Hầu Môn – Chương 18

Chương 18

Bùi Việt thản nhiên gật đầu rồi đứng dậy trước. Có lẽ đoán được Minh Di đang cảm thấy ngượng ngùng, nên trước khi rời đi chàng còn chu đáo kéo kín rèm trướng lại cho nàng.

Nghe tiếng bước chân dần xa, Minh Di mới thực sự thở phào một hơi dài.

Mọi việc vừa diễn ra thật quá đỗi không tưởng. Cứ như thể có một chiếc chày giã đối diện với đóa hoa ấy mà ra sức giày xéo, qua ngàn vạn lần tôi luyện mới nghiền ép ra thứ mật dịch dính dớp lầy lội. Nàng không thể tưởng tượng nổi bản thân mình lại có thể trở nên như thế. Nàng ôm lấy trán một hồi lâu, mãi sau mới dần dần bình tâm trở lại.

Khi tâm trí dần bình lặng, dư vị nồng nàn vẫn còn len lỏi trong xương cốt nhưng lại khiến nàng tỉnh táo hơn bao giờ hết. Không thể phủ nhận, sự mệt mỏi là thật, mà khoái lạc cũng chẳng phải là giả.

Minh Di thầm nghĩ, chẳng trách nam nhân trong thiên hạ cứ nhắc mãi về thê tử ở nhà, hóa ra hương vị vui thú này lại dễ khiến người ta mê đắm đến thế.

Khẽ thở dài một tiếng, nàng nhanh chóng thu xếp lại mớ tâm tình hỗn độn, bước xuống giường và lẳng lặng đi vào phòng tắm. Nàng cần làn nước lạnh để gột rửa sạch sẽ những dấu vết dư thừa, trở lại là một Lý Minh Di điềm tĩnh như chưa từng có chuyện gì xảy ra.

Minh Di vừa rời khỏi, Phó ma ma đã lặng lẽ tiến vào. Là người từng trải, bà chỉ cần nhìn qua là hiểu ngay chuyện gì vừa diễn ra, chẳng đợi chủ nhân lên tiếng. Phó ma ma đã nhanh nhẹn điều động hai nha hoàn lanh lợi vào thu dọn; trong chớp mắt, chiếc giường bốn cột đã lại tinh tươm như mới, hương trầm mới được thắp lên lan tỏa dịu nhẹ, nước ấm cũng được chuẩn bị sẵn sàng trước khi bà lui ra.

Bùi Việt vận y phục sạch sẽ bước ra ngoài. Trận “kịch chiến” vừa rồi khiến chàng đổ không ít mồ hôi, cổ họng hơi khô khốc. Chàng thong thả đi tới chiếc bàn gỗ bên bình phong, tự rót cho mình một chén nước. Ánh mắt chàng lướt qua chiếc đồng hồ đồng trên giá cổ vật phía Đông: đã là giờ Tý hai khắc, muộn hơn thói quen thường ngày của chàng đúng hai khắc. Một sự phá lệ hiếm hoi. Cứ ngỡ giờ này cơ thể sẽ mệt mỏi rã rời, nhưng lạ thay, khi dục vọng được giải tỏa, chàng lại cảm thấy toàn thân khoan khoái, tinh thần cũng thông suốt đến lạ lùng.

Nhấp ngụm nước ấm, Bùi Việt hồi tưởng lại những gì vừa diễn ra. Đến tận lúc này chàng mới cảm nhận được rằng đêm nay mới thực sự được coi là một buổi thành thân đúng nghĩa.

Trên gương mặt vốn luôn lạnh lùng của vị Các lão thoáng hiện một nét thỏa mãn kín đáo, thứ cảm xúc lạ lẫm mà có lẽ ngay cả chính bản thân chàng cũng chưa kịp nhận ra.

Đúng lúc đó, tiếng nước trong phòng tắm dứt hẳn, bóng dáng Minh Di thướt tha vòng qua bức bình phong bước ra ngoài.

Bùi Việt thong thả quay người lại. Ánh mắt hai người bất ngờ chạm nhau giữa không gian tĩnh mịch. Tuy nhiên, thay vì sự ngượng ngùng hay nồng nhiệt của một cặp phu thê mới nếm trái cấm, cả hai đều khoác lên mình vẻ thản nhiên đến cực điểm, tuyệt nhiên không để lộ một chút cảm xúc nào.

Chỉ thấy mái tóc đen nhánh của nàng xõa tung rủ xuống, điểm thêm vài phần nhu mì nữ tính cho người vốn dĩ luôn toát ra vẻ anh khí như nàng. Nàng mang theo gương mặt tĩnh lặng dịu dàng bước tới bên bức bình phong. Chiếc đèn lồng treo nơi góc tường tỏa ánh sáng như ngọc, soi rọi gương mặt thanh tú rạng rỡ, đẹp đến nao lòng.

Nàng cực kỳ xinh đẹp, lại là vẻ đẹp càng nhìn càng thấy cuốn hút.

Bùi Việt đoán là cổ họng nàng đang khô rát, liền chủ động rót một chén trà rồi đưa cho nàng: “Uống cho thấm giọng đi.”

Đôi chân của Minh Di có chút rã rời, nhưng nàng không để lộ sự thất thố ấy trước mặt chàng, chỉ đón lấy chén trà rồi cúi đầu uống cạn. Ban nãy ánh mắt của Bùi Việt dừng trên người nàng khá lâu, nếu nàng không nhìn lầm thì dường như trong đó ẩn chứa một tia chiếm hữu vô cùng kín đáo.

Chẳng lẽ đây chính là sự khác biệt sau khi đã có quan hệ xác thịt sao?

Bùi Việt đứng cách nàng không xa, chừng khoảng một bước chân. Trước kia chàng chưa từng để ý, nay nhìn kỹ mới thấy vóc dáng Minh Di thực sự rất cao ráo, nàng đứng đến tận cằm chàng, chẳng giống như những muội muội khác thường phải vất vả ngẩng đầu lên mới nói chuyện được với chàng. Khoảng cách này… khiến chàng cảm thấy thoải mái một cách kỳ lạ.

Giờ đây, hai người đã chính thức là phu thê danh chính ngôn thuận rồi.

Chàng dường như muốn nói gì đó, nhưng lại chẳng biết nên bắt đầu từ đâu. Nhớ lại lúc nãy khi mới tiến vào, thần sắc của Minh Di rõ ràng là vô cùng khó nhẫn nhịn, chàng bèn hỏi: “Có làm nàng đau không?”

Cái câu hỏi này thật là…

Một tay của Minh Di cầm chén trà, tay kia vòng qua ôm lấy khuỷu tay mình, nàng đón nhận ánh mắt của chàng rồi lắc đầu đáp: “Không có.”

Hai người đứng đối diện nhau, cứ trân trân nhìn đối phương một cách khô khốc. Trước kia ít ra vẫn còn tìm được vài chủ đề để tán gẫu, hôm nay lại hoàn toàn không biết phải nói gì cho phải.

Ánh mắt một lần nữa né tránh nhau.

Bùi Việt nói: “Mau ngủ đi.”

Đã quá muộn rồi.

Minh Di đặt chén trà xuống rồi sải bước về phía chiếc giường bát bộ. Mới đi được hai bước, nàng bỗng dưng ngoái đầu lại. Người đàn ông phía sau đang kiên nhẫn sắp xếp lại chén trà mà nàng vừa đặt lộn xộn. Chàng mặc bộ trường bào rộng màu xanh xám, dáng người đứng đó cao ráo như ngọc. Nhận ra nàng đang nhìn mình, chàng dời tầm mắt qua, đôi mắt ấy mang theo vẻ sáng trong và thanh tú như vừa được gột rửa, khí chất thanh cao thoát tục, đẹp đến mức không gì sánh bằng.

Minh Di tự nhủ với lòng mình rằng cũng không thiệt thòi gì, từ trong thâm tâm nàng đã chấp nhận cuộc mây mưa vừa rồi.

Cả hai đều đã thấm mệt, bèn thổi đèn rồi lên giường.

Khoảng cách giữa họ không đến nỗi quá xa, nhưng cũng chưa tới mức ôm nhau ngủ.

Hai người nhanh chóng chìm vào giấc ngủ sâu.

Ngày hôm sau, Bùi Việt thức giấc muộn hơn thường lệ một khắc. Sự xáo trộn đột ngột này khiến mọi lịch trình trở nên dồn dập, tựa như kim đồng hồ bị ai đó thúc bách, khiến tâm trạng của chàng không khỏi bực bội. Phó ma ma lén lút quan sát, thấy gương mặt của gia chủ trầm mặc như mặt hồ lặng sóng, tuyệt nhiên không nói một lời, trong lòng bà không khỏi cảm thấy thấp thỏm. Trước nay Bùi Việt vốn tự giác, chưa từng để bà phải nhắc nhở chuyện giờ giấc. Nghĩ đến việc đêm qua chàng thức khuya, bà vì xót xa nên mới chần chừ không nỡ đánh thức, thầm nghĩ muộn một khắc chắc cũng chẳng sao. Nhưng nhìn vẻ mặt lạnh lùng của gia chủ lúc này, bà mới biết mình đã lầm rồi.

Phó ma ma định mở lời xin lỗi thì Bùi Việt đã chỉnh đốn xong y phục. Chàng chỉ để lại một câu dặn dò ngắn gọn: “Đừng làm ồn, cứ để nàng nghỉ ngơi cho tốt.”

Phó ma ma vội vàng vâng dạ, lời tạ tội định nói cũng đành nuốt ngược vào trong.

Nói xong câu này, sắc mặt của Bùi Việt dường như đã rạng rỡ hơn đôi chút. Chàng thắt lại áo choàng rồi thong thả bước ra khỏi Trường Xuân Đường, đi qua cửa nhỏ trước thư phòng. Đội tùy tùng đã túc trực sẵn ở đó, ai nấy đều có vẻ ngạc nhiên vì hôm nay gia chủ lại xuất phát muộn hơn thường lệ; tuy không ai lên tiếng, nhưng vẻ kinh ngạc đều hiện rõ trên khuôn mặt của mỗi người.

Bùi Việt lẳng lặng day nhẹ huyệt thái dương.

Đúng là hỏng việc mà.

Triều đình ngày hôm ấy đương nhiên không hề yên bình. Tề Tuấn Lương nghe theo lời khuyên của Bùi Việt, một mặt phong tỏa tửu lầu bám chặt không buông; mặt khác lại cấp tốc điều động nhân thủ đột kích Đào Hoa Ổ ngay trong đêm, bắt giữ toàn bộ người lớn kẻ nhỏ trong đó đưa về quy án.

Mụ tú bà của Đào Hoa Ổ kia cũng là một nhân vật lợi hại. Mụ ta độ chừng bốn mươi tuổi, phong thái vẫn còn mặn mà. Giữa tiết trời đông giá rét mà chỉ khoác một lớp áo mỏng manh, quỳ dưới công đường, mụ che mặt khóc sướt mướt, một mực khẳng định bản thân không hề hay biết chuyện gì, khăng khăng cho rằng có kẻ đã vu oan giá họa cho mình.

Có điều, đám cai ngục già đời ở Hình Bộ cũng chẳng phải dạng vừa, mấy trò tiểu xảo này họ đã thấy quá nhiều nên không dễ gì mắc lừa. Sau một hồi dùng cực hình tra tấn, mụ tú bà bị hành hạ đến đi đi sống lại, cuối cùng không chịu nổi phải khai nhận rằng tư gia quả thực có nhận bạc của người khác để đứng ra thu xếp cho sát thủ hành sự.

“Chỉ là quan lớn ơi, ngài cũng biết đấy, bọn ta làm nghề này thì có quy tắc của nghề này, kẻ đứng sau màn lẽ nào lại để bọn ta nhìn thấu thực hư? Hắn trốn còn kỹ hơn cả lũ chuột nhắt trong rừng sâu ấy chứ. Mỗi lần người của hắn tới đều dùng khăn trùm kín mặt, chẳng để lộ chân tướng, nô gia cũng chưa từng hỏi nhiều, mà cũng không dám hỏi nhiều, chỉ bàn xem cần bao nhiêu người, khi nào cần, rồi đưa ra một mức giá hợp lý là được ạ.”

Viên Lang trung Hình Bộ chống tay lên bàn án, nhìn mụ chằm chằm đầy âm hiểm: “Được thôi, vậy thì giao sổ sách ra đây để ta xem cho rõ ràng.”

Mụ tú bà mỉm cười lả lơi, đưa vài ánh mắt đưa tình: “Quan lớn ơi, cái loại buôn bán giết người này sao có thể để lại dấu vết? Càng không thể ghi chép sổ sách, cứ tiền trao cháo múc là xong thôi ạ…”

Vị quan Hình bộ kia nào có quan tâm, lại cho một trận đòn roi nữa, đồng thời phái người lục soát tỉ mỉ từng ngóc ngách trong căn cứ của Đào Hoa Ổ. Cuối cùng, bọn họ lật một viên gạch lát nền lên và tìm thấy một cuốn sổ cái. Mụ tú bà thấy đại thế đã mất, để lập công chuộc tội, mụ đành phải khai ra toàn bộ những gì mình biết.

Có được bằng chứng trực tiếp trong tay, Tề Tuấn Lương lập tức đi thẳng đến Nội các để tìm Bùi Việt.

Chuyện xảy ra đêm qua đã kinh động đến Thánh thượng, Bùi Việt phải vào cung trình bày cụ thể sự việc, lại còn phải dự triều nghị và phê duyệt tấu chương, mãi đến giờ Ngọ mới trở về phòng trực. Tề Tuấn Lương đêm qua gần như thức trắng, quầng mắt thâm đen, nhưng vì cuối cùng cũng có thu hoạch nên thần sắc vẫn còn khá tỉnh táo. Trong lúc chờ Bùi Việt, y đã tranh thủ chợp mắt một lát. Ngay khi Bùi Việt vừa bước vào phòng, y đã không đợi được nữa mà đưa ngay những chứng cứ kia ra: “Đông Đình, đệ xem này, cuốn sổ cái này đối chiếu hoàn toàn khớp với lời khai của mụ tú bà kia. Ngày hai mươi tám tháng Mười, ngày sứ thần tiến vào hành cung Tây Giao, cũng chính là ngày đại hôn của đệ, Đào Hoa Ổ quả nhiên đã nhận một nghìn lượng ngân phiếu và phái tám tử sĩ đi. Có điều mụ tú bà kia thực sự không biết số tử sĩ đó được dùng vào việc gì, mụ chỉ thu tiền rồi điều người đi thôi.”

“Còn về diện mạo của người trung gian, mụ tú bà cũng đã vẽ lại rồi. Theo mô tả của mụ, kẻ đến Đào Hoa Ổ liên lạc năm đó chính là tên thủ lĩnh thích khách đã chết đêm qua.”

“Chỉ là rắc rối đã đến, manh mối dừng lại ở đây, chúng ta phải làm sao mới lôi được kẻ chủ mưu đứng sau ra?” Tề Tuấn Lương nói xong một lèo rồi buông thõng hai tay, ngồi xuống phía đối diện Bùi Việt.

Bùi Việt vừa nghe, trong đầu vừa toan tính về hai việc khác mà Hoàng đế đã giao phó. Giữa lúc trăm công nghìn việc, chàng vẫn dành chút thời gian để suy xét giúp Tề Tuấn Lương, rồi ngồi xuống hỏi: “Vật chứng đâu? Đối phương chẳng phải đã đưa một nghìn lượng ngân phiếu sao, ngân phiếu đó có còn giữ lại không?”

“Có, chúng ở đây…” Tề Tuấn Lương gom tất cả vật chứng vào trong một chiếc tráp, nghe vậy liền mở tráp ra, từ bên trong lấy xấp ngân phiếu một nghìn lượng kia đưa tới: “Đây này, cũng mới là chuyện của mấy ngày trước thôi, tiền vẫn chưa kịp tiêu, cứ để ở đó nên người của chúng ta mới tìm thấy được. Mụ tú bà cũng đã xác nhận rồi, chính là xấp ngân phiếu một nghìn lượng này đây.”

Ánh mắt của Bùi Việt rơi trên xấp ngân phiếu, rồi bỗng nhiên khựng lại.

Những tờ ngân phiếu này trông rất quen mắt, chúng đều xuất phát từ tiệm tiền Mẫn Hành dưới trướng của Bùi gia.

Triều đình Đại Tấn vào thuở sơ khai lập quốc từng cho phát hành tiền giấy, đáng tiếc là việc in ấn tiền giấy lại không có giới hạn, dẫn đến vật giá leo thang, tiền giấy trở nên mất giá rồi dần dần bị bãi bỏ. Giờ đây, thứ được lưu thông rộng rãi nhất vẫn là bạc trắng và tiền đồng do triều đình đúc.

Việc mua bán hằng ngày hay phát bổng lộc hằng tháng thì bạc vụn và tiền đồng vẫn đủ dùng. Thế nhưng một khi số tiền lên đến mức khổng lồ thì việc mang theo bạc trắng bên người lại trở nên vô cùng bất tiện. Trong tình huống đó, khách hàng sẽ mang bạc gửi vào tiệm tiền để đổi lấy ngân phiếu, sau đó mới đến các chi nhánh tương ứng để rút tiền. Lâu dần, loại ngân phiếu này cũng được lưu thông rộng rãi trên thị trường.

Tại Đại Tấn, có bốn tiệm tiền nổi danh nhất: Tiền trang Tấn Tây do các thương nhân vùng Sơn Tây thành lập, Tiền trang Giang Nam do các phú thương Giang Nam liên kết xây dựng, Tiền trang Ích Châu ở vùng Tây Nam, và cuối cùng là Tiền trang Mẫn Hành dưới trướng Bùi gia. Trong số đó, Mẫn Hành là tiệm tiền có uy tín cao nhất và phạm vi lưu thông rộng rãi nhất, thậm chí ngay cả các thương nhân nước ngoài khi đến Đại Tấn cũng đều tìm đến Tiền trang Mẫn Hành để đổi ngân phiếu.

Tại sao ư? Chỉ bởi vì Bùi gia đã đứng vững hàng trăm năm qua không hề lung lay, ngay cả trong thời buổi chiến tranh loạn lạc vẫn đảm bảo việc quy đổi tiền bạc. Trong lòng bách tính, Bùi gia chính là sự tồn tại sừng sững như cây đại thụ chọc trời, uy tín của họ là điều mà các tiệm tiền khác không bao giờ có thể sánh kịp.

Hơn nữa, tiệm tiền Mẫn Hành có quy định đổi ngân phiếu vô cùng nghiêm ngặt. Mỗi một tờ ngân phiếu đều có số hiệu riêng, và mỗi số hiệu đó là độc nhất vô nhị. Ai đã rút đi những số hiệu nào, tiệm tiền đều có ghi chép lại. Thậm chí, chỉ cần nhìn vào bút tích và con dấu trên tờ ngân phiếu này, Bùi Việt đã có thể đoán định được nó xuất phát từ chi nhánh nào của Bùi gia.

Bùi Việt đón lấy xấp ngân phiếu, rút ra một tờ rồi đưa cho Thẩm Kỳ: “Ngươi lập tức sắp xếp người mang tờ ngân phiếu này đến tiệm tiền, kiểm tra xem là ai đã đổi nó.”

Đây chẳng phải lại là ‘sau cơn mưa trời lại sáng’ đó sao?

Tề Tuấn Lương nhìn vị em vợ này, trong lòng khâm phục đến sát đất. Bất kể việc gì rơi vào tay đệ ấy cũng đều có thể ‘gặp núi thì mở đường, gặp nặn thì hóa cát tường’, chẳng trách triều đình và dân chúng đều hết lời khen ngợi đệ ấy là người được Hoàng đế tin tưởng.

Có thể làm tỷ phu của đệ ấy đúng là phúc đức ba đời. Nghĩ đến đây, Tề Tuấn Lương cảm thấy dù bên nhà vợ có không xem trọng mình đến thế nào đi nữa, dường như cũng vẫn có thể chấp nhận được.

“Đông Đình à, đệ cũng một cái đầu, ta cũng một cái đầu, vì sao ta lại chẳng bằng nổi một phần mười của đệ cơ chứ?”

Bùi Việt đối với những lời nịnh nọt kiểu này xưa nay luôn để ngoài tai, chàng thản nhiên nói: “Đệ còn có tấu chương cần phê duyệt, tỷ phu nếu không còn việc gì thì hãy về nha môn trước đi, khi nào có tin tức đệ sẽ thông báo cho huynh sau.”

Tề Tuấn Lương biết đệ ấy bận rộn công vụ nên không dám nán lại lâu, y xua xua tay rồi rời đi.

Phía bên này, Bùi Việt bận rộn đến tận sẩm tối mới trở về phủ. Đêm qua thức khuya, giấc ngủ có chút không yên giấc, trưa nay lại bị Bệ hạ triệu kiến làm lỡ mất giờ nghỉ trưa, thế nên trên đường về chàng tựa vào thành xe nhắm mắt dưỡng thần. Chẳng rõ đã chợp mắt được bao lâu, nghe thấy tiếng vó ngựa cận kề bên ngoài, chàng chợt mở bừng mắt. Rèm xe vén lên, những bông tuyết vụn đã lẳng lặng bay đầy trời từ lúc nào không hay. Một ám vệ thúc ngựa tiến lại gần, đưa qua một phong thư: “Gia chủ, đã có manh mối rồi ạ.”

Bùi Việt nhận lấy rồi buông rèm xe xuống, chàng mở phong thư ra rồi ghé sát vào ngọn đèn lưu ly đặt trên bàn nhỏ trong xe để xem.

Tờ báo cáo này do một vị chưởng quỹ của tiệm tiền Mẫn Hành gửi tới, trên đó viết một dòng chữ vô cùng nổi bật: “Gia chủ, số hiệu ngân phiếu này do Tiêu gia thuộc phủ Viễn Sơn Hầu rút…” Phía sau còn đính kèm chi tiết ngày giờ rút tiền, số tiền cùng với số hiệu khởi đầu và kết thúc của xấp ngân phiếu.

Tiêu gia?

Chân mày của Bùi Việt đột ngột nhíu chặt lại.

Chàng thầm hô không ổn rồi, một khi đã dính líu đến phủ Quân hầu nhất phẩm của triều đình, e rằng sẽ dấy lên một trận phong ba bão táp, máu chảy thành sông, mà đây lại là điều Bùi Việt không hề mong muốn nhìn thấy nhất.

Ngân phiếu tuy là do Tiêu gia rút đi, nhưng cũng có khả năng đã được lưu thông sang tay người khác. Chỉ dựa vào phong thư này thì vẫn chưa đủ để đưa ra kết luận cuối cùng, vẫn cần phải tìm thêm chứng cứ bổ trợ từ những nơi khác.

Và ngay lúc này, chàng bỗng nhiên nhớ ra, mấy ngày trước Tiêu gia từng bồi thường một xấp ngân phiếu cho Minh Di…

Xe ngựa dừng trước cổng lớn của Bùi phủ, trời cũng đã sẩm tối. Trần quản gia tiến lên nghênh đón chàng xuống xe, dâng lên một chiếc lò sưởi tay lên: “Gia chủ, trời lạnh, lại sắp đến kỳ năm hết Tết đến rồi, ngài hãy giữ gìn sức khỏe.”

Bùi Việt đón lấy lò sưởi, ngước mắt nhìn lên bầu trời. Vòm trời mang một màu xanh xám u tối, từng tầng mây thanh trầm lớp lớp chồng lên nhau như muốn đổ ụp xuống, báo hiệu một cơn bão tuyết sắp tràn về.

Chàng dừng bước giây lát rồi mới rảo bước lên bậc thềm: “Hôm nay Thiếu phu nhân bận rộn những việc gì?”

Minh Di gả vào đây đã lâu, nhưng đây là lần đầu tiên Bùi Việt chủ động hỏi han đến sinh hoạt hằng ngày của nàng.

Trần quản gia rảo bước theo sau chàng lên bậc thềm, ông ấy vừa cười vừa đáp: “Lão nô đã hỏi qua Phó ma ma rồi, bà ấy bảo Thiếu phu nhân ở trong viện cả ngày, chẳng đi đâu cả.”

Bùi Việt không khỏi lo lắng, chẳng lẽ nàng thấy trong người không khỏe sao?

Trần quản gia lại nói tiếp: “Gia chủ, tối nay bên phía thái thái có lưu cơm ạ.”

Tuân thị đã dặn dò, tối nay bảo cả Bùi Việt và Minh Di cùng qua thượng phòng dùng bữa.

Trong lòng Bùi Việt đã sáng tỏ, mẫu thân chắc hẳn đã biết chuyện hai người bọn họ vừa viên phòng, trong lòng vui mừng nên muốn bày biện một chút cho thêm phần náo nhiệt đây mà.

Xuân Cẩm Đường nơi Tuân thị ở nằm về phía Tây trục chính của Bùi phủ, vốn không phải là gian thượng phòng bề thế nhất trong nội trạch. Trước đây khi phụ thân của Bùi Việt còn tại thế, Tuân thị cùng phu quân sống ở Thanh Tế Đường nằm ngay chính giữa trục chính. Sau khi phu quân qua đời, bà không muốn sống độc hành ở đó nữa nên đã dời sang Xuân Cẩm Đường ở ngay sát vách.

Ý đồ của bà là muốn để lại Thanh Tế Đường cho phu thê Bùi Việt.

Thế nhưng khi mẫu thân vẫn còn tại thế, Bùi Việt lẽ nào lại chiếm giữ thượng phòng, cho nên suốt những năm qua Thanh Tế Đường vẫn luôn để trống.

Qua khỏi Thùy Hoa Môn, Thanh Tế Đường rộng năm gian đã hiện ra trước mắt. Men theo hành lang gấp khúc rẽ sang phía Tây một đoạn là tới tiểu hoa sảnh trước Xuân Cẩm Đường.

Ngày thường, các cô nương trong hậu trạch rất thích tụ tập ở đây vui chơi, trò chuyện cùng Tuân thị cho bà khuây khỏa.

Hôm nay chỉ có một mình Minh Di đứng trong sảnh, trên người khoác một chiếc áo choàng màu bạc, thần sắc vẫn như cũ không nhìn ra điều gì bất thường. Cho đến khi lại gần quan sát kỹ hơn, thấy sắc mặt nàng có phần nhợt nhạt, Bùi Việt mới lên tiếng hỏi: “Nàng bị bệnh sao?”

Minh Di thực sự cảm thấy trong người không khỏe. Đêm qua nàng đã phải hứng gió lạnh suốt cả đêm ở bên ngoài, sau đó lại cùng Bùi Việt dây dưa trong màn trướng suốt nửa canh giờ đến mức vã mồ hôi đầm đìa. Hết lạnh rồi lại nóng, cứ thế là bị nhiễm lạnh. Có điều, nàng không muốn Bùi Việt phải lo lắng nên chỉ nói: “Làm gì có chứ? Chẳng qua là thiếp dậy hơi muộn nên có chút uể oải mà thôi.”

Đã làm chuyện thân mật nhất, nhưng không có nghĩa là trái tim sẽ lập tức khăng khít không kẽ hở.

Bùi Việt hiểu rõ, Minh Di đứng trước mặt chàng vẫn luôn chọn cách ‘báo hỉ không báo ưu’. Chàng cũng không gặng hỏi thêm, chỉ bảo: “Ở đây gió lạnh, vào nhà trước đã.”

“Đúng rồi, gia chủ.” Minh Di đột nhiên gọi chàng lại.

Bùi Việt ngoảnh lại nhìn nàng: “Có chuyện gì vậy?”

Minh Di chỉ tay vào gian trong, đôi mày thanh tú thoáng ý cười rồi hỏi: “Tối nay có thể cho thiếp uống một chén Nữ Nhi Hồng không?”

Đêm qua vì để không bị chàng tóm được sơ hở, nàng đã buộc phải từ bỏ chén rượu Thiêu Đao Tử, trong lòng Minh Di thực sự tiếc nuối vô cùng. Hôm nay thân thể khó ở, uống một ngụm rượu có thể giúp xua bớt hàn khí và làm ấm cơ thể.

Bùi Việt nghe xong bỗng nhiên bật cười, chàng thong thả hỏi lại: “Nếu ta không nhớ nhầm thì chập tối hôm kia Tạ gia có gửi đến một bình rượu Đồ Tô phải không?’

Không nhắc đến thì thôi, vừa nhắc tới là Minh Di đã không kìm được cơn giận. Nàng bực bội nhìn chàng rồi tố cáo: “Bị Thanh Hòa lén giấu đi rồi, con bé không cho thiếp uống.”

Bùi Việt nghe vậy thì không thể đồng tình hơn: “Thanh Hòa làm đúng đấy.”

Gương mặt nhỏ nhắn của Minh Di lập tức xị xuống, tỏ vẻ rất không vui.

Bùi Việt nhận ra rằng, cứ mỗi khi không cho nàng uống rượu, nàng lại giống như một đứa trẻ đang hờn dỗi, có vài phần thẳng thắn và đáng yêu.

Một thê tử như thế này, so với người ở trên giường tối qua quả thật hoàn toàn khác biệt.

Bùi Việt nhìn nàng thêm vài lượt.

Nhưng chàng cũng không thể chiều hư nàng, chàng nhìn chăm chú vào gò má trắng ngần của nàng, rồi trầm giọng dặn dò: “Hiện giờ chúng ta phải cân nhắc đến chuyện con cái, lúc này nàng có thể không uống rượu thì tốt nhất đừng uống.”

Minh Di nghe xong lời này, bàn tay dưới tay áo khẽ run lên một cách khó lòng nhận ra, thần sắc nàng nhạt đi, không nói thêm lời nào nữa: “Thiếp biết rồi…”

Xem ra, con đường chinh phục người phu quân này đã hoàn toàn bị chặn đứng.

Trông mong Bùi Việt cho nàng uống rượu xem như là chuyện không thể nào nữa rồi.

Vào đến trong phòng, Thập tam thiếu gia Bùi Thừa Huyền cũng ở đó.

Cặp chị dâu em chồng rõ ràng là có tính khí hợp nhau hơn hẳn. Bùi Thừa Huyền vừa trông thấy Minh Di đã thiếu kiên nhẫn mà đưa ngay vật trang trí đang cầm trong tay cho nàng: “Tẩu tẩu, người mau xem này đi, đây là do đồng môn ở Quốc Tử Giám tặng đệ đấy, người xem tượng Phật ngọc này điêu khắc có đẹp không?”

Hai người cứ hễ tụ lại một chỗ là lại có vô vàn chủ đề nói mãi không hết.

Bên chiếc bàn vuông, Bùi Việt và Tuân thị ngồi đối diện nhau, Minh Di và Bùi Thừa Huyền ngồi ở hai phía còn lại đối diện nhau. Tuân thị và Bùi Việt cứ thế nhìn hai người bọn họ trò chuyện.

Minh Di vốn có nghiên cứu về kỹ thuật điêu khắc, nên khi nói về chủ đề này nàng giảng giải vô cùng rành mạch và thấu đáo. Bùi Thừa Huyền có lẽ không ngờ tẩu tẩu mình lại am hiểu điêu khắc đến thế, cảm thấy rất bất ngờ nên cứ thế bám lấy hỏi không ngừng.

Cơm canh đã được bày lên đầy đủ, nhưng vì hai người họ vẫn chưa dứt câu chuyện nên Tuân thị cũng chưa tuyên bố khai tiệc. Bà không giống Bùi Việt, Bùi Việt giống hệt phụ thân chàng, hai cha con họ đều là những người cực kỳ quy tắc, ngày thường ai nấy đều nghiêm nghị, ít khi cười. Tuân thị đã chịu đủ sắc mặt lạnh lùng như băng của cả chồng lẫn con, nên bình thường bà không thích gò bó hay khắt khe với hậu bối.

Bà kiên nhẫn lắng nghe cặp chị dâu em chồng nhà họ tranh luận và phân tích qua lại.

Cứ ngỡ Bùi Việt sẽ lên tiếng ngăn cản, chẳng ngờ thằng bé không những không nói lời nào mà còn mấy bận nhìn về phía Minh Di, dáng vẻ muốn nói lại thôi.

Quả nhiên đã thành phu thê thì khác hẳn, trước đây có bao giờ thằng bé thèm liếc mắt nhìn Minh Di lấy một cái đâu? Giờ thì đã biết nhìn chằm chằm vào thê tử của mình rồi.

Tuân thị mỉm cười nhưng không nói gì.

Bùi Việt chợt nhận ra, cách gọi của Minh Di đối với Thập tam đệ đã thay đổi từ ‘Thập tam đệ’ sang ‘Huyền ca nhi’, đây là biểu hiện của sự thân thiết.

Trong khi đó, đối với chàng, nàng cứ mở miệng ra là một câu ‘Gia chủ’, hai câu ‘Gia chủ’, nghe sao mà khách sáo và xa cách đến vậy.

Chàng là phu quân của nàng, chứ không phải cái chức ‘gia chủ’ gì đó của nàng.

“Vậy hôm khác tẩu tẩu sẽ khắc cho Huyền ca nhi một con dấu nhé.”

“Hay quá, tẩu tẩu!”

“Mạo muội hỏi tẩu tẩu một câu, người đã từng khắc dấu cho ai khác chưa?”

Minh Di liếc trộm Bùi Việt một cái, chỉ thấy vị gia chủ kia đang cụp mắt nhìn xuống, ngồi ngay ngắn nghiêm trang, cả người tựa như một bức tượng điêu khắc hoàn mỹ. Chàng dường như chẳng có chút hứng thú nào với những lời tán gẫu của họ, toàn thân không vương một chút bụi trần.

Minh Di ghé sát người đáp lại Bùi Thừa Huyền: “Ở Bùi phủ này, đệ là người đầu tiên đấy.”

Bùi Thừa Huyền nghe vậy thì hai mắt sáng rực, nhất thời cảm thấy vô cùng mãn nguyện: “Tuyệt quá, nếu tẩu tẩu khắc cho đệ, đệ bảo đảm sẽ mang theo bên mình không rời nửa bước.”

Bùi Việt: “…”

Cuối cùng thì chàng cũng không thể nghe thêm được nữa, liền vô cảm lên tiếng cắt ngang: “Mẫu thân, khai tiệc thôi ạ.”

Tuân thị mỉm cười, sai bảo các bà tử bày biện món ăn.

Bữa cơm này diễn ra vô cùng náo nhiệt. Minh Di không có rượu uống nên đã uống bù tận ba bát canh thịt dê. Sau khi dùng canh, cả người nàng ấm sực lên, chút khó chịu do nhiễm lạnh cũng vơi đi đáng kể.

Dùng xong bữa tối đã là đầu giờ Tuất. Hôm nay tâm trạng của Tuân thị cực kỳ tốt, bà giữ họ lại để trò chuyện phiếm thêm một lúc, thậm chí còn nhắc về Bùi Việt khi còn nhỏ: “Thằng bé mới ba tuổi mà đã giống hệt như một ông cụ non vậy…”

Minh Di mím môi cười thầm, trong lòng nghĩ bụng hiện giờ chàng vẫn đúng là một vị ‘phu tử’ vậy.

Rồi bất thình lình, Tuân thị hỏi về Minh Di: “Minh Di à, còn mẫu thân con thì sao? Thuở nhỏ ai là người đã nuôi nấng con lớn lên?”

Hàng mi dài như lông vũ của Minh Di đột ngột run lên, tựa như cánh bướm dập dờn, nàng cụp mắt xuống: “Con sinh ra vốn đã không có…”

Lời này Minh Di nói ra có chút thiếu tự tin, bởi lẽ, mẫu thân ruột của nàng vẫn còn sống sờ sờ trên đời này.

Có điều sống đến mức dù có gặp nàng, không chừng bà ấy cũng chẳng thể nhận ra.

Tuân thị nghe vậy thì lòng đau như bị gai châm, bà giơ tay kéo hai bàn tay Minh Di vào lòng mình: “Là mẫu thân lỡ lời, chạm vào chuyện buồn của con rồi. Đừng sợ, từ nay về sau ta chính là mẹ của con.”

Minh Di mỉm cười thanh thản, dịu dàng nhìn bà: “Con cảm ơn mẹ…”

Sau một hồi trò chuyện rôm rả, vì sợ nhắc lại chuyện cũ sẽ làm Minh Di thêm đau lòng, Tuân thị ngừng lời rồi bảo hai người trở về.

Ánh đèn lồng trải dài như con rồng lượn, uốn lượn quanh co khắp các viện lớn nhỏ trong Bùi phủ, chiếu rọi vào những bông tuyết đang bay lả tả rõ đến từng chi tiết. Trên đường trở về Trường Xuân Đường, suốt quãng phu thê hai người đường đều im lặng.

Minh Di biết Bùi Việt là người mắc bệnh sạch sẽ. Nàng vừa uống nhiều canh thịt dê, sợ trên người mình vương lại mùi gây, nên đã cố ý đi cách xa chàng một chút. Phu thê mà kiêng dè nhau đến mức này, có lẽ cũng chẳng tìm được đôi thứ hai.

Về đến lối vào Trường Xuân Đường, Bùi Việt vẫn như mọi khi không cùng Minh Di vào phòng mà dừng bước hỏi: “Phu nhân, xấp ngân phiếu mà Tiêu gia bồi thường cho nàng, hiện còn giữ đó không?”

Tim Minh Di đập mạnh một nhịp. Nhanh như vậy đã tra đến Tiêu gia rồi sao? Trong lòng thầm vui sướng, nhưng trên mặt nàng không để lộ một chút dấu vết nào: “Hôm đó gia chủ sai người đưa tới, thiếp đã giao cho Phó ma ma cất giữ rồi ạ.”

Số ngân phiếu đó vốn là do Bùi Việt thay Minh Di đòi về, thế nên chàng hoàn toàn không có chút nghi ngờ nào lên đầu nàng. Chàng gật đầu bảo: “Nàng lấy ra đây đi, ta có việc cần dùng, dùng xong sẽ trả lại cho nàng.”

Minh Di không nói hai lời liền vào phòng, bảo Phó ma ma lấy hộp ra, thậm chí còn chẳng buồn mở ra xem mà đưa hết toàn bộ cho Bùi Việt.

Bùi Việt nhận lấy, dặn nàng nghỉ ngơi sớm rồi quay trở về thư phòng.

Vừa mới vào đến viện, đang định đối chiếu ngân phiếu hai bên thì bên ngoài viện vang lên giọng của Tề Tuấn Lương: “Không sao, ta ăn rồi. Ta chỉ có chút việc tìm gia chủ nhà các người thôi. Đêm lạnh gió gấp, ta không vào làm phiền Thái thái nữa, các ngươi cũng đừng kinh động đến bà…”

Hôm nay Tề Tuấn Lương vốn tổ chức tiệc tiếp khách, nhưng nghe tin phía Bùi Việt đã có manh mối liền vội vàng ăn vài miếng rồi chạy gấp đến Bùi gia.

Phủi sạch lớp sương tuyết trên người bước vào thư phòng, thấy Bùi Việt đang ngồi sau bàn, trước mặt đặt hai chiếc hộp, y ghé sát lại nhìn: “Thế nào rồi, đã có manh mối gì chưa?”

Bùi Việt không vội giải thích mà chỉ tay vào chiếc ghế bành đối diện: “Huynh ngồi xuống đi, ta sẽ nói kỹ cho mà nghe.”

Tề Tuấn Lương nghe lời ngồi xuống, hai tay đặt lên thành ghế, tự rót cho mình một chén trà rồi chờ đợi lời tiếp theo của Bùi Việt.

Sắc mặt của Bùi Việt nghiêm trọng hiếm thấy: “Tỷ phu, kẻ mua chuộc sát thủ chặn giết sứ đoàn… rất có thể là Viễn Sơn Hầu Tiêu Trấn.”

Tề Tuấn Lương giật thót mình, nước trà trong tay chao lảo suýt chút nữa là đổ ra ngoài, y ngồi không vững nữa: “Đệ không lừa ta đấy chứ?”

“Đó là Tiêu Trấn đấy! Là gia chủ của Tiêu gia, một trong bốn đại phủ Quân hầu lẫy lừng, còn là nhạc phụ của Hằng Vương điện hạ đương triều. Đệ nói ông ta chặn giết sứ đoàn, làm sao có thể? Làm vậy thì có ích gì cho ông ta?”

Thấy y có vẻ không tin, Bùi Việt cũng chẳng lấy làm lạ. Chàng chỉ trải hai tờ ngân phiếu trước mặt ra, rồi đối chiếu từng chút một: “Ta đã tra ra rồi, một ngàn lượng ngân phiếu ở Đào Hoa Ổ là từ Tiêu gia mà ra.”

Tề Tuấn Lương cũng không phải kẻ ngốc: “Cho dù ngân phiếu xuất phát từ Tiêu gia, thì cũng không nhất định có nghĩa là người thuê tử sĩ chính là Tiêu gia.”

“Đúng vậy.” Bùi Việt lại lấy xấp ngân phiếu mà Minh Di vừa đưa đưa ra cho y xem: “Thế nhưng ba ngày trước, ta đã thay phu nhân đòi lại khoản bồi thường từ Tiêu gia. Quản gia Tiêu gia đích thân tới cửa và đưa tới xấp ngân phiếu này, trên đó còn có con dấu của phòng tổng kế toán Tiêu gia. Số hiệu trên những tờ ngân phiếu này cực kỳ gần với số hiệu của một ngàn lượng ở Đào Hoa Ổ. Nói cách khác, xấp ngân phiếu này được rút ra cùng một lúc.”

“Ngày rút tiền là vào mùng sáu tháng mười năm nay, tính đến nay cũng chỉ mới hơn một tháng, tổng trị giá một vạn lượng. Với số lượng ngân phiếu lớn như vậy, Tiêu gia không thể nào lưu thông hết sạch trong thời gian ngắn được. Hơn nữa, một ngàn lượng kia có mệnh giá một trăm, tổng cộng mười tờ, số hiệu đều liên tiếp nhau. Xét về mặt khả năng thì Tiêu gia có diện hiềm nghi lớn nhất.”

Tề Tuấn Lương hít một hơi thật sâu: “Xem ra, Tiêu gia thực sự đã tham gia vào hai vụ chặn giết này rồi.”

Bùi Việt chậm rãi thu lại xấp ngân phiếu: “Theo lẽ thường mà suy luận thì đúng là như vậy.”

Tề Tuấn Lương nghe xong, nhất thời cảm thấy như trời sập đến nơi, đến trà trong tay cũng chẳng còn tâm trí đâu mà uống, lòng dạ hoang mang không yên. Một khi Tiêu gia đã bị cuốn vào thì vụ án này sẽ trở nên vô cùng hóc búa, chỉ cần một sơ suất nhỏ, y có thể gặp nguy hiểm đến tính mạng.

Hằng Vương hiện đang như mặt trời ban trưa, gần như đã chắc suất cho vị trí Thái tử. Vào thời điểm này, Tề Tuấn Lương tuyệt đối không muốn đắc tội với ngài ấy.

Y lo lắng hỏi: “Nhưng đệ không thấy kỳ lạ sao? Tiêu Trấn đường đường là Viễn Sơn Hầu, nắm trong tay Tam Thiên Doanh, là cột trụ không thể chối cãi của triều đình, ông ta phái người đi trộm báu vật của sứ thần để làm gì?”

“Đông Đình, có phải chúng ta đã đi sai hướng rồi không?” Tề Tuấn Lương đứng bật dậy hỏi.

Bùi Việt nắm lấy một khối ngọc thạch trên bàn, cầm trong tay mân mê quan sát kỹ lưỡng, rồi lạnh lùng nhìn Tề Tuấn Lương: ” Huynh không lẽ thật sự tin rằng, cái đêm năm cánh quân mã cùng lúc tập kích sứ đoàn Bắc Yến chỉ là để trộm mấy thứ báu vật vớ vẩn sao?”

Tề Tuấn Lương lầm bầm: “Ta cũng luôn cảm thấy kỳ lạ, làm gì có chuyện phái tử sĩ đi trộm đồ bao giờ? Tử sĩ vốn là để giết người…”

Nói đến đây, y đột nhiên rùng mình một cái: “Không đúng, Đông Đình à, chẳng lẽ mục đích thật sự của chúng là để giết người sao?”

Y dường như nhớ ra điều gì đó: “Thực ra đám gia đinh kia không cần tra ta cũng đại khái biết là người nhà nào, dù sao kẻ đó cũng là vì báo thù cho Lý Lận Chiêu nên mới muốn giết Alna – con trai của Nam Tĩnh Vương. Thế nhưng còn những sát thủ khác thì sao? Tiêu Hầu gia là người chín chắn như vậy, chẳng lẽ lại không biết nặng nhẹ mà đi ám sát sứ thần? Đó là mầm họa khơi mào tranh chấp giữa hai nước, nếu bị tra ra là phải rơi đầu như chơi đấy!”

Nói đến đây, y chợt nhận ra người em vợ đối diện mình đã thay đổi sang một thần sắc khiến người ta không thể đoán định. Chỉ thấy chàng từ từ giơ khối ngọc trong tay lên cao, đưa lại gần ánh đèn để soi ngọc, giọng nói đanh lại: “Bởi vì đối tượng ám sát thực sự của chúng vốn dĩ không phải là sứ thần nào cả, mà là một người khác.”

“Là ai?”

Tại sao Bùi Việt luôn cảm thấy một khi vụ án này nổ ra sẽ làm dấy lên một cuộc mưa máu gió tanh? Chỉ bởi vì chàng biết rất rõ rằng, mục đích vào kinh lần này của sứ đoàn Bắc Yến là vô cùng khác thường.

“Ta nói cho huynh biết để huynh tự hiểu trong lòng thôi, nhưng tạm thời đừng để lộ ra ngoài.”

“Đệ nói đi.”

“Sứ đoàn Bắc Yến lần này vào kinh thương thảo về việc mở chợ giao thương, danh nghĩa là mang danh triều cống, nhưng thực tế bên trong lại vô cùng kiêu ngạo, đưa ra mức giá cao ngất ngưỡng. Tại sao thái độ của chúng lại ngạo mạn đến thế? Đó là vì trong tay chúng đang nắm giữ một quân át chủ bài.”

“Chúng đã đưa một người vào kinh, mà người này chính là kẻ mà Đại Tấn đã khổ công tìm kiếm suốt ba năm trời không thấy… Định Hầu Lý Tương.”

Tề Tuấn Lương vừa nghe thấy cái tên này thì cả người lảo đảo, chén trà trên tay trượt khỏi kẽ ngón tay, rồi rơi xuống đất.

Thanh Hòa hôm nay cứ quanh quẩn suốt ở tiền viện, khi thì ra chuồng ngựa đầu ngõ ngoài cổng phủ bắt chuyện với mọi người, lúc lại ngồi ở dãy nhà ngang gần cổng tán gẫu với quản gia trong phủ.

Tất nhiên nàng ấy không phải vì buồn chán, mà bởi Minh Di đã giao cho nàng ấy một nhiệm vụ: bảo nàng ấy năng tới tiền viện kết giao với thị vệ của Bùi Việt, để ngày thường có tin tức gì cũng dễ bề nghe ngóng. Dẫu sao cũng không thể ngày nào cũng chạy ra ngoài, đi lại quá nhiều dễ khiến người ta sinh nghi.

Thế nên Thanh Hòa đến cả bữa tối cũng không thèm về ăn, cứ thế ở lại nhà ngang ăn chực cùng quản gia.

Tính tình của nàng ấy rất thẳng thắn, tuổi đời còn nhỏ, trên người lại có vài phần khờ khạo đáng yêu, quản gia nào trong phủ thấy nàng ấy mà chẳng quý mến?

Ngoài phố có tin tức gì mới, họ đều kể hết cho nàng nghe.

Thanh Hòa nán lại suốt nửa ngày trời, tin tình báo chính thức thì chẳng thăm dò được bao nhiêu, nhưng những chuyện dật sử, tin đồn đầu đường xó chợ thì nghe đầy một tai.

Lúc này đã dùng xong bữa tối, nàng ấy ngồi cạnh quản gia sưởi lửa trong căn nhà ngang, đang tán gẫu rôm rả thì thấy một gã sai vặt bước vào. Gã vừa hộ tống mấy bà tử đi mua sắm trở về, mang theo cả một luồng hơi lạnh thấu xương vào phòng: “Hầu quản gia, có rượu nóng không cho tôi xin một ngụm? Bên ngoài lạnh quá thể. Hôm nay danh mục mua sắm bên phía Nhị thái thái nhiều vô kể, làm đình trệ không ít thời gian, khiến tôi suýt thì chết cóng bên ngoài rồi.”

Hầu quản gia quay người, nhét bình rượu nóng trên lò vào lòng gã: “Cái đồ khỉ con nhà ngươi số hưởng thật đấy, đây là rượu ta vừa hâm nóng để đãi Thanh Hòa cô nương, lại bị ngươi chiếm mất rồi…”

Gã sai vặt cười hì hì với Thanh Hòa, rót rượu uống vài ngụm, rồi bắt đầu kể về những gì mình thấy: “Mọi người chắc chưa biết đâu nhỉ, hôm nay ở phố Đồng La có một tin cực kỳ sốt dẻo…”

“Chuyện nóng hổi gì đấy?”

“Chẳng phải dạo này sứ thần Bắc Yến đang ở kinh thành sao? Alna – con trai của Nam Tĩnh Vương đến thăm, Bệ hạ đã dặn dò công tử nhà Trường Tôn và Lương tam công tử tháp tùng hắn đi dạo phố, chiêm ngưỡng sự phồn hoa của kinh đô Đại Tấn ta. Nào ngờ vị Quận vương Bắc Yến này cũng là một tay ăn chơi trác táng, chiều nay đã tót ngay vào La Tú Phường ở phố Đồng La để vui vẻ với kỹ nữ.”

Nhắc đến chuyện ‘vui vẻ với kỹ nữ’, gã sai vặt vốn định bồi thêm vài câu bông đùa, nhưng thấy Thanh Hòa đang có mặt ở đó nên lập tức nín lại, nói vào chuyện chính: “Nhưng cái rủi chính là ở đó. Hắn ta thì cứ mải mê hưởng lạc, không ngờ có kẻ đã rình rập hành tung của hắn, lặng lẽ lẻn vào La Tú Phường, muốn giết hắn cho bằng được.”

Thanh Hòa nghe đến đây, tim bỗng thắt lại: “Người chết rồi sao?”

Gã sai vặt tặc lưỡi, vẻ mặt đầy nuối tiếc: “Chưa, nhát đao đó không đâm trúng chỗ hiểm, chỉ làm hắn bị thương ở chân thôi, thật là đáng tiếc.”

Phụ thân của Alna – Nam Tĩnh Vương điện hạ của Bắc Yến chính là kẻ thù truyền kiếp của Đại Tấn. Suốt bao nhiêu năm qua, Nam Tĩnh Vương tung hoành khắp ba nước, gần như không có đối thủ, duy chỉ có một lần duy nhất bại dưới tay Lý Lận Chiêu. Trong trận Túc Châu ba năm trước, Lý Lận Chiêu tuy đã tiêu diệt hàng vạn tinh nhuệ của Bắc Yến nhưng cũng đã hy sinh nơi sa trường. Người dân Đại Tấn vô cùng kính yêu và thương tiếc vị thiếu tướng quân này, vì thế họ đều trút mọi hận thù lên đầu Nam Tĩnh Vương. Do vậy, đừng nhìn Thanh Hòa chỉ là một tỳ nữ hay gã kia chỉ là gã sai vặt nhỏ bé của Bùi phủ, ai nấy đều hận không thể giết quách tên Alna kia cho hả giận.

Thanh Hòa nghe được đại khái câu chuyện, thấy thời gian không còn sớm, cần phải về lại Trường Xuân Đường nên lập tức quay về hậu viện.

Lúc đó Minh Di đang ngâm chân, thấy nàng ấy phong trần mệt mỏi bước vào thì nhíu mày hỏi: “Có chuyện gì vậy?”

Thanh Hòa liếc nhìn ra phía sau rèm, rồi ghé sát lại gần nàng: “Sư phụ, đại sự không ổn rồi. Hôm nay có người ám sát Alna ở phố Đồng La, nghe nói hắn bị thương ở chân.”

Sắc mặt của Minh Di lập tức biến đổi, trở nên vô cùng khó coi: “Ta biết ngay mà, nàng ta chẳng bao giờ chịu yên phận cả!”

Thanh Hòa thở dài: “Tạ cô nương chính là người hấp tấp như vậy, khắp kinh thành này ngoại trừ nàng ta ra thì thật sự chẳng có người thứ hai nào dám làm chuyện này, mà cũng chẳng ai có được cái gan lớn như nàng ta.”

Minh Di sa sầm nét mặt không nói lời nào, lập tức lấy khăn lau khô vệt nước trên chân. Nàng vừa xỏ giày vừa ra lệnh: “Ngươi đi cùng ta ra ngoài, ta phải đi gặp nàng ta, khuyên nàng ta đừng hành động lỗ mãng nữa.”

Lời này khiến Thanh Hòa ngẩn người ra, trố mắt nhìn nàng quấn lên mình một lớp áo bào dày, rồi lại lấy chiếc áo choàng từ giá bình phong xuống buộc lại cẩn thận. Thấy nàng thật sự có tư thế sắp sửa xuất môn, Thanh Hòa nuốt khan mấy ngụm nước bọt, rồi ngập ngừng hỏi bằng giọng khàn đặc: “Lời của Lý Minh Di, nàng ta chắc chắn sẽ không nghe đâu. Người định lấy thân phận gì để đi khuyên ngăn?”

Động tác thắt dải lụa của Minh Di khựng lại. Nàng ngước mắt nhìn về phía trước, đêm ngoài cửa sổ đặc quánh như mực, đen đến mức dường như chỉ cần đặt chân vào đó là sẽ chẳng thể quay đầu lại được nữa. Minh Di im lặng một lúc, giọng nói của nàng vang lên tan vào bóng đêm: “Đương nhiên là một thân phận đủ sức để lay chuyển được nàng ta rồi.”

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *