Chương 3: Quản sự phòng hát
Người biểu ca này tên là Phan Thịnh, là con trai dì cả của Tần Thư, nhưng thực ra giữa hai người không có quan hệ huyết thống, huynh ấy là con nuôi được nhận về. Thời điểm dì cả của nàng đi lấy chồng, cả gia đình đều đang nắm giữ những công việc béo bở trong phủ Quốc công, nên bà đã tìm được một địa chủ giàu có để gả vào, của hồi môn cũng rất hậu hĩnh.
Mỗi lần Tần Thư về thăm nhà đều thường xuyên gặp huynh ấy tìm đến bái phỏng. Phan Thịnh có ngoại hình khôi ngô và chính trực, tính tình lại ôn hòa, gia đình cũng đơn giản, chỉ có hai mẹ con. Ở quê nhà huynh ấy còn có ba bốn trăm mẫu ruộng màu mỡ, nên chẳng thiếu cái ăn cái mặc.
Tần Thư cùng huynh ấy gặp mặt tại nhà, đám họ hàng đều chủ động lui khỏi nội thất, chỉ còn lại hai người ngồi đối diện nhau.
Phan Thịnh cứ thế cúi gầm mặt, dán chặt mắt vào mũi giày, chẳng dám ngẩng đầu lên nhìn Tần Thư lấy một lần.
Tần Thư thấy bộ dạng này của huynh ấy thì không khỏi buồn cười: “Biểu ca làm thế này là ngay cả nhìn thẳng vào muội một lần cũng không muốn sao? Nếu đã vậy thì chi bằng sớm về thưa lại với dì là hơn.”
Phan Thịnh giật mình, vội vàng xua tay rồi đứng phắt dậy: “Không phải, không phải đâu! Ta chỉ sợ mình đường đột mạo phạm biểu muội thôi. Muội là nha hoàn hạng nhất bước ra từ phủ lớn, kiến thức sâu rộng gấp trăm lần những kẻ ở nhà nhỏ môn hộ thấp như bọn ta. Ta chỉ nghe nói ở những gia đình có gia phong lễ giáo, thì các muội cũng không được tùy tiện gặp gỡ nam nhân khác.”
Tần Thư thấy huynh ấy khờ khạo đến mức đáng yêu, liền lấy khăn tay che miệng cười khẽ một tiếng. Thấy người kia mặt mũi đỏ bừng, biết là không thể trêu chọc thêm được nữa, nàng mới hỏi: “Dì có nói với muội rằng sau này mọi việc trong nhà đều do muội làm chủ, chuyện này có thật không?”
Phan Thịnh gật đầu: “Sức khỏe của mẹ không tốt, đương nhiên sẽ không quản những việc này. Bản thân ta từ trước đến nay cũng chẳng có đầu óc kinh doanh, chỉ riêng việc đi thu tiền thuê ruộng ở quê thôi đã thấy quá sức lắm rồi. Nghe mẹ nói, ở trong viện tử biểu muội cũng giúp lão thái thái quản lý sổ sách, so với ta thì muội chỉ có giỏi hơn chứ chẳng kém phần nào.”
Có được lời hứa đích thân từ miệng huynh ấy, Tần Thư mới thấy yên tâm hơn. Nàng khựng lại một chút rồi lại hỏi: “Trước đây muội có nghe người ta nói, ngay cả người bán rong làm thuê ngoài đường phố, hễ phất lên có được dăm ba đồng bạc vụn là cũng muốn nạp thiếp vào nhà.”
Phan Thịnh đáp: “Biểu muội yên tâm, ta tuyệt đối không hề có những ý nghĩ đó. Nói suông thì chẳng đáng tin, ta có thể lập tức viết giấy cam đoan ngay cũng không sao cả. Mọi chuyện trong nhà đều nghe theo ý biểu muội tất.”
Tần Thư nghe vậy cũng không hỏi thêm nữa. Chuyện tương lai chẳng ai nói trước được điều gì, hiện tại có thể hứa hẹn được như thế này e rằng cũng chẳng có mấy người. Chỉ cần bản thân nàng có tiền bạc hộ thân thì cũng chẳng có gì phải sợ cả.
Tần Thư cùng Thần Tú đang mải hàn huyên tâm sự thì bên ngoài có tiếng người gọi lớn: “Bằng Nhi tỷ tỷ, Đại lão gia đến rồi.”
Cả Tần Thư và Thần Tú đều nhíu mày. Thần Tú vỗ vỗ lên tay Tần Thư, bảo: “Cô nương không cần phải ra ngoài đâu, để em ra đuổi khéo ông ta đi là được. Chắc hẳn lại mới uống rượu say sưa ở đâu đó rồi tìm đến đây thôi.”
Tần Thư gật đầu, rồi dặn dò thêm: “Không cần phải đối đầu gay gắt với ông ta, cứ mặc kệ ông ta là được. Nếu ông ta muốn dùng trà thì cứ dâng trà, nhưng tuyệt đối không được đưa rượu ra.”
Tần Thư ngồi lại trong phòng trong một lát, thong thả nhấp một chén trà. Nghe thấy tiếng động ở phòng ngoài đã nhỏ dần, nàng mới vừa kịp nhẹ lòng, chẳng ngờ lại có người đột ngột đẩy cửa xông vào.
Người vừa vào diện một chiếc áo trường bào màu đỏ thẫm thêu họa tiết, tầm năm mươi tuổi, chính là Quốc công gia Lục Trung Hành của phủ này. Ông ta đã uống quá chén, cả người nồng nặc mùi rượu, chỉ tay về phía Tần Thư rồi cười hừ hừ: “Khá khen cho con bé Bằng Nhi nhà ngươi, lão gia ta đến đây mà ngay cả một chén trà ngươi cũng chẳng chịu ra mời.”
Nói xong, ông ta liền sấn tới định nắm lấy cổ tay Tần Thư: “Lại đây, lại đây nào! Lão gia ta mới có được bình rượu ngon và một mặt quạt rất đẹp. Ngươi vốn có đôi mắt đa tình, mau lại đây giám định giúp ta xem.”
Những lời này thực sự quá đỗi khinh bạc, nhất là khi xung quanh còn bao nhiêu nha hoàn và bà tử đang có mặt. Không phải Tần Thư chưa từng nghe những lời khiếm nhã hơn từ miệng ông ta, nhưng đó là khi riêng tư không có người, ông ta cũng chỉ chiếm chút lợi lộc đầu môi chót lưỡi mà thôi, chứ chưa bao giờ giống như hôm nay, dám ra tay lôi kéo nàng ngay trước mặt mọi người.
Tần Thư lập tức hất tay ra, tỏ vẻ vô cùng tức giận: “Đại lão gia định làm gì thế? Tôi chẳng qua là bị nhiễm phong hàn, tìm nơi kín gió ngồi nghỉ một lát thôi. Đại lão gia muốn tôi hầu trà thì cứ sai một tiểu nha hoàn đến gọi là được, chẳng lẽ tôi lại dám lên mặt kiêu ngạo mà không đi sao? Đại lão gia tưởng Lão thái thái không có nhà, uống rượu xong là có thể đến Tĩnh Diệu Đường này mượn rượu làm càn? Việc này mà để chủ tử các phòng đến phân xử, thì làm gì có cái đạo lý con trai lại đến phòng của mẹ mình mà lôi lôi kéo kéo thế này? Tôi tuy là thân nha hoàn nô tài, nhưng cũng biết đạo lý làm người là phải quang minh lỗi lạc. Đại lão gia hôm nay không cho tôi một lời giải thích thỏa đáng, thì tự mình đi mà phân trần trước mặt Lão thái thái! Cho dù Lão thái thái không quản được ông, thì tôi lấy cái chết ra để đổi lại sự trong sạch thì có gì phải sợ?”
Mọi người nghe thấy những lời này đều giật nảy mình. Ngày thường chỉ biết tính nàng hòa nhã, công bằng, chẳng ngờ lại có lúc cương quyết và lẫm liệt đến thế. Thần Tú là người đầu tiên lao đến ôm chặt lấy nàng: “Tỷ tỷ làm gì vậy? Mọi chuyện tự khắc có Lão thái thái làm chủ mà.”
Lục Trung Hành bị mắng một trận như vậy thì cũng tỉnh cả rượu. Ông ta xua xua tay: “Chẳng qua ta thấy ngày thường ngươi hầu hạ Lão thái thái vất vả nên mới muốn ban thưởng chút rượu, thế mà ngươi lại suy diễn vẽ vời ra lắm chuyện như vậy.” Nói xong, ông ta cũng thấy mất hứng, liền dẫn theo tiểu sai rời khỏi viện tử.
Ông ta vốn dĩ là kẻ ham mê tửu sắc, khắp trong phủ hễ thấy ai có chút nhan sắc là lại lén lút tìm cách sấn tới, ngay cả nha hoàn trong phòng của các phu nhân và cô nương cũng không ngoại lệ. Chỉ riêng ở chỗ Lão thái thái là ông ta còn chút lòng nể sợ, không dám ép buộc quá mức. Thêm vào đó, gần đây có ngự sử dâng sớ tố cáo ông ta, ông ta cũng sợ Bằng Nhi thực sự liều mạng đâm đầu tự tử mà chết, thế nhưng trong lòng vẫn chưa chịu từ bỏ ý định, chỉ đang âm thầm tính toán đợi thời cơ mà thôi.
Đám nha hoàn và bà tử trong viện nghe thấy động tiếng đều xúm lại một chỗ hóng chuyện. Thần Tú nhìn thấy cảnh đó không khỏi tức giận, liền xua đuổi đám đông: “Tất cả mau về làm việc của mình đi, giải tán hết đi.”
Thần Tú đóng cửa lại rồi quay đầu nhìn Tần Thư, thấy sắc mặt nàng đã bình lặng như không, chẳng còn chút dáng vẻ kích động lúc nãy, liền lo lắng khẽ gọi: “Cô nương?”
Tần Thư ngáp một cái, rồi quay lại cười với cô ấy: “Đi ngủ đi, không có gì đáng ngại đâu. Nhớ dặn dò các bà tử trực đêm không được uống rượu đánh bạc, phải trông coi cửa nẻo cho cẩn thận đấy.”
Thần Tú biết nàng ngày thường vốn là người kín kẽ, chuyện gì nàng đã không muốn nói thì dù người khác có hỏi thế nào nàng cũng chẳng hé răng, nên đành khép cửa đi ra ngoài.
Tần Thư dời ngọn đèn lại gần, thấy móng tay mình đã bị gãy từ lúc nào. Nàng lấy kéo từ trong giỏ đồ thêu ra, dứt khoát cắt bằng sạch tất cả. Trong lòng nàng thầm nghĩ, dù có ra khỏi phủ Quốc công thì e rằng cũng khó mà trốn thoát. Phủ Quốc công hiện giờ tuy không còn được như xưa, nhưng muốn xoay vần một đứa nha hoàn nhỏ bé như nàng thì vẫn còn dư sức. Chẳng bằng rời khỏi đất Nam Kinh này, tìm đường đến nơi khác mà sinh sống cơn hơn.
Mấy ngày sau, Lão thái thái dẫn theo đám nha hoàn tùy tùng từ chùa Tĩnh Hải trở về. Bà lão vốn là thiên kim tiểu thư của Hầu phủ, cả đời hưởng trọn vinh hoa phú quý, đứa con trai kế tự cũng chẳng dám không hiếu thuận, nên mọi việc trên đời chẳng có gì là không vừa ý bà lão.
Lão thái thái lúc trở về vẫn mặc bộ đạo bào như cũ, trên đầu đội mũ hương diệp, tay cầm bình tịnh thủy bằng sứ trắng, vẩy nước lên người mỗi người một chút rồi cười bảo: “Đây là tịnh thủy mà Thiên sư giao cho ta, cũng để cho đám nha hoàn các ngươi được hưởng chút phúc lành.”
Lão thái thái thời trẻ vốn là người quản lý gia đình nghiêm khắc, lúc về già lại bắt đầu tín ngưỡng thần Phật. Bà chẳng câu nệ là Phật giáo hay Đạo giáo, tháng nào cũng vung tiền ra sắp xếp ổn thỏa cả đôi bên. Một năm thì có đến hơn một nửa thời gian bà lưu lại nơi chùa chiền, hoặc đạo quán để tụng kinh tu đạo, lại còn uống cả đan dược.
Có điều bà bày ra những thứ này trông cũng chẳng có vẻ gì là thành tâm cho lắm. Mỗi tháng bà đều bỏ ra số tiền lớn để cầu đan dược từ đạo quán, nhưng lại chỉ vì chê đan dược đó quá to, quá khó nuốt nên ban thưởng hết cho đám nha hoàn trong viện.
Lần trở về này, bà vẫn mang theo một lượng lớn đan dược như thường lệ, sai nha hoàn mang đi tặng chủ tử các phòng, còn lại một hai viên thì ban cho Tần Thư và Bích Ngân: “Các ngươi cũng nếm thử loại đan dược mới làm này xem, ăn vào có thể giúp tăng tuổi thọ và sống lâu đấy.”
Bích Ngân coi đó như nhận được báu vật, lập tức nuốt chửng ngay tại chỗ, đến nước trà cũng chẳng cần dùng đến. Tần Thư nào có dám ăn mấy thứ đan dược này, chỉ sợ bị ngộ độc thủy ngân, nàng cầm viên thuốc trong tay rồi cười nói: “Lão thái thái, đan dược quý giá thế này quả thực khó tìm. Con vừa mới dùng bữa xong, e là phải để lúc bụng đói thì dùng mới phát huy hết công hiệu ạ.”
Lão thái thái nghe xong liền khen ngợi nàng: “Ngươi nói đúng đấy, loại đan dược này mà trộn lẫn với những thứ ngũ cốc, lương thực thì quả thật là rất không tốt.”
Lần trở về này, Tam phu nhân biết bà là người thích sự náo nhiệt nên đã mở tiệc linh đình, mời cả những đào hát và người kể chuyện có tiếng ở đất Nam Kinh đến, lại gọi cả các nàng dâu lẫn cô nương trong phủ cùng tới góp vui.
Lầu xem kịch của phủ Quốc công có tên là Tiểu Tây Châu, được xây dựng ven mặt nước với những dãy nhà rộng thênh thang, dù có bày ba mươi hay năm mươi bàn tiệc thì vẫn cứ là vừa vặn. Bốn góc mái hiên đều treo đèn lồng thủy tinh mạ vàng, khi đồng loạt thắp lên trông cực kỳ lộng lẫy và huy hoàng. Mọi người dùng xong một lượt rượu thì Lão thái thái mới lên tiếng: “Ngày nào cũng nghe toàn chuyện đế vương tướng soái, có gì thú vị đâu chứ?”
Tứ gia ngồi bên cạnh liền đứng dậy thưa: “Thưa tổ mẫu, con nghe người ta nói phía bên Tô Châu vừa mới cho ra một lối hát Thủy Mặc Khang. Hôm trước con có dịp nghe qua một lần ở phủ Tuyên Vương, quả thực đúng như lời đồn, ‘âm điệu uyển chuyển, du dương xa vời, vượt xa cả ba giọng hát cũ’. Tam tẩu, hay là hôm nay chúng ta cũng cho gọi vào nghe thử xem sao?”
(Thủy Mặc Khang: Chính là tiền thân của Côn Khúc. Đặc điểm của nó là sự mềm mại, trau chuốt, uyển chuyển như mài bằng nước.)
Tam phu nhân mỉm cười: “Chuyện này có gì mà không được chứ.” Nói xong, cô ta liền sai người nhà Mạc Nhị mau chóng đi mời quản sự ban hát đến hỏi chuyện.
Bà tử quản sự của phòng hát khom lưng tiến vào, trước tiên dập đầu thỉnh an, sau đó mới thưa: “Bẩm Lão thái thái và Tam phu nhân, các vở kịch khác thì dễ nói, duy chỉ có lối hát Thủy Mặc Khang này là do Ngụy Lương Phụ – Ngụy lão đại nhân cải biên mà thành, người bên ngoài bình thường cũng không biết hát ạ.”
Biểu cô nương Ngọc Anh tò mò hỏi: “Sao cơ? Làm quan mà cũng hát kịch à?” Không chỉ mình cô ấy thấy lạ, mà ngay cả Tần Thư cũng lấy làm lạ. Xướng ca vốn bị coi là tầng lớp thấp nhất trong xã hội, các vị đại nhân trên triều đình sao lại có thể tự hạ thấp thân phận để làm những việc này?
Vị biểu cô nương này là con gái của một vị cô nương trong phủ Quốc công ở Bắc Kinh. Gia đình đều là võ tướng, nên từ nhỏ cô ấy cũng biết chút quyền cước. Cha mẹ sợ sau này cô ấy khó gả chồng, nên mới sai người đưa đến Nam Kinh, nhờ vị Lão thái thái đức cao vọng trọng trong nhà uốn nắn và quản giáo đôi chút.
Bà tử quản sự khom người thưa: “Ngụy lão đại nhân là quan đã về hưu ở quê nhà, bản thân ông ấy vốn đã đam mê môn này. Ông ấy không trực tiếp hát, nhưng việc soạn nhạc và viết từ thì đều tinh thông cả. Hiện giờ đang nổi đình nổi đám nhất chính là ban hát do gia đình ông ấy tự nuôi dưỡng ạ.”
Lão thái thái nghe xong, suy nghĩ một lát rồi bảo: “Các con đã muốn nghe thì chuyện này cũng không khó, để mai ta sai người đưa thiếp mời tới là được. Nếu quả thực hay như lời đồn, vậy phủ chúng ta cũng tự nuôi một ban hát như vậy đi. Không chỉ để hát kịch, mà đám tiểu cô nương đó đứng trong phủ trông cũng thật mát mắt.”
Nghe Lão thái thái nói vậy, mấy vị cô nương và thiếu gia liền đứng dậy hưởng ứng: “Hay là mỗi người chúng ta tự viết một bức thiếp, để xem ai viết được trang trọng và đúng mực nhất, các vị thấy thế nào?”
Mấy vị tiểu thư và thiếu gia nhỏ tuổi vốn dĩ đã quen với việc so tài kiểu này. Đã nói như vậy thì không đơn thuần chỉ là viết một tấm thiếp mời bình thường nữa, mà nhất định là phải dùng đến lối văn biền ngẫu, câu chữ đối chọi nhịp nhàng. Lão thái thái lại rất thích xem những màn này, thế là trong chốc lát, đám nha hoàn đã nhanh chóng dâng lên bút mực và giấy tuyên thành.
Giữa lúc mọi người đang bàn tán rôm rả thì bên ngoài có một bà tử vào bẩm báo: “Bẩm Lão thái thái, người bên ngoài về báo rằng Đại thiếu gia từ kinh thành đã đến bến tàu rồi, lão gia hiện đã ra đó đón ạ.”
Vị Đại thiếu gia này tên là Lục Trạch, năm nay tính theo tuổi mụ thì vừa tròn ba mươi. Năm mười bảy, mười tám tuổi hắn đã đỗ Trạng nguyên, làm quan bên ngoài hơn mười năm trời, đây mới là lần đầu tiên hắn trở về nhà.
Mọi người cũng cảm thấy vô cùng bất ngờ, cuống quýt chúc mừng Lão thái thái, quả thật hôm nay là một ngày lành để gia đình đoàn tụ.
Lão thái thái lại hỏi thêm: “Đã nói gì chưa? Sao tự dưng lại có thể về nhà được thế này?”
Bà tử kia vốn là người làm việc chu đáo, liền thưa: “Bẩm Lão thái thái, có nói ạ. Lão gia bảo rằng Đại thiếu gia vừa được thăng chức lên làm Tổng đốc Mân Triết, thuyền quan đi ngang qua Nam Kinh nên đặc biệt lưu lại vài ngày để mừng thọ Lão thái thái.”
Tổng đốc Mân Triết, nắm giữ binh quyền cả vùng Giang Nam, đây là quyền thế đến nhường nào cơ chứ. Thế hệ này của Phủ Quốc công thế mà lại xuất hiện một nhân vật có tiền đồ xán lạn đến mức này.
Chương 4: Bình ngọc trắng
Tam phu nhân vội vàng nói: “A Di Đà Phật, Lão thái thái thật là có phúc lớn.” Mọi người vừa đồng thanh nói lời chúc tụng, vừa cho dọn dẹp tiệc rượu, rồi cùng nhau vây quanh dìu Lão thái thái trở về Tĩnh Diệu đường.
Các phu nhân và cô nương đều ở lại bầu bạn với Lão thái thái để đợi người về. Bà lão vốn là người có tính nôn nóng, mới qua một chốc đã liên tục sai người ra ngoài nhị môn hỏi thăm xem đã đến nơi chưa.
Tiểu nha hoàn chạy đi chạy lại đến năm, sáu lần đều báo là vẫn chưa thấy về. Lúc chạy lên bậc thềm, cô bé chẳng may bị vướng vào bệ cửa, ngã đến mức máu chảy đầy mặt.
Lão thái thái vốn kỵ việc ngày lành mà lại thấy máu, cho là điềm không may nên sắc mặt rất khó coi. Tần Thư bưng trà dâng lên cho Lão thái thái, bèn tìm cách nói đỡ cho cô bé: “Những việc chạy đi chạy lại thế này, đáng lẽ Lão thái thái nên sai người như con đi mới phải, con bé tiểu nha đầu ấy thì hiểu cái gì đâu ạ?”
Tần Thư hầu hạ Lão thái thái từ nhỏ nên rất hiểu tính nết của bà. Quả nhiên, lời này vừa thốt ra đã khiến Lão thái thái cũng phải bật cười, bà chỉ tay vào Tần Thư mà mắng yêu: “Các ngươi xem cái con bé láu lỉnh này, đến cả cái việc này mà cũng đòi tranh cho bằng được?” Nói xong liền xua tay đuổi khéo: “Thôi thôi thôi, ngươi mau ra nhị môn mà canh chừng đi.”
Tần Thư bèn dẫn tiểu nha hoàn kia ra ngoài, rồi dặn dò: “Lúc này ai nấy đều bận tối mắt tối mũi, người thì thu dọn phòng ốc, kẻ thì lo chạy việc. Em tự mình về phòng ta tìm thuốc kim thương để cầm máu đi, rồi cứ ở yên đấy đừng có chạy lung tung nữa.”
Cô bé đó lập tức quỳ xuống dập đầu trước Tần Thư: “Bằng nhi tỷ tỷ, kiếp sau dù có làm thân trâu ngựa em cũng sẽ báo đáp tỷ.”
Tần Thư thấy vậy liền mỉm cười lắc đầu: “Chỉ là tiện tay thôi, cũng chẳng cần em phải báo đáp gì. Chỉ mong sau này khi gặp chuyện tương tự, em cũng có thể sẵn lòng giúp người khác một tay như vậy, có được không?”
Cô bé đó ngẩn người ra: “Chỉ vậy thôi sao?”
Thấy bên ngoài bắt đầu lác đác mưa nhỏ, Tần Thư che một chiếc ô trơn, rồi bước chậm rãi về phía trước.
Khi nàng đi qua đó, bà tử gác cổng đang trốn trong đình hóng mát trên núi để tránh mưa. Bốn góc đình treo đèn lồng lưu ly thắp sáng rực như ban ngày. Tần Thư nhíu mày: “Đã uống rượu lười làm mà cũng không biết tìm nơi nào khuất mắt một chút, đèn thắp sáng trưng thế này, cách xa hàng trăm bước thì người ta cũng nhìn thấy rõ mười mươi.”
Bà tử biết nàng chuẩn bị rời khỏi phủ, nên chẳng còn sợ nàng như mọi khi, vừa ợ rượu vừa cười nói: “Bằng nhi cô nương, lão thái thái đã dặn rồi, hễ Đại thiếu gia vừa bước chân vào cửa là phải đi báo ngay. Chúng tôi có ở trên đình này thì mới trông thấy tức thì được chứ. Chúng tôi dẹp ngay đây, ra giữ cửa ngay đây mà. Mong cô lượng thứ cho, tuyệt đối đừng mách với Tam phu nhân nhé.”
Tần Thư ngửi thấy mùi rượu nồng nặc liền lùi lại phía sau: “Ta hơi đâu mà rảnh rỗi đi tố cáo các người?” Nói xong, nàng liền mở ô, cúi đầu nhìn kỹ từng bậc thang rồi thong thả bước xuống.
Lại nói về phía bên kia, trên tuyến Đại Vận Hà Bắc Kinh – Hàng Châu, trăng sáng treo cao, trong khoang thuyền Lục Trạch đang tựa bên ngọn đèn đọc sách. Bên ngoài có hộ vệ vào bẩm báo: “Gia, tuần phủ Hồ xin được cầu kiến.”
Lục Trạch đặt cuốn sách xuống: “Mời vào đi!”
Người đến khoảng năm mươi tuổi, mặc quan bào màu đỏ thẫm, trên áo có bổ tử chim công của hàng tam phẩm. Ông ấy khom người bước vào, rồi vén áo quỳ xuống: “Hạ quan Hồ Nhân Hiến bái kiến Thượng thư đại nhân. Đại nhân vi hành đến đây, hạ quan không hay biết để đón tiếp từ xa, thật là khiếm khuyết lễ tiết, nay đặc biệt đến đây thỉnh tội, mong Thượng thư đại nhân trách phạt.”
Lục Trạch cụp mắt xuống, lật một trang sách với dáng vẻ lơ đãng: “Hà tất phải đa lễ như vậy? Ta dừng chân tại Nam Kinh là vì việc nhà. Chuyện công văn giấy tờ lao lực mệt người, không bàn tới cũng được.” Nói thì nói vậy, nhưng hắn vẫn ngồi vững như bàn thạch, chẳng hề có ý định đứng dậy đỡ Hồ Nhân Hiến.
Hồ Nhân Hiến từng làm quan ở kinh thành, thừa hiểu kiểu người không lộ chút cảm xúc như Lục Trạch thực chất đằng sau lại càng có những thủ đoạn sấm sét kinh người. Ông ấy run rẩy quỳ đó: “Thượng thư đại nhân minh giám, hạ quan vốn là do một tay Hạ tiên sinh đề bạt, lẽ nào lại không biết lợi hại trong đó, chỉ cầu xin đại nhân rộng lòng lượng thứ cho một hai phần.”
Lục Trạch nghe thấy vậy mới đặt cuốn sách xuống, hỏi: “Vương Hiến thế nào rồi?”
Hồ Nhân Hiến chỉ cảm thấy ánh mắt từ phía trên đầu mình sắc lẹm như dao, ông ấy không tự chủ được mà run rẩy: “Tội thần Vương Hiến vẫn còn một chút lòng hổ thẹn, trước đó… trước đó vì sợ tội mà đã tự sát ở trong ngục rồi ạ.”
Lục Trạch nghe xong mà không nói lời nào, hắn gập ngón tay giữa lại, từng nhịp từng nhịp gõ xuống mặt bàn.
Hồ Nhân Hiến quỳ rạp dưới đất, thấy phía trên im phăng phắc thì sợ đến mức chẳng dám thở mạnh. Mồ hôi lạnh cứ thế tuôn ra, ông ấy cũng không dám đưa tay lên lau, cứ để mặc chúng chảy vào mắt làm đôi ngứa ngáy đến kỳ lạ.
Hồi lâu sau, Lục Trạch mới mở lời: “Thật sự là vì sợ tội mà tự sát sao?”
Hồ Nhân Hiến quỳ dưới đất gật đầu lia lịa: “Phải… là sợ tội tự sát…” Ông ấy còn chưa nói dứt câu đã bị Lục Trạch quát ngang: “Hồ Nhân Hiến! Ngươi cũng là tiến sĩ bảng vàng, là môn sinh của Thiên tử, sao giờ đây lại sa đoạ thành hạng chó săn cửa sau cho đám hào tộc Giang Nam, sai ngươi đi hướng đông liền đi hướng đông, bảo ngươi đi hướng tây liền đi hướng tây thế hả?”
Hồ Nhân Hiến nghẹn lời hồi lâu không nói nên lời. Ông ấy nghĩ thầm, nếu Lục Trạch đã chịu gặp mình thì chắc chắn không chỉ đơn giản là muốn xử lý mình. Ông ấy bò lại gần: “Là hạ quan hồ đồ, quá hồ đồ rồi! Cầu xin đại nhân chỉ điểm. Chỉ cần đại nhân có điều sai bảo, hạ quan nhất định sẽ tận lực như trâu như ngựa để báo đáp ạ.”
Đúng lúc đó, bên ngoài có tiếng bẩm báo: “Gia, đại lão gia đã đến rồi ạ.”
Lục Trạch ừ khẽ một tiếng, phất phất tay áo rồi nói: “Ngươi cứ ở đây mà suy nghĩ kỹ mọi chuyện cho thông suốt, không cần vội vã trả lời.”
Nói xong, hắn dẫn người xuống thuyền. Đại lão gia Lục Trung Hành đã đợi sẵn ở bến tàu, Lục Trạch rảo bước tiến lại gần rồi quỳ xuống hành đại lễ dập đầu.
Ngược lại, Lục Trung Hành có chút sợ hãi đứa con trai cả này. Lúc đi mới chỉ là một thiếu niên mười bảy mười tám tuổi, khi trở về đã là một vị Tổng đốc nắm giữ quyền sinh quyền sát trong tay. Ông đi tới đỡ: “Đâu cần đến những nghi lễ khách sáo này, mau trở về phủ thôi, lão thái thái đang đợi đấy.”
Họ lại lên xe ngựa rồi đi thẳng về phía viện tử. Vừa mới vào đến nhị môn, đã thấy trên đình hóng gió nơi hòn non bộ, một thiếu nữ mặc y phục giản dị đang che ô đi tới. Lúc này ánh trăng lung linh, khói mưa mờ ảo, càng làm tôn lên vẻ đẹp mình hạc xương mai, dáng điệu thướt tha của người giai nhân.
Lục Trạch không kìm được mà dừng bước, trong lòng khẽ lay động: Đúng là một cảnh sắc tuyệt mỹ!
Đại lão gia Lục Trung Hành thấy người tới là Tần Thư, bèn vẫy tay: “Bằng nhi.”
Tần Thư bước xuống vài bước, đứng sang một bên hành lễ: “Thỉnh an đại lão gia, đại thiếu gia. Lão thái thái đã đang đợi ở Tĩnh Diệu Đường rồi ạ.”
Đại lão gia gật đầu, rồi dặn dò: “Ngươi mau tới kho, lấy mấy vò rượu Thiệu Hưng ba mươi năm ra đây.”
Tần Thư nhận lệnh, trước tiên qua chỗ lão thái thái thưa lại một tiếng, sau đó đến chỗ Tam phu nhân lấy thẻ bài, bấy giờ mới đích thân dẫn người tới hầm rượu trong kho lấy mấy vò rượu Thiệu Hưng ra. Thế nhưng vừa mới bước ra khỏi cửa kho, nàng đã bị một vị di nương trong phòng đại lão gia chặn đường.
Tần Thư giao mấy vò rượu cho tiểu nha hoàn phía sau, rồi hành lễ: “Thỉnh an di nương.”
Vị di nương này còn kém Tần Thư hai tuổi, tính ra mới vừa tròn mười sáu. Vốn trước kia là người trong gánh hát của gia đình, sau vì quốc tang mà bị giải tán, rồi được phân về các phòng. Sau đó bị đại lão gia quyến rũ. Cách ăn mặc thì lòe loẹt phô trương, nhưng gương mặt lại còn non nớt chưa trưởng thành. Tần Thư nhìn vào luôn cảm thấy nàng ta thật đáng thương.
Di nương nắm lấy tay Tần Thư, bảo tiểu nha hoàn đi lên phía trước, rồi nói: “Bằng nhi tỷ tỷ, ta là người đi trước nên không thể không khuyên tỷ vài câu.”
Tần Thư rủ mắt xuống: “Tôi biết di nương định nói gì, Người cũng không cần phải khuyên tôi đâu.”
Di nương thở dài: “Tỷ từ nhỏ đã lớn lên trong viện tử này, dù là thân phận nha hoàn thì cũng được nuôi nấng trong nhung lụa, vàng ngọc, chưa từng thấy qua việc mưu sinh gian khổ bên ngoài, hay những ngày ăn không đủ no. Hễ có nạn đói, thì chuyện bán con trai con gái là lẽ thường tình. Huống hồ hạng người như đại lão gia, nếu không đạt được mục đích thì làm sao chịu buông tay? Cho dù tỷ có ra khỏi viện tử này để gả cho người khác, chẳng qua cũng chỉ là làm liên lụy nhà người ta mà thôi.”
Bấy giờ Tần Thư mới ngước mắt lên nhìn kỹ nàng ta, trong lòng hiểu rõ đây là đại lão gia mượn miệng người khác để gõ đầu và răn đe mình. Nàng gạt tay ra rồi lạnh lùng nói: “Di nương nói những lời này thật chẳng có nghĩa lý gì. Cổ nhân có câu, hàng ngàn năm nay điều khó nhất trên đời chỉ có cái chết, đến cái chết tôi còn chẳng sợ, thì còn sợ gì những thứ này.”
Tần Thư vội vã trở về Tĩnh Diệu Đường, ngồi thẫn thờ hồi lâu. Trong lòng nàng thầm nghĩ, e rằng mình phải sớm rời khỏi nơi này, tìm đường khác mà sinh sống thôi.
Một tiếng “két” vang lên, cánh cửa mở ra. Bích Ngân bước vào, thấy Tần Thư đang ngồi ngẩn ngơ phát dại liền đẩy nhẹ nàng một cái: “Làm sao mà đi lấy vò rượu thôi cũng khiến hồn siêu phách lạc thế này? Lão thái thái lâu không thấy cô nên đang gọi đấy.”
Tần Thư nói dối một câu, bảo rằng do mình vừa nãy không nhìn đường nên bị ngã một cú, đành vào trong ngồi nghỉ một lát. Sau đó nàng rửa tay rồi cùng Bích Ngân đi ra ngoài.
Đến sảnh Uyên Ương bên cửa sổ hành lang phía ngoài, quả nhiên là một khung cảnh náo nhiệt hoà thuận. Trên bàn tiệc rượu, mọi người đã dùng bữa gần xong, các cô nương và thiếu phu nhân cũng đã lui tiệc, chỉ còn lại mấy vị gia trong phủ quây quần bên lão thái thái.
Tần Thư lặng lẽ bước vào, tiếp lấy công việc từ tay nha hoàn, nàng cầm bình rượu rót cho các vị chủ tử.
Lục Trạch ngồi bên bàn tiệc, lần này khó khăn lắm mới về được nhà nên khó tránh khỏi muốn buông lỏng một phen. Hắn chẳng biết mình đã uống bao nhiêu bát rượu, trong người đã có vài phần men say. Hắn chống tay, mắt hơi nheo lại, một mặt nghe tứ đệ trong nhà đứng dậy dõng dạc đọc bài văn mẫu, mặt khác lại nhìn thấy nha đầu kia cầm bình rượu bạch ngọc chậm rãi bước tới. Đôi khuyên tai bằng bích ngọc chỉ nhỏ bằng giọt sương khẽ lay động theo từng bước chân, nhìn xuống phía dưới chính là chiếc cổ thon dài trắng ngần.
Nha đầu kia tiến lại gần hơn, đưa tay rót rượu, để lộ ra một đoạn cổ tay trắng ngần thanh mảnh. Trong hơi thở, hắn ngửi thấy một mùi hương hoa mật ngọt ngào, khẽ hít hà một chút mới phân biệt được có lẽ là mùi mứt hoa hồng. Trước đây hắn vốn chẳng ưa mùi này, nhưng hôm nay lại thấy nó hợp ý vô cùng.
Lục Trạch nhất thời nhìn đến xuất thần, đến khi quay đầu lại mới thấy lão thái thái đang gọi mình. Bà chỉ tay vào hắn rồi cười nói: “Nhìn cái con mèo say khướt này đi, làm quan bao nhiêu năm nay rồi mà tửu lượng vẫn kém như thế. Hồi thằng bé còn nhỏ, ta dẫn nó đến phủ Kinh đô thăm người thân, không ngờ nó lại tự mình mò vào hầm rượu của lão Quốc công gia, chỉ mới uống một bình nhỏ mà đã say tận ba ngày trời.”
Cả bàn tiệc đều cười rộ lên, ngay cả những tỳ nữ đứng hầu bên cạnh cũng mím môi cười trộm.
Tần Thư đứng một bên, thực sự không tài nào cười nổi, chỉ đành khẽ nhếch khóe môi. Một lát sau đêm đã dần về khuya, nàng lấy áo choàng tới khoác lên vai cho lão thái thái.
Đại lão gia cũng nói: “Lão thái thái, mải nói chuyện mà sắp đến canh ba rồi, người lớn tuổi không nên thức khuya quá. Dù sao thì thằng bé cũng sẽ ở lại mười lăm ngày tới, chúng ta để ngày mai nói chuyện tiếp cũng không muộn.”
Lão thái thái lúc này mới lên tiếng: “Hôm nay về muộn quá, căn phòng gần hòn non bộ mà con thường ở trong viện tử e là chưa dọn dẹp kịp. Con cứ ngủ tạm ở chỗ ta đi, sáng sớm mai tổ mẫu còn có chuyện muốn hỏi con.”
Nói rồi bà quay sang dặn dò Tần Thư: “Bằng nhi, ngươi mau vào hậu trướng chuẩn bị đồ đạc đi, vị chủ tử này của ngươi ngày nào cũng phải tắm rửa đấy.”
Lục Trạch đương nhiên không có ý kiến gì, hắn đứng dậy đi ra phía sau, bước chân đã có chút phù phiếm không vững. Thấy phía xa có một cái đình, hắn bèn ngồi xuống nghỉ một lát rồi vẫy vẫy tay. Một bóng đen lập tức tiến đến quỳ xuống: “Gia!”
Lục Trạch hỏi: “Đã tra rõ chưa?”
Bóng đen kia liền đáp: “Đã tra rõ rồi ạ, có ba việc quan trọng nhất: Một là, Quốc công gia đã mượn danh nghĩa của ngài để cấu kết với các hào tộc vùng Giang Nam, thực hiện việc buôn lậu tơ lụa vải vóc. Hai là, Tam thiếu gia trong phủ vào tháng Chạp năm ngoái, vì một khúc gỗ tử đàn mà đã gửi công văn áp chế tri huyện địa phương, khiến cả gia đình nhà người ta phải chết oan. Ba là, trong trận lũ lụt năm ngoái, Quốc công gia đã lợi dụng mối thâm giao với tri phủ sở tại để cưỡng chế mua hàng chục mảnh đất.”
Vẻ mặt của Lục Trạch vẫn rất bình thản: “Nói tiếp đi.”
Bóng đen không dám che giấu: “Còn có chuyện trong phủ, Tam phu nhân dường như có tư tình với tiểu sai trong phủ, còn Quốc công gia thì ngày nào cũng ghé qua chỗ Nhị cô nương…”
Lục Trạch hừ lạnh một tiếng: “Đúng là hạng súc sinh đi ngược lại với đạo đức làm người! Vậy đám dân nữ bên ngoài, chẳng lẽ lão ta không cưỡng ép chiếm thêm vài người hay sao?”
Bóng đen đáp: “Có hai người, nhưng đều đã đưa tiền bạc bù đắp, chẳng bao lâu sau thì đều lâm bệnh mà chết rồi ạ.”
Bóng đen hơi ngẩng đầu, thấy hơn nửa gương mặt của Lục Trạch đều ẩn trong bóng trăng, hồi lâu sau mới nghe thấy thanh âm lạnh lùng cất lên: “Quả thực là không bằng cả súc sinh, đến cả thê tử kết tóc của mình cũng không màng tới, nói chi đến chuyện khác.”
Lục Trạch hạ lệnh: “Ngươi hãy hạ loại thuốc đó vào cơm nước, không quá một tháng sẽ khiến lão ta miệng không thể nói, chân không thể đi. Rồi tìm một đạo sĩ viết lời phê, đưa vào đạo quán để tu hành thanh tu, ba đến năm năm không cần quay về phủ. Còn những việc khác thì giao cho Tiểu hầu gia Giang đi làm, nhất định không được để lại hậu họa.”
Bóng đen đáp lời, thấy bên phía đình có người đến, nên hắn lại ẩn mình vào trong núi giả.