Chương 21: Hoàng nương tử
Tần Thư thở dài: “Trong phủ đã trả lại khế ước cho con rồi, lần này xem như con đã được như ý nguyện. Còn về phần biểu ca, mối hôn sự này e là không thành được nữa, giờ con đành phải muối mặt đến cậy nhờ nương tử, mong người nể tình nghĩa bấy lâu mà thu nhận con.”
Hoàng nương tử cười lớn: “Định ở đây mà dỗ dành ta đấy à? Cái tâm tư của con bé nhà ngươi có bao giờ đặt vào việc thêu thùa đâu, chẳng qua chỉ coi nó là một đường kiếm tiền mà thôi. Hơn nữa, lão thái thái nhà các người thương ngươi như thế, cho dù ngươi có xuất phủ thì bà ấy cũng sẽ sắp xếp chu tất cho ngươi, việc gì phải đến chỗ ta để chắt bóp dăm ba đồng tiền lẻ này?”
Tần Thư lắc đầu, nụ cười trên môi cũng vụt tắt: “Nương tử là người minh bạch, lẽ nào lại không nhìn ra những điều con nói lúc này rốt cuộc là thật hay giả sao?”
Lúc này Hoàng nương tử mới thực sự tin lời nàng nói, bà ôn tồn trò chuyện với nàng: “Chỗ ta đúng là đang thiếu người, con mà muốn tới thì ta đương nhiên chỉ có vui mừng thôi. Chẳng bàn đến việc làm thêu thùa, chỉ riêng việc có con ở cạnh làm bạn với ta thôi đã là tốt lắm rồi. Hiện tại, chỗ ta mới nhận mấy nha đầu chưa có chút kiến thức cơ bản nào, đều phải dạy lại từ đầu, nếu con đến giúp thì ta sẽ nhẹ nhõm hơn nhiều.” Hai người vốn dĩ đã hợp tính nhau, Hoàng nương tử lại hỏi thêm nhiều chuyện, Tần Thư cũng đành phải hé lộ một chút nội tình: “Lão thái thái vốn có ý định để con đi hầu hạ Đại thiếu gia, chỉ là con không cam lòng, sau đó lại lỡ đắc tội với ngài ấy nên mới bị đuổi ra khỏi phủ ạ.”
Hoàng nương tử nghe xong, không khỏi nhìn Tần Thư với ánh mắt nể trọng hơn vài phần. Bà bảo nàng cứ yên tâm, chỉ cần dựa vào đôi bàn tay và tay nghề của chính mình thì chẳng bao giờ lo chết đói.
Mọi chuyện được định liệu như thế. Đợi Hoàng nương tử dọn dẹp xong phòng ốc, bà liền bảo Tần Thư chuyển tới ở. Tiền công mỗi tháng không tính theo mức cố định mà làm bao nhiêu tính bấy nhiêu, bán được bao nhiêu thì hưởng phần bấy nhiêu theo lối chia hoa hồng. Cách sắp xếp này rõ ràng là bà đang vô cùng chiếu cố Tần Thư.
Bà ấy còn giữ Tần Thư ở lại ăn cơm tối, ăn xong thì nhờ Hoa lão bá đưa nàng về nhà.
Lúc về đến nhà, cả gia đình đang ngồi hóng mát ở ngoài sân. Tẩu tử bưng một bát nước đưa cho nàng rồi hỏi: “Muội đi đâu mà về muộn vậy?”
Tần Thư cũng không giấu giếm họ: “Đầu tiên muội qua nhà Từ tẩu tử, sau đó có ghé thăm Hoàng nương tử. Muội đã bàn kỹ với Hoàng nương tử rồi, đợi vài ngày nữa bên đó dọn dẹp xong phòng ốc, thì muội sẽ chuyển qua tiệm thêu của bà ấy để làm việc.”
Ca ca của nàng lên tiếng: “Có làm thêu thùa thì làm ngay tại nhà là được rồi, sao lại còn phải dọn ra ngoài ở? Hơn nữa, muội vừa mới rời phủ về nhà mà đã lại dọn đi ngay, chẳng phải là để thiên hạ chọc vào xương sống của ta, nói ta đến cả muội muội ruột cũng không nuôi nổi hay sao?”
Mặc dù Tần Thư với những người này là người thân, nhưng đã nhiều năm không sống cùng nhau nên bản thân nàng cảm thấy rất không quen. Thêm vào đó, nhà chỉ có ba gian phòng: một gian cho ca ca và tẩu tử ở, một gian đặt máy dệt, một gian dành cho mẹ Tần, ngay cả nhà bếp cũng chỉ là một cái lán dựng tạm ngoài sân, hoàn toàn không có phòng dư dả.
Hơn nữa, nàng đến chỗ Hoàng nương tử làm việc cũng là muốn học hỏi thêm từ bà, biết đâu sau này có thể tự mình mở tiệm thêu riêng. Việc đi đi về về vào buổi tối như thế này thật sự không an toàn chút nào.
Tần Thư liền nói: “Huynh không cần phải nói những lời như vậy, huynh muội chúng ta có bao giờ khách sáo thế đâu. Chẳng lẽ cứ dọn ra ngoài ở thì không còn là huynh muội ruột thịt một nhà nữa sao? Đều ở trong thành Nam Kinh cả, muội có về nhà cũng chỉ mất chưa đầy nửa canh giờ, làm gì đến mức để người ta phải lời ra tiếng vào chứ?”
Ca ca nói lý không lại với Tần Thư, đành quay sang nhìn mẹ Trần: “Mẹ, mẹ nói muội muội đi xem nào, chuyện khác thì thôi đi, giờ khó khăn lắm cả nhà mới được đoàn tụ, tự dưng muội ấy lại đòi dọn ra ngoài ở làm gì?”
Mẹ Tần nhìn nàng, rồi lại nhìn ca ca của nàng, bắt đầu nói theo kiểu nước đôi: “Tính tình của muội muội con thế nào chẳng lẽ con không biết? Lời ta nói có bao giờ có trọng lượng đâu? Cái nhà này vốn dĩ xưa nay đều nghe theo ý nó, chúng ta luận về kiến thức thì vốn cũng chẳng bằng được nó.” Lời này mới khiến ca ca nàng chịu im miệng.
Mọi người cùng ngồi hóng mát ngoài sân, Tần Thư bế bé Bảo Nhi rồi kể chuyện cho bé nghe: “Bốn thầy trò cùng nhau đi về phía Tây, đi đến một nơi gọi là núi Bạch Hổ. Ở nơi này có một con yêu quái cư ngụ, tên là Bạch Cốt Tinh. Một ngày nọ, con Bạch Cốt Tinh này biến hóa thành hình dáng của một cô thôn nữ…”
Mẹ Tần vốn là người hay nhiều lời, thế nhưng tối nay bà lại chẳng nói chẳng rằng, cứ nghiêng đầu mà ngủ gà ngủ gật. Ngay cả bé Bảo Nhi cũng thấy lạ: “Tổ mẫu ơi, cô cô đang kể chuyện ba lần đánh Bạch Cốt Tinh mà, sao bà lại không nghe?”
Mẹ Tần lấp liếm một câu: “Bà vẫn đang nghe đây, nhiều muỗi quá…”
Đêm đầu tiên mới về, Tần Thư ngủ chung với mẹ, nhưng nàng thấy không quen chút nào. Đến tối nay, Tần Thư nhất quyết không chịu ngủ chung nữa, nàng ra gian phòng đặt máy dệt dựng tạm một cái giường rồi ôm chăn mền qua đó.
Mẹ Tần tặc lưỡi, cũng chẳng còn cách nào khác, chỉ đành dặn dò con gái hết lời: “Phải đóng kỹ cửa sổ vào đấy, đừng để cho rắn bò được vào nhà.”
Tần Thư vừa trải lại giường chiếu vừa hỏi: “Mẹ sao thế ạ? Ai lại chọc giận mẹ rồi mà sao con nghe giọng mẹ có vẻ chua chát thế?”
Mẹ Tần thở dài một tiếng: “Còn không phải tại dì Phan của con sao. Hôm nay mẹ qua nhà bà ấy, mới chỉ kịp nói một câu là con đã về nhà thôi chứ chưa kịp nói gì thêm, thế mà dì Phan của con đã vội khoe là đang lo liệu hôn sự cho biểu ca của con rồi. Nghe đâu là con gái của chủ tiệm tơ lụa, kém con hai tuổi. Chiều nay mẹ bế Bảo Nhi đi vòng qua đấy xem thử, thấy con bé đó đang phụ việc ở cửa hàng, người ngợm cứ gầy như giá đỗ ấy, làm sao mà bì được với con.”
Tần Thư nghe xong lời này thì bật cười: “Trong mắt mẹ thì ai mà chẳng không bằng con. Dì Phan không đồng ý cũng là lẽ thường tình thôi, chuyện này cứ thế mà bỏ qua đi ạ. Mẹ cứ nhờ bà mai tìm mối khác xem sao, con cũng chẳng quan trọng người ta có tiền hay không, chỉ cần nhân phẩm tốt, diện mạo đoan chính, tuổi tác tương xứng, mà nhà ít người là tốt nhất ạ.”
Mẹ Tần gật đầu: “Cũng đành vậy thôi, chỉ là tiếc cho cái tình nghĩa thanh mai trúc mã, từ nhỏ đã cùng nhau lớn lên của con với biểu ca.”
Cuộc trò chuyện kết thúc, ai nấy đều về phòng nghỉ ngơi. Ở nhà thêm một ngày nữa thì Hoàng nương tử sai lão Hoa sang nhắn: “Bà chủ nhà tôi bảo tôi thưa với cô nương là phòng ốc đã dọn dẹp xong xuôi cả rồi, nếu hôm nay cô nương thấy thuận tiện thì chuyển qua đó luôn.”
Ca ca và tẩu tử của Tần Thư đẩy xe ba gác đến, chuyển sang cho nàng không ít chăn đệm mới may.
Hoàng nương tử thấy vậy, liền kéo tay Tần Thư nhỏ giọng nói: “Ca ca của con đúng là có lương tâm, biết thương xót cho muội muội đấy.”
Tần Thư chỉ mỉm cười không đáp, bởi nàng hiểu rõ để hoàn toàn tin tưởng một người là chuyện vô cùng khó khăn. Số bạc hơn một trăm lượng tích góp bấy lâu nay nàng đều tự mình cất giữ, cộng thêm năm trăm lượng lão thái thái ban thưởng, tính ra trong tay cũng đã có hơn sáu trăm lượng rồi.
Trên đời này, dựa dẫm vào bất kỳ ai cũng chẳng hề chắc chắn, chỉ khi có tiền bạc phòng thân, bản thân mình mới là chỗ dựa vững chãi nhất.
Ngay ngày đầu dọn vào, Tần Thư đã cầm lấy kim chỉ và bắt đầu làm lụng. Đến tối, nàng lại ở bên chỉ điểm cho đám tiểu nha đầu, dạy chúng những kỹ thuật cơ bản từ cách chọn kim đến dùng chỉ.
Gần đến giờ đi ngủ thì trời đổ cơn mưa lớn. Vì là đêm đầu tiên nên hôm nay Hoàng nương tử ngủ cùng một chỗ với nàng, bà ấy mỉm cười hỏi: “Con đã ra khỏi đó rồi, sao cả ngày hôm nay trông cứ bồn chồn lo lắng thế?”
Tần Thư đẩy chăn ngồi dậy, chỉ cảm thấy trong người muộn phiền nóng nảy: “Con cảm thấy không khỏe, cứ luôn cảm giác như sắp có chuyện gì đó xảy ra vậy.”
Hoàng nương tử mỉm cười: “Chuyện này con cứ yên tâm, trong viện nhà ta có nuôi hai con chó lớn, vô cùng tinh khôn, mấy tên kẻ trộm vặt vãnh chắc chắn không lẻn vào được đâu.”
Tần Thư gật đầu rồi mơ màng thiếp đi, nào ngờ giữa đêm khuya lại bị một tràng tiếng đập cửa dồn dập làm cho kinh tỉnh.
Lúc này, cơn mưa tầm tã trút xuống dày đặc, người trong cả căn nhà đều bị đánh thức. Phu thê nhà Hoa bà bà, bên cạnh đó là mấy vị học trò đang lưu trú tại chỗ của Hoàng nương tử, tất cả đều khoác thêm y phục rồi trở dậy xem xét.
Hoàng nương tử cùng Tần Thư ngủ ở gian sau nên nghe thấy muộn nhất, hai người vội vàng châm đèn, khoác thêm y phục rồi trở dậy hỏi: “Kẻ nào lại đập cửa ngoài kia thế?”
Hoa bà bà che ô, một bên vai áo đã bị nước mưa làm cho ướt đẫm, đáp: “Lão thân cũng không rõ, họ chẳng nói là tìm ai, cứ nhất mực đập cửa thôi. Lão thân có ghé mắt qua khe cửa nhìn thử, thấy có vài người đàn ông trẻ tuổi mặc áo mưa, người cầm đầu đứng ở cửa, có người che ô cho, đôi mắt phượng, chân mày kiếm, dáng vẻ không giận mà uy. Nhìn trang phục trên người hắn, hẳn là không giàu sang thì cũng quyền quý, chẳng giống hạng cướp bóc chút nào.”
Nghe đến đôi mắt phượng và hàng chân mày kiếm, lòng Tần Thư bỗng thắt lại.
Hoàng nương tử suy nghĩ một lát, liền gọi Hoa lão bá ra cửa sau dặn dò: “Lão bá hãy đi tìm Vương nha dịch ở phố sau đến đây, cứ bảo nhà chúng ta gặp phải kẻ trộm.” Nói xong, bà lại lấy từ trong túi tiền ra một đĩnh bạc đưa cho lão bá mang theo.
Bà ấy lại bước vài bước đến trước cửa, cất giọng rành rọt: “Chẳng hay vị khách nhân bên ngoài là ai? Đây là nhà của tú nương Hoàng nương tử, liệu có phải các vị đã tìm nhầm chỗ rồi không?”
Bên ngoài liền có người đáp lại: “Không nhầm đâu, nơi chúng ta tìm chính là nhà của Hoàng nương tử.”
Tần Thư vịnh tay vào hàng cột bên cạnh, vừa nghe thấy giọng nói này, sắc mặt nàng lập tức trắng bệch đi trong nháy mắt. Tần Thư nhận ra giọng nói này, đó là Đinh Vị, hộ vệ thân tín luôn như hình với bóng của Lục Trạch.
Hoàng nương tử liếc nhìn Tần Thư, trong lòng cũng đã đoán ra được đôi ba phần, bà liền nói vọng ra ngoài: “Xin hỏi các vị muốn tìm ai? Mời ngày mai quay lại cho, giờ đã là đêm khuya nên không tiện mở cửa tiếp khách.”
Đinh Vị đứng bên ngoài liếc nhìn sắc mặt chủ tử nhà mình một cái, rồi lớn tiếng nói: “Người chúng tôi cần tìm đang ở bên trong, mau chóng mở cửa ra, bằng không chúng tôi sẽ phá cửa xông vào.”
Hoàng nương tử nghiến răng rồi nhìn sang Tần Thư, thấy nàng chậm rãi bước tới: “Nương tử, e rằng họ đến tìm con. Chuyện này vốn là việc của riêng con, không nên để liên lụy đến mọi người ạ.”
Nói xong, nàng định đưa tay ra mở cửa, nhưng Hoàng nương tử đã ngăn lại: “Con đừng đi, con đã chuộc thân ra ngoài rồi, giờ đã là dân lành.”
Tần Thư lắc đầu, nàng nói với Hoàng nương tử: “Chỉ e hôm nay không mở cửa thì chuyện này chẳng thể kết thúc được.” Dứt lời, nàng liền rút then cài rồi đẩy mạnh cánh cửa lớn. Ngay lập tức, gió mưa tạt thẳng vào mặt.
Lục Trạch đứng ở cửa, đôi môi nở nụ cười như có như không, hắn đưa tay ra phía trước rồi nói với Tần Thư: “Đi thôi, thuyền đang đợi ở bến rồi, đừng để lỡ giờ khởi hành.”
Giọng điệu của hắn thản nhiên và bình thường, cứ như thể hai người vốn tâm đầu ý hợp, đã bàn bạc kỹ lưỡng với nhau từ trước vậy. Tần Thư không biết là do gió mưa lạnh lẽo, hay vì điều gì khác, mà khiến nàng không kìm được cơn run rẩy khắp người.
Đầu óc của Tần Thư đang trong trạng thái hỗn loạn, cuộc sống yên ổn mà nàng dày công sắp đặt đều đã tan thành mây khói. Trong phút chốc, một cảm giác trống rỗng hư vô trào dâng trong lòng. Nàng ngẩng đầu nhìn Lục Trạch, chưa kịp cất lời thì hai hàng lệ trong vắt đã tuôn rơi: “Mỹ nhân trong thiên hạ nhiều như vậy, cao thấp béo gầy đều đủ cả, hạng tuyệt sắc nào mà ngài chẳng có. Xin ngài hãy coi như làm việc thiện một lần, làm ơn buông tha cho tôi đi.”
Lục Trạch chẳng hề tỏ vẻ giận dữ, hắn rút từ trong tay áo ra một chiếc khăn tay, nhẹ nhàng lau đi những giọt nước mắt trên mặt Tần Thư, rồi mỉm cười nói: “Xem ra là ngủ đến lú lẫn rồi nên mới nói lời mê sảng như vậy. Hay là, nàng vẫn còn đang giận ta?”
Ngày trước khi Lục Trạch lạnh mặt, Tần Thư vốn không hề sợ hãi, nhưng hôm nay thấy hắn cười thế này, trái lại khiến nàng cảm thấy rùng mình ớn lạnh, bất giác lùi lại một bước: “Không, tôi không muốn, tôi không muốn…”
Nàng chưa kịp lùi lại được hai bước đã bị Lục Trạch kéo mạnh vào lòng. Trong lúc nàng còn đang định vùng vẫy chống cự, hắn đã giáng một cú chặt vào gáy, khiến nàng lập tức ngất lịm đi, chẳng còn biết gì nữa.
Chương 22: Trình tử y
Đúng lúc này, Vương nha dịch từ cửa sau vội vã chạy đến, vạt áo dưới của ông ta đã ướt sũng hoàn toàn. Ngày thường ông ta vốn nhận được sự hiếu kính của Hoàng nương tử, lại thêm tình nghĩa láng giềng, nên vẫn luôn khá chiếu cố bà.
Nghe lời kể của Hoa lão bá, lại thấy lão bá mang bạc đến, Vương nha dịch lập tức mặc quan phục rồi vội vã chạy sang. Ông ta cứ ngỡ chỉ là mấy tên tiểu tặc say rượu quấy nhiễu mà thôi, bởi đây là thành Kim Lăng, vốn chẳng hề có chuyện cướp bóc lộng hành.
Vốn dĩ trước khi ngủ có uống chút rượu nên lúc này ông ta vẫn còn vài phần say khướt. Vừa thấy kẻ dẫn đầu đang ôm một nữ tử trong lòng, ông ta liền xông tới quát lớn: “Này! Đám hỗn xược từ đâu tới đây mà dám cưỡng đoạt dân nữ? Mau buông người ra, bằng không ta sẽ xích các ngươi áp giải lên công đường!”
Lục Trạch chẳng thèm đoái hoài gì đến ông ta, hắn bế ngang Tần Thư rồi sải bước đi thẳng ra ngoài.
Vương nha dịch kinh ngạc đến trợn tròn mắt, ông ta quát lớn: “Tên dâm tặc nhà ngươi, thật là ngông cuồng! Đã thấy người của nha môn mà còn dám bắt cóc người đi sao?” Dứt lời, ông ta liền vươn tay ra ngăn cản.
Đinh Vị giơ chân đá một cú trời giáng, tay giơ cao một tấm lệnh bài: “Cẩm y vệ đang thi hành công vụ, kẻ nào không muốn chết thì mau cút xéo sang một bên!”
Vương nha dịch bị đá văng nhào lộn ra sau, vừa nghe thấy ba chữ ‘Cẩm y vệ’, mấy phần men rượu lập tức tan biến sạch sành sanh. Ông ta bò lên phía trước vài bước để nhìn cho rõ tấm lệnh bài, quả nhiên là loại bài ngà dài chừng bốn tấc. Ông ta dụi dụi mắt, dù chữ trên đó nhìn không ra nhưng mồ hôi lạnh đã túa ra khắp người, liền vội vàng quỳ sụp xuống nói: “Tiểu nhân không biết thượng sai giá lâm, vạn lần xin ngài xá tội!”
Đinh Vị thu lại lệnh bài, cũng không làm khó dễ ông ta, liền che ô cùng đám tùy tùng bước vào màn mưa dày đặc.
Lại nói về phía Lục Trạch, lúc ở tửu lâu nghe được những lời kia của Tần Thư, cái gì mà ‘không làm thiếp’, hắn lập tức tức giận đến mức đập nát chén rượu. Chỉ là hắn vốn dĩ xưa nay luôn trọng thể diện, Tần Thư đã nói ra những lời tuyệt tình như thế, dù trong lòng không muốn để nàng đi, nhưng hắn cũng không thể hạ mình mà níu kéo.
Hắn tự nhủ với lòng mình, chẳng qua cũng chỉ là một nữ tử xuất thân bần hàn mà thôi, dẫu có đôi ba phần nhan sắc, một hai phần hợp ý, nhưng bản tính lại quái gở, kiêu ngạo khó thuần, hạng người như thế làm sao có thể giữ lại bên mình cho được?
Thế nhưng khi về đến nhà chưa được một hai ngày, vị mưu sĩ sư đã đi trước từ sớm liền gửi thư tới hối thúc, Lục Trạch bèn hạ lệnh chuẩn bị quan thuyền, xuôi theo kênh đào nối giữa Bắc Kinh và Hàng Châu để đi xuống phía Nam.
Thuyền đi được nửa ngày, trên kênh đào tình cờ bắt gặp tư thuyền của Đô ngu hầu Giang Trực – vị Quốc cữu gia, cũng chính là đệ đệ của Hoàng hậu. Giang Trực đang ôm ấp mỹ nhân đứng trên boong thuyền, vừa nhìn thấy bài Phi Hổ và lọng vàng hạnh của Tổng đốc Chiết – Mân Lục Trạch, liền lập tức sai một chiếc thuyền nhỏ sang bái kiến.
Vị Giang Trực này vốn là hàng hoàng thân quốc thích, tuy chỉ nắm giữ chức quan hữu danh vô thực, chẳng có nhiều quyền lực, nhưng lại rất được Hoàng hậu và Bệ hạ sủng ái, thường xuyên ra vào cung cấm. Lục Trạch thấy vậy liền mời gã lên thuyền của mình để dự tiệc rượu.
Giang Trực mừng rỡ khôn xiết, lập tức chỉnh đốn trang phục đến bái kiến. Gã gọi một tiếng Đốc Hiến đại nhân, rồi hành lễ bái lạy liên hồi. Đến lúc rượu đã ngà ngà say, không nén nổi những lời oán thán: “Vẫn là Đốc Hiến đại nhân am hiểu lễ nghĩa, biết lấy thiện đãi người. Ngài không biết đấy thôi, mấy vị tiền nhiệm trước đây của ngài, chính là vị Bộ đường Lễ bộ đương triều bây giờ ấy, đã tấu với Bệ hạ rằng: Tông thất mỗi năm tiêu tốn tiền bạc và lương thực cực lớn, cần phải cắt giảm chi tiêu. Lại còn dâng lên một bản 《Điều lệ Hoàng thất》, khiến đám tông thất chúng tôi đến việc cưới bao nhiêu thê thiếp cũng phải thông qua Lễ bộ xét duyệt. Cả kinh thành này, từ Quận vương đến Tướng quân đều bị bà ta xoay cho sống dở chết dở.”
Nói xong, Giang Trực chỉ tay về phía những nữ tử đang ca múa giữa sảnh đường: “Ngài xem những nữ tử này, ca múa thướt tha, lại dịu dàng là thế, vậy mà vị Bộ đường Lễ bộ kia cũng thân phận nữ nhi, lại chỉ biết hô đánh gọi giết. Đúng thật là ‘gà mái gáy sáng thay gà trông’, điềm báo của họa mất nước…”
Lục Trạch bưng chén rượu lên, liếc mắt một cái rồi nói: “Chí Hồng huynh, cẩn thận lời nói.”
Giang Trực tự biết mình lỡ lời, cũng nâng chén rượu lên cười cười: “Uống rượu, uống rượu thôi! Tôi mới tìm được một mỹ nhân rất giỏi múa, dáng dấp thướt tha hệt như Triệu Phi Yến, xin mời Đốc hiến đại nhân cùng thưởng thức.”
Dứt lời, tiếng nhạc nổi lên, một thiếu nữ áo xanh đạp theo nhịp hát bước ra, uyển chuyển tựa chim thúy sà xuống khóm lan, nhịp nhàng như rồng lượn bay lên.
Lục Trạch ngồi ngay chính diện, có lẽ do rượu đã uống hơi nhiều, nhìn khuôn mặt của vũ nữ kia vậy mà dần dần biến thành dáng vẻ của Tần Thư, vừa như ai oán sướt mướt, vừa như bi thương giận dữ.
Một lát sau, nàng ấy dùng đôi mắt chứa chan tình ý nhìn hắn, rồi đau khổ thốt lên: “Nô tỳ đại khái là hồ đồ rồi.”
Mới đó mà đôi mày liễu đã dựng ngược lên, lạnh lùng như băng giá: “Làm thê hay làm thiếp, thì tôi đều chẳng có hứng thú.”
Lục Trạch nhắm chặt mắt lại, đến khi mở ra thì thấy vũ nữ áo xanh kia đang bưng bình rượu bạch ngọc trên tay, tươi cười tiến lại gần: “Nô tỳ xin được rót rượu cho đại nhân.”
Người vũ nữ kia mặc một chiếc áo màu xanh lục, trên tai đeo đôi hoa tai ngọc bích lấp lánh, mỗi bước đi đều uyển chuyển thướt tha. Nàng ta đưa tay rót rượu dâng cho Lục Trạch, giọng nói nhẹ nhàng nũng nịu: “Đại nhân, mời ngài cạn chén này.”
Lục Trạch nhìn chằm chằm vào cổ tay ấy, rồi bất chợt nhớ lại một đoạn cổ tay trắng ngần như tuyết của nha đầu kia, thầm nghĩ: Phải đeo thêm một chiếc vòng ngọc thượng hạng thì mới xứng đôi.
Lúc khởi hành, Lục Trạch đã hạ lệnh: đúng năm ngày phải tới nơi, không được phép chậm trễ. Đinh Vị vốn biết rõ tính khí của hắn xưa nay nghiêm khắc, nên khi vào bẩm báo cũng nơm nớp lo sợ bị quở trách.
Chẳng ngờ, Lục Trạch nghe xong lại khẽ mỉm cười: “Xem ra đây là ý trời.” Dứt lời, hắn liền phân phó Đinh Vị: “Cho thuyền cập bến. Nếu từ đây cưỡi ngựa hỏa tốc quay về Nam Kinh thì mất khoảng mấy canh giờ?”
Đinh Vị ngẩn người, lắp bắp đáp: “Bẩm gia, e là phải mất đến ba canh giờ.”
Đinh Vị không hiểu nổi vì cớ gì mà Gia lại muốn xuyên đêm hỏa tốc quay về Nam Kinh như vậy. Dẫu cho có bỏ quên vật gì, chỉ cần phái kẻ dưới đi lấy là được, việc gì phải khổ thân mạo hiểm phong ba bão táp, tự mình cưỡi ngựa quay về cơ chứ?
Có điều, Đinh Vị vốn hiểu rõ tính khí của chủ tử mình, phàm là đại nhân đã phân phó thì cứ việc mà làm, điều không nên hỏi thì tuyệt đối không được nhiều chuyện. Thế là cả hai liền đội mưa suốt quãng đường dài, hỏa tốc quay về Nam Kinh. Khi ấy đã quá nửa đêm, bọn họ phải dùng đến lệnh bài mới gọi mở được cổng thành.
Đinh Vị chỉ thấy Lục Trạch đi thẳng về phía Quốc công phủ, nhưng khi tới nơi, ngài ấy lại không vào cửa chính mà vòng ra con phố phía sau.
Đinh Vị lập tức cảm thấy kinh hãi, thì ra Gia không phải muốn hồi phủ, mà là muốn tới đón Bằng Nhi cô nương. Sau khi gọi cửa và gạn hỏi vài lời, lúc này mới biết được chỗ ở của Hoàng nương tử.
Trên đường quay về, Đinh Vị không kìm được mà cứ dăm ba bận lại đưa mắt nhìn về phía xe ngựa của Lục Trách. Y cảm thấy vô cùng hiếu kỳ, Bằng Nhi cô nương kia rõ ràng đã ngỗ ngược với Gia như thế, cớ sao ngài ấy lại vẫn cứ quyến luyến không quên, tâm niệm đến nhường này?
Lúc Tần Thư tỉnh lại thì bản thân đã ở trên thuyền. Xiêm y trên người cũng đã bị kẻ khác thay ra, chỉ còn lại duy nhất một chiếc trung y màu trắng thêu vân chìm, trong cổ họng và sau gáy truyền đến cảm giác đau nhức kịch liệt, tựa như vừa bị vẹo cổ vậy.
Nàng thẫn thờ nhìn tấm màn che màu thiên thanh trên đỉnh đầu, bên trên thêu hình những con tiên hạc đang tung cánh bay xa. Nàng cứ ngây người nhìn hồi lâu, bên tai là tiếng sóng nước cuồn cuộn vỗ vào mạn thuyền, cuối cùng chỉ biết nở một nụ cười khổ sở.
Cánh cửa vang lên ‘cót két’ rồi bị đẩy mở, Lục Trạch trong bộ Trình tử y màu trầm hương bước vào, đứng sừng sững trước đầu giường, rồi cất giọng hỏi nàng: “Vì sao nàng lại cười?”
(Trình tử y: Một loại trường bào phổ biến của nam giới tầng lớp tri thức, quan lại thời xưa)
Tần Thư vẫn dán chặt mắt vào đôi tiên hạc trên tấm màn che, nhìn lâu đến mức tưởng như đôi hạc ấy sắp vỗ cánh bay ra khỏi mặt vải, nàng khẽ thốt lên: “Thân thế thăng trầm tựa cánh bèo giữa màn mưa bão, một đời này biết nương tựa vào ai?”
Bốn góc màn treo những chiếc lư hương linh lung bằng gốm men xanh, Lục Trạch chạm nhẹ vào dải lưu ly, phát ra những tiếng kêu lanh lảnh. Hắn đứng trước giường, thân hình cao lớn che khuất ánh nến, một bóng đen to lớn bao trùm lấy: “Có người là đại thụ, có người là mẫu đơn, có người là dây leo, lại có người là bèo tấm, sinh ra đã thế, tự có tạo hóa riêng. Tính tình của nàng bướng bỉnh, tự ví mình như cánh bèo trôi, chứ nhất quyết không chịu làm đóa mẫu đơn. Nào đâu biết rằng, kẻ yêu hoa ngày ngày xới đất vun bùn, cũng chỉ mong đợi được đến ngày hoa nở mà thôi.”
Tần Thư nghe xong liền bật cười “hắc hắc”, Lục Trạch cau mày: “Lại vì chuyện gì nữa đây?”
Tần Thư chống tay ngồi dậy trên giường, mái tóc đen huyền rủ xuống, chỉ được búi lại một cách lỏng lẻo: “Kẻ yêu hoa sao? Hừ, nếu tôi thực lòng yêu đóa mẫu đơn này, ta sẽ chỉ để nó được sinh trưởng trên vùng đất màu mỡ, chứ chẳng phải hái nó xuống để cài lên đầu, để rồi chỉ sau vài ngày ngắn ngủi đã khiến nó héo úa mà chết.”
Lục Trạch lạnh lùng nhìn nàng, nửa ngày sau mới mím môi nói, giọng điệu nửa phần đe dọa, nửa phần cảnh cáo: “Bên ngoài phong ba bão táp lớn như thế, bóng mát sẵn có nàng không muốn che dựa, lại cứ nhất quyết muốn ra ngoài chịu cảnh gió dập mưa vùi sao?”
Tần Thư từ từ quay đầu lại, nhìn thẳng vào mắt hắn rồi gằn từng chữ một: “Đối với ta mà nói, ngài mới chính là cơn bão tố lớn nhất. Ta vốn dĩ đang sống rất tốt, tuy thanh bần nhưng cũng tự do tự tại, lại bị ngài dùng vũ lực bắt tới đây, phải rời xa người thân bạn bè, rời bỏ quê hương. Giống như ngài đây, vừa mắt người con gái nào là chẳng cần hỏi người ta có nguyện ý hay không, liền dùng cường quyền ép buộc. Dẫu cho ngài có là Tổng đốc Chiết Mân, nắm giữ quyền bính trong tay, thì chẳng qua cũng chỉ là hạng người tầm thường mà thôi.”
Lục Trạch vốn dĩ đã một đêm không chợp mắt, lúc này bị câu nói “hạng người tầm thường” của Tần Thư kích động, hai bên thái dương đau đớn nhức nhối.
Hắn đưa tay ra bóp chặt lấy cổ Tần Thư, hơi dùng lực rồi nghiến răng nói: “Nàng đang tìm cái chết đấy à?”
Tuy lực tay không lớn, nhưng lại vừa vặn đè lên vết thương cũ từ ngày hôm qua, trong phút chốc Tần Thư chỉ cảm thấy nửa bên vai đau điếng đến tê dại. Nàng nghiến răng chịu đựng, lạnh lùng hừ hai tiếng, đến một cái nhìn thẳng cũng chẳng buồn dành cho Lục Trạch: “Thẹn quá hóa giận đến mức muốn giết người diệt khẩu sao? Rất tốt, ta chỉ cầu được chết sớm mà thôi.” Nói xong, nàng nhắm nghiền mắt lại, cũng không thèm lên tiếng nữa.
Một lúc sau Lục Trạch buông tay, chắp tay sau lưng đứng thẳng: “Nàng là nữ tử yếu đuối, lại đang lúc nóng giận nên mới nói năng không chọn lời, ta không thèm chấp nhặt với nàng. Chỉ là, nếu nàng không sớm nghĩ cho thông suốt, thì người chịu khổ cũng chỉ có chính nàng mà thôi.”
Tần Thư chẳng còn sức lực, nàng ngã ngồi trên giường rồi quay lưng về phía Lục Trạch, hoàn toàn phớt lờ hắn. Một lát sau, nghe thấy tiếng đóng mở cửa, một nha hoàn bưng thuốc tiến vào: “Thưa cô nương, đây là thuốc trừ hàn ẩm. Hôm qua cô nương bị dầm mưa, đây là phương thuốc do chính đại nhân kê, cô nương mau ngồi dậy uống đi ạ.”
Tần Thư vẫn nhắm nghiền mắt, đáp: “Thuốc do hắn kê, ta sợ có độc, ta không uống, ngươi lui ra đi.”
Nha hoàn kia không dám trái lời, nghe vậy liền từ từ lui ra ngoài. Vừa ra tới nơi đã thấy Đốc hiến đại nhân đang đứng ngoài cửa, hắn chau mày hỏi: “Không uống sao?”
Nha hoàn sợ Lục Trạch quở trách mình, bèn thuật lại lời của Tần Thư một năm một mười: “Cô nương nói… thuốc do đại nhân kê, cô ấy sợ có độc nên không uống ạ.”
Sắc mặt của Lục Trạch vô cùng u ám, hắn thở dài một tiếng, cuối cùng vẫn chẳng nói gì, chỉ phẩy tay cho nha hoàn lui xuống.
Khi trời vừa hửng sáng, cả con thuyền vẫn còn đang chìm trong giấc nồng thì Tần Thư đã tỉnh dậy. Nàng tỉnh là vì bị cơn đói làm cho cồn cào, tính ra nàng đã tròn hai ngày chưa có hạt cơm nào vào bụng rồi.
Khổ nỗi chỗ cổ nàng lại càng đau dữ dội, đầu cứ cứng đờ không tài nào cử động nổi. Tần Thư vén màn che, thấy bên trong tối đen như mực, chỉ có gian ngoài là le lói chút ánh nến. Nàng lần theo ánh lửa mà đi, vòng qua một tấm bình phong bốn cánh vẽ cảnh sơn thủy, thì thấy Lục Trạch đang ngồi trước bàn viết đọc đê báo.
(Đê báo: Một loại ấn phẩm thời xưa dùng để truyền đạt các thông báo của triều đình, chỉ dụ của hoàng đế và tình hình quan trường cho quan lại địa phương)
Tần Thư không đi giày, bước chân lại nhẹ, đứng bên cạnh tấm bình phong hồi lâu thì Lục Trạch mới nhận ra nàng. Hắn đặt văn thư trong tay xuống, rồi hỏi: “Là ta làm nàng thức giấc sao?”
Tần Thư không trả lời mà hỏi ngược lại: “Ngài đã trả lại văn tự bán thân cho ta rồi, hiện giờ ta là dân lành. Ngài dùng vũ lực bắt ta tới đây, không sợ người nhà ta đi báo quan sao?”
Vừa hỏi xong câu đó, chính Tần Thư cũng cảm thấy thật nực cười, nàng tự giễu: “Câu hỏi này đúng là ngu xuẩn thật sự!”