Chương 1: Trùng sinh
Mùa hè nóng bức, cái nắng gay gắt khiến lòng người không khỏi bồn chồn, hoảng hốt.
Bên khung cửa sổ hình mặt trăng, một bà lão mặc áo nâu đang luôn mồm luôn miệng răn dạy thiếu nữ trẻ tuổi đứng trước mặt.
“Tam tiểu thư, nô tì đã thưa với người bao nhiêu lần rồi, người nhất định phải ghi nhớ thân phận hiện giờ của mình. Vẫn chưa đến giờ nghỉ ngơi, sao người đã tháo dải choàng vai, lưng lại buông lỏng thế kia? Còn cả dáng ngồi của người nữa, vốn dĩ lễ nghi phép tắc của người đã không tốt, nếu ngày thường không giữ kẽ, không cẩn thận, để người ta bắt thóp được thì phải làm sao? Đại tiểu thư chưa bao giờ hành xử như vậy cả.”
Phải biết rằng Yến gia là chốn cửa cao nhà rộng, quy củ bên trong nghiêm ngặt đến mức không thể sai sót một ly…”
Bà lão này họ Ngô, là tâm phúc của Bồ phu nhân. Bà ta xưa nay vốn nổi tiếng hung hãn khi quản lý phép tắc, hành sự cứng nhắc, rập khuôn, chẳng khác nào đôi mắt của Bồ phu nhân, không dung thứ cho người dưới có bất kỳ một chút sai lệch nào.
Bồ Vãn Ca – không, phải gọi là Bồ Kiêu Ngọc mới đúng, đang im lặng ngồi ngay ngắn chịu đựng sự quở trách của bà ta.
Nếu là trước kia, nàng còn đáp lại một hai câu, nhưng hiện giờ lại chẳng nói chẳng rằng. Dù trên mặt đã dặm phấn son, nhưng người ta vẫn thấp thoáng nhận ra sắc mặt nàng trắng bệch, lộ rõ vẻ bệnh tật.
Kinh Xuân, nha hoàn thân cận của Bồ Kiêu Ngọc, nhận thấy tình hình của nàng có vẻ không ổn, vội vàng nhảy ra giải thích giúp chủ tử. Cô ấy nói nàng không hề cố tình lười biếng, mà vì thời tiết quá nóng nực, nên làn da của nàng không chịu đựng nổi.
Chẳng bọc lót được bao lâu mà sau lưng đã nổi đầy rôm sảy, bởi vậy mới nhân lúc không có người mà tháo dải choàng vai, buông lỏng thắt lưng, định bụng bàn bạc xem có nên bôi thuốc hay không.
Kinh Xuân vốn là nha hoàn thân cận của Bồ Vãn Ca – đích tỷ của Bồ Kiêu Ngọc, ở Bồ gia cũng có chút địa vị, thế nên khi cô ấy vừa cất lời, Ngô ma ma vẫn nể mặt đôi phần.
Nhưng để thị uy cũng như để nhắc nhở, bà ta lại quay đầu sang nói: “Ngươi là nha hoàn thân cận của tiểu thư, sao không biết đường mà nhắc nhở lấy một tiếng?”
“Lỡ như xảy ra sai sót gì, chuyện này mà bị bại lộ ra ngoài, thì tất cả chúng ta đều phải chết!” Ngô ma ma hạ thấp giọng, sắc mặt vô cùng khó coi.
“Vâng, vâng… người nói phải, lần sau nô tì nhất định sẽ chú ý nhắc nhở.” Kinh Xuân vội vàng gật đầu lia lịa đáp lời: “Cũng sẽ trông nom cẩn thận cho Tam… Đại tiểu thư.”
Suýt chút nữa thì không kịp sửa miệng, Kinh Xuân vội vàng tự vỗ vào miệng mình.
Ngô ma ma nghe thấy thế thì cau mày, hết lần này đến lần khác nhắc nhở cô ấy phải cẩn thận hơn nữa.
Lải nhải hồi lâu, Ngô ma ma khát khô cả cổ cuối cùng cũng chịu dừng lại. Bà ta uống cạn chén trà Kinh Xuân rót cho, sau đó mới chịu bước ra ngoài.
“Tiểu thư, người vẫn ổn chứ?”
Thấy sắc mặt tiểu thư không được tốt, lại mãi chẳng thốt ra tiếng nào, Kinh Xuân không khỏi cảm thấy lo lắng.
“Nếu người thấy không khỏe, thì nô tì đi tìm đại phu cho người nhé?” Tuy rằng việc này có chút mạo hiểm, nhưng thà vậy còn hơn là để tình bệnh trầm trọng rồi mới mời đại phu.
Bồ Kiêu Ngọc dường như vẫn đang thẫn thờ, không nghe thấy lời cô ấy nói, cũng chẳng buồn lên tiếng. Sắc mặt nàng ngày càng trắng bệch, đôi bàn tay siết chặt lại, chẳng rõ đang mải mê suy tính điều gì.
Kinh Xuân đợi một lúc lâu mà không thấy nàng trả lời, đôi lông mày nhíu chặt, lập tức sai bảo tiểu nha hoàn đi tìm đại phu ngay.
Tiểu nha hoàn lách người qua bức rèm châu, những hạt ngọc va chạm vào nhau phát ra tiếng lanh lảnh giòn giã. Trong lúc đung đưa, những viên minh châu tỏa ra ánh sáng chập chờn, khiến hàng mi của thiếu nữ vốn đang im lìm khẽ động đậy. Lúc này nàng mới như sực tỉnh khỏi giấc mộng mà hoàn hồn lại, cuối cùng cũng cất lời: “Không… không cần mời đại phu đâu.”
Nghe thấy câu này, tiểu nha hoàn dừng bước, quay đầu nhìn lại. Kinh Xuân lo lắng tiến lên phía trước, rót một chén trà rồi hỏi: “Tiểu thư, người thật sự không sao chứ?”
Mấy ngày nay kinh thành thực sự quá nóng bức, mặc dù trong phòng đã đặt sẵn đá khối và quạt gió, nhưng da thịt của Bồ Kiêu Ngọc vốn dĩ vô cùng nhạy cảm.
Chất liệu y phục có tốt đến mấy cũng chẳng ăn thua, đừng nói đến chuyện không chịu nổi nắng gió, hễ trời nóng một chút là rôm sảy đã mọc đầy. Da thịt nàng trắng ngần mịn màng, nên khi rôm sảy nổi lên nhiều, trông lại càng thêm phần ghê người.
Kinh Xuân vốn cũng đã bôi cho nàng một ít cao dược, nhưng cơ bản là chẳng thấm tháp vào đâu.
Chính bởi vì nước da của Bồ Kiêu Ngọc quá trắng, có phần khác biệt so với Bồ Vãn Ca, nên để không lộ ra sơ hở, ngày nào nàng cũng phải thoa phấn son để che đậy, có như vậy mới đảm bảo không xảy ra sai sót nào.
Lớp phấn son cứ hết lần này đến lần khác thoa chồng lên, khiến rôm sảy của nàng cứ vừa dứt lại phát, phát rồi lại khỏi, chẳng thể nào trị tận gốc được. Theo như mọi năm, phải đợi đến khi vào thu, tiết trời dịu mát lại thì bệnh mới thuyên giảm, nhưng hiện tại chỉ mới chớm hạ, mùa này xem chừng vẫn còn dài dằng dặc.
“Nô tì bưng cho người một bát tuyết ướp lạnh nhé?”
Thấy sắc mặt nàng quá kém, Kinh Xuân cố gắng dỗ dành. Đây là món mà Bồ Kiêu Ngọc vốn rất thích ăn, trước đây mỗi khi nàng chịu uất ức, Kinh Xuân cũng thường lén bưng cho nàng một bát nhỏ.
“Em cũng lui xuống đi.” Bồ Kiêu Ngọc không trả lời chuyện có ăn hay không, chỉ ngước mắt nhìn cô ấy: “… Ta muốn yên tĩnh một mình.”
Kinh Xuân chạm phải ánh mắt của nàng, chợt cảm thấy dường như có điều gì đó đã không còn như trước nữa.
Còn về việc không giống ở chỗ nào thì cô ấy cũng chẳng thể nói rõ ra được.
Trước đây, không phải Bồ Kiêu Ngọc chưa từng bị Ngô ma ma mắng chửi, nhưng nàng hiếm khi im lặng đến nhường này. Đặc biệt là ánh mắt ấy, gần như có thể dùng hai chữ “tử khí” để mô tả, giống như một đầm nước đọng, chẳng chút gợn sóng.
Kinh Xuân còn muốn nói thêm vài lời khuyên nhủ, nhưng Bồ Kiêu Ngọc đã nhắm nghiền mắt lại.
Thấy tình hình như vậy, cô ấy chỉ còn cách lui ra ngoài: “Nô tì xin phép ra ngoài, nếu người có việc gì cứ gọi nô tì ạ.”
Bồ Kiêu Ngọc vẫn không đáp lời.
Kinh Xuân đành phải dẫn đám tiểu nha hoàn rời khỏi nội thất, tiếng bước chân cứ thế xa dần rồi im bặt.
Sau khi mọi người đã đi hết, đôi bàn tay đang đặt trên gối của Bồ Kiêu Ngọc khẽ siết chặt đến mức run rẩy. Nàng cúi đầu, mở mắt thẫn thờ lật xem lòng bàn tay và mu bàn tay mình: Những vết chai do cầm bút trên đầu ngón tay không nhiều đến thế, ở kẽ ngón cái cũng không có vết sẹo cũ do lửa nến làm bỏng năm nào.
Sau đó, nàng xoay người nhìn về phía bàn trang điểm. Thiếu nữ trong gương đồng tuy nhìn ung dung hoa quý, nhưng nếu quan sát kỹ, thấp thoáng đâu đó vẫn có thể nhận ra vài phần thanh xuân non nớt nơi chân mày kẽ mắt. Đây không phải là nàng của tuổi hai mươi chín.
Chưa nói đến chuyện khác, ngay như lúc này vùng bụng dưới vẫn bằng phẳng, nàng hoàn toàn không hề mang thai.
Cho đến tận lúc này, khi chạm tay lên bụng rồi lại soi gương sờ lên gương mặt mình, nàng mới miễn cưỡng tìm lại được chút cảm giác thực tại. Nàng dường như thật sự đã… chết đi sống lại rồi.
Phải, sau khi chết vì khó sinh, nàng thế mà lại sống lại. Vừa mở mắt ra, nàng đã quay trở lại buổi chiều mùa hạ của năm thứ ba trong cuộc đời gả thay.
Vào ngày này, chẳng qua là sau bữa cơm trưa, nàng nhân lúc vắng vẻ mà khẽ nới lỏng dải lụa choàng, buông lỏng thắt lưng định vươn vai lười nhác một chút, thì lại bị bà ma ma già do đích mẫu phái đến bắt gặp.
Bà ta lập tức đuổi hết người xung quanh đi, rồi không ngừng lên mặt dạy đời, quát tháo liên hồi, nói rằng nàng đã ở đây ba năm rồi, mà sao vẫn không rũ bỏ được cái bản tính quê mùa dân dã, thật là vô phép tắc. Những tia nước bọt của bà ta gần như bắn thẳng vào mặt nàng.
Đáng lẽ nàng đã phải chết rồi mới đúng, sao giờ lại còn sống thế này?
Chẳng lẽ tất cả chỉ là một cơn ảo giác thôi sao? Không, không phải ảo giác. Kiếp trước nàng đã phải sống trong cảnh thấp thỏm lo âu, nơm nớp lo sợ, ngậm đắng nuốt cay chịu đựng suốt một thời gian dài đến thế. Nếu đó chỉ là một giấc mơ hay một cơn ảo giác, thì mọi chuyện đã quá đỗi nhẹ nhàng rồi, nàng làm sao có thể quên đi cho được.
Đó vốn là chuyện của hơn mười năm sau, khi nàng đã cận kề tuổi ba mươi, nhưng rốt cuộc lại chẳng thể bước qua được cái ngưỡng cửa định mệnh ấy.
Có lẽ do suốt mười mấy gần hai mươi năm qua phải lao lực quá độ, dù mang trong mình cốt nhục, nhưng nàng lại chẳng thể khai hoa nở nhụy bình an. Thai nhi vừa cử động chưa được bao lâu, nàng đã kiệt sức mà ngất đi, cuối cùng một xác hai mạng.
Sau khi nàng chết, linh hồn không hề tan biến mà cứ vất vưởng phiêu dạt khắp nơi, nhờ vậy mà tình cờ biết được không ít chuyện.
Đích tỷ hóa ra vẫn chưa chết! Nàng ta không hề lâm trọng bệnh rồi qua đời sớm, mà là vì muốn đi theo tình lang nên đã thiết kế một màn giả chết để thoát thân. Bồ Kiêu Ngọc đã nhìn thấy đích tỷ cải trang, trà trộn trong đám người đến phúng viếng tại linh đường của mình. Nàng ta cứ thế sống sờ sờ ẩn mình giữa đám đông, đứng ở góc độ của một người ngoài cuộc, mà nhìn chằm chằm vào linh bài của nàng.
Đó vẫn chưa phải là điều cốt yếu nhất, đáng nực cười nhất phải kể đến chính là vị di nương của nàng.
Người di nương mà nàng hằng tin tưởng và kính trọng nhất, hóa ra bấy lâu nay vẫn luôn lừa dối, xem nàng như một kẻ ngốc.
Hóa ra từ đầu đến cuối, di nương vốn chẳng hề chịu bất kỳ sự hiếp đáp nào, đích mẫu cũng không hề khống chế tính mạng của bà ta, để ép buộc bà ta phải đưa con gái mình đi gả thay.
Mà chính là vì tương lai gấm vóc của bản thân, vào thời điểm hôn sự giữa hai nhà Yến – Bồ đang cận kề, mà đích tỷ lại đột phát bạo bệnh, di nương đã muốn thừa cơ thượng vị. Để chiếm được một chỗ đứng vững chắc trong Bồ gia, bà ta đã chủ động hiến kế với đích mẫu.
Bà ta nói rằng, ở trang viên dưới quê thật ra vẫn còn nuôi dưỡng một đứa con gái, dung mạo giống hệt đích tỷ, vóc dáng và tuổi tác cũng chẳng chênh lệch bao nhiêu. Có lẽ có thể đón nó về, thay hình đổi dạng, cho học theo ngôn hành cử chỉ của đích tỷ, để thực hiện mưu kế “tráo long đổi phượng”. Trước mắt cứ để nó gả thay qua đó, đợi đến khi đích tỷ khỏi bệnh thì lại hoán đổi hai người cho nhau.
Nàng có thể hiểu rõ tất cả chuyện này, suy cho cùng cũng là nhờ vào việc sau khi chết, nàng vì quá lo lắng cho di nương, sợ bà ta ở Bồ gia gặp cảnh khó khăn, nên đã phiêu dạt về để nhìn bà ta lần cuối.
Lúc đó, di nương đang phủ phục bên mép giường mà khóc, bà ta khóc đến mức đầu tóc rối bời, trông vô cùng bi thương, phấn son trên mặt cũng bị nước mắt làm cho nhòe nhoẹt, quả thực có thể gọi là ruột gan đứt đoạn.
Trông thì có vẻ đau đớn thấu tận tâm can, nhưng thực chất, những giọt nước mắt ấy chẳng hề chứa đựng chút xót thương chân thành nào dành cho đứa con gái như nàng.
Bởi lẽ, di nương vừa khóc vừa oán trách rằng, sao nàng lại đoản mệnh đến thế, sao lại kém cỏi không biết cố gắng, đã mang thai rồi mà còn chẳng sinh nổi. Tại sao lại cứ phải chết vào đúng lúc này cơ chứ? Chết sớm hay chết muộn cũng được, sao không đợi sinh xong đứa bé rồi hãy chết?
Nàng chết rồi thì bà ta sau này biết tính sao đây? Giữa chốn thâm sơn cùng cốc ở cái phủ đệ nhà họ Bồ sâu thăm thẳm này, bà ta lại đã đến tuổi già sắc lẹm, không có chỗ dựa thì sống làm sao nổi?
Di nương không ngừng nhục mạ nàng là “thứ lỗ vốn”, chẳng những sinh ra đã là phận nữ nhi, giày vò bà ta nửa đời người, mà đến lúc cuối cùng còn đoản mệnh đến mức “không biết điều” như thế.
Vừa bất thình lình nghe được những lời này, đầu óc nàng như có tiếng ong ong vang lên, sững sờ đứng khựng giữa không trung mà chẳng biết phải làm sao. Nhìn khuôn mặt đầm đìa nước mắt của di nương, nàng quả thực không dám tin rằng đây lại chính là những suy nghĩ thực sự trong lòng bà ta.
Nếu không phải tự tai nghe thấy di nương thốt ra những lời đó, thì dù bất cứ ai nói với nàng rằng di nương đã nói vậy, nàng cũng tuyệt đối không đời nào tin.
Nghe tiếng khóc than không dứt của mẹ ruột, nhìn những giọt lệ lã chã tuôn rơi, trong làn nước mắt nhòa lệ ấy, Bồ Kiêu Ngọc bỗng thẫn thờ nhớ lại chuyện xưa. Đó thực sự là chuyện của rất lâu, rất lâu về trước rồi, lâu đến mức nàng cảm thấy nó tựa như một giấc mộng cũ vậy.
Vào thuở ấy, nàng chưa phải sống như một con rối dây mang cái tên “Bồ Vãn Ca”. Nàng vẫn còn là Bồ Kiêu Ngọc, có cái tên của riêng mình, thuộc về chính bản thân mình.
Nhìn lại cả cuộc đời mình, vốn là phận con riêng của ngoại thất, ngay từ khi sinh ra nàng đã bị ép phải cải trang thành nam tử để lấy lòng cha ruột. Đáng tiếc, giả thì chẳng thể thành thật, khi tuổi tác ngày một lớn, thân phận không còn che giấu nổi nữa, di nương đã chẳng chút do dự mà thiết kế đưa nàng đến một nơi hoang tàn, hẻo lánh.
Lúc bấy giờ, nhìn vào đôi mắt đẫm lệ của di nương, nàng khi ấy còn quá nhỏ nên chẳng thể hiểu được ý vị của sự ruồng bỏ, cũng không nhìn thấu được sự nhẫn tâm, tuyệt tình ẩn giấu đằng sau quyết định dứt khoát kia. Nàng thậm chí còn lầm tưởng rằng, đôi mắt ấy chứa đựng đầy sự xót xa và lo lắng cho mình.
Nàng từng tưởng bà ta xót xa, vì con gái còn nhỏ tuổi đã phải luôn cải trang che giấu bản tính, lo lắng rằng khi nàng lớn dần lên thì không thể cứ mãi tiếp diễn như vậy.
Nên bà ta mới “đành lòng” gửi nàng về quê. Hóa ra tất cả đều là lừa dối, di nương vốn dĩ chỉ xem nàng là một món nợ đời, một kẻ ngáng chân mà thôi.
Nếu không phải vì xảy ra cái chuyện kia của đích tỷ, có lẽ cả đời này nàng đã bị vứt bỏ ở chốn làng quê ấy rồi, chứ chẳng phải được đón về, để một lần nữa trở thành một công cụ hữu dụng và thuận tay đến thế.
Kim ngọc, kim ngọc… Thứ mà di nương khao khát là một khối “vàng ngọc” thực sự mang thân nam nhi, chứ không phải là khối “Kiêu Ngọc” giả tạo như nàng.
Hết lần này đến lần khác, bà ta lôi đứa con gái là nàng ra lợi dụng rồi lại vứt bỏ, chỉ để củng cố địa vị và tận hưởng vinh hoa phú quý của riêng mình. Vậy mà đến tận khi nàng chết đi, bà ta cũng chẳng dành cho nàng lấy nửa phần thương xót tử tế.
Bồ Kiêu Ngọc nhìn lại nửa đời trước của mình, thật đúng là một trò cười.
Đáng thương thay, phải đến tận lúc chết nàng mới bừng tỉnh đại ngộ, hiểu rõ mọi chuyện, nhưng tất cả đã chẳng còn ích gì nữa rồi.
Năm Dương Hựu thứ mười ba, cuối cùng nàng vẫn không trụ vững vì kiệt sức, qua đời do khó sinh vào năm hai mươi chín tuổi.
Dưới danh nghĩa của đích tỷ Bồ Vãn Ca, nàng được chôn cất tại Yến gia. Cả linh hồn lẫn thể xác đều bị giam cầm suốt một đời trong cái phủ đệ sâu thẳm, nơi “ăn thịt người không nhả xương” của nhà họ Yến.
Cứ ngỡ khi linh hồn tan biến, nàng sẽ mang theo nỗi oán hận khôn nguôi mà triệt để lụi tàn, nào ngờ đâu, nàng lại trùng sinh một cách đầy quỷ dị như hiện nay.
Vừa nãy khi mở mắt ra, nàng chỉ cảm thấy vô cùng ồn ào, ngước mắt lên liền thấy một cái “miệng máu” cứ liên tục đóng mở, nhìn kỹ lại thì ra là gương mặt già nua của Ngô ma ma.
Những lời lẽ lải nhải không ngớt kia, cùng với sự hồi phục của ý thức, dần dần vang lên rõ mồn một bên tai nàng.
Nàng nghe mà tim đập chân run, những ngón tay buông thõng trên đầu gối bấm sâu vào lòng bàn tay. Từng cơn đau nhói truyền đến, dường như chúng đang nhắc nhở nàng rằng: Mọi chuyện là thật, nàng thực sự đang sống.
Lúc này, nàng ngước mắt nhìn qua khung cửa sổ hình trăng khuyết, thu vào tầm mắt là lớp gạch hồng ngói xanh của Yến gia, cùng những bức rèm lụa mềm mại trong nội thất.
Nghĩ về tất cả những chuyện đã từng trải qua ở kiếp trước, nàng không kìm được mà nhếch môi nở một nụ cười lạnh lẽo.
Nàng chậm rãi rủ hàng mi xuống, bày ra vẻ ngoan ngoãn đáng thương, nhằm che giấu đi những tâm tư đang cuộn trào mãnh liệt trong lòng.
Chương 2: Nàng tuyệt đối không thể chết
Sau khi Kinh Xuân lui ra, cô ấy vẫn lén lút đi làm một bát tuyết nguyên tử ướp lạnh, tránh mặt Ngô ma ma rồi mới bưng lên cho Bồ Kiêu Ngọc.
“Tiểu thư, kỳ kinh nguyệt của người sắp đến rồi, nô tỳ có bỏ ít đá đi một chút. Hơn nữa đường ruột của người vốn dĩ không tốt, nên đường cũng bỏ ít hơn thường lệ ạ.”
Kinh Xuân cẩn thận quan sát sắc mặt của nàng, hạ thấp giọng nhẹ nhàng dỗ dành.
Thiếu nữ trước mắt khẽ nâng hàng mi, nhìn bát đường phèn ướp lạnh trên bàn, im lặng hồi lâu không nói câu nào.
Trông thấy cảnh đó, trong lòng Kinh Xuân lại trào dâng một cảm giác kỳ lạ và bất ổn.
Hôm nay chẳng biết bị làm sao, cô ấy luôn cảm thấy Bồ Kiêu Ngọc có gì đó rất khác so với mọi khi, một vẻ tĩnh lặng đến đáng sợ. Nàng cứ giữ khuôn mặt lặng thinh, đôi mắt rủ xuống, khiến người ta hoàn toàn không thể nhìn thấu nổi những cảm xúc đang ẩn giấu bên trong.
Chẳng lẽ, những lời của Ngô ma ma đã đâm trúng vào nỗi đau trong lòng nàng rồi sao? Nghĩ đi nghĩ lại thì khả năng này là rất lớn.
Bồ Kiêu Ngọc từ nhỏ đã được nuôi dưỡng ở dưới quê, sau khi nàng trở về kinh thành, ngày cưới của hai nhà Yến – Bồ cũng đã cận kề, chẳng còn lại bao nhiêu thời gian nữa.
Để thay hình đổi dạng cho nàng, bắt nàng phải học theo mọi thói quen sinh hoạt của đại tiểu thư Bồ Vãn Ca, Bồ phu nhân đã cực kỳ nghiêm khắc, còn Ngô ma ma thì lại càng khỏi phải bàn. Thường xuyên chỉ vì Bồ Kiêu Ngọc làm sai điều gì đó, bà ta liền bắt nàng “ăn bản tử”; cây thước kia đánh xuống chẳng hề nương tay chút nào.
Đã thế, bà ta vừa đánh vừa mắng nhiếc nàng rằng, bản tính thôn quê quá nặng, cử chỉ điệu bộ toàn là phong thái của hạng tiểu môn tiểu hộ, toát ra một mùi nghèo hèn rẻ tiền, tất cả những thứ đó nhất định phải bỏ sạch đi!
Bà ta vặn tai nàng, mắng chửi rằng nàng phải luôn khắc ghi thân phận của mình. Kể từ khoảnh khắc nàng bước chân vào Bồ gia cho đến lúc gả đi, nàng không còn là đứa con riêng Bồ Kiêu Ngọc nữa, mà là đích nữ của Bồ gia – Bồ Vãn Ca. Từng cử chỉ và hành động của nàng tuyệt đối không được phép sai sót! Bà ta thậm chí còn lôi cả mẹ ruột của nàng là Nguyễn di nương ra để đe dọa.
Phải biết rằng, Bồ Kiêu Ngọc vốn dĩ vô cùng yêu thương và tin tưởng di nương của mình. Nếu không phải vì mẹ ruột, có lẽ Bồ Kiêu Ngọc đã chẳng đời nào chịu về kinh thành, bước chân vào Bồ gia để rồi phải chịu đựng nỗi nhục nhã, uất ức này.
Cũng chính là vì Nguyễn di nương, nàng mới luôn phải cắn răng chịu đựng mọi nhục nhã.
Bồ Kiêu Ngọc cứ thế nhẫn nhịn, ban đầu nàng còn khóc, nhưng về sau dù có nhịn đến đỏ hoe cả mắt, hay bị đánh đến mức lưng đẫm mồ hôi lạnh vì phạm lỗi, nàng cũng không hề rơi thêm một giọt lệ nào nữa. Đứng lặng lẽ dưới những sân viện sâu thẳm của Bồ gia, bóng dáng nàng tuy mảnh khảnh, gầy yếu và mềm mỏng, nhưng lại toát lên một luồng khí chất đầy kiên cường.
Trong khoảng thời gian ngắn ngủi trước ngày đại hôn, nàng bị người nhà họ Bồ gọt giũa thành hình dáng của Bồ Vãn Ca, rồi bị chụp lên đầu tấm khăn voan đỏ, ngồi lên kiệu hoa gả cho người..
Cứ ngỡ cuộc hôn nhân này chỉ cần duy trì tạm bợ trong một hai tháng, hoặc cùng lắm là nửa năm thì sẽ được hoán đổi trở lại. Nào ngờ đâu vị đại tiểu thư kia bệnh nặng không khỏi, cuối cùng đã buông tay lìa đời.
Nàng buộc phải tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này dưới danh nghĩa đại tiểu thư Bồ gia.
Bởi lẽ thời gian “gọt giũa” nàng trước khi xuất giá quá đỗi ngắn ngủi, nên khi im lặng không nói năng gì, nàng và Bồ Vãn Ca trông giống nhau đến sáu bảy phần; thế nhưng vẫn tồn tại rất nhiều sơ hở. Nếu có người thân cận tiến lại gần, chắc chắn sẽ phát hiện ra sự khác biệt giữa hai người và nhận ra có điều khuất tất.
Yến gia sừng sững tại kinh thành suốt trăm năm, vẫn luôn hiển hách, đứng đầu trong các danh gia vọng tộc chốn kinh kỳ. Tổ tiên Bồ gia vốn dĩ ngang sức ngang tài với Yến gia, nhưng những năm gần đây Bồ gia dần suy yếu, không còn sánh được với Yến gia nữa, thậm chí còn phải bám víu vào họ để duy trì vẻ hào nhoáng bên ngoài.
Mối hôn sự này tuyệt đối không được phép xảy ra một sai sót nhỏ nào. Nếu để người ta phát giác ra sự thật, thì Bồ gia coi như xong đời; họ vốn dĩ không gánh nổi cơn thịnh nộ của Yến gia.
Vì lẽ đó, Bồ phu nhân đã phái Ngô ma ma đến, để tiếp tục tận dụng mọi kẽ hở thời gian, mà kiểm soát nàng gắt gao từng giây từng phút, không ngừng dạy dỗ Bồ Kiêu Ngọc.
Lời lẽ của Ngô ma ma vẫn cứ khó nghe như trước đây. Bà ta thừa biết Nguyễn di nương chính là “tử huyệt” của Bồ Kiêu Ngọc, nên rất thích lôi di nương của nàng ra để kích động, ép buộc nàng phải sửa đổi theo ý mình.
Mỗi lần nhắc đến Nguyễn di nương, lời lẽ của Ngô ma ma lại vô cùng khó nghe. Bồ Kiêu Ngọc vốn tính hay bảo vệ người thân nên đều nổi giận; trước kia nàng còn đỏ hoe mắt mà cự cãi với Ngô ma ma vài câu, về sau thì không thèm tranh luận nữa, chỉ im lặng nhìn bà ta bằng ánh mắt lạnh lùng.
Lần này Ngô ma ma cũng lại nhắc tới Nguyễn di nương, e là vì thế mà Bồ Kiêu Ngọc mới nảy sinh lòng oán giận.
“Tiểu thư, người–” Kinh Xuân định nói thêm vài câu, tính kể cho nàng nghe về tình hình gần đây của Nguyễn di nương, rằng di nương ở Bồ gia vẫn rất ổn, còn những lời của Ngô ma ma chỉ là vô ý lỡ lời, khuyên nàng đừng để bụng.
Thế nhưng Bồ Kiêu Ngọc đã cầm chiếc thìa ngọc lên, nàng khuấy nhẹ bát tuyết nguyên tử, rồi cắt ngang lời cô ấy: “Cảm ơn em đã nhọc lòng.”
Kinh Xuân mấp máy môi, chỉ đành chuyển hướng câu chuyện: “… Đây đều là việc nô tỳ nên làm ạ.”
Lúc này, động tác ăn uống của thiếu nữ vô cùng tao nhã, mỗi một cử chỉ đều toát lên hình bóng của Bồ Vãn Ca.
Trải qua ba năm ròng rã, bản tính vốn có của Bồ Kiêu Ngọc gần như đã bị mài nhẵn, nàng thực sự đã rất giống, rất giống Bồ Vãn Ca rồi.
Kinh Xuân vốn theo hầu Bồ Vãn Ca từ nhỏ, ngoại trừ Bồ phu nhân ra, thì chẳng còn ai am hiểu Bồ Vãn Ca hơn cô ấy cả.
Lúc này nhìn vào góc nghiêng khuôn mặt của Bồ Kiêu Ngọc, cô ấy có chút thẫn thờ, ngỡ như đang nhìn thấy hình bóng của Bồ Vãn Ca năm nào. Nhưng rồi chợt nhớ đến vài chuyện, cô ấy nhất thời im lặng không nói gì nữa.
Bồ Kiêu Ngọc cảm nhận được ánh mắt của cô ấy, nàng liền dừng động tác ăn uống lại rồi quay đầu nhìn sang.
Đối diện với ánh mắt của Bồ Kiêu Ngọc, cảm giác “thót tim” trong lòng Kinh Xuân tức khắc lại trào dâng.
Bởi lẽ ánh mắt của thiếu nữ đặc biệt tĩnh lặng và sâu thẳm, giống như một đầm nước đen đầy nguy hiểm, chẳng biết khi nào sẽ cuộn sóng dữ dội, ẩn giấu trong đó là một sự sắc lẹm thoắt ẩn thoắt hiện.
Sao cô ấy lại có cảm giác như vậy cơ chứ, chẳng lẽ Tam tiểu thư đã biết được điều gì rồi sao?
Nhưng nàng vốn dĩ bị “cấm túc” trong khuê phòng, chẳng bước chân ra khỏi cửa nửa bước, vốn dĩ là chuyện không thể nào.
Ở trước mặt nàng, Kinh Xuân bỗng có cảm giác như mọi tâm tư và bí mật tận sâu trong lòng mình đều bị người ta nhìn thấu tất cả.
Tam tiểu thư sáng nay thức dậy vẫn còn bình thường kia mà, nàng thì biết được cái gì chứ? Nàng chẳng biết gì đâu.
Có lẽ nàng chỉ vì bị Ngô ma ma mắng nhiếc quá đau lòng, nên mới lộ ra vẻ mặt tâm xám ý lạnh như vậy mà thôi.
Bồ Kiêu Ngọc vốn thích ăn đường phèn, nhưng vì cơ thể nàng cần phải điều dưỡng, nên lượng đường bỏ vào rất ít, e là chẳng ngọt ngào cho lắm.
Bồ Kiêu Ngọc cứ thế nhìn chằm chằm vào Kinh Xuân trước mặt hồi lâu, nhìn đến mức khiến đối phương cảm thấy rợn cả người.
Nàng mới quay đầu lại, đáp một câu: “Không có.”
Nàng cúi đầu khuấy nhẹ chiếc thìa ngọc, nhìn những viên đá đã tan chảy hết, đáy mắt lướt qua một tia giễu cợt không để ai hay biết: “Món tuyết nguyên tử này rất ngon.”
“Ta phải đa tạ em.”
Đa tạ cô ấy suốt bao nhiêu năm qua đã luôn giúp đỡ đích tỷ lừa gạt nàng, dùng đủ mọi cách để dỗ dành, lừa lấy lòng tin của nàng, khiến nàng cứ ngỡ cô ấy là người tốt, là một kẻ tri kỷ tâm giao.
Khiến cho nàng giao phó cả tấm lòng, cam tâm tình nguyện ở chốn thâm cung nội viện này, làm kẻ thế thân cho đích tỷ, thay tỷ ấy sống trong cảnh dầu sôi lửa bỏng, để rồi cuối cùng phải chết một cách thê lương.
Năm xưa, nàng đã thực sự tin rằng Kinh Xuân là một người tốt.
“Tiểu thư, hôm nay người làm sao vậy? Tự dưng lại nói lời cảm ơn với nô tỳ, đây vốn dĩ đều là những việc nô tỳ nên làm cho người mà.“
Thật kỳ lạ, Kinh Xuân không thể nói rõ là lạ ở điểm nào, chỉ luôn cảm thấy Bồ Kiêu Ngọc đang cố ý ám chỉ điều gì đó.
“Vậy sao…” Cô gái nghẹn lời, khẽ lẩm bẩm trong cổ họng.
Liệu trên đời có việc gì là trời sinh đã định, là việc nhất định phải làm, bắt buộc phải làm hay không?
“Tiểu thư…” Kinh Xuân còn định nói thêm, nhưng Bồ Kiêu Ngọc đã ngắt lời cô ấy lần thứ hai.
“Ta không ăn nữa.” Nàng đặt chiếc thìa ngọc xuống, bảo Kinh Xuân bưng đi, đồng thời dặn từ nay về sau không cần làm món này nữa.
Kinh Xuân ngẩn người: “Tại sao ạ?”
Dĩ nhiên là vì… cảm thấy buồn nôn đến phát khiếp rồi.
Bồ Kiêu Ngọc chậm rãi lau môi, ngoài mặt thì nói: “Ngô ma ma không thích món này, nếu để bà ấy biết, thì em lại bị phạt trừ bổng lộc cho xem.”
“Vả lại, chẳng phải chính em đã nói sao? Giờ ta phải tẩm bổ cơ thể, không nên ăn đồ ướp lạnh nữa, kẻo lại hại dạ dày và tổn thương đến sức khỏe sao.”
Lời nói tuy là vậy, cũng chẳng thể bắt bẻ được lỗi sai nào, nhưng sự khác lạ trong lòng Kinh Xuân vẫn không hề tan biến. Cảm giác kỳ quái ấy cứ luẩn quẩn mãi trong tâm trí, cô ấy cảm thấy dường như Bồ Kiêu Ngọc đã thay đổi, nhưng lại chẳng thể nói rõ là thay đổi ở điểm nào.
Nghĩ mãi không thông, Kinh Xuân chỉ đành nhanh chóng bưng bát tuyết nguyên tử lui xuống.
Khi quay trở lại, Bồ Kiêu Ngọc đang cầm bút lật xem sổ sách, kiểm tra và đối chiếu những thứ cần dùng, cũng như cần mua sắm để lo liệu cho bữa tiệc hai ngày tới.
Yến phu nhân có tổng cộng hai con trai và hai con gái, nhị tiểu thư vừa gả đi hôm qua, ba ngày sau sẽ về nhà mẹ đẻ. Dẫu biết rõ Bồ Kiêu Ngọc làm việc vốn rất chu toàn, nhưng Yến phu nhân vẫn đặc biệt sai người đến dặn dò rằng, tiệc lại mặt phải được tổ chức thật tốt, không được phép xảy ra sai sót nào.
Nếu không phải dạo trước cứ sớm tối không nghỉ để lo liệu hôn lễ cho tiểu cô, Bồ Kiêu Ngọc cũng chẳng đến mức mệt nhoài mà lén nghỉ ngơi vào buổi trưa, để rồi bị Ngô ma ma nắm thóp mà quở trách.
Kinh Xuân cũng biết nàng mệt mỏi, suy cho cùng thì Yến phủ nhà cao cửa rộng, bao nhiêu việc lớn nhỏ kể sao cho hết, hằng ngày phải đối phó với chuyện trong chuyện ngoài, Bồ Kiêu Ngọc mới có bao nhiêu tuổi cơ chứ?
Ban đầu Nguyễn di nương nói hai tỷ muội tuổi tác tương đương, nhưng thực tế, Bồ Kiêu Ngọc nhỏ tuổi hơn Bồ Vãn Ca rất nhiều.
Nàng từ nhỏ chưa từng học qua những việc quản gia này, xem sổ sách hay quyết toán cũng đều là ‘nước đến chân mới nhảy’. Để vẻ ngoài trông có vẻ lão luyện và thành thạo, những nỗ lực nàng bỏ ra sau đó chẳng cần nói cũng đủ hiểu.
Vốn dĩ khi mới gả sang đây, nàng cũng chưa cần phải quán xuyến việc tổ chức yến tiệc của Yến gia.
Nhưng kể từ khi vết thương cũ của Yến tướng quân tái phát vào hai năm trước, đích trưởng tử của Yến phu nhân là Yến Trì Quân, cũng chính là tỷ phu hụt của Bồ Kiêu Ngọc, và là phu quân mà nàng đang gả thay tỷ tỷ, đã tiếp quản quyền hành Yến gia, nên mọi việc lớn nhỏ ở hậu viện cũng theo đó mà đổ dồn lên đầu nàng.
Để làm quen với sự vụ nhà họ Yến sao cho không xảy ra sai sót nào, Bồ Kiêu Ngọc thực sự đã thức đêm thức hôm chẳng dám ngủ say, cũng chẳng dám ngủ nhiều, cả người gầy sọp hẳn đi một vòng.
Dù hiện tại đã dần quen tay, nhưng nàng vẫn luôn trong trạng thái lo lắng đề phòng.
Kinh Xuân chẳng đợi nàng phải lên tiếng, đã chủ động đứng sang bên cạnh giúp nàng mài mực.
Mấy năm trước quá sức vất vả, Bồ Kiêu Ngọc tuổi còn nhỏ mà đôi mắt đã yếu đi nhiều, thị lực rất kém, nhìn vật gì cũng thấy mơ hồ. Nàng cần phải ghé sát vào mới thấy rõ, hơn nữa bên cạnh luôn phải thắp thêm thật nhiều chân nến.
Kinh Xuân chuyên tâm mài mực, lại giúp nàng đối soát và trông chừng sổ sách. Trong lúc lật tờ giấy tuyên, cô ấy không cẩn thận chạm phải chân nến gần đó. Thấy chân nến sắp đổ ập xuống bàn tay đang tập trung cao độ của Bồ Kiêu Ngọc, Kinh Xuân vội vàng đưa tay đỡ lấy, định lên tiếng nhắc nàng cẩn thận.
Nhưng lời nhắc nhở còn chưa kịp thốt ra, Bồ Kiêu Ngọc – người vừa rồi còn chẳng hề ngước mắt hay rời tầm nhìn đi chỗ khác, vậy mà lại nhẹ nhàng dời tay đi, còn cầm theo cả cuốn sổ sách.
Từng cử chỉ điềm nhiên của nàng cứ như thể có khả năng tiên tri, biết trước chân nến sắp đổ nên đã kịp thời tránh được vậy.
Kinh Xuân ngẩn người ra, là… trùng hợp thôi nhỉ?
Chắc chắn là vậy rồi.
Vẻ mặt của Bồ Kiêu Ngọc không đổi, bảo Kinh Xuân xử lý phần nến đổ, sau đó lại tiếp tục hạ bút đối soát sổ sách.
Kinh Xuân: “…”
Chút rắc rối nhỏ này nhanh chóng trôi qua trong bộn bề công việc, Kinh Xuân cũng quẳng nó ra sau đầu.
Bữa tối vẫn được dọn ở sảnh chính như thường lệ, chị em dâu đều đã có mặt đông đủ. Bồ Kiêu Ngọc vừa phải hầu hạ cha mẹ chồng và các bậc trưởng bối dùng bữa, sau đó lại lo toan thuốc thang, rồi còn phải bẩm báo với Yến phu nhân về các sự vụ trong phủ sau khi hỉ sự kết thúc.
Lúc nàng trở về thì trời đã rất khuya, Kinh Xuân vừa giúp nàng trút bỏ xiêm y, vừa thưa rằng nước nóng đã chuẩn bị sẵn sàng.
Nàng khẽ ừ một tiếng: “Em lui xuống đi, để ta tự làm được rồi.”
Kinh Xuân hỏi nàng không cần hầu hạ sao? Bồ Kiêu Ngọc chẳng đáp lời, đã nhấc chân bước thẳng vào bồn tắm.
Ngâm mình trong bồn tắm gỗ, làn nước ấm áp xoa dịu làn da, bao nhiêu mỏi mệt cứ thế lớn dần lên rồi từ từ tan biến.
Nàng cảm nhận làn nước ấm áp, nhắm mắt rồi ngả người ra sau, nước nóng dần dần tràn qua gương mặt, lớp phấn son trang điểm che đậy dung nhan cũng theo đó mà nhòe đi thành một mảng hỗn độn.
Chẳng bao lâu sau, Bồ Kiêu Ngọc ở trong nước đã cảm thấy một sự bí bách khó kìm nén, cảm giác ngạt thở ngày càng bủa vây lấy nàng.
Nàng nín thở thật lâu, cho đến khi ý thức dần tan biến, nước tràn cả vào tai, sức lực cũng bắt đầu bị sự ngột ngạt rút cạn. Ngay khoảnh khắc tưởng như sắp lịm đi, người trong nước là nàng đột nhiên mở bừng mắt, hai tay bám chặt vào thành bồn tắm rồi ngoi lên.
Nàng há miệng thở dốc từng hơi tham lam, thậm chí còn bắt đầu ho sặc sụa.
Cả mái đầu của nàng ướt sũng nước, những giọt nước tràn vào tai cũng theo động tác đứng dậy mà chảy ngược ra ngoài.
Chẳng rõ đã qua bao lâu, nàng dùng hai tay vuốt sạch nước trên mặt, nghiêng đầu qua trái qua phải để trút hết nước trong tai ra, lúc này tâm trí mới dần ổn định trở lại.
Nàng không thể chết, không thể cứ thế mà chết đi được.
Như vậy quá hèn nhát, quá uất ức rồi.
Nàng đã sống cả một đời làm kẻ thế thân và cái bóng, nay được sống lại một kiếp, cớ sao lại phải chết đi như thế này?
Những kẻ thủ ác đã giày vò và đục khoét tâm can nàng, đến tận bây giờ vẫn còn đang kê cao gối ngủ ngon kia kìa.
Nàng nhìn về phía tấm gương đồng xa xa, nhìn thấy khuôn mặt thật sự của chính mình sau khi đã tẩy sạch lớp phấn son.
Khi Bồ Kiêu Ngọc bước ra khỏi bồn tắm, bên ngoài vang lên tiếng chào hỏi cung kính.
Kinh Xuân ở phía ngoài hốt hoảng chạy vào, nhìn thấy gương mặt nàng thì ngẩn người ra một lúc, rồi vội vàng nhắc nhở rằng hôm nay đại nhân về nhà sớm hơn mọi khi.
Gương mặt không trang điểm của nàng cần phải che giấu đi một chút.
Thế nhưng Bồ Kiêu Ngọc chẳng hề cúi đầu che đi khuôn mặt mình như ý muốn của Kinh Xuân, ngược lại còn ngước mắt nhìn ra ngoài, chăm chú dõi theo bóng dáng cao gầy đang bước vào cửa.