Ngoại Thất – Chương 107 – 108

Chương 107

Giữa cái nắng hè gay gắt, tiếng ve sầu bên ngoài kêu râm ran ồn ã. Cửa sổ mở toang, Linh Lung khẽ khàng bước vào thì thấy Hạ Cửu Sênh đang cầm bút viết chữ: “Xuất sư vị tiệp thân tiên tử, trường sử anh hùng lệ mãn khâm”*. Viết chưa xong mà bà ấy đã ho lên một cơn, máu tươi bắn lên tờ giấy tuyên thành, để lại những vệt lốm đốm tựa như hoa mai.

(*: Xuất sư chưa thắng thân đã mất, mãi khiến anh hùng lệ đẫm khăn – Trích Thục Tướng của Đỗ Phủ.)

Hạ Cửu Sênh thở dài một tiếng, gác bút xuống rồi hỏi: “Có chuyện gì vậy?”

Linh Lung bẩm báo: “Thưa đại nhân, Trường Ninh hầu Hoắc Thành Anh cầu gặp.” Nói xong, cô ấy cúi đầu thêm vào một câu: “Ôn Lăng tiên sinh không chịu ra hải ngoại, đã tự vẫn trên thuyền rồi ạ!”

Hạ Cửu Sênh dường như đã liệu trước được điều này, nghe xong chỉ khẽ gật đầu: “Mời Trường Ninh hầu vào.”

Khi Hoắc Thành Anh bước vào, Hạ Cửu Sênh đã thay xong quan bào. Bà ấy cười nhẹ, rồi khẽ xua tay: “Chứng đau nhức xương cốt tái phát nên không thể đứng lâu, Trường Ninh hầu, thất lễ rồi.”

Hoắc Thành Anh nhìn bà ấy, vẫn thấy một vẻ phóng khoáng tự tại như thuở mười sáu, chẳng hề câu nệ lễ nghi tầm thường, lại càng không bận tâm đến ánh mắt của bất kỳ ai. Y lấy từ trong ống tay áo ra một bức thư, đưa qua: “Đây là tuyệt bút của Ôn Lăng tiên sinh. Tiên sinh nói ông ấy sống đến tuổi bảy mươi là đã đủ rồi, những việc muốn làm đều đã làm, những lời muốn nói đều đã nói, không cần phải để người thân và bạn bè phải chạy vầy lo liệu, liên lụy thêm nữa.”

Hạ Cửu Sênh đón lấy bức thư, xem xét kỹ lưỡng một hồi rồi nói: “Có những người vốn dĩ là vậy, thà gãy chứ không chịu cong. Luận về điểm này thì ta còn kém xa tiên sinh.”

Hoắc Thành Anh tự mình xin xuống Giang Nam để truy bắt Ôn Lăng tiên sinh, mục đích cũng chỉ là để hỏi Hạ Cửu Sênh một câu. Thế nhưng khi đến thời khắc quyết định, y lại nảy sinh lòng nhút nhát: “Ta muốn biết tại sao?”

Hạ Cửu Sênh hỏi lại: “Tại sao cái gì?”

Hoắc Thành Anh đứng bật dậy: “Năm xưa Thái hậu ban hôn cho ta và ngươi, tại sao ngươi lại từ chối?”

Lúc này Hạ Cửu Sênh mới ngẩng đầu lên đánh giá y. “Chàng trai Trường An làm lính Vũ Lâm, cưỡi ngựa bắn cung rực rỡ hầu cận Võ Hoàng”, bà ấy bỗng nhớ lại mười sáu năm trước dưới hàng liễu rủ mùa xuân ở cầu Bá Kiều, vị Thế tử Trường Ninh hầu tuấn tú dũng mãnh thúc ngựa lao tới, gương mặt tràn đầy sức sống phản chiếu trên mặt hồ gợn sóng lấp lánh, khiến người ta không dám nhìn thẳng. Bà ấy khẽ thở dài một tiếng: “Ta cứ ngỡ đây là chuyện hai bên đều tự hiểu ngầm với nhau, không cần phải nói nhiều.”

Hoắc Thành Anh cười khổ: “Tự ngầm hiểu cái gì? Ta chẳng biết cái gì là tự hiểu trong lòng ở đây cả!”

Hạ Cửu Sênh ngước mắt lên: “Trước đây ta đã từng nói rồi, Thế tử rất tốt, nhưng người không phải là sự lựa chọn của ta.”

Hoắc Thành Anh hỏi dồn: “Hắn ta thực sự tốt đến thế sao? Tốt đến mức khiến ngươi nhìn bằng con mắt khác, đến mức cả hôn sự Thái hậu chỉ định mà ngươi cũng dám làm trái?”

Hạ Cửu Sênh đáp: “Mọi thứ của chàng ấy đều không bằng Thế tử, nhưng có một điểm Thế tử đối với ta mà nói, vĩnh viễn không bằng được chàng ấy.”

“Điểm nào?”

Hạ Cửu Sênh mở lời: “Chàng ấy xuất thân từ nhà binh, không màng con đường quan lộ, căn cơ nông cạn; còn Thế tử lại là dòng dõi quý tộc nơi phủ Hầu. Nếu là một nữ nhi, Hạ Cửu Sênh ta hoàn toàn có thể chọn cho mình một tấm chồng tốt; nhưng nếu là Hàn lâm viện Biên tu Hạ Cửu Sênh mà gả vào phủ Hầu, thì sau này người đó chỉ có thể quanh quẩn nơi kinh thành, viết những bài thanh từ cho bệ hạ mà thôi. Hạ Cửu Sênh ta mười năm đèn sách khổ luyện, không phải là để làm một kẻ từ thần quẩn quanh bên cạnh quân vương đâu, thưa Thế tử!”

Bà ấy gọi một tiếng “Thế tử”, dường như người đối diện với bà ấy lúc này vẫn là con người của năm xưa.

Hoắc Thành Anh không sao hiểu nổi: “Vinh hoa phú quý, quan tước danh vọng đối với ngươi lại quan trọng đến thế sao? Chẳng lẽ thân phận Trường Ninh hầu phu nhân, Nhất phẩm Cáo mệnh lại không bằng cái tiền đồ quan lộ hư vô mờ mịt kia của ngươi? Nữ nhi làm quan, người nắm giữ vị thế cao nhất cũng chẳng quá được Đô Ngự sử Thẩm Trinh triều trước, nửa đời lao lực, vắt kiệt tâm can, để rồi cuối cùng chẳng phải cũng quan mất, mạng tan đó sao?”

Hạ Cửu Sênh nhìn y. Vinh hoa phú quý, quan tước danh vọng, bà ấy quả thực muốn chúng, nhưng thứ bà ấy khao khát lại không chỉ dừng lại ở đó: “Nếu ta nói thật lòng, Thế tử đại khái sẽ cảm thấy chướng tai.”

“Cứ nói đi!”

Ánh mắt của Hạ Cửu Sênh vô cùng kiên định, bà ấy chậm rãi giãi bày: “Dẫu có như Thẩm Trinh, cuối cùng thân tử tộc diệt, ta vẫn thấy bà ấy đã sống một đời thống khoái. Dù là quan tước danh vọng, vinh hoa phú quý, hay danh tiếng trước và sau khi qua đời, con người ta vốn không thích hưởng thụ những thứ không làm mà có. Những gì ta muốn đạt được, ta thích tự tay mình giành lấy hơn. Còn những thứ người khác khơi khơi ban thưởng, lòng tham của ta lại chẳng biết thế nào là đủ, cứ hay kén cá chọn canh.”

Hoắc Thành Anh lùi lại một bước, bước chân hơi loạng choạng, y nghiến răng thốt ra hai chữ: “Tốt lắm!”

Hạ Cửu Sênh, ngươi là tốt lắm, tốt lắm! Không hổ là ngươi, và cũng quả nhiên là vậy. Dẫu đã sớm hiểu rõ sự lựa chọn của bà ấy, nhưng khi nghe bà ấy nói ra một cách tuyệt tình đến thế, Hoắc Thành Anh vẫn không kìm được một nụ cười cay đắng.

Hạ Cửu Sênh chắp tay hành lễ: “Gió cao sóng dữ, Hầu gia bảo trọng!” Khi bóng người đã khuất hẳn, bà ấy ngồi lặng ở đó hồi lâu. Dù là trước kia hay hiện tại, Hạ Cửu Sênh này đều có thể vứt bỏ bất cứ thứ gì, vứt bỏ bất cứ ai, kể cả chính bản thân mình.

Việc áp giải Ôn Lăng tiên sinh về kinh thẩm vấn, là thánh chỉ do Quảng Đức Đế ban xuống ngay khi đang lâm bệnh.

Không biết ai đã đưa cho hoàng đế xem một tờ báo mới lưu hành ngoài cung gần đây. Trang trước viết về những chuyện thầm kín nơi nội viên của đám quyền quý cao quan trong kinh thành, nào là nhà ai sủng thiếp diệt thê, nhà ai tranh giành tước vị; rồi lại viết về Văn Uyên Các Đại học sĩ, Thái tử Thái sư Lục Trạch đã cự tuyệt mọi khách khứa, ngày ngày ở nhà hầu hạ người vợ đau ốm, chưa từng mượn tay người khác.

Xem thêm một dòng nữa, thấy viết về một người tì thiếp lâu năm của Lục Trạch, đã quỳ xuống cầu xin hắn nạp thiếp để nối dõi tông đường. Xem đến đây, Quảng Đức Đế bật cười: “Tính tình của Lục Trạch đã ôn hòa hơn trước nhiều rồi, nếu là lúc trước, hắn làm sao cho phép kẻ khác viết về chuyện nhà mình như thế.”

Phùng đại giám đứng bên cạnh nói hùa vào: “Bệ hạ minh giám, lão nô nghe nói Lục đại nhân dạo này hiếm khi qua lại tiệc tùng ứng đãi, vì vị phu nhân đang hôn mê kia mà ngài ấy lại trở thành khách quen của các thái y khắp nơi đấy ạ.”

Quảng Đức Đế “ừm” một tiếng, rồi hỏi người bên cạnh xem người tì nữ kia là ai. Đã dám mang tờ báo bên ngoài cung vào đây thì từng câu từng chữ đều phải nắm rõ, viên thái giám liền thuật lại ngọn ngành: Đó là người tì nữ theo hầu Lục Trạch từ thuở nhỏ, tính ra cũng đã được hai mươi, ba mươi năm rồi, trước kia đã về quê. Nay thấy Lục đại nhân gối đơn không con, bà ta liền vội vã quay về kinh thành để khuyên nhủ.

Quảng Đức Đế nằm liệt trên giường bệnh đã một hai năm nay, lòng dạ cũng trở nên mềm yếu đi ít nhiều. Lúc này ông ấy mỉm cười: “Tình nghĩa ba mươi năm, tìm đâu ra cơ chứ? Trẫm thấy người tì nữ này thật đáng quý, thôi được, trẫm đành làm kẻ ác một lần, thành toàn cho mối tình duyên nợ giữa đôi đường này vậy.” Dứt lời, ông ấy hạ một đạo thủ dụ, truyền lệnh cho Lục Trách nạp người phụ nữ đó vào phủ.

Tờ báo lật sang trang, ông ấy tiếp tục đọc bài “Tửu Sắc Tài Khí Sớ”: “Bệnh nhẹ của Hoàng thượng, thực chất là bệnh ở tửu, sắc, tài, khí. Kẻ đắm mình trong rượu chè…” Đây rõ ràng là đang mắng Quảng Đức Đế vì ham mê tửu sắc, tham tài ưa rượu nên mới đổ bệnh không dậy nổi.

Quảng Đức Đế còn chưa xem hết đã tức đến độ toàn thân run rẩy, lập tức gầm lên ra lệnh: “Gọi Xương Nguyên công chúa tới đây! Gọi ngay Xương Nguyên công chúa tới đây cho trẫm!”

Quảng Đức Đế bệnh nặng, Xương Nguyên công chúa được triệu hồi từ hoàng lăng về để ngày đêm hầu hạ thuốc thang, không rời nửa bước. Chỉ một lát sau, nàng ta đã được người dẫn vào.

Quảng Đức Đế ném tờ báo xuống trước mặt Xương Nguyên công chúa, rồi lớn tiếng chất vấn: “Con là Trữ quân, đang quản lý lục bộ. Loại nghịch tặc cuồng vọng này vô quân vô phụ, vượt quá bổn phận để mưu cầu danh tiếng, con thấy nên xử trí thế nào?”

Xương Nguyên công chúa quỳ trên đất, vẻ mặt không chút hoảng loạn. Nàng ta nhặt tờ báo lên, đọc kỹ một hồi rồi mới nói: “Đây chẳng qua là kẻ dân đen vô tri vô giác, nghe phong phanh ba điều bốn chuyện, lại đọc mấy quyển sách đạo mạo cao xa nên đầu óc mới lú lẫn, học đòi theo mấy thói hám danh để đánh bóng thanh danh của mình. Theo ý nhi thần, bắt người không khó, nhưng hạng nho sinh đọc sách đến mức u mê thế này, dẫu có tống vào Chiếu ngục e là cũng chẳng chịu nhận sai. Phụ hoàng nếu vì lời nói mà giết người, ngược lại còn thành toàn cho cái ‘danh thơm’ của hắn.”

Quảng Đức Đế dù sao cũng đã làm hoàng đế mấy mươi năm, vừa nghe qua đã hiểu rõ ẩn ý trong lời của nàng ta. Ông ấy cảm thấy một cơn hoa mắt chóng mặt ập đến, quả thực là đã già yếu bệnh tật thật rồi, bèn hỏi: “Con là Trữ quân, là hoàng đế tương lai, nếu sau này con không sợ thiên hạ mắng nhiếc mình như thế, thì muốn xử trí ra sao tùy con.”

Xương Nguyên công chúa dập đầu sát đất: “Lời này của bệ hạ khiến thần không còn chỗ dung thân nữa.”

Quảng Đức Đế vung tay gạt phăng tất cả bút mực, chén trà trên chiếc bàn nhỏ xuống đất, tiếng đổ vỡ loảng xoảng vang lên: “Trẫm là quân phụ, bị một tên thư sinh nhục mạ như thế, con đã không chịu bắt, cũng chẳng chịu giết, đây chính là đạo hiếu của kẻ làm con như con sao?”

Xương Nguyên công chúa khấu đầu thêm lần nữa, sau đó mới cất lời: “Đạo hiếu của người thường là ‘hiếu’ đi đôi với ‘thuận’. Thế nhưng đạo hiếu của nhà đế vương, những lúc không nên thuận theo thì vạn lần không thể thuận. Để quân phụ phải gánh lấy cái danh hôn quân vì lời nói mà giết người, đó mới thực sự là nỗi bất hiếu của nhi thần.”

Quảng Đức Đế lạnh lùng chất vấn: “Vậy theo ý con thì nên làm thế nào?” Ông ấy nay đã già, đã bệnh, đã chẳng còn đủ sức lực, mọi việc triều chính đa phần đều giao phó cho Xương Nguyên. Thế nhưng, nếu không nhận được một câu trả lời thỏa đáng, thì ông ấy cũng chẳng ngại ngần mà một lần nữa cầm lấy quyền trượng, rồi đại khai sát giới.

Ông ấy khẽ nheo mắt, hồi tưởng lại năm mình mười sáu tuổi cũng vào một đêm như thế này. Trước điện Thái Hòa, văn võ bá quan quỳ rạp cả một vùng, ba vị Các lão, bốn vị Thượng thư, các quan Khoa Đạo đều có mặt đông đủ, ngay đến cả phò mã của Dậu Dương công chúa cũng đến góp vui, miệng luôn lẩm nhẩm: “Không qua Phượng Đài Loan Các, sao gọi là thánh chỉ”.

Trong số đó có cả những đại thần phụ chính do tiên đế để lại, có cả những nguyên lão của ba triều đại, nhưng như vậy thì đã sao? Một khi hoàng đế đã cầm lấy quyền trượng để trừng trị, lẽ nào lại còn ngồi đó mà giảng đạo lý với đám người này?

Xương Nguyên công chúa nghiêm sắc mặt nói: “Bệ hạ, hạng ngôn từ cuồng vọng này, người dân trong thiên hạ nghe thấy ắt đều sẽ mắng chửi hắn là kẻ nói năng càn rỡ. Loại người này đầu óc mụ mị, lời ra tiếng vào đều là ý ‘kẻ quyền quý thì hèn hạ’, chi bằng hãy để hắn tự nghe lấy tiếng mắng nhiếc của người đời, khi ấy sự thị phi trong sạch sẽ lập tức rõ ràng.”

Quảng Đức Đế gật đầu. Ông ấy tự thấy mình làm hoàng đế cũng không đến nỗi tệ, ông ấy không tin cả triều văn võ lại chẳng có lấy một người đứng ra nói giúp mình. Đến lúc đó, ngay tại triều đình bác bỏ luận điệu của tên nghịch tặc kia, cũng là để trả lại sự trong sạch cho chính mình, tránh cho miệng lưỡi thế gian đều lầm tưởng ông ấy là kẻ đắm chìm trong tửu sắc tài khí.

Ông ấy thốt lên một tiếng “Tốt lắm”, rồi lại hỏi: “Trẫm nghe nói có vị Ôn Lăng tiên sinh nào đó ở Giang Nam, chính là thầy dạy của tên cuồng đồ này…”

Xương Nguyên công chúa lập tức tiếp lời: “Nhi thần sẽ lập tức hạ lệnh áp giải người đó về kinh để chịu thẩm vấn.”

Quảng Đức Đế hài lòng gật đầu: “Tốt lắm, tốt lắm, trẫm rất mực yên lòng.”

….

Chiếu thư “kèm theo tư lợi” của Xương Nguyên công chúa đến nơi vào ngày thứ hai sau khi Ôn Lăng tiên sinh tự vẫn. Hạ Cửu Sênh lập tức khởi hành về Bắc Kinh, bà ấy đến phủ Tề Quốc Công đúng vào một buổi chiều mưa tầm tã.

Người đón bà ấy ở cổng là Hành ca nhi, cậu bé đã cao lớn hơn nhiều, tóc búi cao, vận thanh y. Thấy Hạ Cửu Sênh, cậu vẫn nhận ra bà ấy nhưng thần sắc có phần lạnh lùng, hành lễ cung kính, dáng vẻ hệt như một “ông cụ non”: “Hạ di!”

Hạ Cửu Sênh vỗ vai cậu, không chỉ cao lên mà cậu còn rắn rỏi hơn trước rất nhiều. Bà ấy cùng cậu đi vào trong, thỉnh thoảng hỏi han đôi chút về việc học hành, nhưng cũng chỉ thấy cậu đáp lại cụt ngủn một hai chữ, cả người có vẻ trầm mặc và u uất hơn hẳn hai năm trước.

Lại nghe Tần ma ma nói, Lục Trạch dạy bảo Hành ca nhi học hành vô cùng nghiêm khắc, ba bữa nửa tháng lại bị phạt một lần. Mỗi tháng hắn chỉ cho phép cậu bé đến Tư Thoái Đường thỉnh an một lần, cũng chẳng cho nán lại lâu, nên bình thường cậu khó lòng gặp được người mẹ ruột của mình.

Mưa đổ tầm tã, khi Hạ Cửu Sênh che ô đến Tư Thoái Đường thì gấu áo và ủng đã ướt đẫm cả. Bà ấy thu ô lại, đi qua dưới hành lang, thấy cửa sổ đang khép hờ một khe nhỏ để thoáng khí.

Bên trong phòng, Lục Trạch đang ngồi bên cạnh giường, nhẹ nhàng xoa bóp gân cốt cho Tần Thư, miệng lầm rầm tự nói một mình: “Phía sau Miểu Vân Gian có trồng một đầm sen lớn, nàng chẳng phải rất thích ăn hạt sen sao? Đợi nàng tỉnh lại, chúng ta sẽ chèo một chiếc thuyền nhỏ ra hồ, cũng chẳng cần dùng chèo, cứ để thuyền trôi lững lờ đến đâu thì đến. Lúc nào mệt rồi, ta lại tiện tay bóc hạt sen từ đài sen cho nàng ăn…”

Hạ Cửu Sênh khẽ lắc đầu, dù là người lòng dạ sắt đá như bà ấy, khi  cũng thấy cảnh tượng này cũng cảm thấy quá đỗi xót xa.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *