗi giải tán về từng hộ thì lại do huyện nha địa phương quản lý.

Mặc dù quân đồn có thể cung cấp một lượng lương thực nhất định, nhưng ở vùng Túc Châu này, sản lượng thực sự không cao. Một hộ quân đồn làm ra không đủ lương ăn cho binh sĩ của hộ đó trong nửa năm. Huống hồ Túc Châu vốn là nơi chiến sự kéo dài, nhiều hộ quân đã phải ly tán và chạy trốn xuống phía Nam, nhân lực và ruộng đất đồn trú hoàn toàn không đủ đáp ứng quân nhu.

Ngoài ra, cũng có không ít hào cường địa phương chiếm đoạt ruộng đất. Chính vì vậy, ngay khi Bùi Việt đến đây, chiêu đầu tiên chàng tung ra chính là kiểm kê lại đất đai.

Dựa vào thân phận thiếu chủ nhà họ Bùi, lại đang gánh trên vai bản quân lệnh trạng, vị tân khoa Trạng nguyên trẻ tuổi này có thể nói là ‘thần ngăn diệt thần, Phật cản giết Phật’. Chỉ trong vòng chưa đầy một tháng, chàng đã tự mình sát phạt và mở ra một con đường máu.

Đầu tiên, chàng bày ra một bữa ‘Hồng Môn yến’, mời các đại hộ và hào cường địa phương ở Ung Châu đến dự tiệc. Dĩ nhiên, số người đến không nhiều, phần lớn đám hào cường đều chẳng nể mặt chàng. Bùi Việt cũng không hề nổi giận, chàng lợi dụng bữa tiệc này để dò xét các phe phái trong đám hào cường đó. Đừng nhìn đám người này ngang nhiên chiếm đoạt ruộng đất, chuyên đối đầu với triều đình mà lầm, thực chất sau lưng chúng nếu không có chỗ dựa trong triều thì cũng là kết bè kết cánh, vây cánh chằng chịt.

Mà kẻ có thực lực hùng hậu nhất trong số đó chính là một hào cường họ Hạc ở vùng Tây Sơn.

Sau khi nắm rõ chân tướng, Bùi Việt liền dùng kế phân hóa, khoét sâu thêm những mâu thuẫn vốn có giữa bọn chúng.

Nắm bắt được một cơ hội, chàng tự lấy mình làm mồi nhử, dấn thân vào hang cọp. Đám người họ Hạc âm thầm lên kế hoạch bắt sống Bùi Việt để phi tang mọi bằng chứng. Thế nhưng chúng không ngờ rằng Bùi Việt đã sớm chuẩn bị chiêu ‘trong đánh ra ngoài đánh vào’, cuối cùng lợi dụng mâu thuẫn giữa các gia tộc để tiêu diệt gọn cả nhà họ Hạc.

Trận này giúp chàng tạo dựng được danh tiếng, giáng một đòn dằn mặt cực mạnh cho toàn bộ đám cường hào tại Ung Châu.

Nhổ bỏ được khối u ác tính cứng đầu nhất, nên việc kiểm kê ruộng đất sau đó diễn ra thuận lợi hơn nhiều.

Ngày hôm ấy, Bùi Việt một lần nữa tìm đến quân doanh Túc Châu.

Bấy giờ mặt trời đã ngả bóng về phía tây, nơi cuối chân trời từng áng mây trôi nổi bềnh bồng.

Lận Chiêu vừa khéo cưỡi ngựa từ đồn gác đầu cầu trở về. Vừa vượt qua cổng trại, nàng đã trông thấy người nam nhân trẻ tuổi nọ đang đứng giữa muôn trượng rạng đông, thần sắc ôn hòa trò chuyện cùng mấy vị quan viên.

Hôm nay vòm trời vạn dặm không một gợn mây, ánh ráng chiều thực sự rực rỡ lấp lánh, thế nhưng còn rực rỡ hơn cả ráng chiều chính là khuôn mặt trắng lạnh nọ, mày mắt thanh sạch rõ nét mà không mất đi vẻ sắc sảo, tựa như tiên nhân trong tranh được Nữ Oa dày công điêu khắc, mang một vẻ tuấn mỹ độc nhất vô nhị trên đời.

Sao lại có người đẹp trai đến nhường này cơ chứ…

Những động thái gần đây của Bùi Việt vốn không hề qua mắt được Lận Chiêu. Thậm chí khi chàng dấn thân vào vùng Tây Sơn, Lận Chiêu đã phái vài tên tướng sĩ tâm phúc bí mật trợ giúp để bảo vệ an toàn cho chàng. Suốt hai tháng nay, hai người tuy không gặp mặt, nhưng một người nơi tiền tuyến xông pha trận mạc, một người ở hậu phương tung hoành ngang dọc, một văn một võ sóng vai chiến đấu.

Lận Chiêu thúc ngựa đến bên cạnh Bùi Việt: “Bùi đại nhân, nghe danh đại nhân trận đầu đã thắng lớn, hay là đêm nay Lận Chiêu ta đứng ra thiết tiệc mừng công cho ngài nhé.”

Đã một khoảng thời gian khá dài không gặp, Bùi Việt nhìn Lận Chiêu mà thần sắc thoáng chút ngẩn ngơ.

Nàng vẫn đeo mặt nạ như trước, vẫn là vị Thiếu tướng quân tài hoa lỗi lạc ấy.

Thế nhưng, chiếc mặt nạ kia lại chỉ từng vì một mình chàng mà tháo xuống.

Trong lòng Bùi Việt nhất thời dâng lên cảm giác vui buồn lẫn lộn.

Kể từ sau ‘mối hiềm khích’ lần đó, Bùi Việt đối với Lận Chiêu bây giờ là có thể tránh thì sẽ tránh. Thế nên, chàng cung kính hành lễ rồi nghiêm nghị nói: “Bái kiến Thiếu tướng quân. Chuyện quân nhu vốn là nhiệm vụ nặng nề và đường còn dài, nay chỉ mới bắt đầu, thật sự không đáng để mừng công đâu.”

Lận Chiêu chỉ mỉm cười, cũng không nói thêm gì cả.

Đúng lúc này, người từ trướng chính của trung quân đi tới, mời cả hai cùng qua đó.

Bùi Việt và Lân Chiêu người trước người sau bước vào trướng chính. Lý Tương trước tiên dành lời khen ngợi cho Bùi Việt một phen, sau đó mới hỏi vào việc chính.

Bùi Việt thưa: “Hầu gia, việc kiểm kê ruộng đất tuy đã có tiến triển, nhưng theo những gì hạ quan tìm hiểu được, dù có thu hồi lại được một phần đất đai thì cũng chỉ như muối bỏ bể mà thôi. Chính vì vậy, hạ quan lại nghĩ ra thêm một kế sách nữa…”

Nói xong, chàng trình lên cho Lý Tương một bản sớ do tự tay mình viết.

Lý Tương trịnh trọng đón lấy, xem kỹ từng chữ từng câu, ánh mắt mỗi lúc một sáng rực lên. Ông ấy không khỏi kinh ngạc tán thưởng: “Không hổ danh là Trạng nguyên lang! Cách này hay, cách này quá tuyệt! Hiền điệt à, nếu quốc sách này có thể triển khai thuận lợi, thì quân lương của Túc Châu ta từ nay không còn gì phải lo lắng nữa!”

Những năm qua, tuy giữa Bắc Yến, Bắc Tề và Đại Tấn luôn xảy ra chiến sự liên miên, nhưng thực tế việc giao thương ở biên giới vẫn chưa hoàn toàn bị cắt đứt. Thậm chí có thể nói, việc Bắc Yến nhiều lần dấy binh cũng có một phần nguyên nhân là muốn ép Đại Tấn phải mở cửa thị trường. Quan lại hai nước vẫn chưa bao giờ ngừng đàm phán về việc mở cửa giao thương, Bùi Việt đến Túc Châu với thân phận Khâm sai, cũng chính là để gánh vác trọng trách mở cửa thị trường này.

Quốc sách mà Bùi Việt muốn thúc đẩy chính là: Yêu cầu các thương gia trong lãnh thổ Đại Tấn phải vận chuyển một lượng lương thực định mức đến Túc Châu, đổi lại họ sẽ có được tư cách thông thương và giao thương biên giới với Bắc Yến và Đại Tề. Một khi quốc sách này được thực thi thành công, thì Túc Châu từ nay về sau sẽ không bao giờ còn phải lo thiếu lương thảo nữa.

Lận Chiêu thấy Lý Tương tán dương không ngớt, liền lập tức đứng dậy đón lấy bản sớ: “Để con xem thử nào…”

Sau khi đọc lướt qua thật nhanh, đáy mắt của Lận Chiêu lộ ra thần thái sắc sảo và rạng rỡ: “Quả là diệu kế! Cha à, chúng ta hãy cùng nhau dâng thư lên triều đình, thuyết phục bệ hạ chấp thuận phương pháp này đi.”

“Được!”

“Việc không nên chậm trễ, ta sẽ viết thư gửi cho triều đình ngay!”

Lý Tương viết xong hai bức thư, giao cho Bùi Việt rồi dặn dò: “Hiền điệt, bức thư bên trên này cháu hãy mang đến giao cho Bố chính sứ Thiểm Cam, yêu cầu ông ta cùng cháu dâng sớ. Chỉ cần vị Bố chính sứ là Từ đại nhân kia đồng ý, thì cháu hãy gộp bản sớ của ta cùng với sớ của hai người các cháu, rồi đồng loạt gửi về kinh thành.”

Kế sách này của Bùi Việt, dù thế nào cũng cần có cái gật đầu của Bố chính sứ Thiểm Cam, và Lý Tương chính là đang giúp chàng quét sạch những vật cản trên con đường này.

“Đa tạ Hầu gia!” Bùi Việt lên tiếng cảm tạ, rồi lập tức cầm theo hai phong thư, phi ngựa thần tốc trở về Ung Châu.

Lận Chiêu tiễn Bùi Việt ra khỏi quân doanh rồi mới quay trở lại trướng chính, nàng không khỏi cảm thán: “Cha à, Bùi Việt này thật sự rất lợi hại, đúng là có tài của bậc tể phụ.”

“Chứ còn gì nữa? Dù sao cũng là thiếu chủ nhà họ Bùi, nếu không có chút bản lĩnh thực thụ thì bệ hạ đã chẳng phái hắn đến Túc Châu này.”

“Lý Tương vừa nói vừa thở dài đầy tiếc nuối. Chẳng biết nhớ ra chuyện gì, ông lại lấy ra một bức thư khác rồi trải phẳng lên bàn.

Lận Chiêu thấy sắc mặt cha mình có chút khác lạ, liền tò mò hỏi: “Cha, cha đang viết gì thế?”

Lý Tương đáp: “Còn viết gì được nữa, chẳng phải là chuyện hôn sự của con đó sao!” Ông vừa hạ bút, vừa bí mật quan sát thần sắc của nàng: “Con đã không nguyện ý gả cho người ta, vậy thì hôn sự này không thể kéo dài thêm nữa. Cha sẽ viết một phong thư gửi đi Đàm Châu ngay bây giờ, bảo Lý hương thân hủy bỏ hôn ước này thôi…”

(Hương thân: Những người có học thức, địa vị và uy tín trong làng xã thời xưa).

Lận Chiêu nghe vậy, theo bản năng liền lao tới, nhanh chóng ấn chặt lấy cổ tay ông: “Cha, việc gì mà phải vội thế!”

“Sao lại không gấp? Năm nay hắn đã mười tám tuổi rồi, chính là thời điểm đại cát để bàn chuyện cưới hỏi! Chúng ta không thể làm lỡ dở tương lai của người ta được!”

Thấy đôi lông mày của Lân Chiêu khẽ nhíu lại, Lý Tương bỗng nở nụ cười hóm hỉnh: “Sao thế, con không nỡ à?”

Lận Chiêu im lặng không nói.

Lý Tương nhìn thấu tâm tư của con gái, ông hớn hở hỏi: “Ưng rồi à?”

“Vâng, con ưng rồi.”

“Vậy thì đánh chiếm lấy!”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

Lận Chiêu đứng thẳng người hành một quân lễ chuẩn xác, rồi cười rạng rỡ bước ra khỏi doanh trại.

>>

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *