Ngoại Thất – Chương 105 – 106

Chương 105

Đã là cuối giờ Dậu, bên ngoài trời đã bắt đầu đổ tuyết. Tần Thư đang ngồi khâu vá dưới ánh đèn, vừa mới đưa xong mũi kim cuối cùng thì nghe thấy tiếng Tiểu Hồi Hương xách lồng đèn từ dưới hành lang đi tới, miệng gọi: “Phu nhân!”

Mấy tiểu nha hoàn đứng trên thềm đá vén rèm cửa lên, một luồng tuyết bay như bông ùa vào trong phòng. Tiểu Hồi Hương giậm giậm chân, phủi sạch lớp tuyết đọng trên người rồi mới bước vào nhà, nhún người hành lễ: “Phu nhân, người sắp đến kỳ sinh nở rồi sao vẫn còn làm công việc kim chỉ thế này? Đại nhân mà nhìn thấy thì ngài ấy chẳng nỡ trách người đâu, nhưng đám nha hoàn bọn em chắc chắn sẽ bị phạt nặng đấy ạ.”

Tiểu Hồi Hương đứng từ xa chờ cho hơi lạnh trên người tản bớt đi rồi mới dám tiến lại gần: “Phu nhân, Giang quản sự ở ngoại viện vừa sai người vào truyền lời, nói lúc nãy đại nhân đi chầu về có dắt theo Tiểu công tử, hiện đang bắt cậu ấy quỳ ở từ đường, xem chừng là muốn thỉnh gia pháp đấy ạ.”

Tần Thư khẽ ngáp một cái. Hai cha con nhà này vốn dĩ sinh ra đã không hợp tính nhau, chỉ một chuyện nhỏ thôi cũng đủ khiến Lục Trạch bốc hỏa. Nàng vừa gấp chiếc áo choàng lông cáo trắng viền lông thú lại, vừa hỏi: “Lần này lại có chuyện gì nữa đây?”

Tiểu Hồi Hương lắc đầu: “Chẳng ai dám vào hỏi cả. Đám phu khiêng kiệu đợi ngoài cung nói lúc đi ra, cả đại nhân và Tiểu công tử đều mặt nặng mày nhẹ, chẳng ai thèm nhìn mặt ai.”

Người Tần Thư lúc này đã rất nặng nề, nàng để Tần ma ma đỡ đứng dậy. Tiểu Hồi Hương vội khuyên ngăn: “Bên ngoài lạnh lắm, phu nhân cứ sai một nha hoàn đi xem là được, đại nhân nhất định sẽ nghe lời người mà.”

Tần Thư chỉ tay vào chiếc áo choàng bằng dạ lông màu đỏ thắm thêu vân vũ mao treo bên cạnh, nói: “Người lớn nghe lời thì có ích gì, khi mà trẻ không chịu nghe? Tuổi chẳng bao nhiêu mà tính khí thì lớn, chỉ sợ nó lại chịu uất ức đến tận sau năm mới mất thôi.”

Tiểu Hồi Hương vâng dạ một tiếng, thắt lại dây áo choàng cho Tần Thư, rồi từ từ đỡ nàng đi về phía từ đường ở phía Tây. Trước cửa từ đường có một thị vệ của Lục Trạch canh giữ, chừng mười bảy mười tám tuổi, thấy Tần Thư đến liền cúi người hành lễ: “Phu nhân, đại nhân vừa dẫn tiểu công tử vào trong, dặn thuộc hạ trông cửa, không cho bất kỳ ai vào, nội bất xuất ngoại bất nhập ạ.”

Tần Thư phẩy tay ra hiệu cho tên thị vệ lui xuống, hắn nào dám cản đường nàng, lập tức nghiêng người nhường lối.

Nàng nhẹ nhàng tiến vào trong, thấy cửa chính của từ đường vẫn mở, Hành ca nhi đang quỳ trước bài vị tổ tiên, nhắm nghiền mắt nghe Lục Trạch răn dạy: “Con cũng là người đã chính kinh đọc sách được gần một năm rồi, chẳng lẽ không biết lời thánh nhân dạy ‘Lời bên ngoài không lọt vào trong khuê cửa, lời trong khuê cửa không truyền ra ngoài’, lại nói ‘Nam nữ bảy tuổi không ngồi cùng chiếu, không ăn cùng mâm’, con có biết không hả?”

Tần Thư còn chưa kịp nói gì, Tần ma ma đã xót xa không chịu được: “Cô nương, trời lạnh thế này mà cứ để tiểu công tử quỳ trên nền gạch xanh, đến cái đệm cũng không có. Cậu ấy vốn sinh non, sao chịu nổi cái hàn khí này, nhỡ quỳ hỏng cả đầu gối thì tính sao đây?”

Hành nhi đi theo Lục Trạch đọc sách hơn nửa năm nay, cũng bắt đầu học được chút võ công căn bản, chỉ là cậu bé vẫn không phục cha mình. Khi có người ngoài thì xưng hô “phụ thân”, nhưng ở nhà thì tuyệt nhiên chẳng bao giờ gọi. Cậu bé nhìn đăm đăm vào bài vị trên tường, lầm bầm: “Con vốn chẳng có lỗi gì cả. Muội ấy nhỏ hơn con, bị ngã thì lẽ nào con lại không tới đỡ sao?”

Lục Trạch nghe vậy càng thêm giận dữ: “Nếu là bình thường thì con đương nhiên không sai, nhưng ở ngay giữa cung yến thì con đã sai quá sai rồi! Con không nghĩ thế, nhưng người bên ngoài lại chẳng giống con. Con đỡ quận chúa của Sở Vương phủ, người ta liền thừa cơ mà bàn chuyện cưới hỏi. Ở đại triều Đại Tề ta, hễ cứ kết thân với hoàng gia thì con đừng mong màng gì đến chuyện học vấn hay con đường hoạn lộ nữa.”

Hành ca nhi không còn gì để nói, vẫn cứ bướng bỉnh ngang ngạnh, uất ức đến mức vành mắt đỏ hoe.

Tần Thư lúc này mới gõ nhẹ vào cánh cửa rồi bước chân vào trong: “Sắp Tết đến nơi rồi, còn ầm ĩ chuyện gì thế? Chuyện kết thân nào, rồi vị Quận chúa của Sở Vương phủ nào nữa?”

Lục Trạch lúc này mới nhận ra Tần Thư, thấy nàng đang mang bụng bầu lớn thì cau mày, vội đỡ nàng vào ngồi trên chiếc ghế thái sư, rồi quay sang trách Tiểu Hồi Hương: “Ta chẳng phải đã dặn là không được nói cho phu nhân biết sao?”

Tiểu Hồi Hương vẫn sợ Lục Trạch như ngày nào, lập tức rụt cổ lại, lùi ra sau lưng Tần Thư mà đứng.

Tần Thư tay cầm lò sưởi nhỏ, hỏi: “Chuyện gì mà to tát đến mức nửa đêm nửa hôm còn bắt phạt quỳ thế này?”

Lục Trạch vốn không muốn để nàng phải bận tâm, nhưng thấy nàng đã cất công đến đây, nên đành phải nói: “Tiệc cung đình tối nay, các vương phủ đều có mặt đông đủ. Ta mới rời mắt đi một lát, quay lại đã thấy thằng bé dắt tay tiểu quận chúa của Sở Vương phủ đi vào. Sở Vương phi liền nói hai đứa nhỏ có duyên, rồi nhân đó đề cập đến chuyện cưới xin.”

Tần Thư dĩ nhiên là người không tán thành chuyện hôn nhân sắp đặt, nhưng nghe Hành nhi nói là vì tiểu quận chúa bị ngã nên mới dắt muội ấy vào, nàng thấy con mình cũng chẳng làm gì sai trái.

Nàng liếc xéo Lục Trạch một cái: “Chuyện này sao lại trách nó? Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, lời mai mối dạm hỏi, chàng cứ từ chối là được rồi. Nếu thật sự không xong, thì cứ học theo cái chiêu cũ rích ngày trước của chàng ấy, nhờ Thiên Sư Phủ phán cho mấy lời sấm truyền, đại loại như là ‘trước ba mươi tuổi không được lấy vợ’ chẳng hạn.”

Lục Trạch không còn cách nào khác, trước mặt Tần Thư, hắn luôn dày công xây dựng hình tượng một người cởi mở, khoan dung, chẳng mấy khi nổi nóng vô cớ, bèn nói: “Ta đã khước từ rồi!

Tần Thư vẫy tay, gọi: “Hành nhi, lại đây với mẹ.

Hành ca nhi mếu máo bước tới, một câu cũng chẳng buồn nói. Tần Thư bấu nhẹ vào má cậu bé, rồi mỉm cười: “Được rồi, không có chuyện gì to tát đâu, đừng có trưng ra bộ mặt khổ sở đó nữa. Con không hẳn là làm sai, nhưng nữ tử vốn khác với nam tử, dẫu tuổi còn nhỏ thì danh tiết vẫn là điều hệ trọng.

Đây cũng coi như là sự sơ suất của Tần Thư, nàng cứ ngỡ Hành nhi hiện tại tuổi còn nhỏ, nên chưa từng nói với cậu bé về những lễ tiết này.

Hành nhi nhìn Lục Trạch một hồi: “Đúng là đúng, sai là sai, con không làm gì sai mà lại phạt con, đây là cái đạo lý gì chứ?”

Tần Thư bật cười, nhìn Lục Trạch một cái, rồi lại nhìn vẻ mặt bướng bỉnh của Hành nhi, nàng trêu: “Phạt sai rồi, vậy thì phải làm sao đây? Chẳng lẽ còn bắt cha con phải xin lỗi con hay sao?”

Hành nhi đứng im tại chỗ, tuy không gật đầu nhưng rõ ràng là có ý đó.

Lục Trạch nghe xong mà cổ họng nghẹn đắng. Là một sĩ đại phu tôn thờ “Tam cương Ngũ thường”, lấy “Phụ vi tử cương” làm trọng, cho dù chuyện này hắn làm có thực sự thiếu thỏa đáng, hay thật sự có oan uổng cho con trai đi chăng nữa, thì trên đời này làm gì có chuyện cha lại đi xin lỗi con?

Tần Thư nhướn mày, vỗ vỗ lên đầu Hành ca nhi: “Thế thì khó rồi đây!” Nói xong, nàng vịn vào tay Lục Trạch để đứng dậy: “Về thôi, ta có gói sủi cảo, đã dặn nha hoàn nấu lên rồi, hai cha con chàng cũng vào nếm thử xem sao.”

Ngặt nỗi Lục Trạch vẫn giữ vẻ mặt lạnh tanh, hắn nghiêm nghị nói: “Lần này nể mặt mẹ con cầu tình cho nên mới bỏ qua. Có điều việc học hành phải dốc sức khổ luyện hằng ngày, con mau tới thư phòng lấy sách ra đây, ta phải kiểm tra bài vở hôm nay của con.”

Những chuyện khác Hành nhi có thể không phục, nhưng chỉ sau nửa năm nghe giảng giải, chuyện học vấn đối với Lục Trạch là cậu bé tâm phục khẩu phục hoàn toàn. Cậu liền nói với Tần Thư: “Mẹ, con đi lấy sách trước đây, người đợi con cùng ăn sủi cảo nhé. Mấy món ở cung yến chẳng ngon lành gì, lúc ăn có mấy món đã nguội lạnh cả rồi.”

Lục Trạch dìu thắt lưng Tần Thư, rồi chậm rãi đi về phía Tư Thoái Đường. Đây là phủ đệ được bệ hạ ban thưởng, vốn dĩ là Tĩnh Vương phủ, sau nửa năm tu sửa xong xuôi mới dọn đến chưa được bao lâu. Thấy sắc mặt Tần Thư đã hồng hào hơn, hắn hỏi: “Sao nàng lại nổi hứng xuống bếp thế? Ta thấy dạo này tâm trạng nàng tốt hơn hẳn, ban đêm cũng ngủ được rồi, xem ra đơn thuốc đó cực kỳ hiệu nghiệm. Còn một hai ngày nữa mới đến đêm trừ tịch, hay là mai mời Lưu thái y tới bắt mạch, bốc sẵn thuốc luôn để khỏi phải phiền người ta vào tháng Giêng.”

Tần Thư lườm hắn một cái, chẳng biết có phải vì sắp đến ngày sinh nở hay không mà tính khí của nàng cũng lớn dần lên, lúc nào cũng muốn phản bác lại lời hắn: “Tâm trạng ta tốt là bởi vì ta đã nghĩ thông suốt rồi, đã chấp nhận số phận rồi. Sầu mày khổ mặt cũng là một ngày, mà vui vẻ cũng là một ngày.”

Lục Trạch nghe xong mà ngượng ngùng chẳng dám đáp lời, hắn im lặng một hồi lâu mới nói: “Dẫu sao cũng là do trước kia ta có lỗi với nàng. Nàng có mắng nhiếc ta thì ta cũng chỉ biết đứng nghe thôi, nếu làm vậy mà khiến lòng nàng thoải mái hơn chút nào thì ta cũng cam lòng.”

Tần Thư nghe vậy càng thêm bực mình, biết rõ mình sai nhưng nhất quyết không sửa, nàng đứng khựng lại, nhìn trân trân vào Lục Trạch mà chẳng nói chẳng rằng.

Dạo gần đây tính tình Tần Thư dần trở nên cổ quái, chẳng biết câu nào không vừa ý là lại khiến nàng nổi cáu. Lục Trạch lo lắng hỏi: “Sao thế?”

Nàng đưa tay lên đầu Lục Trạch nhổ xuống một sợi tóc: “Trời ạ, Lục Trạch, chàng già thật rồi, đến cả tóc bạc cũng có luôn rồi này.”

Lục Trạch không biết nàng đang trêu chọc mình, định đưa tay lấy sợi “tóc bạc” vừa bị nhổ xuống kia, chẳng ngờ Tần Thư khẽ thổi một cái, sợi tóc đã mất hút không để lại dấu vết.

Tần Thư nhìn bộ dạng nghiêm túc của hắn, bỗng chốc chẳng còn hứng thú gì nữa, nàng chậm rãi bước tiếp về phía trước: “Chàng biết mình sai, nhưng chưa bao giờ có ý định sửa đổi. Thứ gì chàng muốn có, người nào chàng muốn đoạt lấy, bất luận phải dùng thủ đoạn gì chàng cũng phải có được trong tay mới thôi. Quan tước danh vọng là thế, mà ta cũng vậy. Nếu lòng chân thành của chàng thật sự giống như lời chàng nói, thì lẽ nào khi cưỡng ép người mình yêu, trong lòng chàng lại thấy dễ chịu hay sao?”

Lục Trạch bị nàng nói cho cứng họng, lại nghe Tần Thư tiếp tục kể tội: “Nói trắng ra, chàng chỉ là kẻ ích kỷ, chàng thấy bản thân mình sống tốt là quan trọng hơn tất cả mọi thứ.” Nói xong, nàng lại cảm thấy thật vô nghĩa: “Thôi bỏ đi, nói mấy chuyện này làm gì nữa, cứ hồ đồ mà sống qua ngày vậy!”

Buổi tối ăn sủi cảo, Tần Thư chỉ ăn một cái đã không nuốt nổi nữa, ngược lại là Lục Trạch và Hành ca nhi, hai cha con ăn một mạch đến tận hai ba mươi cái mới chịu buông đũa.

Tần Thư tựa người vào sập ấm nghỉ ngơi, Lục Trạch lấy sách ra kiểm tra bài vở, Hành ca nhi chắp tay sau lưng đọc bài, tiếng đọc vang lên rành mạch, trôi chảy. Nàng nghiêng đầu lắng nghe, chỉ một lát sau đã thiếp đi lúc nào không hay.

Đến gần nửa đêm, Tần Thư bị một cơn đau co thắt tử cung làm cho tỉnh giấc. Nàng đã từng sinh nở một lần nên biết rõ đây là dấu hiệu sắp sinh, vội vàng lay lay Lục Trạch đang nằm bên cạnh.

Lục Trạch vốn ngủ nông, lập tức xoay người ngồi bật dậy hỏi: “Sao thế? Có phải sắp sinh rồi không?”

Ngày lâm bồn đã cận kề, bà đỡ và ma ma đều đã được chuẩn bị sẵn sàng từ trước. Lục Trạch thấy nàng đau đến mức nhíu chặt mày, lúc này ngay cả giày cũng chẳng kịp xỏ, vội chạy ra cửa gọi đám nha hoàn và ma ma: “Mau đi mời bà đỡ và thái y tới đây!”

Phòng đẻ bên cạnh cũng đã được Tần Thư bài trí xong xuôi, mọi đồ đạc dụng cụ đều đã được khử trùng qua nước sôi. Lục Trạch bế nàng sang đó, gương mặt hắn vì quá lo lắng mà vã cả mồ hôi hột: “Nàng thấy thế nào rồi, có đau lắm không?”

Tình cảnh lúc sinh Hành nhi lần đầu tiên, Tần Thư đã quên gần hết rồi. Đau thì chắc chắn là đau, nhưng đau đến mức nào thì nàng không nhớ rõ nữa. Lúc này đây, nàng chỉ cảm thấy ngay cả hơi thở cũng mang theo cơn đau xé ruột xé gan. Lục Trạch nắm chặt lấy tay nàng trấn an: “Nàng đừng sợ, ta ở đây bên cạnh nàng!”

Tần Thư chỉ cảm thấy hắn thật lắm lời. Bà đỡ và nha hoàn ùa vào, khách khí mời Lục Trạch ra ngoài. Thấy hắn còn định dông dài thêm, Tần Thư sa sầm mặt mày: “Chàng mau ra ngoài đi.”

Lục Trạch vừa ra khỏi cửa liền bồn chồn không yên, đi đi lại lại không ngừng. Cũng không đợi quá lâu, đến lúc trời vừa hửng sáng thì nghe thấy bên trong vang lên một tràng tiếng trẻ con khóc chào đời. Một bà vú chạy ra báo hỷ: “Chúc mừng đại nhân, chúc mừng đại nhân! Phu nhân đã hạ sinh một vị thiên kim…”

Lời chúc tụng còn chưa dứt thì đột nhiên nghe thấy bên trong một hồi kinh hô: “Không xong rồi! Băng huyết rồi, băng huyết rồi! Mau mời thái y vào đây ngay…”

Lục Trạch chẳng còn tâm trí đâu mà bế đứa bé, vội vàng xông vào trong, đập vào mắt ngài là từng dòng máu tươi trên giường đẻ đang không ngừng chảy xuống ròng ròng. Cả đời hắn đã trải qua biết bao đại sự, vậy mà lúc này đây lại cảm thấy tay chân tê dại, đôi mắt vẩn đỏ gầm lên với xung quanh: “Mời thái y vào! Mau mời thái y vào đây!”

Lưu thái y bước vào, bắt mạch xong liền lắc đầu: “Lục đại nhân, lão phu cũng vô phương cứu chữa.”

Tần Thư đã rơi vào hôn mê, phải cố ép uống hết một bát canh nhân sâm mới tỉnh lại được. Nàng nhìn Lục Trạch, giọng nói đã trở nên thều thào VÀ hư ảo: “Lục Trạch, bảo họ ra ngoài hết đi, ta có chuyện muốn nói với chàng.”

Lục Trạch ngồi bên cạnh, vạt áo rũ xuống đất nhuốm đầy vết máu. Hắn nắm lấy bàn tay Tần Thư, cảm nhận được sự lạnh lẽo và run rẩy khẽ khàng: “Nàng đừng sợ, ta đã sai người vào cung mời Lý thái y rồi, ông ấy là danh y đương thế, nhất định sẽ có cách, nhất định sẽ có cách…” Giọng hắn nghẹn lại rồi tắt hẳn, một giọt nước mắt rơi xuống gương mặt Tần Thư.

Tần Thư định đưa tay lên vuốt ve gương mặt của hắn, nhưng chẳng còn chút sức lực nào nữa. Nàng đã sớm linh cảm thấy điều này nên tâm thế bình thản đến lạ kỳ: “Lục Trạch, thực ra ta thấy thế này rất tốt, cuối cùng ta cũng được giải thoát rồi, cuối cùng cũng được tự do rồi.”

Lục Trạch nghe vậy thì nghẹn đắng trong cổ họng: “Đợi nàng khỏe lại, nàng muốn đi đâu thì đi, có khi nào không được tự do đâu? Giữa chốn non xanh nước biếc, nơi nào mà chẳng thể đi?”

Tần Thư cười khổ: “Điều ta nói không phải là chuyện đó, mà là trái tim ta, trái tim ta cuối cùng cũng được tự do rồi.”

Lục Trạch biết việc mình cưỡng ép nàng chính là tâm kết cả đời của nàng, thấy đến lúc này mà nàng vẫn còn canh cánh trong lòng, hắn đau đớn nghẹn ngào không thốt nên lời: “Tần Thư, ta…”

Tần Thư khẽ gập ngón tay chạm nhẹ vào bàn tay của Lục Trạch, cảm giác nơi bàn tay nàng cứ thế lịm dần đi. Biết mình chẳng còn bao nhiêu thời gian nữa, nàng ngắt lời Lục Trạch: “Lục Trạch, thực ra ta không hận chàng nhiều như chàng vẫn tưởng đâu. Đôi khi ta cũng tự nhủ, giá như giữa chúng ta không có những chuyện quá khứ tồi tệ đến thế, liệu ta có thể thản nhiên mà đón nhận chàng hay không.”

“Thế nhưng, đời này chẳng có ‘giá như’, chuyện gì đã xảy ra thì cũng đã xảy ra rồi. Chẳng có gì là buông bỏ hay không buông bỏ được cả, giống như ‘con voi trong phòng’ vậy, dù chàng có vờ như không thấy thì nó vẫn luôn tồn tại ở đó thôi.”

Nói đến đây, nước mắt Tần Thư trào ra: “Lục Trạch, nếu như ta chỉ thuần túy hận chàng thì đã chẳng đau khổ đến nhường này. Thế nhưng, thế nhưng ta đâu chỉ có hận chàng thôi đâu…”

Đâu chỉ có chàng ông thôi đâu…

Lục Trạch nghe thấy lời ấy, như bị sét đánh ngang tai, lặng người hồi lâu không nói nên lời. Hắn không dám hỏi thế nào là “đâu chỉ có hận”, chỉ biết siết chặt lấy bàn tay Tần Thư. Nhìn nàng từ từ khép đôi mi lại, cuối cùng hắn cũng bật khóc nức nở: “Tần Thư, Tần Thư… Ta không cưỡng ép nàng nữa, nàng muốn sống cuộc đời thế nào, nàng muốn đi đâu, ta cả ta đều đồng ý hết, chỉ xin nàng đừng đi, đừng bỏ ta mà đi…”

Tần Thư nghe tiếng khóc bi ai ấy, cảm giác như bản thân đang lạc bước giữa rừng trúc xanh thẳm u huyền, nàng vỗ vỗ lên tay Lục Trạch: “Ta mệt rồi, muốn ngủ một lát…”

Chương 106

Khi Lý thái y được mời từ trong cung đến, thấy ngoài hành lang đầy rẫy nô tỳ và bà tử đang quỳ rạp dưới đất, vừa bước đến cửa đã ngửi thấy mùi máu tanh nồng nặc, trong lòng thầm biết điềm chẳng lành. Đẩy cửa bước vào, ông thấy bên giường có một người đang ngồi, gương mặt nhợt nhạt, thần sắc suy sụp, dáng vẻ như thể đã lìa bỏ thế gian.

Ông tiến lại gần mới nhận ra đó chính là Lục Trạch. Ông chắp tay hành lễ, thấy người nữ tử trên giường sắc mặt trắng bệch như tờ giấy, vẫn đưa tay ra bắt mạch, chỉ thấy còn sót lại một hơi thở thoi thóp. Ông châm mấy mũi ngân châm vào những huyệt đạo trọng yếu trên người nàng, rồi lắc đầu thở dài: “Lục đại nhân, xin nén bi thương! Phu nhân hiện giờ đã như thế này, chi bằng cứ để người thanh thản về nơi cực lạc, cũng là để tránh khỏi chịu khổ đau.”

Lục Trạch nở một nụ cười thảm hại, trong cổ họng nồng nặc vị máu. Hắn vừa định mở miệng nói chuyện, thì khóe môi đã rỉ ra một vệt máu tươi, hắn nghiến răng nuốt ngược vào trong, rồi nói: “Lý thái y, người chết là hết, chẳng còn gì cả, cũng chẳng có nơi cực lạc nào đâu.”

Lục Trạch chậm rãi đứng dậy, bộ y phục trắng trên người đã vấy đầy máu: “Tuy là băng huyết, nhưng sau đó Lưu thái y cùng đại phu của Hồi Xuân Đường đã phối hợp dùng một vị thuốc, hiện tại đã cầm được máu rồi. Ta biết bản lĩnh trong tay Lý thái y, ‘diệu thủ hồi xuân’ không phải chỉ là lời nói suông. Một khi ông chưa khẳng định là vô vọng, thì nghĩa là vẫn còn có thể cứu được, có đúng không?”

Lý thái y nhìn bộ dạng này của Lục Trạch, trông cứ như muốn ăn tươi nuốt sống người ta vậy, sát khí đằng đằng. Ông lắc đầu, ngồi xuống bên cạnh giường, tay cầm một hàng ngân châm gia truyền: “Cởi hết y phục ra.”

Lục Trạch nghe ông nói vậy, trong lòng đột nhiên nhen nhóm lên một tia hy vọng. Đôi bàn tay hắn run rẩy tiến đến cởi lớp áo trong vốn đã bị máu tươi nhuộm đỏ của Tần Thư. Từng mũi ngân châm được châm xuống, châm liên tiếp cho đến bảy tám mươi mũi mới dừng lại.

Trán của Lý thái y đã vã đầy mồ hôi, ông thu kim lại rồi bắt mạch lần nữa: “Hơi thở đã mạnh hơn đôi chút, chỉ là có tỉnh lại được hay không thì vẫn chưa nói trước được. Hoặc giả, dẫu có giữ được mạng sống thì cũng chỉ như một người thực vật mà thôi.”

Ông bước sang một bên kê đơn thuốc, đặt bút mực xuống rồi nói đầy ẩn ý: “Muốn chết mà chẳng được chết, e là có chút đáng thương.”

Lục Trạch nghe vậy liền ngẩng đầu lên, ánh mắt đầy vẻ hung tàn: “Lý thái y, xin ông hãy cẩn trọng lời nói. Ta và phu nhân tình thâm ý trọng, nàng sao lại muốn chết cho được?”

Lý thái y lấy ra một lọ thuốc: “Nói đi cũng phải nói lại, công dụng giải độc của loại thuốc này chính là do lệnh phu nhân nói cho tôi biết. Mỗi ngày hòa vào nước cho phu nhân uống để giải chứng kiệt huyết, từ nay về sau mỗi ngày tôi đều phải tới châm cứu, nếu sau một tháng mà tỉnh lại được thì coi như giữ được mạng.”

Lục Trạch hỏi: “Nếu như… không tỉnh lại được thì sao?”

Lý thái y cũng chẳng thèm ngẩng đầu lên: “Nếu như không tỉnh lại được, thì chính là trở thành người thực vật vậy.” Nói xong, ông ấy thu dọn hòm thuốc, tay giơ lên một tờ đơn: “Đây là phương thuốc tắm, mỗi ngày phải ngâm trong một canh giờ. Có điều thể chất của lệnh phu nhân không giống người thường, trước kia phu nhân cũng từng dùng qua loại thuốc này, khắp người sẽ đau nhức như kim châm, chẳng thế mà mới nói, sống như vậy cũng là chịu tội đấy!”

Lục Trạch quay sang, dùng ống tay áo lau đi những vết máu trên gò má Tần Thư, lau đến khi sạch sẽ mới thôi, hắn tự lẩm bẩm một mình: “Ta biết, nàng là người ưa sạch sẽ nhất. Ngày trước lúc chạy trốn ở Trấn Giang, nàng còn sợ dọc đường không được tắm rửa nên đêm hôm trước còn đặc biệt đi tắm gội. Sao nàng lại có thể không tỉnh lại cho được? Nàng còn chưa nhìn mặt con gái chúng ta, nàng còn chưa được bế con bé cơ mà?”

Một lát sau, Tiểu Hồi Hương run rẩy bước vào: “Đại nhân, nước tắm thuốc đã chuẩn bị xong rồi ạ.”

Lục Trạch chẳng màng để ý đến ai, hắn chậm rãi lau sạch những vết máu trên người Tần Thư, thay cho nàng bộ y phục màu xanh nước hồ mà ngày thường nàng vẫn thích, rồi bế xốc nàng lên như thể xung quanh không có người, đi thẳng về phía Miểu Vân Gian ở phía sau.

Tại Miểu Vân Gian có trồng giống hoa mẫu đơn mà Tần Thư yêu thích nhất, hiềm nỗi đang lúc giữa tiết đại hàn, dù có đặt trong phòng sưởi thì cũng chỉ lác đác vài nụ hoa chớm nở. Lục Trạch bế Tần Thư đi dọc theo con đường nhỏ giữa khóm hoa, thấp giọng lẩm bẩm: “Nàng nói đúng, hoa đang nở đẹp trên cành, hà tất gì phải hái xuống làm chi?”

Lục Trạch bế Tần Thư đi vào trong các, nơi đó có một bể tắm lớn lát bằng đá cẩm thạch trắng đã đổ đầy nước thuốc. Hắn bế nàng cùng bước xuống, quả nhiên ngay khi vừa chạm vào da thịt, một cảm giác đau nhức như kim châm ập đến, tựa như có vô vàn đốm lửa nhỏ bắn tung tóe lên người.

Lớp áo trong vấy máu loang lổ ra, nhuộm đỏ cả bồn nước thuốc vốn mang sắc vàng nhạt. Sau khi ngâm xong, Lục Trạch lại tự tay bế nàng ra, dùng nước ấm sạch sẽ lau rửa kỹ càng, rồi mới chậm rãi mặc y phục cho nàng.

Hành ca nhi bị Tần ma ma giấu giếm, đến khi không thể giấu được nữa thì đã là chiều ngày hôm sau. Cậu bé chạy vội vào Tư Thoái Đường, thấy Tần Thư đang nằm yên lặng trên giường, quả nhiên giống hệt như một người thực vật.

Cậu bé gục xuống bên giường, gọi khẽ hai tiếng “Mẹ, mẹ ơi”, nhưng chẳng có ai đáp lại. Nước mắt cậu cứ thế tuôn rơi không ngừng, cậu quay đầu hỏi Tần ma ma: “Ma ma ơi, mẹ ta bị làm sao vậy? Tối hôm kia người vẫn còn khỏe mạnh cơ mà, còn nấu sủi cảo cho ta ăn nữa…”

Tần ma ma lau nước mắt cho cậu: “Tiểu công tử, phu nhân chỉ là bị bệnh thôi, rồi sẽ khỏe lại mà. Lý thái y là quốc thủ nổi danh, ông ấy chữa trị cho phu nhân thì nhất định sẽ khỏi.”

Bên ngoài, Lục Trạch vừa tan triều trở về, từ xa đã nghe thấy một tràng tiếng khóc nức nở. Hắn thay y phục ở gian ngoài, vừa bước vào đã thấy Hành ca nhi đang gục bên giường Tần Thư mà khóc đến mức hơi thở nghẹn lại, đứt quãng từng cơn. Hắn cau mày, căn phòng này vốn không cho phép người ngoài vào, lập tức phất tay ra lệnh: “Bế ra ngoài, từ nay về sau không cho phép đến đây nữa.”

Hành ca nhi vốn đang đau lòng, thấy vậy liền hằn học nói: “Cha lấy quyền gì mà không cho con gặp mẹ, lấy quyền gì chứ? Đều tại cha nên mẹ mới thành ra thế này, đều là tại cha hết. Con và mẹ vốn dĩ đang sống rất tốt, chính cha đã hại người…”

Tần ma ma thấy sắc mặt Lục Trạch đầy vẻ giận dữ, vội vàng đưa tay bịt miệng Hành ca nhi lại: “Hành nhi, sao con lại có thể nói những lời như vậy?” Bà đến giờ vẫn không hề hay biết Lục Trạch chính là cha ruột của Hành ca nhi, chỉ sợ lúc này Tần Thư còn đang sống chết chưa rõ, Hành ca nhi nói ra những lời đắc tội với Lục Trạch thì sau này sẽ không có kết cục tốt đẹp.

Lục Trạch nhìn sang, chẳng hiểu sao khi nhìn thấy Hành ca nhi, hắn lại cảm thấy vô cùng đố kỵ với cậu bé. Năm năm đó hẳn là Tần Thư đã hết mực yêu thương cậu, lúc này hắn thực sự không muốn nhìn thấy cậu chút nào, liền phất tay ra lệnh: “Bế ra ngoài, nếu còn đến nữa thì đưa về Tiểu Đàn Viên của nó đi.”

Bây giờ hắn chẳng còn tâm trí đâu mà quản nhiều đến thế, hắn bảo nha hoàn bưng nước nóng đến đặt ở cửa, tự tay lau người cho Tần Thư một lượt, rồi lại hầu hạ nàng dùng thuốc, từ canh nhân sâm hằng ngày cho đến cháo cá cắt lát được chế biến đặc biệt.

Đến khi hoàn tất một loạt những việc chăm sóc thường nhật thì trời đã về khuya. Hắn lấy cuốn du ký mà Tần Thư vẫn thường xem, đọc cho nàng nghe từng câu từng chữ, đọc xong lại sợ nàng không hiểu nên còn dùng lời lẽ độc thoại bình dân để giảng giải lại một lần nữa. Bên ngoài cửa sổ, ma ma bế đứa trẻ sơ sinh vừa mới chào đời không lâu đến, đứng cách một cánh cửa bẩm báo: “Đại nhân, tiểu cô nương cứ khóc mãi không thôi, cũng chẳng chịu bú sữa ạ.”

Lục Trạch nghe vậy thì uất ức nói: “Tần Thư, nàng xem, đứa trẻ không có mẹ mới đáng thương làm sao, nàng chắc hẳn cũng không đành lòng để con mình mất mẹ đâu nhỉ!”

Tần Thư bị một tràng tiếng trẻ con khóc làm cho thức tỉnh. Nàng mơ màng mở mắt ra, đập vào mắt là ánh đèn sợi đốt chói lòa trên đỉnh đầu, xung quanh là các bác sĩ và y tá mặc áo blouse trắng đang vây quanh, khẽ gọi tên nàng: “Tần Thư, Tần Thư, cô có nghe thấy chúng tôi nói gì không?”

Nàng không nói được, chỉ có thể đảo nhẹ tròng mắt. Có người không biết đã đặt vật gì đó vào lòng bàn tay nàng và bảo: “Thử nắm tay lại xem nào, nắm chặt tay vào!”

Tần Thư cố hết sức bình sinh, cũng chẳng rõ có tác dụng gì không, nhưng vị bác sĩ bên cạnh lại mỉm cười gật đầu: “Không cần gấp, cứ từ từ hồi phục, nhất định sẽ ổn thôi.”

Đến sáng ngày hôm sau nàng mới được gặp cha mẹ mình. Trông hai người vẫn còn khá minh mẫn, khỏe mạnh; trên tay của mẹ nàng còn cầm theo cả thanh kiếm tập Thái Cực quyền. Thấy Tần Thư đã tỉnh, bà tỏ ra vô cùng lạc quan: “Mùng một Tết năm nay mẹ đi chùa Bạch Mã thắp nén hương đầu năm, có xin một quẻ bói, nói rằng năm nay chắc chắn sẽ có chuyện hỷ. Mẹ mới nghĩ bụng, nhà mình thì còn chuyện gì vui được nữa, dĩ nhiên chỉ có con tỉnh lại mới gọi là chuyện hỷ thôi. Thế mà mới qua có mấy tháng, bệnh viện đã gọi điện báo tin con tỉnh rồi.”

Cha của Tần Thư vừa hớn hở gọt táo, vừa ra hiệu bảo mẹ nàng nói khẽ lại: “Tiểu Thư cần nghỉ ngơi mà, bà nói nhỏ thôi!”

Lúc này Tần Thư đã có thể gượng nói được vài lời: “Con đã ngủ bao lâu rồi?”

Cha Tần đáp: “Cũng không lâu lắm đâu, mới có bảy tám năm thôi. Con cứ yên tâm, trường hợp của con là tai nạn lao động, công ty đã thanh toán một khoản lớn viện phí rồi, bố với mẹ không phải tốn kém bao nhiêu cả. Nhà cửa, cửa hàng các thứ bố mẹ vẫn giữ nguyên không bán, mọi thứ đều vẫn ổn lắm!”

Nghe cha nói vậy, Tần Thư liền hiểu ngay nhà cửa chắc chắn đã bị bán đi ít nhiều, nhưng nàng không vạch trần họ. Nàng lặng lẽ ngắm nhìn cha mẹ, cảm thấy họ như thế này là rất tốt, không đến mức thê lương khổ cực như trong giấc mộng kia, hoặc giả là họ đã nghĩ thông suốt mà chấp nhận sự thật rồi.

Đến khi nàng có thể xuất viện về nhà thì đã là một tháng sau. Tần Thư ngồi trên xe lăn, lúc sắp về đến cửa nhà, biết không thể giấu giếm được nữa, nên cha mẹ nàng mới ấp úng nói: “Tiểu Thư này, năm thứ hai con hôn mê, ở bệnh viện có một cô bé mười sáu tuổi sinh con xong thì qua đời, bố mẹ thấy đứa trẻ đó đáng thương quá nên đã nhận nuôi. Tiểu Thư, nếu con thấy phiền lòng thì bố mẹ sẽ gửi nó sang nhà ông bà ngoại.”

Nếu là Tần Thư của trước kia, cô đương nhiên sẽ để tâm, nhưng cô đâu phải chỉ nằm yên lặng trong bệnh viện, mà cô đã sống hết một đời ở cổ đại rồi. Cô lắc đầu: “Có người ở bên cạnh bầu bạn và an ủi bố mẹ, con cảm thấy rất vui.”

Cha mẹ Tần bấy giờ mới như trút được gánh nặng, mở cửa căn biệt thự ra, liền nghe thấy từ trên tầng hai vọng lại tiếng đàn cổ tranh dồn dập, hào hùng. Họ đẩy xe lăn đưa Tần Thư vào trong, thấy cách bài trí trong nhà đã thay đổi rất nhiều. Một lát sau, một cô bé khoảng bảy tám tuổi từ trên lầu chạy rầm rập xuống, sà vào lòng cha mẹ Tần: “Hôm nay con mới luyện một bản nhạc mới, con đàn cho ba mẹ nghe nhé?”

Thấy Tần Thư, cô bé cũng rất lễ phép, nắm lấy tay cô hỏi: “Chị là chị gái ạ?”

Tần Thư gật đầu, chẳng hiểu sao lại cảm thấy có chút xa lạ. Buổi tối, cha mẹ Tần nấu một bàn đầy những món mà trước đây cô vốn yêu thích, trong lời ăn tiếng nói có phần hơi dè chừng, muốn lấy lòng cô.

Nếu là Tần Thư của trước kia, hẳn cô đã làm ầm ĩ một trận, mà cãi vã xong thì tự khắc cũng không còn ngăn cách nữa. Co dùng bữa xong, lặng lẽ cầm cuốn album ảnh lên, ngắm nhìn những bức hình chụp chung của cha mẹ và cô bé đó đi du lịch khắp nơi.

Núi Luân Sơn, suối Bào Đột, Tây Hồ… Cô lật xem từng tấm ảnh một, đó đều là những nơi mà ngày nhỏ Tần Thư từng muốn đi nhưng chưa thực hiện được. Hồi đó bài vở của cô rất nặng, cha mẹ lại cảm thấy đi những nơi ấy chỉ lãng phí thời gian nên chẳng bao giờ đưa cô đi.

Tần Thư nhìn những bức hình, hiểu rằng họ chẳng qua cũng chỉ đang bù đắp cho những tiếc nuối mà thôi. Cô lặng lẽ nắm lấy tay cha mẹ, rồi khẽ mỉm cười nói: “Mọi chuyện qua cả rồi, qua cả rồi.”

Đến khi đi ngủ vào buổi tối, Tần Thư vừa chạm lưng xuống gối là đã chìm vào giấc nồng, nhưng bên tai vẫn cứ văng vẳng tiếng trẻ con khóc không dứt.

Không biết đã qua bao lâu, cô lại nghe thấy tiếng của Lục Trạch văng vẳng bên tai: “Tần Thư, nàng nhìn xem khóm mẫu đơn này nở đẹp đến nhường nào rồi, nàng không định tỉnh lại để ngắm nhìn đôi chút sao?”

Hoa mẫu đơn ư? Có phải là khóm mẫu đơn ở Miểu Vân Gian không? Lục Trạch chẳng biết đã tìm từ nơi nào về những giống mẫu đơn quý hiếm, mang về trồng cả một khoảng rộng lớn, tưởng tượng lúc hoa nở rộ đúng mùa, chắc hẳn phải vô cùng ung dung và lộng lẫy.

Tần Thư thầm nghĩ, ngay cả thời hiện đại cũng chẳng mấy khi được thấy, đây quả là một điều đáng tiếc. Lại dường như nghe thấy Lục Trạch đang thầm thì bên tai: “Nếu nàng mệt thì cứ ngủ thêm một lát nữa. Ngủ bao lâu cũng không quan trọng, chỉ xin nàng nhớ rằng nhất định phải tỉnh lại. Loại ngân phiếu do phiếu hiệu Đại Thông và Nhật Xương Long liên kết phát hành đã bắt đầu được lưu hành rồi, năm nay đã là phiên bản thứ hai rồi đấy.”

Chẳng hiểu sao, dường như có ai đó vừa đưa đến tay nàng một tờ giấy cứng: “Vừa mới in xong đấy, nàng sờ thử xem.”

Cảm giác chạm vào ấy chân thực đến mức khiến Tần Thư muốn gắng sức mở mắt ra, chỉ tiếc là mọi nỗ lực đều vô vọng, nàng chẳng thể làm được gì, chỉ thấy nơi cánh mũi vảng vất một mùi rượu nồng nặc.

Nửa đêm nàng giật mình tỉnh giấc, bật đèn lên, dường như vẫn còn ngửi thấy mùi rượu trên người Lục Trạch vậy, cái mùi vị ấy chẳng biết từ đâu tới mà cứ vương vấn mãi không tan.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *