Chương 29: Váy gấm xanh lam
Tần Thư nghe xong, không biểu lộ thái độ cũng chẳng buồn đáp lời, chỉ xoay người dặn dò: “Cũng không cần nói mấy chuyện này nữa, cái am ni cô này đã không sạch sẽ thì chúng ta mau thu dọn đồ đạc xuống núi thôi.”
Lúc xuống núi thì trời đã sầm tối, người ni cô lớn tuổi ra tiễn Tần Thư: “Sao phu nhân không ở lại một đêm? Trời đã tối rồi, lại còn đang mưa nữa, đường núi khó đi lắm.”
Tần Thư bảo người che ô đưa mình lên xe ngựa, rồi vén rèm xe nói với bà ấy: “Ta nghe người ta nói, trong vòng mấy chục dặm quanh đây, nhà nào không muốn nuôi bé gái nữa đều mang đến vứt ở cổng am của bà, đám tiểu ni cô kia phần lớn cũng từ đó mà ra. Ta cũng biết bà nuôi nấng đám trẻ đó chẳng dễ dàng gì, có điều làm cái nghề này mãi cũng không phải kế lâu dài.”
Bà ni cô lớn tuổi lộ vẻ ngượng nghịu: “Phu nhân nói phải, chỉ là ta trộm nghĩ, thế này vẫn còn tốt hơn là để người ta mang đi vứt ngoài đồng cho chó ăn, đây cũng là chuyện bất đắc dĩ mà thôi.”
Tần Thư nói: “Nay bà cũng đã có chút tiền bạc, chi bằng mua lấy ít ruộng đất, dù sao cũng tốt hơn hiện giờ. Bà phải biết rằng, chốn phong nguyệt này là nơi dễ vướng vào kiện tụng quan sai nhất, mà các bà vốn chẳng có chỗ dựa dẫm, lại càng thêm khó khăn.”
Bà ni cô lớn tuổi biết nàng có ý tốt, lại thấy nàng chân thành, không hề có chút thái độ khinh miệt nào, liền cung kính vâng dạ: “Những lời phu nhân dạy bảo, bần ni xin ghi tạc trong lòng.”
Tần Thư gật đầu, xe ngựa bắt đầu lăn bánh xuống núi. Đi được nửa đường, nàng bỗng nghe thấy bên ngoài vô cùng náo nhiệt. Nàng vốn dĩ đang tựa vào thành xe nhắm mắt nghỉ ngơi, thấy vậy liền hỏi: “Bên ngoài có chuyện gì thế?”
Bên ngoài mưa rơi rất lớn, Xuân Hỷ khẽ vén một khe nhỏ ở rèm che, mấy sợi tóc lập tức bị dính nước mưa. Cô ấy quay đầu lại nói với Tần Thư: “Cô nương, bên ngoài có một nhóm người đang đuổi theo một cô gái nhỏ. Cô gái đó hình như có luyện võ công, đang cầm một thanh kiếm giao đấu với đám người kia ạ.”
Nữ tử biết võ công sao? Chuyện này đúng là hiếm thấy. Tần Thư vén rèm xe lên, chỉ thấy giữa màn mưa giăng lối, một cô bé mặc y phục đỏ thắm, vóc dáng nhỏ nhắn đang cầm trường kiếm trong tay, tả xung hữu đột. Đuổi theo cô bé là bảy tám gã đàn ông vạm vỡ mặc đồ ngắn màu nâu, kẻ to con nhất trông phải gấp đôi thân hình của cô bé nọ.
Tần Thư quan sát một lát thì nhận ra, cô bé này tuy có tư thế khá dọa người nhưng chiêu thức lại mềm yếu không có lực. Ngược lại, gã cầm đầu của bọn côn đồ lại đang chơi trò mèo vờn chuột, cười cợt: “Tiểu nha đầu, ngoan ngoãn theo gia về nhà, gia sẽ dạy cho ngươi cách múa kiếm trên giường ra sao.”
Tần Thư vẫy tay gọi Giang tiểu hầu lại gần: “Chuyện này là thế nào vậy? Sao giữa thanh thiên bạch nhật lại có kẻ ngang nhiên bắt nạt phận nữ nhi yếu đuối thế kia?”
Giang tiểu hầu vốn chẳng muốn quản chuyện bao đồng, nhưng vì Tần Thư đã dặn dò nên đành phải tiến lên phía trước hỏi: “Vị huynh đệ này, hai bên có xích mích gì mà bảy tám gã đại nam nhi lại đi vây khốn một cô bé tiểu nha đầu thế kia?”
Đám người kia vốn dĩ xưa nay đã quen thói hống hách, lập tức nhổ toẹt một bãi nước bọt về phía Giang tiểu hầu: “Ngươi là cái thứ chim chóc gì mà dám quản chuyện bao đồng của ông nội ngươi? Đi khắp phủ Trấn Giang này mà nghe danh Sáng gia ta, đừng có ở đây mà…”
Mồm miệng của gã ta bẩn thỉu, lời còn chưa kịp nói hết thì đã bị một hộ vệ mà Lục Trạch để lại bên cạnh Giang tiểu hầu đá bay ra xa. Vị hộ vệ lạnh lùng thốt lên: “Sâu bọ ở đâu ra thế này?”
Tiểu cô nương kia cũng là người lanh lợi, thấy tình thế ấy liền vội vàng lồm cồm bò dậy từ bãi bùn, hướng về phía cỗ xe ngựa của Tần Thư mà khẩn khoản van nài: “Cầu xin phu nhân cứu mạng! Con vốn là con nhà lành đang trên đường tìm đến nhà cữu cữu, chẳng may gặp phải mấy tên lưu manh này định bắt cóc mang đi bán ạ.”
Tần Thư thấy trên người cô bé không biết là bị thương ở đâu, chỉ một lát sau nước mưa dội xuống đã cuốn theo một vệt máu loang lổ. Nàng đưa mắt ra hiệu, Xuân Hỷ liền che ô bước xuống rồi đỡ cô bé dậy.
Vị hộ vệ kia vốn là người trong quân đội từ thời Lục Trạch đi tuần tra biên giới, sở hữu võ nghệ tinh thông. Gã kia bị trúng một cú đá, tức khắc nôn ra một ngụm máu lớn. Đám người còn lại lập tức hiểu ra nhóm của Tần Thư không phải hạng dễ chọc vào, chẳng thể dùng vũ lực nên một kẻ trong số đó bước ra phân bua: “Vị phu nhân này, xin thưa để người được rõ, con bé này vốn là tiểu thiếp do anh em chúng tôi bỏ tiền ra mua về, vừa rồi nó thừa lúc chúng tôi sơ hở mà bỏ trốn đấy ạ.”
Tiểu cô nương kia lập tức phản bác, lớn tiếng mắng nhiếc: “Ta nhổ vào! Ai là tiểu thiếp của anh em nhà ngươi? Cái thứ đầu heo mặt rết như các ngươi mà cũng đòi nằm mơ giữa ban ngày à?”
Nói đoạn, cô bé quay sang thưa với Tần Thư: “Phu nhân, con hoàn toàn không quen biết chúng. Con đang yên đang lành ngồi ăn cơm trong tửu lầu, thì bị bọn chúng cấu kết với lũ hắc điếm hạ thuốc mê, nên mới bị bắt cóc đi đấy ạ.”
Tần Thư khẽ vén rèm xe lên: “Nếu các người đã nói cô bé này là thiếp thất bỏ trốn của nhà mình, vậy chắc hẳn các người phải biết rõ cô ấy tên họ là gì, nhà ở phương nào chứ?”
Câu hỏi này vừa đưa ra, gã đại hán quả nhiên cứng họng không trả lời được, ấp úng một hồi mới đáp: “Thưa phu nhân, vốn dĩ là bỏ ra vài đồng tiền mua về, chủ tử thích thì tùy tiện đặt cho cái tên là được, tiểu nhân việc gì phải biết tên gốc của nó làm chi?”
Cô nương kia nhìn Tần Thư đầy khẩn khoản: “Phu nhân, con không phải thiếp thất bỏ trốn, con đích thực là con nhà lành. Chẳng qua do con giận dỗi người thân, lại tự cậy mình có chút võ công mèo cào nên mới một thân một mình tìm đến nhà cữu cữu, nào ngờ giữa đường lại mắc mưu của lũ người này.”
Tần Thư nhìn cô bé mỉm cười trấn an: “Đừng sợ, đã để ta gặp được chuyện này thì lẽ nào lại không quản cho được.”
Nàng lấy từ trong hòm xiểng trên xe ngựa ra một nén bạc mười lạng, ném ra xa rồi nói với mấy tên kia: “Nếu các ngươi nói đã bỏ tiền ra mua, vậy thì ta cũng bỏ ra vài đồng mua lại cô bé này là được chứ gì.”
Nói xong, nàng chẳng thèm đoái hoài đến đám người kia nữa, liền phân phó Xuân Hỷ đỡ cô nương nọ lên xe ngựa.
Đám người kia vẫn chưa chịu bỏ qua, định bụng xông lên chặn xe lại, nào ngờ bị hai hộ vệ đứng hai bên trái phải của xe ngựa đá văng ra xa chỉ trong ba hai chiêu. Cảnh tượng đó khiến đám đông xung quanh đều cười rộ lên: “Cái hạng tép riu thế này mà cũng bày đặt học người ta cưỡng đoạt dân nữ à?”
Tần Thư nhìn thấy cảnh này, trong lòng không khỏi dâng lên nỗi u uất. Kẻ cậy thế cưỡng đoạt dân nữ đâu chỉ có mấy tên khốn nạn này? Nàng lập tức sầm mặt lại rồi hạ lệnh: “Về phủ.”
Cỗ xe ngựa lộc cộc chuyển bánh chậm rãi, Xuân Hỷ lấy một chiếc khăn sạch lau mặt cho cô bé nọ. Lớp bùn đất bẩn thỉu được lau đi, lộ ra khuôn mặt trái xoan trắng trẻo sạch sẽ. Cô bé trông tuyệt đối không quá mười bốn tuổi, đôi mắt trong veo đầy thần thái, khi nhìn về phía Tần Thư không hề có lấy nửa phần rụt rè hay sợ hãi: “Đa tạ phu nhân hôm nay đã ra tay cứu giúp. Sau này khi về được đến nhà, ta nhất định sẽ chuẩn bị lễ vật để tạ ơn.”
Cô bé chẳng hề xưng danh tính, cũng không nói nhà cửa ở phương nào. Tần Thư nhìn cung cách nói năng liền biết ngay đây là tiểu thư từ một gia đình quyền quý mà ra. Nàng xoay chuyển suy nghĩ, cố tình nói: “Ta chẳng phải cứu ngươi, chỉ là cứu chính mình mà thôi.”
Cô nương kia quả nhiên nảy sinh lòng hiếu kỳ: “Lời này của phu nhân là có ý gì, sao lại gọi là tự cứu lấy mình? Ta thấy phu nhân chắc chắn xuất thân từ gia đình quyền quý, lẽ nào lại phải sợ mấy tên lưu manh này? Cái gọi là tự cứu mình đó, giải thích thế nào cho thông?”
Tần Thư cười gượng gạo, rồi khẽ lắc đầu: “Chẳng qua là nhìn thấy ngươi ngày hôm nay, lại chạnh lòng nhớ đến ta của ngày xưa mà thôi.” Nói rồi, nàng lấy từ trong ngăn kéo ra mấy chiếc khăn tay thêu hoa: “Xuân Hỷ, mau băng bó cho con bé. Ở đây không có thuốc trị thương, cứ cầm máu trước đã. Nếu không, một cô bé gầy yếu thế này mà mất nhiều máu như vậy, e là ăn bao nhiêu cũng chẳng bù lại được.”
Cô nương kia thấy dáng vẻ muốn nói lại thôi của Tần Thư, quả nhiên càng thêm hứng thú, thầm nghĩ: Cái gì mà ‘ngươi của ngày hôm nay’, ‘ta của ngày xưa’ chứ, chẳng lẽ vị phu nhân này cũng giống mình, bỏ nhà ra đi rồi gặp phải bọn cường đạo sao?
Sau khi được Xuân Hỷ băng bó và thay một chiếc áo ngoài sạch sẽ, cô nương kia ngồi nép vào góc xe ngựa, rồi lén lút quan sát Tần Thư. Thấy nàng búi kiểu tóc lệch sang một bên, cài nghiêng một chiếc trâm kim phượng ngậm hạt minh châu, trên người mặc áo ngắn bằng lụa màu xanh nước biển dệt chỉ vàng, bên dưới mặc váy gấm xanh thêu hoa lá sinh động, cổ tay đeo một đôi vòng ngọc hoàng thạch. Cả người nàng toát ra khí chất thanh tao, chẳng khác nào một vị thần tiên phi tử hạ phàm.
Thế gian đều biết ngọc dương chỉ là quý, nào hay ngọc hoàng thạch còn khó tìm hơn, huống hồ là loại hoàng thạch có vân ngọc và nước ngọc tuyệt hảo thế này.
Tiểu cô nương cúi đầu, rồi thầm nhủ trong lòng: cả người của vị phu nhân này toát ra vẻ phú quý, trông chẳng giống hạng dân nữ bị cưỡng đoạt chút nào, e là nói mấy lời đó chỉ để dối gạt mình mà thôi.
Trở về viện tử, Tần Thư tắm gội thay đồ xong xuôi, liền mời Giang tiểu hầu đến gặp mặt: “Ta vừa mới cho đại phu trong phủ qua xem bệnh cho cô nương kia rồi, cũng không có gì đáng ngại, chỉ cần tĩnh dưỡng vài ngày là ổn. Huynh đi nghe ngóng xem đám người kia là lai lịch thế nào. Trông cô bé cũng đáng thương, chúng ta giúp được thì nên giúp một tay.”
Giang tiểu hầu vốn là người do Lục Trạch để lại, làm việc vô cùng lão luyện, những chuyện này đương nhiên chẳng đợi đến khi Tần Thư dặn dò mới đi làm, mà từ sớm đã sai người đi dò hỏi tin tức: “Bẩm cô nương, mấy kẻ đó chẳng qua chỉ là một gia đình giàu có ở Trấn Giang mà thôi. Cô nương không cần phải lo lắng, người đã muốn giữ nha đầu kia lại thì cứ việc giữ, tuyệt đối sẽ không có rắc rối gì đâu.”
Tần Thư gật đầu: “Như vậy thì tốt.” Đúng lúc này, Xuân Hỷ từ bên ngoài bước vào, rồi cười nói với Tần Thư: “Cô nương, người đoán xem, lúc nãy nha đầu kia đã ăn hết bao nhiêu cân thịt bò?”
Tần Thư cầm chiếc quạt xua bớt muỗi mòng, mỉm cười đáp: “Chuyện này làm sao ta biết được?”
Xuân Hỷ đặt khay xuống, rồi đi đóng cửa sổ: “Cô nương, người đừng nhìn nha đầu kia tuổi còn nhỏ mà lầm. Nghe nói có thịt bò để ăn là hai mắt sáng rực lên, cứ gọi ‘tỷ tỷ, tỷ tỷ’ không ngớt. Em cứ ngỡ thịt bò có ngon đến mấy thì ăn được bao nhiêu cơ chứ, chẳng ngờ con bé đó lẳng lặng đánh chén sạch hai cân, thật là buồn cười chết đi được.”
Tần Thư mỉm cười nói: “Ăn được là phúc mà.”
Xuân Hỷ quay đầu lại, thấy Tần Thư cười rạng rỡ như vậy thì nhất thời sững sờ: “Chưa từng thấy cô nương vui vẻ đến thế bao giờ, xem ra làm việc thiện đúng là chuyện cực kỳ tốt lành.”
Tần Thư đưa tay sờ lên mặt mình, chính nàng cũng không hề hay biết, nhưng trong lòng lại tự hiểu rõ: Có lẽ tâm trạng này là vì biết rõ chẳng còn mấy ngày nữa, mình sẽ hoàn toàn rời khỏi nơi đây rồi.
Sang ngày thứ hai, nha đầu được cứu về sau khi đã ăn no uống say và đánh một giấc thật ngon lành, bèn đi dạo một vòng khắp trong ngoài viện. Thấy dưới hành lang có treo mấy lồng chim chóc, con bé liền ngắt một cành hoa dưới đất rồi cứ thế chọc phá, đùa nghịch.
Tần Thư bị con bé làm cho thức giấc, cũng đành phải dậy rửa mặt chải chuốt, rồi sai người gọi con bé vào. Thấy cô bé đã thay một bộ y phục khác, dáng vẻ hoạt bát đáng yêu, quả là một tiểu cô nương vô cùng xinh xắn.
Sang ngày thứ hai, nha đầu được cứu về sau khi đã ăn no uống say và đánh một giấc thật ngon lành, bèn đi dạo một vòng khắp trong ngoài viện tử. Thấy dưới hành lang có treo mấy lồng chim chóc, cô bé liền ngắt một cành hoa dưới đất rồi cứ thế chọc phá, đùa nghịch.
Tần Thư bị cô bé làm cho thức giấc, cũng đành phải dậy rửa mặt chải chuốt, rồi sai người gọi cô bé vào. Thấy cô bé đã thay một bộ y phục khác, dáng vẻ hoạt bát đáng yêu, quả là một tiểu cô nương vô cùng xinh xắn.
Tần Thư hỏi: “Vết thương đã đỡ hơn chút nào chưa?”
Tiểu cô nương kia chẳng mảy may để tâm, xua tay một cách đầy phóng khoáng: “Chỉ là vết thương ngoài da thôi mà, đã cầm máu được rồi, nghỉ ngơi vài ngày là ổn ấy mà.” Cô bé cũng chẳng hề sợ người lạ, cứ thế ngẩng đầu nhìn quanh quất khắp phòng. Thấy trên sập đặt một bàn cờ vẫn chưa đánh xong, đôi mắt cô bé lập tức sáng rực lên đầy hứng thú: “Phu nhân cũng biết đánh cờ sao?”
Cô bé tiến lại gần vài bước, cúi đầu quan sát kỹ lưỡng bàn cờ rồi nói: “Nói không phải chứ, phu nhân đâu chỉ biết đánh cờ, chỉ e là công lực còn vô cùng thâm hậu đấy.”
Tần Thư vốn đang lo không có chuyện gì để nói với cô bé, bèn mỉm cười xua tay rồi đưa lời mời: “Buổi sáng rảnh rỗi cũng chẳng có việc gì, ngươi có hứng thú đánh với ta một ván không?”
Tiểu cô nương kia quả nhiên vui mừng ra mặt: “Thật là cầu còn không được!” Cô bé vừa thản nhiên ngồi khoanh chân xuống, vừa lên tiếng: “Phu nhân không biết đấy thôi, nhà ta ai ai cũng biết đánh cờ, họ cứ chê ta đánh dở nên chẳng mấy người chịu đánh cùng ta cả.”
Tần Thư chậm rãi nhặt lại những quân cờ trên bàn cờ dở dang, nàng hỏi nhỏ: “Vẫn chưa biết nên xưng hô với ngươi thế nào đây?”
Tiểu cô nương kia dần dần buông lỏng cảnh giác, trả lời: “Phu nhân cứ gọi ta là Kiếm Bình là được, ‘kiếm’ trong đao kiếm, ‘bình’ trong bình an.”
Tần Thư đã luyện cờ nhiều năm, không biết đã kinh qua bao nhiêu kỳ phổ; những bài toán “sống chết” kinh điển của cờ vây cổ đại, chỉ cần trình độ nghiệp dư là nàng đã có thể giải được. Huống chi sau này khi AI chơi cờ ra đời, kỹ thuật đánh cờ càng thay đổi theo từng ngày. So với thời cổ đại thì trình độ đương nhiên là vượt xa rất nhiều.
Hai người mới chỉ đánh được một nửa thì Kiếm Bình đã buông quân nhận thua: “Ta thua rồi, kỳ nghệ của phu nhân quả thực cao siêu, ta có chạy thế nào cũng không theo kịp. Chỉ e là ngay cả người nhà của ta cũng không thể thắng nổi phu nhân đâu.”
Tần Thư cũng đặt quân cờ xuống, nàng nói: “Chẳng qua cũng chỉ là để giải khuây thôi. Ta suốt ngày bị nhốt trong cái trạch viện này, rảnh rỗi không có việc gì làm nên mới vận động trí não một chút mà thôi.”
Chương 30: Mưu tính kỹ càng
Bẵng đi vài ngày, Kiếm Bình vẫn ở lại trong trạch viện dưỡng thương, thỉnh thoảng lại đến đánh cờ cùng Tần Thư. Qua lại nhiều lần, thấy Tần Thư suốt ngày cứ nhìn chằm chằm vào mấy chậu cây cảnh mà ngẩn người, thần sắc u ám. Lại thấy đám người hầu trong nhà này đều gọi nàng là “cô nương” chứ không phải “phu nhân”.
Kiếm Bình nhìn kiểu búi tóc của nàng, rõ ràng là dáng vẻ của người đã có chồng, chính vì vậy mà không khỏi nảy sinh nghi hoặc. Đôi khi cô bé lân la trò chuyện cùng đám thị nữ, nhưng những người này miệng lưỡi rất kín kẽ, tuyệt đối không hé môi nửa lời về việc nơi đây rốt cuộc là gia đình nhà ai.
Sau vài ngày cùng nhau đánh cờ, Kiếm Bình thấy kỳ phong của nàng vốn dĩ ngay thẳng và khoáng đạt, cha cô bé thường nói “nhìn kỳ phong đoán nhân phẩm”, nên cô bé đối với Tần Thư lại thêm phần thân thiết.
(Kỳ phong: phong cách đánh cờ.)
Một ngày nọ, sau khi hai người dùng bữa xong lại bày bàn cờ ra, Kiếm Bình không nhịn được mà hỏi: “Phu nhân đã gả cho người ta rồi sao? Vì sao chẳng bao giờ thấy phu quân của người vậy? Ta nghe đám người hầu đều gọi người là cô nương, trong lòng thấy lạ quá, hỏi bọn họ thì ai nấy đều tỏ vẻ thần bí không chịu nói?”
Tần Thư vốn chẳng nói năng gì, chỉ im lặng chờ cô bé chủ động hỏi, đợi suốt mấy ngày nay cuối cùng cũng thấy cô bé mở lời. Nàng nhẹ nhàng hạ một quân cờ xuống, rồi điềm tĩnh đáp: “Có được tính là đã gả đi hay không thì ta cũng chẳng rõ, chỉ là phận mình không danh không phận, những kẻ hầu hạ không biết phải gọi thế nào nên mới đành gọi là cô nương. Thật ra là vì quy củ nhà này rất nghiêm khắc, bọn họ chẳng dám tùy tiện kể với ngươi những chuyện thâm cung nội phủ này đâu.”
Nói đến đây thì còn gì mà không hiểu nữa, e rằng nàng chẳng phải thê thiếp chính thất gì, mà chỉ là một người phụ nữ được nuôi ở “ngoại trạch” mà thôi.
Kiếm Bình cúi đầu suy nghĩ, chợt nhớ lại câu nói hôm trước rằng, “ta của ngày xưa cũng giống ngươi của ngày nay”, bèn lên tiếng hỏi: “Hôm ấy phu nhân nói, nhìn thấy ta lúc này lại nhớ đến chính mình ngày trước. Nói như vậy, phu nhân vốn cũng là con nhà lành, bị người ta dùng quyền thế cưỡng đoạt đưa tới đây sao?”
Lúc này Tần Thư lại im bặt, chẳng nói chẳng rằng về chủ đề này nữa: “Đánh cờ đi, đừng nói những chuyện mất vui này nữa. Nhắc lại chỉ tổ khiến ta nhớ đến người thân ở nhà, cả ngày cũng chẳng được yên lòng.”
Kiếm Bình vốn là tiểu thư con nhà quyền quý, từ nhỏ đã được nuôi dạy cùng các ca ca. Có điều, cô bé không được tự do đi lại bên ngoài như các ca ca nên chẳng hiểu thấu sự đời, lại sẵn có tấm lòng hiệp nghĩa thích trừ mạnh giúp yếu, thế nên không nhịn được mà muốn hỏi cho ra lẽ: “Vì sao người không đi báo quan?”
Vừa thốt ra lời ấy, chính cô bé cũng cảm thấy nực cười: “Phải rồi, ngay cả ta khi đụng độ với đám đầu gấu địa phương như thế, nếu không có cha và các ca ca ở bên cạnh thì cũng chỉ nghĩ đến chuyện chạy trốn cho xong, chứ chẳng hề nghĩ tới việc đi báo quan. Nhìn cách ăn mặc của phu nhân, rồi cả cử chỉ phép tắc của đám hạ nhân trong trạch viện này, xem ra còn quy củ hơn cả người hầu nhà ta nữa, e rằng đây không chỉ là phú hộ bình thường mà còn là nhà quyền quý nữa rồi.”
Kiếm Bình im lặng một hồi lâu, rồi khẽ hỏi: “Phu nhân có muốn về nhà không?”
Tần Thư nở nụ cười khổ rồi lắc đầu: “Ngươi nhìn xem, hạ nhân và hộ viện trong trạch tử này có tới mấy mươi người, ngay cả muốn ra ngoài một chuyến còn chẳng dễ dàng, huống chi là trốn về nhà? E rằng đây chính là cái số của ta rồi. Hồi nhỏ đi thắp hương, lão hòa thượng đã nói số ta cả đời phiêu bạt khổ cực, xem ra đúng thật như lời ông ấy nói.”
Kiếm Bình cắn môi, đưa mắt nhìn quanh một lượt, thấy đám thị nữ đều đã lui xuống hết mới nói: “Phu nhân, mấy chuyện số với chả mệnh gì đó đều là lời lừa người cả thôi. Mạng sống của con người đều nằm trong tay mình, lời người khác nói sao mà tin cho được?”
Tần Thư ngẩn người nhìn Kiếm Bình, bộ dạng như thể bị lời nói ấy làm cho chấn động tâm can, hai hàng lệ của nàng lập tức tuôn rơi: “Ngươi nói đúng, mạng người là do chính mình định đoạt. Chỉ là bản thân ta là kẻ vô dụng, e rằng chẳng thể dựa vào chính mình được, chỉ có thể ở cái nơi không thấy ánh mặt trời này mà chịu giày vò cho đến chết thôi.”
Kiếm Bình suy nghĩ một lát rồi hạ thấp giọng nói: “Ta biết phu nhân muốn về nhà, nhưng phận nữ nhi yếu đuối đi đường vốn chẳng an toàn chút nào. Từ nhỏ ta đã được học qua quyền cước, tuy chẳng thấm tháp vào đâu so với thiên hạ, nhưng hai ba kẻ tầm thường cũng chẳng thể áp sát được ta.Phu nhân có ơn cứu mạng với ta, lại giúp ta giải quyết lúc nguy khốn. Nếu phu nhân tin tưởng, ta nguyện hộ tống người về nhà. Cha ta từng dạy, ‘giữa đường thấy chuyện bất bình, phải rút dao tương trợ’, huống chi người lại chính là ân nhân cứu mạng của ta?”
Tần Thư lập tức ngẩng đầu lên, rồi kiên định nói: “Ta nguyện ý về nhà, cho dù có phải chết giữa dọc đường thì ta cũng nhất định phải trở về.”
Kiếm Bình cười đáp: “Cha ta thường nói ta chẳng biết nhìn người, nhưng ta xem kỳ phong của phu nhân, thấy người lỗi lạc khoáng đạt, tuyệt đối không phải hạng tham luyến vinh hoa phú quý. Xem ra lần này ta đã không nhìn lầm người rồi.”
Tần Thư gật đầu, hỏi: “Vết thương của ngươi sao rồi?”
Kiếm Bình đáp: “Đã khỏi hẳn rồi, có thể khởi hành bất cứ lúc nào.”
Tần Thư gật đầu: “Được, ngày kia là lễ Vu Lan, lúc đó phố xá sẽ vô cùng náo nhiệt, cửa thành cũng không đóng, lại không có lệnh giới nghiêm. Đi về phía Trấn Giang khoảng mười hai mươi dặm là có bến tàu, từ đó bắt thuyền đi ngược về hướng Bắc, chỉ tầm bảy tám ngày là có thể đến Tô Châu rồi.”
Kiếm Bình kinh ngạc: “Phu nhân đã tính kỹ từ trước rồi sao?”
Tần Thư gật đầu: “Dù ngươi không đi cùng thì ta cũng đã định tự mình bỏ trốn rồi. Không giấu gì ngươi, kẻ bắt giữ ta là người có quyền cao chức trọng, chỉ vì ta lâm bệnh nặng nên hắn mới tạm thời để ta ở lại đây dưỡng bệnh mà thôi. Hiện tại ta đã ở đây hơn một tháng, bệnh tình cũng dần bình phục, e rằng đám hạ nhân và hộ vệ này sắp đưa ta đi rồi. Nếu lúc này không đi, chỉ sợ sau này có muốn đi cũng chẳng thể đi nổi nữa.”
Đôi mắt Kiếm Bình sáng rực lên, thấy Tần Thư sắp xếp mọi việc đâu vào đấy, trong lòng lại càng thêm phần bội phục. Hai người trò chuyện thêm một lát, bàn bạc kỹ lưỡng một hồi rồi ai nấy về phòng nghỉ ngơi, chỉ đợi đến lễ Vu Lan vào hai ngày sau đó mà thôi.
Đến tối ngày hôm sau, Tần Thư bắt đầu sửa soạn đồ đạc, làm ra vẻ như đang chuẩn bị đón lễ Vu Lan. Vào thời kỳ này, lễ Vu Lan là một ngày vô cùng náo nhiệt, chứ không phải giống như “Tết Quỷ” trong suy nghĩ của người hiện đại.
Lễ Trung Nguyên thời bấy giờ cũng tương tự như Tết Nguyên Tiêu, các cửa tiệm trên phố nhà nhà đều treo đủ loại lồng đèn rực rỡ sắc màu. Ngay cả vào mùa hội ở Nam Kinh, trên sông Ngự còn có hội đèn cầu, du khách dắt díu cả gia đình đi dọc các tuyến phố để thưởng đèn, dùng trà, mãi đến tận nửa đêm mới giải tán.
Đám nha hoàn trong viện cũng đang vây quanh những người thợ được mời tới để học làm hoa đăng. Một lát sau, Xuân Hỷ cầm một chiếc đèn hoa sen tự tay mình làm đến khoe: “Cô nương, người xem này.”
Tần Thư ngồi dưới hành lang, nhận xét: “Trông cũng ra hình ra dáng đấy.”
Người thợ mỉm cười nói: “Thưa phu nhân, chiếc đèn hoa sen này, đợi đến ngày lễ Vu Lan, hòa cùng tiếng tụng kinh của các nhà sư và đạo sĩ mà thả xuống dòng Thanh Hà, chẳng cần phải dùng lửa đốt, thì cũng có thể siêu độ cho những vong hồn quá cố rồi.”
Đám nha hoàn người nào người nấy đều lấy làm lạ: “Lại còn có cả hòa thượng với đạo sĩ nữa cơ ạ?”
Người thợ mỉm cười giải đáp: “Lễ Vu Lan ở Trấn Giang từ trước đến nay vốn long trọng hơn những nơi khác nhiều. Đợi đến tối mai, đám đạo sĩ và hòa thượng từ các đền chùa lớn nhỏ trên núi sẽ đồng loạt xuống phố, đi khắp các hang cùng ngõ hẻm để tụng kinh, lại còn có cả phường nhạc đi theo hộ tống, trông uy nghi và tráng lệ lắm.”
Đám nha hoàn chẳng có lấy một ai là người gốc Trấn Giang, nghe người thợ nói vậy, người nào người nấy đều lộ vẻ phấn khởi, ánh mắt đầy mong chờ nhìn về phía Tần Thư.
Tần Thư mỉm cười: “Có gì đâu, đến lúc đó chúng ta cùng nhau ra ngoài dạo chơi một chuyến là được mà.”
Giang tiểu hầu đứng một bên lên tiếng: “Cô nương, tôi e rằng lúc đó trên phố có quá nhiều người, lỡ đâu có kẻ va chạm mạo phạm đến người. Nếu người thích hoa đăng, đến lúc ấy tôi sai người đi mua vài chiếc về là được.”
Tần Thư lập tức sầm mặt lại: “Hừ, Đại thiếu gia bảo ngươi ở lại đây, lẽ nào là để giam lỏng ta, khiến ta chỗ này cũng không được đi, chỗ kia cũng chẳng được tới hay sao?”
Giang Tiểu Hầu cúi đầu: “Tiểu nhân không dám, là do tiểu nhân nhiều chuyện rồi. Nếu cô nương thực sự muốn đi, chỉ cần phái thêm vài người đi theo hộ tống là được.”
Lúc này Tần Thư mới hài lòng. Nghĩ đến chuyện sau khi rời đi vào ngày mai, chẳng biết bao lâu nữa mới được tắm rửa tử tế, nàng bèn sai người khiêng nước vào, tắm táp gội rửa thật kỹ một lượt. Sau đó nàng bảo nha hoàn lui ra, rồi ngồi trên giường kiểm kê lại toàn bộ ngân lượng và đồ trang sức quý giá của mình.
Những món trang sức mà Lục Trạch ban cho, Tần Thư chẳng dám mang theo món nào, chỉ sợ chúng quá quý giá thì dễ bị nhận ra, nàng chỉ mang theo mấy trăm lượng ngân phiếu vốn có của mình, dùng kim chỉ khâu kỹ vào lớp lót của lớp áo trong.
Đến nửa đêm, Tần Thư đang ngủ say thì cảm thấy có một bờ lưng áp sát vào mình, chóp mũi cao thẳng khẽ cọ vào hõm cổ nàng, một bàn tay cũng chẳng hề quy củ, luồn từ phía dưới vào rồi dần dần mơn trớn khắp nơi.
Lúc này Tần Thư vẫn còn đang ngủ say đến mức mơ mơ màng màng, cứ ngỡ người bên cạnh là anh chàng người yêu “chó con” mới đổi ở thời hiện đại, nàng vỗ vỗ vào bàn tay đang đặt trên eo mình: “Đừng quậy nữa, ta đang buồn ngủ lắm, ngày mai còn có việc quan trọng phải làm.”
Lời vừa dứt, lực cánh tay đang ôm siết lấy Tần Thư bỗng tăng thêm ba phần, bên tai vang lên một câu hỏi lạnh đến thấu xương: “Ngày mai có việc gì quan trọng?”
Trong đầu Tần Thư thầm nghĩ, thật là phiền phức mà, ngày mai đương nhiên là lễ Vu Lan, cái ngày trọng đại để ta bỏ trốn rồi. Vừa thoáng nghĩ đến đó, nàng lập tức tỉnh táo hẳn lại, cả người cứng đờ trong giây lát, rồi vội vàng ngồi bật dậy nói: “Đại thiếu gia, ngài về từ bao giờ thế ạ?”
Lục Trạch đưa tay lên chạm vào mặt Tần Thư, bàn tay hắn lạnh ngắt như băng: “Ta về từ bao giờ thì nàng không cần quản, nhưng câu ‘Đừng quậy nữa, ta đang buồn ngủ lắm’ mà nàng vừa nói lúc nãy, là đang nói với ai hả?”
Tần Thư cố nhìn biểu cảm trên gương mặt của hắn, nhưng trong màn trướng tối đen như mực, nàng chẳng thể thấy rõ được gì, chỉ cảm nhận được bàn tay trên má mình đang từ từ trượt xuống, túm lấy cổ áo nàng rồi kéo mạnh về phía hắn.
“Nàng run rẩy cái gì? Nếu đã không làm chuyện gì có lỗi với ta, thì việc gì phải sợ hãi đến thế này?”
Tần Thư thở hắt ra một hơi, giọng nói vẫn còn hơi run rẩy, nàng chỉ sợ xảy ra sai sót gì khiến mình không thể rời đi vào ngày lễ Vu Lan: “Đại thiếu gia nói vậy là có ý gì? Lẽ nào ngài nghi ngờ ta ‘hồng hạnh vượt tường’ sao? Ta vẫn luôn lâm bệnh, chẳng qua mấy ngày nay mới khỏe lại đôi chút, trong ngoài đều có đám nha hoàn vây quanh, nào có khi nào gặp gỡ người đàn ông lạ nào đâu? Nếu đại thiếu gia không tin, cứ lập tức gọi người vào đây mà tra hỏi cho rõ ràng. Tuy ngài là chủ tử, nhưng cũng không thể nhục mạ người khác như thế chứ?”
Nghe nàng tuôn ra một tràng như vậy, Lục Trạch trái lại còn bật cười ha hả: “Ta cũng chỉ thuận miệng hỏi một câu thôi, tính khí của nha đầu nàng cũng bướng bỉnh quá nhỉ. Bên kia vừa xong việc là ta đã cưỡi ngựa nhanh đến đây đón nàng ngay. Nàng thấy ta chẳng những không biết hỏi han quan tâm, ngược lại còn mắng nhiếc ta một trận, đúng thật là đồ vô lương tâm mà.”
Lại còn cái thói vừa ăn cướp vừa la làng, Tần Thư bĩu môi rồi vặn hỏi ngược lại: “Đại thiếu gia trở về không thèm hỏi xem bệnh tình của ta đã đỡ hơn chút nào chưa, lại đi nghi ngờ ta ‘hồng hạnh vượt tường’. Ta ở đây ngày ngày lo lắng cho ngài, giờ ngài lại bảo ta là đồ vô lương tâm.”
Lục Trạch kéo nàng vào lòng, ôm ấp rồi cười một hồi mới hỏi: “Lúc trở về ta có hỏi Giang tiểu hầu, hắn nói bệnh tình của nàng đã bình phục hẳn rồi, có thật thế không?”
Tần Thư gật đầu: “Chứng ho thì không còn tái phát nữa, chỉ là đại phu nói vẫn phải tiếp tục uống thuốc, tránh để đến mùa đông gặp gió lạnh lại tái phát.”
Lục Trạch nghe xong thì nhất thời tâm tư giao động, một tay lần tìm cởi dải lụa mỏng trên y phục của Tần Thư, luồn vào bên trong chạm phải chiếc yếm bằng tơ lụa. Hắn áp sát người xuống, hỏi: “Yếm của người khác không thêu hoa mẫu đơn thì cũng thêu đôi uyên ương, chỉ riêng nha đầu nàng là chẳng thêu thùa gì sao?”
Lớp áo trong của Tần Thư có khâu giấu ngân phiếu, nàng sợ hắn thô lỗ làm rách hỏng nên đành phải thuận theo tự mình cởi ra. Một mặt nàng vừa trò chuyện để đánh lạc hướng hắn, mặt khác lại lén cởi chiếc áo đó ra rồi âm thầm ném xuống dưới gầm giường: “Nghe ngài nói vậy, hẳn là đại thiếu gia đã từng thấy qua yếm của rất nhiều người rồi nhỉ?”