Chương 35: Chu cô nương
Thành Dương Châu vào tháng Mười vừa trải qua một trận mưa nhỏ, khắp mặt sông lơ lửng một lớp sương mù mỏng manh. Dưới những lớp ngói đen tường đá xám, nước suối chảy xiết dọc theo các con phố, rêu xanh dần len lỏi bám trên những cây cầu đá, cỏ ven bờ dưới bậc thềm vẫn xanh tốt rậm rạp, thỉnh thoảng lại bắt gặp bóng chim yến bay về tổ dưới hiên nhà. Lúc này đang độ hoàng hôn, thương nhân dừng chân, khách bộ hành tìm lối về, từ mái nhà của các hộ gia đình, những làn khói bếp bắt đầu tỏa ra lơ lửng.
Một ngôi nhà nhỏ sát mặt phố vừa treo cờ hiệu lên, một chàng thiếu niên trẻ tuổi đang tháo từng tấm ván cửa xuống. Những người đứng chờ bên ngoài liền nhao nhao hỏi han: “Này hậu sinh nhà họ Chu, sao tiệm đậu phụ nhà cậu hôm nay lại mở cửa muộn thế? Nếu không phải vì chúng ta cứ thích mê cái món đậu phụ kho nhà cậu, thì đã chẳng kiên nhẫn chờ lâu đến thế này đâu.”
Cậu thiếu niên ấy có khuôn mặt nhỏ nhắn, đôi tai chiêu phong, đôi mắt rất to và vóc dáng cực kỳ gầy gò. Cậu ấy chỉ tầm mười lăm, mười sáu tuổi, khoác trên mình chiếc áo vạt hò bằng vải xanh, toát lên vẻ thư sinh nho nhã. Nghe thấy lời phàn nàn, cậu liền chắp tay hành lễ, rồi cất giọng vịt đực đặc trưng: “Thưa các vị láng giềng, hôm nay mẹ cháu về dưới quê dự tiệc rượu, tay nghề của tỷ đệ cháu còn chưa thạo nên có chậm trễ đôi chút. Đậu phụ hôm nay cháu xin phép bớt cho mỗi vị ba đồng tiền, cảm ơn mọi người đã nhọc công chờ đợi lâu như vậy.”
Nghe xong ai nấy đều hớn hở, người này người kia thi nhau khen ngợi: “Hậu sinh nhà họ Chu đúng là bậc đồng sinh đã qua đèn sách, làm ăn cũng phóng khoáng thật đấy. Sau này chắc chắn sẽ đưa cửa tiệm này ngày càng phát đạt cho xem.”
Người đòi mua ba cân, kẻ muốn lấy năm cân, cả đám đông vây kín sạp đậu phụ thành ba tầng trong ngoài náo nhiệt. Đang lúc ồn ào, bỗng từ đâu vang lên một tiếng quát mắng: “Đều là những bậc trượng phu tam tứ tuần cả rồi, lại là trụ cột gánh vác gia đình, người ta phận cô nhi quả phụ buôn bán nhỏ lẻ, mà các ngươi ngay đến mấy đồng tiền đậu phụ mọn cũng muốn tham sao?”
Mọi người đồng loạt ngoái đầu nhìn lại, hóa ra là Ngụy Đại Dũng, trưởng tử nhà gã đồ tể đầu phố phía Tây. Hắn ta có vóc dáng thô kệch, lực lưỡng, một mình hắn chiếm chỗ bằng hai ba người khác cộng lại. Gương mặt hắn để râu quai nón rậm rạp, giữa tiết trời này mà vẫn chỉ khoác một chiếc áo cộc tay mỏng dính, đến cả ống tay cũng chẳng có. Hắn hừ lạnh một tiếng rồi nghênh ngang bước tới trước quầy.
Nhà họ Ngụy này đời đời kiếp kiếp đều làm cái nghề đâm thuê chém mướn, chuyên phụ trách công việc đao phủ trên công đường phủ nha, tướng mạo lại hung thần ác sát, thế nên thấy hắn đến, người xung quanh đều dạt cả ra sau, sợ va phải những oan hồn uổng tử bám theo quanh thân hắn.
Ngụy Đại Dũng móc ra một mẩu bạc vụn: “Chu tiểu ca, cho hai mươi cân đậu phụ, không cần thối lại.” Hắn ta đứng chắn trước cửa quầy, tấm thân hộ pháp che khuất quá nửa lối đi, cứ thế vươn đầu ngó nghiêng vào tận bên trong tiệm, thấy chỉ có mỗi một mình Chu Hoành Sinh thì không khỏi lộ ra vẻ thất vọng.
Mấy kẻ thích hóng hớt đứng từ xa cười trêu hắn: “Này Ngụy đại ca, đừng có ngó nữa, Chu cô nương nhà người ta từ lâu đã chẳng ra ngoài bán đậu phụ nữa rồi, ngươi có nhìn mòn con mắt thì cũng không thấy được đâu.”
Mấy bà thím thích hóng chuyện nghe thấy động tĩnh bên ngoài cũng mở cửa ra cười bảo: “Ngụy gia tiểu ca, ngươi chớ có tốn công trông ngóng nữa. Chu gia cô nương đã nói rồi, phu quân của nàng mới tạ thế, nàng phải giữ đạo thủ hiếu ba năm, hiện giờ tuyệt đối không bàn chuyện tái giá đâu.”
Ngụy Đại Dũng xách túi đậu phụ đi ra, giọng nói oang oang vang động cả một vùng: “Cái gì mà không tái giá? Nữ nhân nói không gả chẳng qua là vì thẹn thùng mà thôi, ta đây chưa từng thấy hạng nữ nhân nào lại thật sự không muốn lấy chồng cả. Họa chăng kẻ không gả được, chỉ có lũ ca kỹ nơi lầu xanh, đến lúc sắc tàn hương phai không ai thèm ngó, đành phải ở vậy bầu bạn với đám người chạy vặt ở chốn lầu viện mà thôi!”
Lời nói này mang chút phong tình thô tục, khiến đám đông xung quanh đều cười rộ cả lên.
Ngụy Đại Dũng liếc mắt thấy Chu Hoành Sinh cứ đứng đực ra đó, mặt mày chẳng có lấy một nét cười, bèn lúng túng chữa thẹn: “Hậu sinh nhà họ Chu này, ta không có ý nói tỷ tỷ của ngươi đâu, ngươi đừng nghĩ ngợi nhiều.”
Chu Hoành Sinh nhếch mép, buông lời mỉa mai đầy châm chọc: “Đương nhiên không phải tỷ tỷ của ta rồi. Tỷ tỷ ta đã từ chối lời cầu thân của ngươi, nếu bảo tỷ ấy là hạng phấn đào nơi lầu xanh, chẳng phải đại ca ngươi đây còn không bằng cả lũ chạy vặt chốn lầu viện hay sao?”
Đám đông xung quanh thấy Ngụy Đại Dũng bị “tịt ngòi” thì lấy làm đắc chí, đồng loạt cười phá lên. Ngụy Đại Dũng tức đến độ mặt mũi biến sắc, hết đỏ lại trắng, chỉ tay vào Chu Hoành Sinh mà mắng: “Mấy cái thằng nhóc mười mấy tuổi đầu thật đúng là mồm năm miệng mười, nể mặt tỷ tỷ ngươi nên ta mới không thèm chấp nhặt với ngươi đấy. Ngươi nói năng với ta thế này thì còn bỏ qua được, chứ mà ăn nói kiểu đó với người ngoài thì có mà ăn vả vào mặt ngay.”
Lúc đó, kẻ thích chọc gậy bánh xe lại cao giọng bồi thêm một câu: “Này Ngụy đại, tiểu ca nhà họ Chu đây là bậc đồng sinh đấy, thấy quan huyện còn không phải quỳ, mà ngươi còn đòi đánh người ta cơ à?”
Ngụy Đại Dũng cười ha hả: “Thằng nhóc này gặp huyện thái gia thì không cần quỳ thật, nhưng sống mười mấy năm rồi chắc gì đã được thấy mặt thái gia lấy một lần. Ta đây tuy gặp thái gia phải dập đầu quỳ lạy, nhưng tháng nào ta chẳng được vào phòng ký giấy tờ của nha môn mà diện kiến?”
Chu Hoành Sinh lập tức sầm mặt lại, cậu nói: “Phải rồi, cái phúc phận tháng nào cũng được dập đầu trước huyện thái gia thì tôi đây quả thực không có.” Nói xong, cậu chẳng thèm đếm xỉa đến ai nữa, thoăn thoắt đóng gói hết chỗ đậu phụ lại rồi nói với đám đông: “Xin lỗi mọi người, hôm nay đậu phụ không bán nữa. Tay nghề của hai tỷ đệ chúng tôi còn kém, làm đậu không ngon, hẹn quý vị hôm khác khi nào mẹ tôi về thì hãy quay lại đây.”
Mấy bà lão thích hóng hớt cười bảo: “Chẳng qua hàng xóm láng giềng trêu chọc vài câu thôi mà, sao cháu lại nổi nóng lên thế?”
Chu Hoành Sinh coi như không nghe thấy gì, tự mình lắp các tấm ván cửa lên, thu lại cờ hiệu rồi đóng chặt cửa lớn.
Ngụy Đại Dũng thấy cảnh đó không những chẳng cảm thấy mất hứng, trái lại còn tự đắc vì cho rằng mình đã lấn lướt được tên nhóc họ Chu kia một bậc. Hắn ta cười rộ lên: “Cái tính nết của nó đúng là hạng ‘cơm sống’ khó nuốt, nhưng chẳng sao, đợi sau này thành người một nhà rồi, ta tự khắc sẽ dạy dỗ bảo ban nó tử tế.” Nói xong, hắn ta chắp tay chào hỏi láng giềng xung quanh một lượt rồi sải bước đi như gió.
Chu Hoành Sinh đóng cửa tiệm xong, ngồi thẫn thờ tự chuốc lấy bực vào thân một hồi lâu, sau đó mới bê khay đậu phụ lớn đi về phía hậu viện.
Tiểu viện này được thiết kế theo kiểu phía trước mở cửa tiệm, phía sau là nơi ở, diện tích cũng không lớn, chỉ chừng năm sáu gian phòng. Cậu vừa bước vào trong sân đã thấy nha hoàn Hạ Hà đang ngồi trên chiếc ghế đẩu nhỏ làm công việc may vá.
Cậu ho khan hai tiếng, lúc này Hạ Hà mới đứng dậy, nhìn thấy cả khay đậu phụ đầy ắp liền hỏi: “Thiếu gia, đậu phụ hôm nay không bán hết ạ?”
Chu Hoành Sinh hừ lạnh một tiếng: “Không bán nữa, giữ lại vài miếng để nhà mình ăn, chỗ còn lại cô mang sang Dưỡng Tế Viện đi.”
(Dưỡng Tế Viện: là một tổ chức từ thiện của nhà nước thời phong kiến chuyên thu nhận người già, người tàn tật và trẻ mồ côi không nơi nương tựa.)
Hạ Hà “vâng” một tiếng rồi bảo: “Thiếu gia, cậu vào thưa với tiểu thư một tiếng đi ạ, nếu tiểu thư không phân phó thì nô tỳ chẳng dám tự ý chạy loạn ra ngoài đâu. Theo ý nô tỳ, mang đồ cho mấy người già ở Dưỡng Tế viện thà rằng để cho Trần bà bà ăn còn hơn. Bọn họ vốn dĩ là hạng già cả không nơi nương tựa mới được đưa vào đó, giờ đây chẳng qua là được ăn no mặc ấm hơn đôi chút, lại cứ thích ra trước cửa phơi nắng, hễ thấy đại cô nương hay tiểu tức phụ đi ngang qua là lại buông lời cợt nhả, thật chẳng biết liêm sỉ là gì!”
Chu Hoành Sinh chẳng còn lời nào để đối lại, đành uể oải đáp: “Tùy ngươi.”
Hạ Hà hừ một tiếng, bước lên phía trước vài bước, đứng ở gian sảnh mà gọi lớn: “Tiểu thư, nô tỳ mang đậu phụ sang nhà Trần bà bà đây ạ!”
Từ bên trong truyền ra giọng nói thanh thúy của một nữ tử: “Ta biết rồi, ngươi đi đi.”
Hạ Hà bèn chọn ra hai miếng đậu phụ từ trong khay đặt vào bếp, vừa kéo tay áo xuống vừa dặn dò: “Thiếu gia, tiểu thư bảo tối nay làm món canh cá diếc nấu đậu phụ, đợi nô tỳ về sẽ nấu ngay. Nếu cậu thấy đói thì có bánh ngọt của tiệm Xuân Thực đấy, cứ ăn tạm một ít nhé.” Nói xong, cô ấy cầm lấy chiếc ô, xách túi đậu phụ rồi bước ra ngoài.
Chu Hoành Sinh dời giỏ kim chỉ trên chiếc ghế đẩu sang một bên, thấy bên trong là một chiếc khăn tay thêu hình hoa tú cầu. Ngồi được một lát, trời lại bắt đầu lất phất mưa, cậu vội vàng thu dọn đồ đạc vào trong nhà.
Cái bụng đã bắt đầu đánh trống reo vang, cậu bèn rảo bước về phía hậu viện. Càng lại gần, tiếng khung cửi dệt vải càng rõ rệt, từng hồi lách cách, lạch cạch.
Chu Hoành Sinh đứng lại, trước mắt cậu là một căn phòng lớn rộng rãi bày bốn, năm chiếc máy dệt, bốn năm người phụ nhân được thuê mướn đang thoăn thoắt tay chân dệt vải. Thấy cậu, mấy người họ đều cười nói chào hỏi, có người bảo: “Sáng nay bà chủ Phùng của tiệm thêu vừa ghé qua, bảo là có tiểu thư nhà quyền quý đang vội gả chồng, cần thêu gấp một bức bình phong, cô nương sang gian nhà bên kia làm việc rồi.”
Chu Hoành Sinh buông một câu khách sáo khô khan: “Mấy vị tẩu tử vất vả rồi”, nói xong liền bước sang gian nhà bên cạnh. Phía giáp bờ sông có để một cánh cửa sổ lớn, lúc này đang được chống lên bằng thanh gỗ, có thể nghe rõ tiếng nước chảy rì rào bên dưới.
Ngồi bên cửa sổ là một thiếu nữ vận y phục màu xanh lục, trước mặt nàng đặt một khung thêu lớn, trên chiếc khay bên cạnh bày la liệt đủ loại chỉ thêu ngũ sắc. Lúc này, đôi bàn tay ấy đang thoăn thoắt đưa kim dẫn chỉ không ngừng nghỉ.
Đây là người tỷ tỷ được tìm thấy từ Nam Kinh vào hồi tháng Bảy, nghe đâu là con gái riêng của bà Chu sinh ra năm xưa tại đó. Nàng đã lấy chồng ở Nam Kinh, nay chồng mất, thân cô thế cô không nơi nương tựa, nên mới nảy ý định tìm về cậy nhờ mẹ ruột của mình.
Chu Hoành Sinh vẫn còn nhớ rõ đó là một đêm mưa lất phất, bên ngoài vang lên tiếng gõ cửa “đùng đùng”. Cậu đang ngồi đọc sách ở bên trong thì bỗng nghe thấy tiếng thốt lên kinh ngạc của mẹ mình: “Con nương của ta ơi, sao con lại đến nông nỗi này?”
Cậu bước ra ngoài, vừa định mở miệng hỏi xem có chuyện gì thì thấy bà Chu đã dắt cô gái ấy vào phòng, chẳng mấy chốc sau đã nghe thấy tiếng khóc nấc truyền ra.
Bà Chu đau đớn khóc rấm rứt hồi lâu, trái lại chính cô gái ấy lại lên tiếng an ủi: “Con không sao đâu mà, giờ chẳng phải đang rất tốt đó sao? Chân tay vẫn nguyên vẹn chẳng sứt mẻ gì. Mắt người vốn đã yếu, nếu lỡ khóc hỏng mắt thì lại là lỗi của con rồi.”
Hai người họ ở trong phòng thì thầm to nhỏ với nhau hồi lâu, rồi bà Chu mở cửa bước ra, bảo với Chu Hoành Sinh rằng: “Đây là tỷ tỷ số khổ của con. Năm xưa khi mẹ còn làm việc trong phủ Quốc công ở Nam Kinh thì sinh ra nó, sau này được chủ tử để mắt tới nên giữ lại hầu hạ. Giờ nó cũng đã lấy chồng, ngặt nỗi chồng lâm bệnh qua đời, bên ấy lại chẳng còn người thân thích nên mới tìm về đây. Tính ra, đây cũng là giọt máu duy nhất còn lại của mẹ.”
Chu Hoành Sinh vốn là con nuôi được đưa về quá kế. Cậu cũng biết chuyện vợ chồng bà Chu trước đây từng làm việc cho một gia đình quyền quý ở Nam Kinh, nhưng tuyệt nhiên chưa bao giờ nghe bà nhắc đến việc mình có một cô con gái, dù chỉ là một chữ cũng không. Từ năm mười tuổi cậu đã được đưa về đây, cha mẹ ruột cũng sớm đổ bệnh qua đời, bởi vậy cậu luôn phụng dưỡng bà Chu như mẹ đẻ. Thấy tình cảnh này, cậu cũng chẳng thắc mắc lấy nửa lời, chỉ nghĩ đơn giản là nhà mình có thêm một người thân mà thôi.
(Quá kế: Tục lệ nhận con nuôi, thường là người trong họ để nối dõi tông đường hoặc chăm sóc khi về già.)
Chu Hoành Sinh bước vào phòng rồi ngồi xuống ghế, bất chợt cậu nhớ lại những lời xì xào bàn tán của đám người trong tộc mỗi khi về quê cúng tổ tiên những năm trước. Họ nói vợ chồng bà Chu vốn làm việc cho một gia đình quyền quý, nhưng vì phạm phải chuyện gì đó nên mới bị đánh gậy rồi đuổi đi, nghe đâu lúc trở về mông bị đánh đến nát bươm. Biết đâu người tỷ tỷ này cũng vì phạm lỗi mà bị đuổi ra khỏi phủ không chừng.
Tần Thư thấy cậu cứ ngồi lặng thinh không nói lời nào, liền dừng kim thêu, rót một ly nước trắng bên cạnh uống một ngụm rồi hỏi: “Có chuyện gì thế này? Lúc đầu thì hăng hái đòi mở tiệm bán đậu phụ, sao giờ mới đó đã dẹp tiệm không bán nữa rồi?”
Giọng nói của nàng có âm hưởng hoàn toàn khác biệt với những người sinh ra và lớn lên tại Dương Châu, đó là thứ Quan thoại phong nhã, thanh tao, loại khẩu âm mà chỉ những người từ nhỏ đã sinh trưởng và được nuôi dạy tại Nam Kinh mới có được.
Chu Hoành Sinh hậm hực đáp: “Tên khốn họ Nguỵ lại tới gây rối rồi, nghe mấy lời thiếu đàng hoàng của hắn ta mà đệ thấy bực cả mình.”
Tần Thư kéo ngăn kéo ra, thay một chiếc đế khâu mới rồi mỉm cười: “Mở cửa làm ăn buôn bán, có ai mà không phải chịu ấm ức đâu. Hắn ta nói mặc hắn ta, đệ cứ bán đậu phụ của đệ, coi như không nghe thấy là xong. Đệ càng để tâm thì hắn ta lại càng lấn tới. Đệ cứ xem như không có chuyện gì, hắn ta làm trò vài ba bận thấy buồn chán thì tự khắc sẽ chẳng đến quấy nhiễu nữa.”
Chu Hoành Sinh thấy động tác trên tay tỷ tỷ mình vẫn không hề dừng lại, gương mặt cũng chẳng chút gợn sóng, liền nói: “Hắn ta nói đệ thế nào cũng được, nhưng miệng lưỡi hắn ta bẩn thỉu, cứ nhắm vào tỷ mà nói nên đệ mới nhất thời không nhịn được.”
Tần Thư mỉm cười: “Thế thì càng không đáng đâu. Ta cứ ở trong nhà, có nghe thấy những lời bên ngoài đó đâu. Gia đình thế nào thì tự có cách mưu sinh thế ấy. Nhà mình đơn chiếc, chỉ có mình đệ đứng ra gánh vác cửa nhà, mà đệ thì vẫn còn nhỏ, người ta nói ra nói vào vài câu thì mình đành phải nhẫn nhịn thôi. Đợi sau này đệ khôn lớn rồi, mọi chuyện tự khắc sẽ ổn hơn thôi mà.”
Chu Hoành Sinh thở dài một tiếng, rồi buột miệng hỏi: “Vậy lúc tỷ ở Nam Kinh, thì tỷ đã sống bằng cách nào?”
Tần Thư có chút ngạc nhiên, thấy cậu nhóc tò mò như vậy nên nàng quyết định nói rõ luôn cho xong: “Lúc ta ở Nam Kinh là làm nha hoàn cho nhà người ta. Chủ tử chưa thức thì ta đã phải đứng đợi sẵn ở cửa, chủ tử ngủ rồi thì ta mới được phép mặc nguyên quần áo mà nằm chợp mắt trên cái bục dưới chân giường. Nếu được chủ tử yêu mến một chút thì sẽ bị kẻ dưới căm ghét, một nhóm người kết bè kết phái để bài xích mình. Chẳng may phạm lỗi, không nói đến chuyện bị ăn gậy, thì việc phải quỳ giữa trời tuyết vài canh giờ cũng là chuyện thường tình. Người ta là hào môn quý tộc có thủ đoạn gì, thì cũng chẳng liên quan đến một đứa nha hoàn như ta.”
Chu Hoành Sinh nghe vậy liền nhìn Tần Thư, vẻ mặt đầy hối lỗi và ngượng ngùng: “Tỷ tỷ, đáng lẽ đệ không nên khơi lại chuyện buồn của tỷ. Nhưng mà từ nay về sau nhà chúng ta là một gia đình, đệ nhất định sẽ không để ai ức hiếp tỷ nữa đâu.”
Tần Thư bèn đáp: “Tuy chúng ta không cùng một cha mẹ sinh ra, nhưng đều mang họ Chu, cùng là người một họ. Đệ được quá kế về đây, lại phụng dưỡng mẹ suốt bao nhiêu năm trời, ta đương nhiên cũng sẽ coi đệ như đệ đệ ruột mà đối đãi.”
Chu Hoành Sinh gật đầu thật mạnh rồi mỉm cười, nét mặt lộ rõ vẻ trẻ con: “Tỷ tỷ, đệ nhất định sẽ chăm chỉ học hành, sau này thi đỗ lấy công danh để không ai dám ức hiếp tỷ và mẹ nữa.”
Cậu nhóc tuổi đời còn nhỏ, nhưng đúng là “con nhà nghèo sớm biết lo toan”, lúc nào cũng cố tỏ ra bộ dạng như một người lớn thực thụ, chứ tính ra ở thời hiện đại thì cũng chỉ là một học sinh trung học mà thôi. Tần Thư nhớ lại hồi mình bằng tuổi cậu ấy, lúc ấy nàng còn đang vắt óc nghĩ đủ mọi cách để trốn làm bài tập, dành thời gian xem phim hoạt hình nhiều hơn một chút.
Hai người nói chuyện cởi mở với nhau, ngồi ăn điểm tâm một lát thì thấy bà Chu che ô từ bên ngoài trở về.
Lần về quê này bà mặc một bộ đồ lụa mới may, vải vóc đã được mua từ sớm, chính tay bà cắt may tỉ mỉ, lại còn lấy cả chiếc vòng tay bạc nặng tới hai lượng vốn cất kỹ dưới đáy hòm ra đeo vào.
Tần Thư và Chu Hoành Sinh nghe thấy tiếng động liền nhìn ra ngoài, chỉ thấy búi tóc của bà Chu đã xõa rượi, vạt váy lấm lem bùn đất quá nửa, nhìn kỹ lại thì trên mặt còn bị cào mấy vết máu, cả người trông vô cùng nhếch nhác.
Chu Hoành Sinh giật bắn cả mình, vội chạy ra đỡ bà: “Mẹ, chẳng phải mẹ về quê thăm họ hàng sao? Mẹ đi đánh nhau với ai ở đâu thế này?”
Chương 36: Đường Tú Nương
Chu đại nương đứng ở bên ngoài, dùng một thanh nan tre nạo sạch lớp bùn dày bám dưới đế giày rồi mới bước vào nhà. Bà uống liền một mạch hai tách trà lớn, bấy giờ mới chống nạnh nói: “Cái mụ già cay nghiệt đại bá nương của con đấy, ta vốn đã chẳng coi ra gì từ lâu rồi. Trước đây mụ ta cứ cậy mình có cái danh dâu trưởng mà hở ra là tìm cách gây hận chuốc vạ cho ta, lần này về quê ta đã cho mụ ta một bài học nhớ đời rồi.”
Bà Chu vốn có diện mạo không mấy ưa nhìn với khuôn miệng hơi nhô và hai chiếc răng hô. Năm xưa khi còn ở trong phủ, bà chỉ là chân chạy việc vặt ở nhà bếp lớn ngoài viện, vốn dĩ chẳng giữ lại được lâu. Nhưng nhờ có một lần lão thái thái khen món canh đậu phụ bà làm rất ngon, nên bà mới được chỉ định gả cho người trong phủ rồi ở lại làm bà tử.
Cứ thế trôi qua vài năm, một ngày nọ khi đang mang cơm canh đến viện của Tam thiếu gia, bà Chu vô tình bắt gặp Tam thiếu gia đang lén lút tư thông với vợ của Võ Đại. Tam thiếu gia vốn dĩ sợ Tam thiếu phu nhân như sợ cọp, lo chuyện vỡ lở ra ngoài nên đã đổi trắng thay đen, vu cho bà Chu tay chân hậu đậu làm vỡ chiếc chén lưu ly do phủ Vũ Vương ban tặng, rồi đòi bán bà cho người khác.
Khi ấy Tần Thư cũng chỉ mới mười ba, mười bốn tuổi, trong lòng nàng hiểu rõ ngọn ngành câu chuyện, lại thấy bà Chu đáng thương nên mới thưa với Tam thiếu phu nhân rằng: “Người hầu này cũng chẳng tiếc rẻ gì, hiềm nỗi lão thái thái từng khen bà ta một câu. Trong phủ chúng ta xưa nay chỉ có mua người vào chứ hiếm khi bán người đi, vả lại nếu bán bà ta đi, khó mà bảo đảm bà ta không thêu dệt chuyện xấu về phủ. Chi bằng cứ đánh cho mấy bản tử, rồi không chỉ bà ta mà ngay cả chồng bà ta cũng được trả lại văn khế bán thân, cho bọn họ về quê cũ. Như vậy chắc chắn họ sẽ giữ mồm giữ miệng, không dám nói năng bậy bạ đâu ạ.”
Thời điểm đó, Tần Thư vừa mới tiếp quản chìa khóa kho của Lão thái thái. Tam thiếu phu nhân thấy nàng lên tiếng xin giùm thì cũng phải nể mặt vài phần, liền nắm lấy tay nàng nói: “Tỷ tỷ tốt của ta, ta mới gả vào đây nên chưa hiểu hết mấy chuyện này, đa tạ tỷ đã nhắc nhở. Đã là người được lão thái thái từng khen thì chúng ta cũng nên nể trọng đôi chút. Có điều bà ta quả thật đã phạm lỗi, cứ theo lời tỷ nói, đuổi ra khỏi phủ là xong, coi như cũng vẹn toàn lòng từ bi của môn đệ nhà ta.”
Tần Thư đã đích thân tiễn phu thê bọn họ ra khỏi viện tử, lại còn bỏ tiền túi đưa thêm mười lượng bạc cho họ, xem như là làm một việc thiện tích đức.
Chính vì mối duyên nợ năm xưa ấy, khi đang ở phủ Trấn Giang và muốn tìm một nơi nương thân để ẩn náu trong một, hai năm, Tần Thư đã lập tức nghĩ ngay đến người thật thà như bà Chu.
Bà Chu vốn dĩ chẳng có chút duyên nào với những tiêu chuẩn thẩm mỹ thông thường, dáng người bà thô kệch, vai u thịt bắp. Thấy Tần Thư lại đang mải miết thêu thùa, bà chép miệng chê trách: “Sao chẳng thấy con nghỉ tay lúc nào thế? Chẳng nói đâu xa như ta bán đậu phụ, ngay đến mấy ông đồ tể giết lợn ngoài phố mỗi tháng cũng còn nghỉ một ngày kia mà? Ôi dào, cứ làm ngày làm đêm thế này, cẩn thận chưa đến ba mươi tuổi đầu đã hỏng hết cả mắt rồi.”
Tần Thư đặt kim chỉ xuống, nàng mỉm cười hỏi: “Mẹ về quê làm gì thế ạ? Sao mà trông mẹ vui vẻ thế này?”
Bà Chu nghe Tần Thư gọi mình là “mẹ”, dù đã trôi qua mấy tháng rồi vẫn có chút chưa quen, nhưng hễ nhắc đến chuyện ở quê là bà lập tức phấn chấn hẳn lên: “Hai tỷ đệ nhà con hôm nay thật sự nên đi cùng ta, để tận mắt nhìn xem cái bản mặt nịnh giàu đạp nghèo của lão thái công, rồi xem cả cái mặt của đại bá mẫu nhà các con bị chọc cho tức đến tím tái như gan lợn ấy. Chà chà, thật là hả dạ, còn bổ béo hơn cả ăn nhân sâm phương Bắc nữa cơ.”
Bà Chu hiện tại kiếm sống bằng nghề bán đậu phụ, còn Tần Thư làm việc thêu thùa, mỗi tháng lại đưa thêm cho bà một lượng bạc để chi tiêu trong nhà. Cộng thêm khoản thu nhập từ ruộng đất được chia ở quê, cuộc sống của họ bây giờ đã khấm khá và thong thả hơn trước rất nhiều.
Bà Chu thong thả vắt chân chữ ngũ, rồi kể tiếp: “Lão thái công nói là muốn tu sửa mộ tổ, nhà nào cũng phải đóng góp bạc tiền. Ta thì chẳng nề hà gì chuyện đó, chỉ có điều năm xưa đại bá mẫu nhà con cứ chỉ tận mặt mà chửi ta không phải người nhà họ Chu, vậy thì cớ gì ta phải bỏ tiền ra? Ta nhất quyết bắt mụ ta phải rót trà tạ lỗi với ta, thì ta mới chịu xuất tiền.”
Hạ Hà đi đưa đậu phụ từ bên ngoài trở về, vừa vỗ tay vừa cười nói: “Đại nương, phải như thế mới đúng chứ! Cứ phải vỗ thẳng vào mặt bọn họ một vố thật đau, nhà mình đâu phải hạng để người ta muốn bắt nạt là bắt nạt đâu.”
Cô ấy vốn không phải người nhà này, mà là dân tị nạn từ phương Bắc chạy tới. Cả nhà đều đã chết sạch, chỉ còn lại mỗi mình cô ấy đơn độc, bà Chu thấy tội nghiệp nên mới nhận về cưu mang trong nhà.
Bà Chu cười ha hả, gật đầu tán thưởng: “Ngươi nói chí lý! Lần sau ta sẽ dắt ngươi theo cùng, để ngươi tận mắt chứng kiến cho bõ ghét.”
Tần Thư dở khóc dở cười khuyên ngăn: “Dẫu sao cũng là người một nhà, tuy có lời qua tiếng lại nhưng ruộng vườn dưới quê vẫn phải nhờ cậy người ta trông nom giúp, mọi người đừng làm quá gay gắt mà hỏng việc đấy ạ.”
Chu Hoành Sinh cũng đồng tình: “Mẹ à, tỷ tỷ nói đúng đấy ạ. Nếu mình làm họ phật ý quá mức, đến lúc gieo mạ người ta chỉ cần giở chút thủ đoạn thôi là mấy mẫu ruộng nước của nhà mình coi như mất trắng, chẳng thu hoạch được gì đâu.”
Tần Thư thấy bà vẫn còn chưa xuôi cơn giận, liền bưng một tách trà đến khuyên giải: “Cũng không cần thiết phải tranh cãi lời ra tiếng vào làm gì. Cứ mỗi năm đến dịp tế tổ, mẹ cứ ăn vận thật lộng lẫy và sang trọng mà về quê, bấy nhiêu thôi cũng đủ khiến đại bá mẫu mất ăn mất ngủ rồi. Hiện giờ mẹ sống sung túc hơn đại bá mẫu, mẹ càng sống tốt bao nhiêu thì bà ấy lại càng hậm hực bấy nhiêu.”
Bà Chu nghe xong liền vỗ tay khen hay: “Câu này nói chí lý thật! Để xem ta về đó phô trương vài lần, có làm mụ già đó tức chết không.”
Đến lúc phố xá lên đèn vào buổi tối, mấy người phụ nhân được thuê dệt vải cũng đã tan làm về nhà. Hạ Hà tự mình xuống bếp nấu cơm, chỉ xào vài đĩa thức ăn đơn giản, rồi bưng bát canh cá diếc nấu đậu phụ đặt vào chính giữa, múc cho mỗi người một bát lớn: “Đại nương, tiểu thư, thiếu gia, mọi người nếm thử món canh này đi ạ. Nô tỳ làm đúng theo cách tiểu thư chỉ, nước canh hầm ra quả nhiên có màu trắng sữa thế này đây.”
Tần Thư nếm thử một ngụm, đương nhiên không quên khen cô ấy một câu: “Rất ngon.” Rồi nàng quay sang nói với bà Chu: “Con nghe người ta bảo, Ôn Lăng tiên sinh đang giảng học tại thư viện Vạn Tùng ở Hàng Châu, con muốn dẫn Hoành Sinh đến đó xem sao. Người ta thường nói ‘đọc vạn cuốn sách không bằng đi vạn dặm đường’, cũng nên để đệ ấy ra ngoài mở mang tầm mắt với những sĩ tử khác. Không biết ý mẹ thế nào ạ?”
Chu Hoành Sinh cũng phụ họa theo: “Con nghe nói Ôn Lăng tiên sinh này là bậc đại tài, trước đây từng làm Tri phủ ở Vân Nam. Mỗi lần ông ấy giảng bài, số người đến nghe đông tới hàng ngàn người.”
Bà Chu tự biết mình không có kiến thức sâu rộng như Tần Thư, nay thấy nàng đề xuất như vậy, lại nhìn thấy vẻ mặt khao khát muốn đi của Chu Hoành Sinh, bà liền gật đầu: “Hai đứa đã muốn đi thì ta đương nhiên là đồng ý. Chỉ là ta e đường xá xa xôi không an toàn, mà chi phí đi lại chắc cũng tốn kém lắm.”
Chu Hoành Sinh nhìn sang Tần Thư, nàng mỉm cười đáp: “Mẹ không phải lo chuyện đó đâu ạ, món đồ thêu trên tay con đây chỉ tầm bảy tám ngày nữa là xong rồi. Vì là hàng đặt gấp, họ đang cần gấp nên trả cho con tận năm lượng bạc, đó là còn chưa tính tiền tơ sợi đấy.”
Hồi Tần Thư mới đến Dương Châu, đồ nàng thêu chẳng có nơi tiêu thụ, phải nhờ bà Chu nhờ vả người quen cho gửi bán ở các cửa tiệm. Khi ấy, dù làm lụng không ngơi nghỉ chút nào, mỗi tháng nàng cũng chỉ kiếm được một, hai mươi lạng bạc vụn. Giờ đây, khi đã dần quen thuộc với nơi này và quen biết nhiều tiệm thêu hơn, lại thêm việc Tần Thư chủ động nhường bớt lợi nhuận, nên mỗi tháng nàng cũng kiếm được ba, bốn lượng bạc, đủ để chi tiêu trong nhà mà vẫn có dư dả.
Bà Chu giật mình kinh ngạc: “Là hộ nào mà ra tay hào phóng vậy con? Nếu mà giữ được mối lâu dài, cứ nhận việc của nhà người ta thì chẳng phải tốt quá sao?”
Tần Thư đáp: “Dạ, là tiểu thư nhà họ Tống buôn muối ạ. Những gia đình như họ vốn dĩ chẳng đời nào đi mua đồ thêu bên ngoài. Chỉ là con nghe nói vị tiểu thư này xuất giá gấp quá, thợ thêu trong nhà làm không xuể nên họ mới tìm đến con đặt một bức bình phong thêu. Cũng nhờ bà chủ tiệm thêu nâng đỡ chiếu cố mối này cho con, nên chắc mai mốt con phải chuẩn bị chút quà cáp qua nhà cảm ơn người ta một tiếng.”
Bà Chu nghe xong liền tặc lưỡi: “Con gái nhà buôn muối à? Chỉ sợ chẳng biết là loại ‘ngựa gầy’ mua ở đâu về, rồi định mang đi cung phụng cho vị nào đây?”
(Ngựa gầy: chỉ những cô gái nhà nghèo xinh đẹp, được mua về dạy dỗ để tặng cho các quan lại và quý tộc thời xưa.)
Tần Thư dĩ nhiên hiểu rõ “ngựa gầy” này là gì, chỉ có Hạ Hà là không biết, cứ tròn mắt lên hỏi: “Cái gì cơ ạ? Tặng người ta một con ngựa gầy mà còn phải thêu cả bình phong gửi kèm theo sao?”
Bà Chu vỗ nhẹ vào đầu Hạ Hà: “Ta đang nói chuyện với tiểu thư, ngươi xen mồm vào cái gì? Ăn cơm của ngươi đi.”
Sau khi cơm nước xong xuôi và tắm rửa sạch sẽ, bà Chu vẫn nán lại trong phòng Tần Thư một hồi lâu để giết thời gian. Bà hạ thấp giọng nói: “Bằng Nhi cô nương, hôm nọ có một gã thương nhân hành hương đi ngang qua Nam Kinh, ta có nhờ hắn ghé qua nhà cô xem thử. Hắn bảo thấy trước cửa nhà cô có người canh gác nghiêm ngặt lắm. Gã thương nhân ấy cũng chẳng dám lại gần hỏi han, chỉ đứng ở đầu phố quan sát một lúc. Người trong nhà thì vẫn bình an, không thấy có biến cố gì lớn.”
Tần Thư khẽ thở dài một tiếng: “Được vậy thì tốt quá, chỉ sợ lại làm liên lụy đến bọn họ.”
Bà Chu cẩn thận khép cửa lại, rồi thấp giọng khuyên nhủ: “Tính ra từ lúc cô trốn thoát đến nay cũng đã hơn ba tháng rồi. Bên ấy chẳng biết còn định cho người canh giữ đến bao giờ, xem chừng không phải chuyện dễ dàng buông tay đâu. Cô nương à, không phải tôi lắm lời, nhưng cô cũng nên sớm tính kế lâu dài đi thôi. Chỉ e lỡ có sơ hở chỗ nào, người ta lần ra được dấu vết tìm đến tận đây thì khốn.”
Tần Thư lặng lẽ nhìn ánh nến lung linh mà không nói lời nào, lại nghe bà Chu bên cạnh lải nhải: “Bằng Nhi cô nương, xét theo lý mà nói, với dung mạo và tài năng của cô, dù là gả cho mấy ông địa chủ có vài trăm mẫu ruộng thì vẫn còn dư dả chán. Thế mà từ lúc đến chỗ ta, ngay đến một chỗ tử tế cũng chẳng có. Ta nói ra cách này, nếu có gì không phải thì cô đừng có giận nhé.”
Tần Thư đáp: “Người cứ nói đi ạ.”
Bà Chu nói: “Phủ đệ bên ấy chẳng biết lúc nào sẽ tìm đến đâu, tốt nhất là cô nương nên tìm một gia đình tử tế mà gả đi cho rồi. Một khi ván đã đóng thuyền, lẽ nào vị đại thiếu gia kia còn dám bắt cóc cô về sao? Những người khác thì không nói, nhưng có vị Vương thư lại ở phủ đường, chính là người đã giúp cô làm hộ tịch đấy. Ngài ấy là người Dương Châu gốc, biết chữ nghĩa, nhà đời đời đều làm nha lại trong nha môn, gia sản cũng chẳng phải dạng vừa. Đáng quý hơn cả là ngài ấy là người tốt; người vợ trước lâm bệnh, ngài ấy đã bỏ ra cả một hai trăm lượng bạc để chạy chữa mà chẳng hề nửa lời oán thán…”
Tần Thư ngắt lời bà, tìm đại một cái cớ: “Đại nương, có chuyện này ta chưa nói với bà. Trước kia khi còn theo hầu Đại thiếu gia, lần nào ta cũng phải uống canh tránh thai, tính ra ít nhất cũng đã uống không dưới mấy chục bát rồi. Ta đã tự mình lén đi khám thầy thuốc, loại thang thuốc đó dược tính rất mạnh, ta… đã không còn khả năng sinh con được nữa. Mỗi tháng đến kỳ kinh nguyệt, ta đau đớn đến mức không chịu nổi, đó chính là chứng bệnh để lại từ hồi uống canh tránh thai ấy.”
Bà Chu nghe xong mà bàng hoàng như bị sét đánh ngang tai, bà buông một tiếng thở dài thườn thượt: “Lũ người trời đánh thánh đâm ấy, sao mà chúng nó thất đức, hại người đến nông nỗi này cơ chứ! hèn chi mấy tháng nay cứ có người đến dạm hỏi là cô đều gạt đi bảo không muốn, tôi cứ ngỡ là do cô có yêu cầu cao, hóa ra lại là vì lẽ này. Cái đám nhà giàu cửa cao nhà rộng ấy, vốn dĩ có coi đám người hầu kẻ hạ là con người đâu. Cứ tưởng ai ai cũng muốn trèo cao bám víu vinh hoa phú quý, đã bắt con gái nhà người ta làm cái việc ấy, lại còn chẳng cho người ta sinh con đẻ cái, cứ thế mà làm hỏng hết cả thân xác người ta rồi.”
Bà vừa nói vừa nhớ lại những chuyện đau lòng của chính mình thuở còn ở trong phủ, thế là vừa chửi rủa vừa khóc nức nở. Ngược lại, Tần Thư phải đặt đồ thêu trên tay xuống để an ủi bà: “Đừng bận tâm chuyện trước kia thế nào nữa, giờ chúng ta sống tốt là được rồi. Dẫu sao mọi người vẫn còn giữ được mạng sống, chứ trong cái phủ ấy chẳng biết có bao nhiêu người đến mạng cũng không còn, tính ra chúng ta vẫn còn là may mắn lắm.”
Bà Chu khóc một hồi lâu, vừa sụt sùi vừa nấc lên một tiếng: “Cũng đúng, chúng ta giờ có cái ăn cái mặc, tính ra vẫn hơn khối người. Chỉ là vị Vương thư lại kia một lòng thành tâm, con người lại thực sự quá tốt, thật là đáng tiếc…”
Cảm xúc của bà đến nhanh mà đi cũng vội, bà lau nước mắt rồi chuẩn bị về phòng ngủ, không quên dặn dò: “Cô nương nhớ đóng kỹ cửa nẻo, kẻo mấy tên lưu manh vô lại ngoài phố phía bên kia sông lại dòm ngó vào phòng đấy.”
Đợi bà Chu đi khỏi, Tần Thư thắp đèn dầu lên làm thêm một canh giờ thêu thùa nữa, sau đó mới tắt đèn lên giường nghỉ ngơi.
Sáng hôm sau, khi trời vừa hửng sáng, bà Chu đã thức dậy, dẫn theo Hạ Hà lúi húi rửa dọn trong sân để chuẩn bị làm đậu phụ. Bà mang chỗ đậu đã ngâm kỹ ra đãi lại một lượt rồi bảo Hạ Hà: “Hạ Hà, ngươi vào nhóm lửa đi.”
Đến lúc Tần Thư thức giấc, cả sân đã sực nức mùi đậu thơm lừng. Nàng khoác thêm chiếc áo rồi bước ra, vừa vặn thấy Hạ Hà đang bưng một bát sữa đậu nành nóng hổi: “Tiểu thư, người mau uống bát sữa nóng này đi, đây là nước đầu tiên của mẻ này đấy, bổ dưỡng lắm.”
Tần Thư bưng bát lên hớp một ngụm, vị vừa thơm vừa thanh ngọt, chẳng chút mùi nồng của đậu sống. Nàng đứng tựa cửa bếp, thấy bà Chu bị hơi nước bốc lên làm cho gương mặt đỏ hồng rạng rỡ, bà đang xắn tay áo chuẩn bị đổ nước muối vào chảo lớn để kết tủa đậu phụ.
Bà Chu thoáng thấy nàng liền vội xua Tần Thư ra ngoài: “Trong này ám mùi khói lửa lắm, nhỡ đâu lại ám hết vào quần áo thì khổ. Con ra ngoài nghỉ ngơi đi, ta làm loáng cái nửa canh giờ là xong ngay ấy mà.”
Tần Thư liền khuyên bà: “Việc làm đậu phụ này mỗi ngày đều vất vả như vậy mà cũng chỉ kiếm được hơn trăm văn tiền. Mẹ cứ ngủ thêm một chút, giữ gìn sức khỏe còn đáng giá hơn số tiền này nhiều.”
Bà Chu cười ha hả một tiếng: “Ta mới có hơn bốn mươi chứ mấy, sao mà ngồi không được, để lâu là xương cốt lười biếng đến hỏng hóc hết cả đấy. Đợi đến khi ta năm mươi tuổi, để hai tỷ đệ con phụng dưỡng tuổi già cũng chưa muộn mà.”
Tần Thư vừa uống xong bát sữa đậu nành và đang định bước ra ngoài thì thấy Hạ Hà mở cửa, dẫn một người đi vào.
Vị khách đến là một cô nương tầm mười lăm mười sáu tuổi, khoác trên mình bộ tầm y màu hồng đào bằng lụa, tóc búi kiểu song nha, trên đầu đeo một chiếc vòng anh lạc làm bằng vàng vụn tinh xảo. Vừa trông thấy Tần Thư, cô nương ấy liền hành lễ trước, rồi mỉm cười hỏi: “Xin hỏi, đây có phải là Chu cô nương không ạ?”
Tần Thư gật đầu đáp lễ: “Không dám nhận lời xưng hô ấy, tôi đã xuất giá rồi, cứ gọi tôi là Chu nương tử là được.”
Vị cô nương kia liền mỉm cười nói tiếp: “Chu nương tử, lão thái thái nhà tôi hôm qua đã xem qua mẫu thêu của nương tử, bà thích lắm. Bà bảo đường kim mũi chỉ không giống kiểu cũ thường thấy ở Dương Châu ta, mà trông lại giống lối thêu cung đình của quan lại ở Nam Kinh ấy. Vừa hay, nhà phu quân của tiểu thư nhà tôi cũng có tổ tịch ở Nam Kinh, nên muốn mời nương tử qua phủ dạy tiểu thư học thêu.”
Bà Chu vừa nghe thấy vậy liền vội vã đon đả chạy ra, vừa giục Hạ Hà bưng trà, vừa lăng xăng dọn bánh trái: “Chẳng hay quý phủ ở đâu? Được như vậy thì thật là vinh hạnh cho nhà chúng tôi quá.”
Tần Thư lại có ý muốn thoái thác, nàng nói: “Tôi hiện vẫn đang trong thời gian để tang, mà tiểu thư quý phủ lại đang có hỷ sự, chỉ e sự hiện diện của tôi sẽ mang lại điều không may, làm mất đi cái vận đỏ của tiểu thư thôi.”
Cô nương kia nghe xong liền cười bảo: “Nhà chúng tôi vốn chẳng kiêng dè mấy chuyện đó đâu, nếu mà tin thì sao lão thái thái còn dám nhờ Chu nương tử thêu bình phong cho được? Lão thái thái cũng nói rồi, việc này chẳng làm mất nhiều thời gian của nương tử đâu, cùng lắm cũng chỉ nửa tháng thôi, vì tháng sau tiểu thư nhà tôi đã xuất giá rồi. Trong nửa tháng này, nương tử cứ ở lại trong phủ chúng tôi, đến lúc tiểu thư lên kiệu hoa chắc chắn sẽ có một khoản hậu tạ phong hậu.”
Nghe đến đây thì rõ là nhà họ Tống chuyên buôn muối kia rồi. Hơn phân nửa công việc thêu thùa của Tần Thư đều là nhận từ nhà họ, thật chẳng tiện làm mất lòng, nàng đành phải nhận lời: “Đã là ý của lão thái thái thì tôi xin tuân mệnh, chỉ sợ tay nghề mình còn non kém, chẳng dạy bảo được gì nhiều cho tiểu thư.”
Bà Chu nghe vậy liền sờ vào thắt lưng lấy ra một nắm tiền lẻ, rồi dúi vào tay cô nương kia: “Nhà chúng tôi vốn là dân đen hèn mọn, chẳng mấy hiểu biết sự đời, còn phải nhờ cô nương đây chỉ bảo thêm cho nhiều điều. Bằng không lỡ có va chạm hay đắc tội với các bậc bề trên trong phủ, thì thật là không nên.”
Con bé tiểu nha hoàn kia vốn là hạng hám tài, với nó thì “chân muỗi cũng là thịt”, vừa nhận tiền xong liền hớn hở hé lộ: “Tiểu thư nhà tôi không ở trong phủ chính, mà cư ngụ tại Hà Phong tiểu trúc. Nơi đó chỉ có mình tiểu thư, tuyệt đối không lo va chạm với các vị chủ tử khác. Chẳng giấu gì Chu nương tử, việc mời người tới đây vốn là ý của lão thái thái. Tiểu thư nhà tôi vốn không thạo việc nữ công gia chánh, tính tình lại ưa thanh tịnh, e rằng bình thường cũng chẳng mấy khi triệu người đến trước mặt hầu hạ đâu.”
Tần Thư không quen biết tiểu nha đầu này, sợ không rõ gốc tích nên tìm cớ giữ cô ta lại một lát, đồng thời bảo Hạ Hà đi mời người nương tử ở tiệm thêu vốn có quen biết với nhà họ Tống đến.
Vị nương tử kia vừa thấy tiểu nha đầu thì đúng là có quen biết, hai người trò chuyện một hồi. Sau khi người kia đi khỏi, nương tử tiệm thêu mới tiết lộ cho Tần Thư chút nội tình: “Cô không biết đâu, tiểu thư này của nhà họ Tống là nhận nuôi từ bên ngoài, chẳng có một chút quan hệ huyết thống nào cả. Nàng ta vốn là nữ tử bước ra từ Trần gia đại viện, từng bị Túy Tiên Cư mua về để chuẩn bị treo biển tiếp khách, không hiểu sao lại được nhà họ Tống mua lại, hiện giờ vẫn đang ở tại Hà Phong tiểu trúc. Tôi cũng đã tới đó đưa đồ vài lần, thấy đúng là dáng vẻ gả đi làm chính thất, đến cả áo cưới cũng đã thêu xong xuôi rồi.”
Trần gia đại viện là nơi nổi tiếng đào tạo ca kỹ, chuyên làm nghề buôn bán “ngựa gầy”. Họ mua con gái nhà nghèo về rồi dày công dạy dỗ: loại tư chất hạng nhất thì dạy thổi sáo, đánh đàn, ca hát, cầm kỳ thi họa và đủ mọi ngón nghề lấy lòng đàn ông, loại hạng hai thì dạy cho biết mặt chữ, biết gẩy bàn tính và tính toán sổ sách, còn loại hạng ba thì dạy nữ công gia chánh, thêu thùa bếp núc và đạo trị gia.
Nghe đến đây, Tần Thư liền hiểu ra ngay. Những nơi thị phi thế này nàng tuyệt đối không muốn dính dáng đến, bèn nói: “Nói vậy thì e là tôi không thể đi được rồi.”
Nương tử tiệm thêu xua tay: “Theo tôi thì đi được chứ. Cô không biết đâu, chuyện hôn sự nhà này kể ra cũng lạ, cô nương kia ngày nào cũng làm mình làm mẩy, hiện giờ đã bị quản thúc chặt chẽ rồi. Ngoại trừ lão thái thái nhà họ Tống ra thì chẳng ai được phép vào quấy rầy, cực kỳ thanh tịnh. Nhà buôn muối vốn là hạng người coi tiền như rác, cô cứ đi chuyến này thì tiền chi tiêu ăn uống cho cả năm cũng dư dả rồi.”