Chương 1: Lấy chìa khoá
Qua Tết Đoan Ngọ, tiết trời bắt đầu chuyển nóng, tiếng ve râm ran khiến chim chóc cũng phải im bặt.
Tần Thư đang chợp mắt nghỉ ngơi chốc lát trên chiếc sập mát nơi thủy tạ, thì nghe thấy tiếng xì xào nhỏ nhặt của mấy tiểu nha hoàn truyền vào từ gian nhà bên ngoài.
“Bằng Nhi tỷ tỷ đã thức dậy chưa?”
“Hôm qua tỷ ấy vừa phải xem sổ sách cả đêm, sáng nay lại tiếp quản công việc dưới trang điền, giờ mới có chút thời gian để ngả lưng. Có chuyện gì lớn tày trời mà nhất định phải nói ngay lúc này thế?”
Tiểu nha hoàn Phúc Giai nói: “Thần Tú tỷ tỷ, là Tam phu nhân sai em đến hỏi xem, liệu Bằng Nhi tỷ tỷ có thể qua đó nói chuyện một lát không?”
Thần Tú bĩu môi một cái, quay mặt đi: “Nói chuyện cái nỗi gì, chẳng qua là nhăm nhe Bằng Nhi tỷ tỷ đang giữ chìa khóa kho của Nhị cô nương, nên muốn tính kế chiếm đoạt đồ đạc của người ta chứ gì.”
Tần Thư nghe thấy tiếng động bèn ngồi dậy. Dưới thủy tạ, những đóa hoa sen đang nở rộ thành từng mảng lớn, đương lúc vào mùa nên lá hoa xếp tầng tầng lớp lớp, phủ kín mặt nước. Nàng chợt nhớ về công viên dân tộc gần nhà mình, vào thời điểm này chắc hẳn hoa sen cũng đang nở đẹp như thế.
Tần Thư vốn là một ‘sinh viên dốt’ chuyên ngành Tài chính theo chương trình đào tạo liên thông thạc sĩ lên tiến sĩ, chẳng biết đã phải rụng bao nhiêu sợi tóc mới vượt qua được bài luận văn tốt nghiệp. Nàng vốn dĩ đã thuận lợi ký hợp đồng với một công ty chứng khoán với mức lương hơn 40 vạn một năm, có nhà có xe tại thành phố lớn mà không phải gánh khoản nợ nào, lại còn có cửa hàng cho thuê, bố mẹ thì khỏe mạnh, có lương hưu, sở hữu một căn biệt thự riêng cùng một căn hộ thuộc diện cải cách nhà ở do đơn vị phân cho.
Mỗi năm nàng đều đưa bố mẹ đi du lịch nước ngoài hai lần, lại còn có anh bạn trai ‘chó con’ kém mình 5 tuổi, lúc nào cũng tràn đầy năng lượng và quấn quýt bên nhau đến phát sến.
Ai mà ngờ được, chẳng biết là đứa trẻ nghịch ngợm nhà nào ném cái chậu hoa từ trên tầng cao của khu chung cư xuống, trúng ngay giữa đầu Tần Thư. Nàng lập tức bất tỉnh nhân sự, đến khi tỉnh lại thì đã trở thành kiếp tôi tớ đời đời của phủ Tề Quốc công tại Nam Kinh, lại còn là một tiểu nha đầu vừa tròn mười tuổi, sắp sửa phải vào vườn hầu hạ làm nô tỳ.
Cái gọi là ‘thế bộc’, chính là kể từ đời cụ cố của ngươi đã là người hầu kẻ hạ rồi. Cụ cố sinh ra ông nội, ông nội sinh ra cha ngươi, rồi cha ngươi, mẹ ngươi, anh trai, chị gái ngươi, tất cả thảy đều là hạ nhân. Nếu không có gì bất ngờ xảy ra, thì con trai, con gái, cháu ngoại hay cháu nội của ngươi sau này, chắc chắn cũng sẽ là hạ nhân của phủ Quốc công.
Tần Thư vốn không phải là người theo chủ nghĩa bi quan, nhưng từ một người phụ nữ độc lập thời hiện đại với cuộc sống sung túc, tự do tài chính, bỗng chốc trở thành một tiểu nha hoàn phải làm kiếp tôi tớ từ đời này sang đời khác, sự chênh lệch này thực sự là quá lớn, quá lớn rồi.
Cũng may là tiểu nha đầu này vốn dĩ bị va đập vào đầu đến mức bất tỉnh nhân sự, nên ngay khi Tần Thư vừa tỉnh lại, nhìn thấy cha mẹ xa lạ trước mắt, nàng liền nói thẳng rằng mình chẳng nhận ra ai cả.
Ban đầu, người nhà cứ ngỡ nàng bị trúng tà, bèn chẳng tiếc công sức làm đủ lễ trừ tà, cho nàng uống cả nước bùa. Sau đó họ phải nhờ vả các mối quan hệ, cầu xin ân điển của lão thái thái, mời bằng được đại phu của hiệu thuốc Hồi Xuân Đường tới khám, ông ta mới kết luận rằng Tần Thư do va đập vào đầu nên đã mắc phải chứng mất trí nhớ.
Thuốc thang chẳng biết đã uống bao nhiêu rồi, nhưng người thì nàng đã quên sạch sành sanh, chẳng còn nhớ nổi một ai. Không chỉ quên người, mà ngay cả những quy tắc hầu hạ chủ tử, thì nàng cũng quên không còn xót lại một chút nào.
Thấy bộ dạng của nàng như hiện giờ, cha mẹ nàng sợ nàng cứ thế mà vào nội viện, chẳng may lỡ lời hay sơ suất phạm phải điều kiêng kỵ của bề trên, bèn nhờ vả Hòa gia gia bên cạnh lão thái thái, lại gửi thêm một chiếc trâm bạc nặng hai lượng.
Chỉ trong vòng ba đến năm ngày sau, đã có người dẫn nàng vào nhị môn để làm một nha hoàn quét dọn.
Quét dọn suốt một năm ròng, nàng mới dần chấp nhận thực tại. Thế nhưng, chấp nhận thực tại không có nghĩa là chấp nhận kiếp làm nô bộc đời đời kiếp kiếp.
Sau một năm quét tước, Tần Thư được cha mẹ nhờ vả quan hệ, đưa vào viện của Lão thái thái làm nha đầu sai vặt. Được một hai năm, thấy mấy người đại nha hoàn trước đó đã đến tuổi xuất phủ lấy chồng, thì nàng mới được cất nhắc lên làm đại nha hoàn.
Nhờ biết chữ nghĩa, lại giỏi tính toán sổ sách, cộng thêm cả gia đình đều là người từ nhà mẹ đẻ theo hầu Lão thái thái, rất mực được tin tưởng, nên Lão thái thái đã giao cho Tần Thư quản lý chìa khóa kho riêng của bà lão.
Phủ Tề Quốc Công này đã truyền được bốn đời, nhưng đến đời Lão thái thái thì lại không có con trai ruột, ngay cả con vợ lẽ cũng chẳng có, chỉ nhận nuôi một người cháu trong họ làm con kế tự từ thuở nhỏ. Đến nay, vị Quốc công gia kế tự đó đã sinh được năm người con trai, rồi họ lại cưới vợ sinh con, khiến gia đình nảy nở lên đến mười mấy miệng ăn.
Tần Thư còn đang ngẩn người thì Thần Tú đã vén rèm bước ra, tay bưng một tách trà: “Bằng Nhi tỷ tỷ, nha hoàn Phúc Giai bên chỗ Tam phu nhân có sang truyền lời, mời tỷ qua đó nói chuyện.”
Vừa nói, Thần Tú vừa đưa tách trà cho Tần Thư: “Đây là trà Long Tỉnh người bên ngoài mới biếu, Lão thái thái không thích vị này, thế là hời cho tỷ muội chúng ta rồi.”
Tần Thư vốn chẳng thích uống trà, đến đây đã bảy tám năm rồi nhưng trà có ngon đến mấy nàng cũng không uống quen. Nàng đón lấy tách trà, đặt sang một bên rồi hỏi: “Tiểu tử sai đi đạo quán đã về chưa? Có hỏi rõ được bao giờ Lão thái thái mới về không? Phải hỏi chuẩn ngày giờ để còn chuẩn bị đồ đạc trước, tránh đến lúc đó lại luống cuống chân tay.”
Thần Tú nói: “Vừa nãy ở ngoài nhị môn có người báo lại, tiểu tử nhà Lâm Toàn về nói rằng, vị tiên sinh nào đó muốn tổ chức đạo tràng ở chùa Tĩnh Hải, Lão thái thái phải đợi đạo tràng xong xuôi mới quay về.”
Tần Thư đứng dậy, lắc đầu hỏi: “Vị tiên sinh nào cơ?”
Thần Tú lắc đầu: “Hắn cũng bảo là không biết, chỉ nói mấy chữ đó bình thường chẳng mấy khi thấy, dọc đường cứ lẩm nhẩm đi lẩm nhẩm lại, ấy thế mà về đến nơi là quên sạch rồi.”
Tần Thư cười: “Nói năng chẳng đầu chẳng đuôi, cứ hồ đồ thế nào ấy. Chùa Tĩnh Hải là chùa Hoàng gia, xưa nay có bao giờ lập đạo tràng đâu, thế mà cũng không hỏi cho rõ đã chạy về báo tin.”
Nàng vận một bộ xiêm y màu xanh lục, vén rèm bước vào trong phòng. Sau khi chải chuốt rửa mặt xong xuôi, nàng vừa cầm một miếng vải Tùng Giang lau tay, vừa phân phó: “Đã gửi yến sào qua bên chỗ Nhị cô nương chưa? Nhị cô nương có thể trạng yếu, lại không thích ra ngoài gặp gỡ ai, trời nắng nóng thế này cô ấy lại hay dùng đồ lạnh, phải khuyên nhủ cô ấy nhiều vào.”
Thần Tú cười xòa lấy lòng: “Sáng nay bị Tam thiếu gia gọi đi phơi sách ở thư các cả buổi, nên em lỡ quên mất yến sào của Nhị cô nương, để em bảo Tiểu Hồng mang sang ngay đây. Dù sao Nhị cô nương cũng chẳng mặn mà gì thứ này, lần trước sang đưa vẫn còn thấy thừa lại nhiều lắm.”
Tần Thư liếc nhìn cô bé một cái, vừa thoa một ít phấn hoa hồng lên cổ vừa nghĩ thầm: mình đã xin lão thái thái rồi, chẳng quá nửa năm nữa là được xuất phủ, hà tất phải nhiều lời làm gì cho đắc tội người ta, thôi thì cứ “làm ngày nào hay ngày nấy”, làm tròn bổn phận cho xong chuyện mà thôi.
Nàng thấy Thần Tú vẫn còn đứng đó, liền mỉm cười nhạt: “Nhị cô nương đang cảnh góa bụa ở nhà, lão thái thái cũng rất xót thương, các ngươi đừng có mà chậm trễ, giờ mang sang gác Khê Hà ngay đi.” Không quên gõ đầu nhắc nhở một câu: “Lão thái thái không cấm cản các ngươi ra ngoài chơi đùa, nhưng bản thân cũng phải làm cho tốt phận sự của mình đã.”
Thần Tú thở phào nhẹ nhõm, hỏi: “Vậy còn bên chỗ Tam phu nhân và Tam thiếu gia thì tính sao ạ?”
Tần Thư rủ mắt xuống: “Chủ tử triệu ta qua đó hỏi chuyện, lẽ nào lại không đi? Chỉ khoảng nửa canh giờ là ta về thôi, nếu Từ tẩu tử ở phòng thêu có đến thì ngươi bảo tẩu ấy ngồi đợi một lát.”
Nói xong, nàng che ô bước ra ngoài, thấy nha hoàn Phúc Giai của Tam phu nhân vẫn đang đợi dưới hành lang, nàng mỉm cười: “Đi thôi, làm phiền ngươi phải đợi ta rồi.”
Phủ Tề Quốc Công là khu vườn được Thái Tổ ban tặng, lưng dựa vào núi, mặt hướng ra sông, là một danh viên nức tiếng vùng Giang Nam. Vừa ra khỏi Tĩnh Diệu Đường đã thấy một vùng sóng biếc lấp lánh, nước ao thông với hồ lớn, rải rác những khối đá Thái Hồ. Men theo hồ đi chừng một hai trăm bước sẽ thấy một bức tường trắng, trước tường trồng các loại hoa cỏ như thiên trúc, quế hoa, lăng tiêu, phong lá đỏ… Lúc này đang là buổi xế chiều, nước chảy róc rách, mang lại cảm giác mờ ảo như chốn bồng lai tiên cảnh vậy.
Tần Thư vừa bước vào cửa đã nghe thấy tiếng cãi vã ầm ĩ bên trong: “Nói thì là ‘một nhà hai phủ Công’, nhưng xét về vinh hoa phú quý thì Nam Kinh sao bì nổi? Chẳng qua là nhờ Thành Tổ gia niệm tình Hiếu Từ hoàng hậu nên mới miễn cưỡng giữ được một cái tước vị. Cũng chẳng thèm nhìn xem hiện giờ là tình huống gì mà còn ra ngoài phô trương thanh thế, việc gì cũng muốn so bì với phủ Quốc Công bên Bắc Kinh kia chứ? Nay lại còn bỏ ra ba ngàn lạng bạc mua một con hát nhỏ về nhà, con hát mà giá tận ba ngàn lạng, chẳng lẽ định xây cả cái vườn bằng vàng cho nó ở chắc? Thà rằng ta sớm thu dọn đồ đạc về lại Dương Châu cho xong, đôi bên đường ai nấy đi, thế cho nó sạch nợ!”
Tần Thư vén rèm bước vào, liền thấy Tam thiếu gia đang ngồi trên xe lăn, tay cầm một xấp ngân phiếu, gằn giọng với Tam phu nhân Tần thị: “Đám huân quý tụ tập uống rượu, ta đã nói dù mình có hèn nhát đến đâu nhưng chẳng lẽ lại không lấy nổi mấy ngàn lạng bạc ra hay sao? Dựa vào cái gì mà đám người ở Hầu phủ với Tuần phủ cũng dám đến trước mặt ta mà phô trương thanh thế? Phía Bắc thì đã sao, nếu luận về đích thứ thì phủ Quốc Công ở Nam Kinh chúng ta mới là dòng dõi đích trưởng đấy.”
Nói xong, hắn ta quay đầu định gọi nha hoàn đẩy mình ra ngoài, vừa thấy Tần Thư thì đôi mắt thâm quầng hiện lên một nụ cười lạnh lẽo: “Bằng nhi đến rồi đấy à?”
Tần Thư khẽ nhún người hành lễ: “Tam thiếu gia, Tam phu nhân.”
Đây là Tam thiếu gia của phủ, từ khi sinh ra đã mắc tật ở chân, mười lăm mười sáu tuổi đã phải ngồi xe lăn qua ngày. Hắn ta cũng có thể miễn cưỡng đi lại vài bước, nhưng vì ghét dáng đi khập khiễng mất thể diện, nên Tần Thư chưa bao giờ thấy hắn ta đứng dậy cả.
Tam phu nhân Tần thị có tướng mạo rất mộc mạc, ăn mặc cũng giản dị, chỉ có đôi mắt là cực kỳ tinh anh, thanh âm hào sảng đầy khí lực, là một người phụ nữ vô cùng khỏe mạnh.
Cô ta rảo bước tới nắm lấy tay Tần Thư: “Bằng nhi tới thật đúng lúc, ngươi mau lại đây phân xử công bằng xem. Ba ngàn lượng bạc chỉ để mua một con hát mới mười ba tuổi về nhà. Tự ngài ấy không lấy ra được bạc trong sổ sách, lại dám nhắm vào trang sức của ta mà đòi. Ta đây dù là xuất thân thương hộ, chẳng thể sánh bằng bậc hầu môn công phủ như Tam thiếu gia các người, nhưng ngày xuất giá cũng là kiệu hoa rình rang với tám mươi mốt hòm sính lễ. Chưa bàn tới đồ cổ tranh chữ, chỉ riêng bạc trắng cũng có tới hai mươi, ba mươi vạn lượng, vậy mà đến giờ phút này thử hỏi còn sót lại được bao nhiêu?”
Cô ta vốn xuất thân từ một gia tộc thương buôn lừng lẫy, của hồi môn vô cùng sung túc. Việc gả vào phủ Quốc công vốn là phận trèo cao, thuở mới về làm dâu cô ta luôn thấp hàng nén tiếng, chẳng dám thở mạnh nói to lấy nửa lời. Thế nhưng vì Tam thiếu gia chẳng có chút tiền đồ nào, lại thêm tinh lực của Lão thái thái ngày một hao gầy, nên việc trong nhà dần dần đều do một tay cô ta quán xuyến. Qua năm dài tháng rộng, tiếng nói của cô ta trong phủ cũng theo đó mà thêm phần uy thế, dõng dạc hơn xưa.
Tam thiếu gia hừ một tiếng, nhét xấp ngân phiếu vào trong ống tay áo, rồi gằn giọng nói: “Đây là tự miệng cô nói đấy nhé! Đợi đến khi Lão thái thái hồi phủ, bẩm báo rõ ràng với bậc bề trên, ta sẽ viết một phong hưu thư trao cho cô, cốt để cô khỏi phải gả vào nhà ta rồi lại chịu thiệt thòi và uất ức.”
Những lời đại nghịch bất đạo ấy vừa thốt ra đã khiến đám hạ nhân một phen kinh hồn bạt vía. Chúng nhân vội vàng xúm lại khuyên can, trong phòng tức khắc trở nên huyên náo, loạn cào hết cả lên.
Tần Thư khẽ thở dài một tiếng, nàng tiến lên đỡ lấy Tam phu nhân Tần thị, rồi phân phó người hầu vắt khăn mặt mang đến cho cô ta lau mặt: “Phu nhân hà tất phải giận đến nông nỗi này, có chuyện gì thì cứ từ từ nói rõ là được. Dẫu cho Tam thiếu gia có điều gì không phải, thì vẫn còn Lão thái thái và Lão gia ở đó, lẽ nào lại chẳng có nơi để tìm lấy một lẽ công bằng hay sao?”
Tam phu nhân Tần thị ngẩn người ra, nghe xong những lời ấy thì lấy khăn tay che mặt khóc một hồi, rồi bảo hạ nhân bưng một chén trà tới, uống xong mới xuôi cơn giận, lại nói tiếp: “Bằng Nhi, ngươi là đại nha hoàn trong phòng Lão thái thái, mười tuổi đã vào vườn làm việc, cả nhà ai nấy đều tin tưởng. Mười một mười hai tuổi ngươi đã thay Lão thái thái xem sổ sách, đám quản sự ở các trang trại và cửa tiệm không một ai là không biết tới ngươi. Nay Nhị cô gia đã không còn, Nhị cô nương quay về nhà mẹ đẻ, Lão thái thái tin cậy nên mới giao cho ngươi quản lý đồ đạc của Nhị cô nương, quả thực ngươi là người thỏa đáng bậc nhất.”
Tần Thư nghe xong những lời ấy liền hiểu ngay ý đồ của cô ta, nhưng nàng chỉ vờ như không biết, mỉm cười đáp: “Tam phu nhân khen ngợi như vậy, chẳng lẽ là định ban thưởng cho nô tỳ sao? Thế thì tốt quá, mỗi tháng có hai lạng bạc tiền tiêu vặt, nô tỳ còn đang lo không đủ dùng đây này.”
Tam phu nhân nắm lấy tay Tần Thư, sai bảo đám nha hoàn lớn nhỏ trong phòng lui ra hết, rồi mới nói: “Lúc ta mới gả vào đây, Lão thái thái có bảo với ta rằng, ở những đại gia tộc như chúng ta thì quy tắc hàng đầu chính là hiếu thuận. Chẳng nói đến lão thái thái hay lão gia, ngay cả những nha hoàn hầu hạ bên cạnh bậc bề trên, thì bản thân cũng phải gọi một tiếng ‘tỷ tỷ’ để tỏ lòng tôn trọng. Nay ta gọi ngươi một tiếng tỷ tỷ là có chuyện muốn cầu xin, không biết ngươi có bằng lòng hay không?”
Tần Thư chỉ im lặng lắng nghe: “Hiện giờ lão gia đã giao việc lo liệu đại thọ của lão thái thái cho ta quán xuyến, chắc chắn sẽ có chỗ phải làm phiền đến tỷ tỷ. Ta nhớ lúc Nhị cô nương quay về có mang theo một bức tượng Phật bằng vàng cao nửa người, vì dạo trước biểu cô nương bị hoảng sợ nên mới đặt ở trong phòng cô ấy, chứ thực ra cũng chẳng dùng làm gì. Ta thấy hay là cứ mang bức tượng đó vào chùa để thấm nhuần linh khí, đợi chừng ba đến năm tháng nữa rồi mang về, chẳng phải rất tốt sao, biết đâu lại có hiệu nghiệm? Đây cũng là cái ‘mưu kế vẹn toàn’ mà ta với Tam thiếu gia của ngươi nghĩ ra đấy, đã nhờ đại sư ở chùa Tĩnh Hải ngày đêm tụng kinh niệm Phật rồi.”
Chương 2: Kẻ ngoại tộc
Trong lòng Tần Thư lập tức hiểu ra ngay, chẳng qua là họ đang tính kế lấy pho tượng Phật vàng của Nhị cô nương để mang đi đổi lấy bạc mà thôi. Nhị cô nương từ sau khi ở góa thì lòng dạ nguội lạnh, chẳng mấy khi ra ngoài gặp ai, cũng chẳng để tâm đến chuyện vàng bạc này. Nếu chỉ bảo là mang tượng lên chùa khai quang, chắc chắn cô ấy sẽ không từ chối.
Tần Thư mỉm cười: “Hóa ra là chuyện này. Có điều pho tượng vàng đó là đồ của Nhị cô nương, nên không thể không hỏi qua ý kiến của cô ấy một tiếng được ạ.”
Tam phu nhân liền cười nói: “Chuyện này đương nhiên là đã hỏi qua rồi. Nhị cô nương vốn có lòng hiếu thảo hơn cả chúng ta, vừa mới nhắc đến là cô ấy đã lập tức đồng ý ngay.”
Tần Thư nghe xong, liền giả vờ đưa tay lên thắt lưng lấy chìa khóa, cười đáp: “Vậy thì tốt quá rồi. Đã là đồ của Nhị cô nương, mà lão thái thái xưa nay lại là người thành tâm hướng Phật nhất, mang tượng đi đặt nơi khói hương cửa chùa, lại được khai quang nữa, thì lẽ nào Nhị cô nương lại không vui lòng cho được.”
Tam thiếu gia vỗ tay tán thưởng: “Nếu tỷ tỷ đã nói thế thì đúng là chúng ta tâm đầu ý hợp rồi. Tỷ tỷ tốt của ta ơi, giờ hãy mau mở kho ra, làm xong sớm thì càng tốt.”
Hắn ta vì nhất thời vui mừng nên nghe lời chỉ nghe có nửa câu. Tần Thư thầm cười trong lòng, lấy từ thắt lưng ra một chiếc chìa khóa đồng: “Chìa khóa thì chỗ tôi cũng có một chiếc, chỉ e là nếu Tam thiếu gia chỉ cầm mỗi chiếc này của tôi thì cũng chẳng lấy được món đồ kia ra đâu.”
Tam phu nhân Tần thị hỏi: “Bằng Nhi tỷ tỷ, nói vậy là ý gì? Chẳng lẽ ngay cả tỷ đích thân đi cũng không được sao?”
Lúc này Tần Thư mới nói: “Bà tử họ Đổng trông coi kho kia xưa nay chỉ nghe lời lão thái thái. Bình thường thì cũng chẳng sao, chỉ cần tôi và Bích Ngân cùng đi, một người mở kho, một người ghi sổ. Nhưng hiện giờ Bích Ngân đã theo lão thái thái đi chùa Tĩnh Hải rồi, chỉ mình tôi thì không thể nào lấy ra được vàng bạc gì đâu, bà ấy lại chẳng coi tôi như kẻ trộm mà phòng bị ấy chứ?”
Tam thiếu thiếu gia vốn sinh ra với gương mặt trắng trẻo như thoa phấn, lúc này lại dựng ngược lông mày, miệng mắng nhiếc: “Cái đồ người hầu đáng chết kia! Đó là đồ của Nhị cô nương, sao giờ lại thành đồ của bà ta rồi? Cũng chẳng cần sợ, ta dẫn theo mấy gã sai vặt đi cùng, hễ bà già đó dám nói nửa lời thì lập tức bắt trói lại đánh cho ba mươi gậy.”
Tần Thư chỉ mỉm cười không nói gì. Tam phu nhân Tần thị thấy vậy liền liếc xéo Tam thiếu gia một cái: “Chàng định đánh chết ai? Người trong viện của lão thái thái mà chàng cũng đòi đánh chửi sao? Ta thấy cũng chẳng cần đến chìa khóa của Bằng Nhi đâu, chàng cứ dẫn người tới cướp kho luôn cho rồi.”
Tần Thư coi như không nghe thấy câu nói mỉa mai kia, nàng mỉm cười tiếp lời: “Phu nhân tốt của tôi ơi, ở đây tôi có một việc muốn cầu cạnh đến người. Vốn là chuyện của người ngoài phủ, nhưng thấy gia cảnh họ đáng thương, lại nghĩ đến phu nhân và Tam thiếu gia đây vốn có lòng bồ tát, nên tôi đành mạo muội thay người ta thưa chuyện một phen.”
Tần Thư đứng dậy, rót một tách trà nóng cung kính dâng lên cho Tam phu nhân: “Vốn dĩ đây là chuyện của một thương nhân tơ lụa ở Dương Châu, nói ra thì cũng thật trùng hợp, người này cùng họ với phu nhân, cũng họ Tần. Gia cảnh nhà họ cũng thuộc hàng khá giả, chỉ hiềm nỗi không có mụn con trai nào, chỉ sinh được duy nhất một cô con gái. Cha mẹ hết mực yêu thương, định bụng không gả con đi xa mà chỉ muốn chiêu hiền rể về ở rể trong nhà. Gã con rể đó ban đầu cũng khá tốt, nhưng về sau thì ngày càng trở nên ngông cuồng, hở ra là nói bóng gió rằng nhà này không có con trai, sớm muộn gì sản nghiệp cũng thuộc về hắn, thậm chí còn muốn nạp thiếp đưa về nhà. Gia đình kia nghe vậy làm sao chịu cho thấu, bèn đệ đơn kiện lên quan, chỉ mong được phán hòa ly. Thế nhưng họ đã nhờ vả bao nhiêu nơi rồi mà vẫn chẳng thể nào kết thúc được vụ kiện tụng này.”
Tam phu nhân đón lấy chén trà, khẽ nghiêng đầu nhìn Tần Thư với vẻ dò xét: “Gia đình này đúng là lạ thật, gã con rể đó có bản lĩnh gì mà khiến họ phải đi khắp nơi nhờ vả người này người nọ để giải quyết vụ kiện như vậy?”
Tần Thư liền giải thích: “Tam phu nhân minh xét, ban đầu tôi cũng thấy lạ lắm. Gia đình kia nói rằng, gã con rể đó vốn chẳng có bản lĩnh gì, chỉ là có một người họ hàng xa vừa mới đỗ Tiến sĩ. Chuyện đó vốn cũng chẳng có gì to tát, vậy mà lại khiến gã được đà ‘cáo mượn oai hùm’. Gia đình nọ bảo rằng, họ cầu xin trăm đường ngàn lối, chỉ mong cầu đến chỗ của phu nhân đây. Họ cũng chẳng có gì để báo đáp, lại biết Tam thiếu gia và phu nhân không thiếu tiền bạc, nên chỉ đành mang mấy bức họa của Đổng Hương Quang gia truyền ra để dâng tặng cho phu nhân và Tam thiếu gia thôi.”
Thư pháp và tranh họa của Đổng Hương Quang, dù chỉ là một bức “Tranh trúc khô” tầm thường thì cũng có giá lên tới hàng ngàn lượng bạc.
Tam phu nhân nghe xong, cũng không nói là đồng ý hay không đồng ý, chỉ thong thả cầm lấy chiếc quạt tròn bằng lụa khảm hình “Hải đường xuân thụy” trên mặt sập gỗ nam mộc, rồi khẽ khàng lay động.
Ngược lại, Tam thiếu gia cầm một chiếc quạt, vừa phe phẩy vừa lắc lư đắc ý: “Đám thương nhân hành nghề buôn bán mà cũng bày đặt chơi chữ nghĩa tranh ảnh cơ đấy. Thôi được rồi, nể tình nhà họ có lòng thương con gái, chúng ta cũng nên làm một việc thiện để tác thành cho người ta. Chẳng qua cũng chỉ là một gã Tiến sĩ thôi mà, Tri phủ Dương Châu là Tạ Hiếu Tư vốn là môn sinh của Đại thiếu gia trong kinh phủ ta, kẻ đó rất biết điều, lễ Tết dù bản thân không đích thân tới thì cũng sai người trong phủ đến bái kiến. Ta sẽ viết một phong thư ngay lập tức, rồi sai tiểu đồng gửi đến Dương Châu, giải quyết dứt điểm vụ kiện cáo này ngay bây giờ.”
Tần Thư đứng dậy: “Thế mới thấy gia đình kia thật có phúc, nên mới gặp được những bậc có lòng bồ tát như Tam thiếu gia và phu nhân đây.”
Nói thêm được một lát, bên ngoài đã có người vào bẩm báo với Tam phu nhân về việc chăm sóc hoa cỏ trong vườn.
Tần Thư bèn đứng dậy xin phép cáo từ. Tam phu nhân gỡ một chiếc trâm vàng trên đầu xuống, đưa cho Tần Thư rồi bảo: “Ta biết, ngươi có một người biểu ca xa, qua năm mới là phải đi xa rồi. Chúng ta dù sao cũng có tình nghĩa bấy lâu nay, chiếc trâm vàng này ngươi hãy giữ lấy làm kỷ niệm đi.”
Tần Thư cũng không từ chối, nàng nhận lấy chiếc trâm rồi mỉm cười nói: “Tam phu nhân, dù sau này có xuất phủ đi chăng nữa, thì dăm bữa nửa tháng tôi vẫn cứ vào phủ thăm hỏi, làm phiền người như thường thôi ạ.”
Khi trở về Tĩnh Diệu Đường, quả nhiên thấy Từ tẩu tử ở phòng thêu đã đợi sẵn ở đó. Thấy Tần Thư vén rèm bước vào, bà ấy vội vàng đứng dậy khỏi chiếc sập nhỏ: “Chào Bằng Nhi cô nương.”
Bên ngoài nắng gắt như thiêu như đốt, đi một quãng đường dài khiến trán nàng lấm tấm mồ hôi. Tiểu nha hoàn Hồng Ngọc bưng chậu nước vào nói: “Tỷ tỷ lau mặt cho mát đi ạ.”
Tần Thư vắt khô khăn, đứng trước chậu đá một hồi lâu, lúc này mới cảm thấy trong người nhẹ nhõm đôi chút. Nàng rót một chén trà đưa cho Từ tẩu tử: “Mời Từ tẩu dùng trà.”
Từ tẩu tử quả thực cũng đã khát khô cả cổ, bà ấy đến đây nửa ngày trời mà chẳng ai mời lấy một ngụm nước. Đón lấy chén trà, cô ấy uống liền hai ngụm lớn. Lão thái thái tuổi tác đã cao, càng ngày càng có thói quen nuông chiều đám nha hoàn trong viện, những đứa được bà cụ để mắt tới thì ngay cả tiểu thư nhà bình dân cũng không sánh kịp. Đám bà tử sai vặt bên dưới đều đặt cho họ một cái biệt danh, gọi là các “Phó tiểu thư”.
(Phó nghĩa là phụ. Hàm ý là: các nha hoàn trong phủ được coi là các tiểu thư phụ, có lối sống và quyền lực gần bằng các tiểu thư thật trong nhà.)
Tần Thư ngồi xuống một lát, lúc này mới mở lời: “Tôi biết tẩu tử đây là bậc tiền bối đã quản lý phòng thêu trong phủ mấy chục năm nay rồi, không tránh khỏi có đôi chuyện cần phải thỉnh giáo tẩu.”
Từ tẩu tử biết Bằng Nhi cô nương này vốn là người hòa nhã, liền cười nói: “Trong phủ này ai mà chẳng biết cô nương có đường kim mũi chỉ rất khéo. Bức bình phong thêu hồi tháng Ba ấy, cô nương nhờ tôi mang ra ngoài bán thử, chẳng phải đã được tới năm lượng bạc đó sao? Lúc đó tôi còn chưa biết cô nương định xuất phủ đâu, nghe người ta nói lại, tôi còn khăng khăng bảo không phải. Giờ xem ra, dẫu cô nương có rời khỏi đây thì cũng chẳng lo thiếu kế sinh nhai. Chỉ là cô nương quá xem trọng tình cảm thân thích rồi, vốn dĩ Lão thái thái định gả cô nương cho Giang tiểu quản sự, tổ tiên nhà hắn là người cũ từng cứu mạng Quốc công gia, có nhà lớn ba gian ở bên ngoài, dù cô nương có về đó làm dâu thì cũng có ba bốn kẻ hạ nhân hầu hạ…”
Tần Thư nghe bà ấy luyên thuyên mãi không thôi, liền vội vàng ngắt lời: “Tẩu tử đang nói cái gì vậy? Giang tiểu quản sự nào chứ, vốn dĩ chẳng hề có chuyện đó, vậy mà cứ để các người cứ ngươi một câu ta một câu bàn ra tán vào, nghe cứ như thật vậy. Lần này tôi mời tẩu tử đến đây là muốn nhờ tẩu ở bên ngoài dò hỏi xem ở đâu có loại máy dệt vừa tốt vừa rẻ, mua lấy một hai chiếc.”
Từ tẩu tử suy nghĩ một lát rồi đáp: “Máy dệt thì không khó tìm, cho dù không có ai bán lại đồ cũ thì đóng mới một chiếc cũng chẳng khó gì, có điều ít nhất cũng phải tốn mười bảy, mười tám lượng bạc. Cô nương không biết tình hình giá cả bên ngoài hiện nay đâu, một xấp vải Tùng Giang giá cũng chỉ 0,1 lượng bạc, một người phụ nữ có làm việc ngày đêm không nghỉ thì một tháng cũng chỉ dệt được cùng lắm hai mươi xấp vải, tính ra cũng chỉ được có hai lượng bạc thôi!”
Tần Thư nói: “Chuyện này tôi hiểu rõ hơn ai hết. Tẩu tử à, sau này khi xuất phủ, tôi không thể không tìm một kế sinh nhai, hiện giờ bản thân cũng có chút tiền riêng tích cóp, nhưng cũng chẳng thể ngồi không ăn chơi đến mức núi lở được. Tẩu cứ việc đi thăm dò giúp tôi, nếu giá cả hợp lý thì mua lấy ba đến năm chiếc cũng chẳng sao.“
Ba đến năm chiếc sao? Từ tẩu tử nghe xong mà tặc lưỡi kinh ngạc, không ngờ Bằng Nhi cô nương này lại có nhiều tiền riêng đến thế. Bà ấy thầm tính, mỗi tháng cô nương chỉ nhận được hai lượng bạc tiền lương, hằng tháng lại còn bao nhiêu khoản phải chi tiêu, số tiền này chắc hẳn đều là do các chủ tử ban thưởng cho cả. Chẳng trách người ta thường bảo, đã vào được nội viện làm đại nha hoàn thì coi như tự mình gây dựng được tiền đồ cả một đời rồi.
Từ tẩu tử vốn có việc cần cầu cạnh Tần Thư, nên vội vàng nhận lời ngay và vỗ ngực bảo đảm: “Cô nương cứ yên tâm, tôi cũng có quen biết vài người, sẽ đi lo liệu việc này ngay.” Nói xong, bà ấy lại nhìn Tần Thư với vẻ ngập ngừng, rồi ấp úng nói: “Bằng Nhi cô nương, nhà tôi có thằng con trai, đang tính cho nó vào trong viện này để học hỏi chút bản lĩnh…”
Tần Thư vốn đã biết chuyện này, lần trước nàng chưa nhận lời ngay, chỉ bảo rằng nếu là nha hoàn thì dễ sắp xếp, còn là con trai thì phải hỏi lại đã. Nghe vậy, nàng gật đầu: “Từ tẩu tử cứ yên tâm, tẩu đã để tâm đến chuyện của tôi thì tôi cũng đã thưa lại với Tam phu nhân giúp tẩu rồi. Tam phu nhân mấy hôm trước có bảo, cứ đến ngày rằm thì cho con trai nhà tẩu đến chỗ Giang tiểu quản sự, trước hết là học quy củ nửa tháng, sau đó sẽ sai đến chỗ Tứ gia làm chân chạy việc.”
Từ tẩu tử chắp hai tay trước ngực: “A Di Đà Phật, cô nương đúng thật là người sống có tình có nghĩa, để mai kia tôi dẫn thằng bé nhà tôi đến dập đầu tạ ơn cô nương.”
Bộ dạng của bà ấy lúc đó trông rất khôi hài, cứ như đang bái một vị thần trong miếu vậy, làm Tần Thư bật cười khanh khách. Đúng lúc này, Thần Tú bưng đĩa điểm tâm đi vào rồi tiếp lời: “Từ tẩu tử ơi, hôm nay cũng chẳng phải lễ tết gì, ai lại làm thế bao giờ?” Nói rồi, Thần Tú gói thêm một bọc điểm tâm khác đưa cho Từ tẩu tử mang về.
Tiễn khách ra ngoài xong, tiểu nha hoàn xách hộp thức ăn bước vào: “Tỷ tỷ dùng bữa thôi ạ. Hôm nay có món lưỡi vịt ngâm rượu mà tỷ thích nhất đây. Lúc muội qua đó, thấy Lý ma ma đang hấp bánh Định Thắng và làm gà dầu nướng lá sen, nên muội cũng lấy một đĩa mang về.”
Tần Thư dùng bữa xong, theo thói quen lại xem qua sổ sách tối qua một lượt. Nàng thở dài một tiếng, ném sổ sách sang một bên rồi cầm kim chỉ lên.
Chẳng bao lâu sau, màn đêm đã dần buông xuống. Thần Tú thắp đèn rồi mang vào trong, thấy Tần Thư vẫn đang cúi mình bên án thêu, cô ấy tiến lại gần khuyên nhủ: “Cô nương, trời đã tối rồi, người làm tiếp như vậy sẽ hại mắt đấy.”
Lúc này Tần Thư mới ngẩng đầu lên, dụi dụi mắt, quả nhiên thấy sắc trời ngoài cửa sổ đã chẳng còn sớm sủa gì, nàng mới thu dọn khung thêu sang một bên.
Thần Tú ngồi xuống rồi hỏi: “Cô nương định rời khỏi viện tử thật sao? Sau này định làm thợ thêu thật à? Cứ ngày đêm thêu thùa như thế này thì cũng chỉ kiếm được dăm ba đồng bạc vụn mà thôi. Chi bằng cô nương cầu xin lão thái thái, dù không được ở cạnh hầu hạ người như trước thì đi làm quản sự ở nơi nào đó cũng được vậy, chẳng phải tốt hơn nhiều so với việc ngày đêm làm lụng vất vả thế này sao?”
Cô ấy cũng giống như Tần Thư, đều là người hầu sinh ra trong phủ, nên đời đời kiếp kiếp đều phụ thuộc vào phủ Quốc công mà sống. Cha mẹ huynh đệ đều là những người có năng lực, cuộc sống thường ngày còn khấm khá hơn cả những gia đình bình dân nhỏ mọn khác, chỉ có điều vừa sinh ra đã mang thân phận người hầu.
Khi Tần Thư xuyên không đến đây, thì nàng đã là một người trưởng thành với tư tưởng chín chắn. Nếu bây giờ nàng nói với họ rằng mình không muốn làm nô tỳ, không muốn hầu hạ người khác, e rằng họ sẽ tưởng nàng bị điên, là kẻ “mắt cao tay thấp”. Vì vậy nàng đành phải tìm một lý do khác để thoái thác: “Hôn sự của ta và người biểu ca kia vốn đã định đoạt từ lâu rồi. Chúng ta tuy là thân nô bộc hầu hạ người ta, nhưng cũng phải giữ lấy chữ tín. Cả nhà họ đều là người tự do, chẳng lẽ lại đi cưới một thê tử còn đang giữ thân phận bán mình hay sao? Ta xuất phủ rồi, những việc khác thì không lo, chỉ có chỗ Lão thái thái là phải nhờ ngươi để tâm nhiều hơn một chút.”