Chương 39: Lộ tung tích
Khoảng thời gian này mọi việc ở Phúc Kiến đã định, Lục Trạch dâng tấu chương, vẫn theo lệ cũ lập Tổng đốc phủ tại Hàng Châu. Tiện đường đi qua Dương Châu, thủ lĩnh thương nhân muối là Tống Nhân đã bày tiệc tại Hà Phong tiểu trúc để khoản đãi Lục Trạch.
Đêm ấy tuyết rơi lất phất, bốn con tuấn mã với sắc trắng tinh khôi đạp tuyết mà đến. Lục Trạch khoác trên mình chiếc áo choàng dài không tay, màu trắng, vừa bước xuống xe ngựa đã thấy Tống Nhân đang cung kính đợi sẵn trước cửa. Gã còn rất trẻ, chừng hơn hai mươi tuổi, lập tức quỳ sụp xuống: “Thỉnh an Gia!”
Bên cạnh Tống Nhân là một nữ tử chừng hai mươi tuổi, lông mày và ánh mắt có phần phong trần thô ráp, đôi bàn tay đầy những vết chai sạn. Nàng ta mặc một chiếc áo trực chuyền màu xám theo lối nam tử, thắt đai lưng bích ngọc, tuy nhiên do không có hầu kết lại chẳng hề bó ngực, nên người ngoài nhìn qua là biết ngay thân phận nữ nhi. Nàng ta không quỳ lạy, chỉ chắp tay hành lễ: “Hạ quan là Lương Châu thủ tướng Lý Lương Chi, bái kiến Đốc hiến đại nhân.”
Từng bông tuyết lất phất rơi, Lục Trạch thấy nữ tử kia chỉ mặc một lớp áo mỏng manh, bèn nhàn nhạt ừ một tiếng, rồi mới ôn tồn hỏi: “Mùa đông ở Dương Châu chắc là chẳng thể bì được với vùng Tây Bắc đâu nhỉ?”
Lý Lương Chi có phần dè dặt, hơi khom lưng rồi cúi đầu thưa: “Bẩm đại nhân, mùa đông ở Dương Châu quả thực không lạnh. Mùa đông nơi Tây Bắc trái lại đất đai nứt nẻ, gió lạnh cắt da cắt thịt như dao cứa vậy.”
Lục Trạch gật đầu: “Vào trong rồi nói tiếp.” Đoàn người chẳng rõ tiến vào Hà Phong tiểu trúc từ lối cổng nào, nhưng cảnh tượng hiện ra trước mắt hoàn toàn khác biệt với những gì Tần Thư từng thấy trước đó. Nào là đá tảng chồng lớp thành từng hòn núi giả, dòng nước chảy quanh co uốn lượn, nước biếc cây xanh hòa quyện, đúng là mỗi bước đi lại mở ra một phong cảnh tuyệt mỹ.
Lục Trạch bèn hỏi: “Tiểu viện này là do ngươi đích thân bài trí sao?”
Tống Nhân theo sau nửa bước, cung kính thưa: “Bẩm Gia, nơi này là do Tô tiểu thư bài trí ạ.” Lục Trạch nghe xong liền trầm mặc, không nói thêm câu nào nữa.
Tiến vào một gian phòng ấm, kẻ hầu người hạ tấp nập dâng lên đủ loại cao lương mỹ vị. Sau khi mọi người đã an tọa, thì Lục Trạch mới thong thả cất lời: “Ngươi từ Tây Bắc đến, vốn chẳng am hiểu về phong tục tập quán của Giang Nam. Phải biết rằng, Tây Bắc và Giang Nam là hai nơi hoàn toàn khác biệt.”
Lời này vốn mang hàm ý sâu xa, nếu là kẻ khác nghe thấy hẳn đã mồ hôi lạnh chảy ròng ròng, quỳ gục xuống đất mà thỉnh tội. Thế nhưng Lý Lương Chi vốn là người nơi trận mạc, lại từng trải qua gươm giáo đạn lạc, nàng ta im lặng một hồi rồi mới đáp: “Hạ quan vốn là tướng lĩnh cầm quân, chỉ biết rằng bất kể là ở Tây Bắc hay Giang Nam, chức trách của hạ quan cũng chỉ là dẫn binh đánh trận, ngoài ra những việc khác đều không màng tới.”
Lục Trạch nghe xong thì hài lòng gật đầu. Đông Cung thái tử hiện nay vốn là nữ nhi duy nhất của bệ hạ. Để chặn đứng miệng lưỡi thế gian, bệ hạ đã có ý đề bạt hai vị nữ quan, một văn một võ. Về văn chính là Lễ bộ Thượng thư Hạ Cửu Sanh đương triều, còn về võ chính là Lý Lương Chi – người đã thay cha trấn giữ thành trì này. Tuy nhiên, triều đình vốn dĩ văn võ khác biệt, một người là đại viên nhất phẩm chốn kinh kỳ, người kia lại chỉ là thủ tướng tứ phẩm ở địa phương.
Lần này Lục Trạch điều Lý Lương Chi đến Hàng Châu, đương nhiên là có dụng ý riêng của mình: “Việc binh đao cốt yếu nhất là luyện quân. Tuy ngươi đã tới đây, nhưng đội quân Hổ Bôn nơi Tây Bắc của ngươi lại không đi cùng. Không có binh mã mà bàn chuyện tác chiến, chẳng khác nào kẻ không có tay mà muốn múa kiếm ra trận. Ngươi dự tính sẽ trưng binh ở đâu? Và chọn binh như thế nào?”
Đây chính là cuộc khảo hạch chính thức, Lý Lương Chi chỉnh đốn lại thân mình, rồi dõng dạc thưa: “Bẩm đại nhân, Giang Nam vốn dĩ trù phú, nơi có dân chúng kiêu dũng thiện chiến cực kỳ hiếm hoi. Hạ quan có nghe danh dân chúng ở vùng Nghĩa Ô vừa hung hãn vừa mạnh mẽ, thường xuyên xảy ra huyết chiến giữa các thôn tộc, hạng người ấy có thể dùng được. Về việc tuyển binh, có bốn loại người hạ quan sẽ không chọn: hạng du đãng xảo trá nơi thành thị không tuyển, hạng lính cũ lọc lõi gian manh không tuyển, hạng dân thành thị chẳng biết kiêng dè uy quyền của quan phủ không tuyển, và hạng công tử bột da trắng thịt mềm lại càng không tuyển. Bốn hạng người này nếu cho vào quân ngũ, chưa đánh trận thì quân tâm đã sớm tan rã rồi.“
Lục Trạch nghe xong lấy làm hài lòng, bèn hỏi: “Cần bao nhiêu binh mã?”
Lý Lương Chi đáp: “Binh cốt ở tinh nhuệ, chẳng cốt ở số đông, chỉ cần ba ngàn tinh binh là đủ để đối phó với quân vụ tại Chiết Giang và Phúc Kiến. Duy chỉ có điều, triều đình hiện nay đang chủ trương hòa hoãn, muốn các thế lực phản tặc như cướp biển và nghĩa quân đầu hàng, hạ quan chỉ e mình chẳng có đất dụng võ nữa.”
Lục Trạch nghe xong, nhấp một ngụm rượu rồi dõng dạc: “Khi ta khởi hành tới Chiết Giang, đã ở trước điện vua lập hạ quân lệnh trạng. Chừng nào cướp biển tại Chiết Giang còn chưa dẹp tan, cõi Đông Nam còn chưa yên ổn, thì ta quyết không hồi kinh. Đầu hàng ư? Thử hỏi mãn triều văn võ sao có thể cùng lữ hải tặc ngoài biển khơi kia đứng chung một điện, làm bậc đồng liêu cho được?”
(Quân lệnh trạng: lời cam kết bằng tính mạng.)
Lý Lương Chi vốn là võ quan, chẳng am hiểu những chuyện chính trị lắt léo ấy, lập tức quỵ một gối: “Hạ quan nhất định không phụ ơn đức bồi dưỡng và đề bạt của đại nhân!”
Trong sân, từng khóm mẫu đơn đang đua nhau nở rộ đầy sức sống. Lý Lương Chi hái một đóa rồi cảm thán: “Tầm này mà vẫn còn mẫu đơn nở rực rỡ thế này, xem ra lời đồn về sự phú quý của đám thương nhân muối Dương Châu quả thực không phải hư danh.”
Hôm nay Lục Trạch dẫn Lý Lương Chi tới đây, vốn đã coi nàng ta như người tâm phúc. Lời này nghe qua có chút châm chọc, Tống Nhân cũng chỉ đành cười gượng hai tiếng: “Lý đại nhân quá khen rồi. Nếu ngài đã thích, hôm khác tại hạ xin được gửi vài gốc mẫu đơn đến phủ của ngài.”
Công sự đàm đạo đã xong, bức bình phong liền được quân hầu di dời sang bên. Phía sau lớp màn lụa mỏng, tiếng cầm tiêu thanh thoát và lanh lảnh vang lên.
Tống Nhân vốn là kẻ thấu hiểu sự đời, lập tức đưa mắt ra hiệu, mời Lý Lương Chi cùng thoái lui ra ngoài. Vừa bước chân ra khỏi cửa, hắn ta đã chắp tay chúc mừng: “Lý đại nhân, hôm nay được diện kiến Đốc hiến, ngày sau tiền đồ xán lạn, thăng quan tiến chức hẳn là chuyện sớm chiều.”
Trong sân, từng khóm mẫu đơn đang đua nhau nở rộ đầy sức sống. Lý Lương Chi hái một đóa rồi cảm thán: “Tầm này mà vẫn còn mẫu đơn nở rực rỡ thế này, xem ra lời đồn về sự phú quý của đám thương nhân muối Dương Châu quả thực không phải hư danh.”
Hôm nay Lục Trạch dẫn Lý Lương Chi tới đây, vốn đã xem nàng ta như người tâm phúc. Lời này nghe qua tuy có chút châm chọc, Tống Nhân cũng chỉ đành cười gượng hai tiếng: “Lý đại nhân quá khen rồi. Nếu ngài đã thích, hôm khác tại hạ xin được gửi vài gốc mẫu đơn đến phủ của ngài.”
Lý Lương Chi ném đóa hoa xuống đất, rồi cười nhạt: “Không cần đâu, người như ta e là chẳng nuôi nổi loại hoa lá kiêu kỳ và quý phái này.” Nói xong, nàng liền sải bước rời đi.
Tống Nhân thấy vậy liền lắc đầu ngán ngẩm: “Thế này mà cũng coi là nữ nhân sao? Cũng may là chồng nàng ta chết sớm, chứ nếu còn sống mà có hạng phu nhân thế này, e là cũng chẳng còn mặt mũi nào để nhìn ai.”
Lý Lương Chi vừa bước ra khỏi cửa, đã có thân binh dắt ngựa chờ sẵn. Người đó tiến lên đón: “Tướng quân, Đốc hiến đại nhân nói sao ạ?”
Lý Lương Chi tung người lên ngựa, nói: “Ta nghe ngài ấy hỏi chuyện liền biết người này nhất định am hiểu binh pháp, khác hẳn với hạng văn quan ngoại đạo kia. Ngài ấy đồng ý cho ta đến Nghĩa Ô chiêu mộ binh sĩ, quân số ba ngàn người cũng đã gật đầu. Chỉ có điều, gã thương nhân muối Dương Châu ngồi cùng kia trông cứ như phường thái giám, thật đúng là xúi quẩy.”
Bên trong phòng, một khúc nhạc vừa dứt, Lục Trạch vỗ tay tán thưởng: “Tiếng đàn của Oản Oản lại tiến bộ thêm nhiều rồi.”
Tô Oản Oản khoác trên mình bộ hỷ phục đỏ rực, đầu đội phượng quan hà bí, ngồi sau lớp lụa xanh mà chẳng hề đứng dậy: “Đại nhân thích là tốt rồi, tiếng đàn của Oản Oản xem như không uổng công luyện tập. Ngài từng nói, nếu Oản Oản giải được bàn cờ tàn kia thì sẽ rước Oản Oản về dinh, không biết lời ấy giờ có còn hiệu lực chăng? Thiếp biết, thân phận hoa trôi phiêu dạt chốn phong trần như thiếp vốn không xứng được cưới hỏi đàng hoàng, dù chỉ là theo bên cạnh làm kẻ hầu người hạ cho đại nhân, thì thiếp cũng cam lòng.”
Tiếng nói vừa dứt, bức rèm lụa xanh được vén lên, trên tường đang treo chính là bàn cờ tàn đã được hóa giải kia.
Lục Trạch có chút thẫn thờ, dường như bên tai lại vang lên một giọng nói khác: “Ngài xem, người muốn làm nha hoàn cho ngài nhiều đến thế, hà tất còn khổ công tìm ta làm chi?”
Hắn thậm chí chẳng thèm liếc mắt nhìn một cái, chỉ nhíu mày nói: “Ta nhìn muội lớn lên từ nhỏ, trong mắt ta muội vẫn chỉ là một tiểu cô nương mà thôi. Lời của đại sư Tĩnh Hải năm đó chẳng qua cũng chỉ là một câu nói đùa. Đợi muội lớn thêm chút nữa, ta tự khắc sẽ tìm cho muội một tấm chồng tốt.”
Tô Oản Oản nghe vậy liền ai oán thốt lên: “Tiểu cô nương sao? Ha ha… Đại nhân lẽ nào không biết rằng, tiểu cô nương của vị ân sư năm xưa của ngài, nay đã nức tiếng phong trần, khách ra vào trướng rủ màn che chẳng thiếu kẻ nào.”
Lục Trạch cảm thấy mất hết hứng thú, hắn đứng phắt dậy: “Nếu muội muốn lấy chồng, ta sẽ tìm cho một tấm phu quân tử tế. Còn nếu không muốn gả đi, cứ ở lại Tống gia này dưỡng già cũng được. Duy chỉ có chuyện vào phủ của ta, đó là điều vạn lần không thể.”
Tô Oản Oản thấy hắn định bỏ đi thì không còn màng đến gì nữa, nàng ta lảo đảo đuổi theo, đôi mắt nhòe lệ: “Tại sao? Đại nhân chê thân xác này của thiếp đã không còn sạch sẽ nữa rồi sao?”
Lục Trạch lắc đầu: “Muội chớ có suy nghĩ lung tung.”
Tô Oản Oản lùi lại một bước, rồi cười khổ nói: “Thiếp biết rồi, là vì thiếp là con gái của ân sư đại nhân, đúng không? Gia đình bị tịch thu tài sản, tru di tam tộc, bản thân bị đày vào giáo phường ti… Đại nhân chịu đứng ra xoay xở, giúp thiếp đổi tên đổi họ để cứu ra khỏi nơi nhơ nhuốc đó, tất cả đều là vì ân tình với người cha quá cố của thiếp, có phải không?”
Lục Trạch gạt tay nàng ta ra, không hề đáp lại mà sải bước rời đi. Lên đến xe ngựa, Đinh Vị đứng bên cạnh bẩm báo: “Thưa gia, đã đến nhà họ Chu kia rồi, nhưng không thấy Bằng Nhi cô nương đâu cả. Chỉ là đã hỏi thăm hàng xóm láng giềng xung quanh, nhà họ Chu đúng là có hai vị cô nương, một người là con gái góa bụa, một người là cô nương chạy nạn được họ nhận nuôi. Gia đình này quả thực từng nhận ơn huệ của Bằng Nhi cô nương, nhưng đó đã là chuyện từ nhiều năm trước rồi, Bằng Nhi cô nương không hề đến nương nhờ họ.”
Lục Trạch ngả người dựa vào thành xe ngựa, đưa tay day day tâm mi: “Đứa con gái góa bụa kia bao nhiêu tuổi? Còn cô nương chạy nạn kia bao nhiêu tuổi?”
Đinh Vị hít sâu một hơi khí lạnh, sực nhớ lại vẻ mặt ấp úng và ngập ngừng của bà tử kia, liền đáp: “Là thuộc hạ sơ suất, sẽ lập tức đi dò hỏi ngay đây ạ.”
Lục Tế trở về hành viên, vừa tắm rửa xong thì thấy Đinh Vị quay về báo cáo: “Thưa gia, thuộc hạ đã dò hỏi hàng xóm xung quanh, sau đó lại đến huyện nha để tra cứu hộ tịch. Đứa con gái góa bụa của nhà này mới trở về từ ba tháng trước, tuổi tác tự khai là hai mươi lăm, nhưng hàng xóm láng giềng lại bảo trông chỉ tầm mười bảy mười tám tuổi, giọng nói cũng không phải khẩu âm địa phương. Thuộc hạ có nói vài câu quan thoại vùng Nam Kinh, thì người hàng xóm đó khẳng định ngay, cô con gái góa kia chính là nói giọng như vậy.”
Lục Trạch lập tức sầm mặt lại: “Sao không đưa người về đây?”
Đinh Vị cúi đầu bẩm báo: “Nghe nói cả nhà họ, ngoại trừ một bà tử ở lại trông nhà, thì tất cả đã đi đến thư viện Vạn Tùng ở Hàng Châu rồi ạ. Ở đó đang có Ôn Lăng tiên sinh giảng bài.”
Lục Trạch hừ lạnh một tiếng: “Chắc chắn là nha đầu đó rồi. Ngươi để người lại đây canh chừng gia đình kia, ta sẽ đi thuyền về Hàng Châu đợi sẵn.”
Đinh Vị lĩnh mệnh, vừa đi đến cửa thì lại bị Lục Trạch gọi giật lại: “Khi nào thấy nàng, chớ có kinh động, cứ âm thầm theo sát rồi báo lại cho ta là được. Ngoài ra, hãy truyền thư bằng bồ câu cho Giang tiểu hầu, bảo thuộc hạ các nơi rút về hết đi, không cần phải đi dò hỏi ở những chỗ khác nữa.”
Nói xong, hắn dường như chẳng thể đợi thêm được nữa, lập tức hạ lệnh chuẩn bị thuyền bè, xuôi dòng đi về hướng Hàng Châu.
Lại nói về phía Tần Thư, vì lo ngại ban đêm đường xá không yên ổn, nàng chỉ dám lên đường vào ban ngày, đêm đến lại tìm quán trọ nghỉ ngơi. Cứ thế đi liên tục suốt tám, chín ngày trời mới đến được thành Hàng Châu.
Khi vào đến đại lộ dẫn vào thành thì trời đã gần hoàng hôn. Gã phu xe không ngớt lời cảm thán: “Chúng ta đúng là may mắn, nếu chậm trễ chút nữa mà cửa thành đóng lại thì có khi phải ngủ tạm một đêm trên xe ngựa rồi.”
Ba người nhóm Tần Thư suốt tám, chín ngày liền cứ co cụm trong chiếc xe ngựa nhỏ hẹp này, chưa nói đến chuyện lưng đau chân mỏi, ngay cả cơm nước cũng chẳng được bữa nào tử tế.
Vào đến thành Hàng Châu, họ chọn một khách điếm sạch sẽ và rộng rãi để nghỉ chân. Sau khi mọi người đã tắm gội kỹ càng và dùng bữa xong xuôi, thì ai nấy đều leo lên giường đánh một giấc say nồng.
Tần Thư không hề hay biết rằng, ngay khi nàng vừa đặt chân vào thành, thì tin tức đã lập tức được báo về phủ Tổng đốc.
Lúc Đinh Vị bước vào, Lục Trạch đang tiếp kiến các thủ tướng vùng Ninh Ba và Đài Châu. Y đứng đợi ở một bên hơn nửa canh giờ, thấy mọi người đã ra về hết mới tiến lên bẩm báo: “Thưa gia, Bằng Nhi cô nương đã vào thành lúc hoàng hôn, đoàn người tổng cộng có bốn người, hiện đang ở khách điếm Đại Đồng ạ.”
Đinh Vị cúi đầu đợi hồi lâu mà vẫn không thấy Lục Trạch hạ lệnh, bèn ướm lời hỏi: “Thưa gia, có cần thuộc hạ dẫn người đi đón Bằng Nhi cô nương về không ạ?”
Lục Trạch gập ngón tay gõ nhẹ xuống bàn làm việc, rồi cười khẩy một tiếng: “Nàng ấy không giống với hạng người như các ngươi, vốn chẳng thèm coi cái phủ này ra gì đâu, đón về làm cái gì?”
Đinh Vị bị câu nói này làm cho cứng họng, trong lòng thầm oán trách: Đã không định đón người ta về phủ, vậy ngài còn ra lệnh rà soát khắp các ngõ ngách của Quốc công phủ làm chi? Hễ là ai có chút quan hệ với Bằng Nhi cô nương đều bị điều tra đến tận gốc rễ, thậm chí nơi xa xôi như Vân Nam cũng đã phái người tới tận nơi rồi.
Chỉ là y không đời nào dám nói thẳng ra như vậy, y thừa hiểu gia nhà mình là người cực kỳ trọng thể diện, nên không thể không nói vài lời tạo bậc thang cho chủ nhân bước xuống: “Gia, hôm nay lúc ở cổng thành thuộc hạ có nhìn thấy Bằng Nhi cô nương, thấy cô ấy gầy đi nhiều lắm. Vốn dĩ cô ấy đã vừa trải qua một trận bạo bệnh, xem chừng cuộc sống bên ngoài cực khổ vô cùng. Nếu lúc này mà thấy gia chịu đón cô ấy về, chắc chắn cô ấy sẽ cảm kích ân đức của ngài lắm.”
Lục Trạch lạnh lùng cười nhạt hai tiếng: “Nàng ấy là hạng người có tâm tính cô độc, lại lạnh lùng, nếu mà nghĩ được như thế thì mới là chuyện lạ đấy.”
Đinh Vị nói ra được ngần ấy lời coi như đã dốc hết sức lực rồi, chẳng còn hơi sức đâu mà khuyên giải thêm nữa, bèn đứng đợi một bên. Một lát sau, thấy Lục Trạch quăng mạnh cái chén về phía mình: “Ngươi đứng lù lù ở đây làm gì? Vừa rồi thay nàng ấy nói đỡ thì giỏi lắm kia mà, sao giờ lại câm như hến rồi?”
Đinh Vị ngơ ngác chẳng hiểu ra làm sao, không biết nên nói gì cho phải. May thay bên ngoài có Dương sư gia đi vào bẩm báo, thấy chén trà vỡ tan dưới đất liền nói đỡ: “Thế tử, khách quý từ ngoài khơi đã gửi thư đến rồi đấy.”
Đây là chính sự, Lục Trạch phất tay ra hiệu cho Đinh Vị lui ra ngoài.
Đinh Vị mang theo một bụng thắc mắc nhưng cũng không dám đi xa, chỉ đứng đợi ngoài hành lang rồi thầm nghĩ: Vì chuyện của Bằng Nhi cô nương mà mình đã chịu không biết bao nhiêu trận “vạ lây”. Trong những việc khác Gia vốn dĩ thưởng phạt phân minh, sao riêng chuyện này lại cứ hay giận cá chém thớt thế nhỉ? Chao ôi, chỉ trách bản thân đen đủi, sao lại nhận cái việc theo chân Gia về Nam Kinh cơ chứ?
Trong thư phòng bàn bạc mãi đến tận nửa đêm mới thấy Dương sư gia bước ra. Ông ấy đã ngoài sáu mươi, là kiểu người thuộc nhóm văn sĩ Giang Nam điển hình, vốn có chút kiêu ngạo vì tài năng, chí hướng cả đời là trừ sạch giặc Oa nên đã đầu quân vào mạc phủ của Lục Trạch. Giờ đây đã già, tính khí cũng điềm đạm hơn nhiều, thấy Đinh Vị vẫn còn đứng đó, ông ấy vuốt râu rồi cười nói: “Đinh hộ vệ, lúc nãy ngươi đã báo cáo chuyện gì mà khiến đại nhân nổi trận lôi đình thế kia?”
Loại chuyện riêng tư chốn nội khuê của nữ quyến thế này, Đinh Vị đâu có gan lớn mà đi rêu rao khắp nơi, y lắc đầu đáp: “Dù sao cũng là do thuộc hạ làm việc chưa chu toàn thôi ạ.”
Dương sư gia lại lắc đầu: “Ngươi không nói thì để lão đoán thử xem sao? Lão đây vốn là hạng môn sinh không lo chính sự, nhưng lại có chút bản lĩnh xem tướng mạo. Theo lão thấy, chuyện này có liên quan đến đường nhân duyên của Thế tử rồi.”
Ngay khi ông ấy vừa dứt lời, Đinh Vị liền lộ rõ vẻ kinh ngạc trên khuôn mặt. Y chợt phản ứng lại: “Dương tiên sinh, ông lừa tôi đấy à?”
Dương sư gia lại lắc đầu, rồi cười nói: “Sai rồi, sai rồi. Lão còn dám quyết đoán rằng đây chính là chính duyên của Thế tử nữa cơ.”
Chính duyên? Chẳng lẽ nói Bằng Nhi cô nương sau này sẽ là chính thất phu nhân của Gia sao? Đinh Vị lắc đầu lia lịa, chuyện này làm sao có thể xảy ra được. Bằng Nhi cô nương tuy rằng xinh đẹp thật đấy, nhưng với thân phận đó, lại còn xuất thân là tì nữ, làm sao có thể gả cho gia để làm đích phu nhân cơ chứ?
Phu nhân của gia sau này sẽ là Nhất phẩm Cáo mệnh của Quốc công phủ, sao có thể để một người xuất thân tì nữ nhận sắc phong Nhất phẩm Cáo mệnh cho được?
Dương sư gia mỉm cười, gập quạt lại rồi gõ nhẹ lên đầu Đinh Vị: “Lão đây nói chắc chắn không sai đâu, nếu sai thì ngươi cứ đến chỗ lão mà lĩnh rượu ngon đi.”
Đinh Vị xoa xoa đầu, nhìn bóng dáng Dương sư gia đã đi xa thì mới sực tỉnh ra. Cái gì mà “nói chắc chắn không sai”, ngộ nhỡ sau này gia lấy người khác thì cũng đâu có nghĩa là sẽ không lấy Bằng Nhi cô nương? Chỉ cần Bằng Nhi cô nương còn sống đủ lâu, một ngày cô ấy chưa gả cho người khác thì chẳng phải Dương sư gia sẽ không bao giờ bị coi là nói sai hay sao?
Ngẫm nghĩ một hồi lâu, y mới nhận ra mình đã bị lừa phỉnh, bèn nghiến răng lẩm bẩm: “Mấy ông nhà nho này đúng là lắm mưu mô xảo quyệt thật.”
Lục Trạch ngồi thẫn thờ hồi lâu, lấy địch báo ra xem nhưng chẳng vào đầu được chữ nào. Hắn dứt khoát vứt sang một bên, đang định mở cửa đi ra ngoài thì thấy bộ y phục trên người mình quá nổi bật, bèn đi tới tủ quần áo chọn một chiếc áo choàng màu xanh không có hoạ tiết, rồi lại tìm thêm một dải thắt lưng bằng vải bình thường, trông chẳng khác nào cách ăn vận của một sĩ tử tầm thường.
Vừa bước ra khỏi cửa, hắn đã nghe thấy Đinh Vị lẩm bẩm cái gì mà “mấy ông nhà nho đúng là lắm mưu mô xảo quyệt”, liền lạnh giọng hỏi: “Ngươi vừa nói cái gì cơ?”
Đinh Vị đương nhiên không đời nào dám lặp lại lời đó lần nữa. Ngước mắt lên thấy cách ăn vận này của Lục Trạch, cơ mặt y vô thức giật giật, lộ ra một biểu cảm vô cùng quái dị: “Thuộc hạ vừa rồi chỉ đang tán gẫu vài câu với Dương tiên sinh thôi ạ.”
Lục Trạch hất cằm về phía trước, ra lệnh: “Dẫn đường.”
Hai chữ “dẫn đường” này, dĩ nhiên là chỉ con đường dẫn đến khách điếm Đại Đồng. Đinh Vị cứ ngỡ là gia nhà mình đêm nay nhất định sẽ không đi rồi, không ngờ chỉ là đợi đến muộn một chút mới đi mà thôi.
Chương 40: Hà phu nhân
Lúc ra khỏi phủ Tổng đốc đã là gần cuối giờ Hợi. Lúc này lệnh giới nghiêm đã bắt đầu, ngoại trừ binh lính tuần tra thì trên đường vắng ngắt không một bóng người.
Đến trước khách điếm Đại Đồng, cửa lớn vẫn chưa đóng chặt mà để khép hờ, có một ông lão ngồi đó trông cửa. Ông lão có vẻ nhận ra Đinh Vị, vừa thấy y đến liền cúi chào, cười hì hì hỏi thăm: “Quan gia, ba người kia vẫn đang ngủ say lắm, chưa đi đâu ạ.”
Đinh Vị “ừm” một tiếng, rồi khẽ bẩm với Lục Trạch: “Gia, Bằng Nhi cô nương ở căn phòng cuối cùng trên tầng hai.”
Đến tận đây rồi thì chẳng cần ai dẫn lối nữa, hắn đi thẳng lên tầng hai. Bước chân có phần vội vã, đôi ủng quan nện trên cầu thang gỗ vang lên rầm rập, khiến vị khách đang trọ ở đó bực dọc càu nhàu: “Đêm hôm khuya khoắt rồi, ai đấy? Có để cho người ta ngủ nghê gì không?”
Lục Trạch đi đến căn phòng cuối cùng, hơi dùng lực đẩy cửa nhưng cửa đã bị chốt chặt. Hắn vòng sang phía bên kia, thấy cửa sổ không được khóa kỹ, liền lật cửa rồi nhảy vào trong.
Ngay cạnh cửa sổ, trên chiếc sập có một nha hoàn đang nằm ngủ gáy khò khò. Lục Trạch nhíu mày, đưa tay điểm nhẹ vào dưới cổ cô ấy, tiếng ngáy lập tức im bặt.
Vòng qua sập, đi vào trong vài bước, hắn thấy rèm giường không hạ xuống, một người nữ tử đang nằm ngang, dưới ánh trăng có thể thấy rõ vóc dáng thon thả và uyển chuyển. Tần Thư có thói quen hay đạp chăn, lúc này tấm chăn đã bị nàng đá văng xuống dưới sàn rồi.
Tiết trời tháng mười đã rất lạnh, chỉ thấy nàng đưa tay sờ soạng sang bên cạnh nhưng không tìm được chăn, bèn co gối thu người lại thành một cục.
Lục Trạch đứng trước giường, nhìn ngắm gương mặt xinh đẹp và những đường cong uyển chuyển của người nữ tử này. So với ba tháng trước, nàng lại càng thêm vài phần mị hoặc, càng thêm quyến rũ lòng người. Không biết đứng nhìn bao lâu, hắn mới cúi xuống nhặt tấm chăn dưới đất lên, rồi ném lên người Tần Thư.
Tần Thư liên tục đi đường ròng rã bảy, tám ngày trời, vốn đã mệt lử nên ngủ rất say. Trong lúc đang lạnh thì có người đắp chăn cho, nàng cứ ngỡ đó là Hạ Hà, bèn hừ nhẹ một tiếng đầy ngái ngủ: “Hạ Hà, ngươi mau đi ngủ đi.”
Lục Tế nghe thấy tiếng hừ nhẹ đầy nũng nịu ấy thì rốt cuộc không nhịn được nữa, hắn phất tay hạ màn giường xuống. Đôi bàn tay hắn ấm áp và khô ráo, luồn qua cổ áo nàng mà nắm lấy sự đầy đặn.
Tần Thư vẫn đinh ninh đó là Hạ Hà, nàng đưa tay định gạt ra, mắt vẫn nhắm nghiền, miệng lẩm bẩm trong cơn mê tỉnh: “Hạ Hà, đừng nghịch nữa. Nếu ngươi đói thì cầm tiền ra ngoài mua đồ ăn đi, để ta ngủ thêm một lát nữa.”
Nàng đưa tay định đẩy người đang đè trên thân mình ra, nhưng lại chạm phải lồng ngực rắn chắc, dày rộng, lập tức giật mình tỉnh hẳn. Nhìn thấy một bóng đen trên giường, nàng không tài nào nhìn rõ diện mạo của đối phương.
Tần Thư cứ ngỡ là tên đạo tặc hái hoa từ đâu tới, chỉ sợ hắn sẽ lấy mạng mình, trong lòng vô cùng hoảng loạn. Nàng cố ra vẻ bình tĩnh, nhưng giọng nói lại run lẩy bẩy: “Ngươi là ai? Nếu muốn bạc thì trong bọc đồ dưới gối có đấy, ngươi cứ việc lấy đi. Huynh đệ của ta đang ngủ ngay phòng bên cạnh, dưới lầu cũng có tiểu nhị, chỉ cần ta hét lên một tiếng là ngươi không thoát được đâu!”
Lục Trạch nảy sinh hứng thú, đưa hai ngón tay điểm nhẹ một cái, Tần Thư lập tức cảm thấy toàn thân tê rần, sức lực tan biến, không tài nào cử động nổi. Hắn cười nói: “Ta là kẻ “quân tử trên xà nhà” đi ngang qua đây, vốn chỉ định cầu tài, hiềm nỗi cô nương có phong thái mỹ miều, làm mê đắm lòng người. Ta chỉ cầu được cùng cô nương vui vẻ một đêm, tuyệt đối không lấy bạc, chẳng hay cô nương có thể thỏa mãn tâm nguyện này của tiểu nhân không?”
Tần Thư thầm than một tiếng hỏng bét, quả nhiên là tên đạo tặc hái hoa. Nàng đáp: “Chẳng giấu gì tráng sĩ, nô gia vốn là kẻ làm nghề buôn phấn bán hương. Với hảo hán như tráng sĩ đây, lại không đòi bạc thì giao dịch này cũng làm được thôi. Chỉ là nô gia đã sắc tàn xuân muộn, lại mắc phải bệnh hoa liễu nên mới bị tú bà trong lầu đuổi đi. Một đêm vui vẻ chẳng đáng là bao, chỉ sợ lây bệnh nan y này cho tráng sĩ thì chính là tội nghiệt của nô gia đây.”
Lục Trạch nghe xong, dù biết rõ nha đầu này vốn dĩ luôn bịa chuyện lừa người, nhưng nghe nàng nói mình mắc bệnh hoa liễu, hắn vẫn không nhịn được mà sa sầm mặt lại trách mắng: “Lúc nào cũng nói năng bừa bãi, lại tự trù ẻo mình như thế à?”
Giọng điệu mang theo sự khiển trách này, thiên hạ chỉ có duy nhất một người nói chuyện với Tần Thư như vậy, sao nàng có thể không nhận ra cho được. Trong phút chốc, nàng vừa kinh hãi vừa giận dữ hỏi: “Lục Trạch, có phải là ngươi không?”
Thiên hạ này người dám gọi thẳng danh tính của hắn chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Ngay cả khi diện kiến bệ hạ, Nội các Thủ phụ cũng chỉ gọi biểu tự của hắn là “Tuyên Viễn”. Lục Trạch cũng chẳng thèm phủ nhận, hắn sầm mặt lại rồi nói: “Quả nhiên là càng lúc càng càn quấy, dám gọi thẳng cả tên húy của gia nhà ngươi ra nữa cơ đấy.”
Đầu óc Tần Thư vang lên những tiếng ong ong, cơ thể nàng không tự chủ được mà run rẩy: “Sao ngài biết ta ở đây?”
Lục Trạch khẽ cười, đưa tay vuốt ve gò má Tần Thư, nơi những giọt lệ trong vắt vừa lăn dài. Giọng nói của hắn lúc này có phần ôn hoà hơn thường ngày, nhưng lọt vào tai Tần Thư lại chói gắt và đáng sợ như tiếng chim cú đêm: “Nha đầu ngốc này, ngươi cũng quá xem nhẹ quyền thế của một vị tổng đốc hai tỉnh rồi đấy.”
Giọng Tần Thư run rẩy: “Ngài là tổng đốc hai tỉnh, thiên hạ này kiểu phụ nữ nào mà ngài chẳng có được, hà tất phải tới đây ép buộc ta?”
Bàn tay Lục Tế trượt xuống, mơn trớn vùng xương quai xanh tinh xảo, lập tức khiến Tần Thư run rẩy một hồi. Hắn thỏa mãn hừ lạnh một tiếng: “Nha đầu này, ta muốn nàng thì nàng phải vui vẻ mà đón nhận, đạo lý này nàng nhất định phải hiểu. Ngày trước ta nể mặt nàng quá nhiều, thành ra nàng đã quên mất thân phận của mình rồi.”
Nói rồi, hắn nhẹ nhàng lột bỏ y phục của nàng, rồi buông lời đe dọa: “Tốt nhất là nàng đừng có kêu la, bằng không sẽ đánh thức cô nương trên sập kia dậy đấy. Ta thì chẳng sao cả, nhưng để giữ gìn thanh danh cho nàng, ta đành phải bắt nàng ta uống thuốc câm thôi.”
Lục Trạch cúi người tìm đến làn môi thơm của Tần Thư, nhưng chưa đầy giây lát, khóe miệng hắn đã truyền đến một cơn đau nhói, vị máu tanh nồng lập tức lan tỏa khắp khoang họng.
Tần Thư ngẩng cao đầu, bật ra một tràng cười đầy châm biếm, khóe môi rỉ ra những vệt máu tươi: “Ngươi muốn ta thì ta phải vâng dạ đón nhận sao? Thật là vô liêm sỉ! Ngươi tưởng mình là ai chứ? Chỉ cần ngươi ngoắc ngón tay một cái là ta phải bò đến như một con chó sao?”
Lục Trạch nuốt ngụm nước bọt lẫn vị máu tanh, cơn thịnh nộ bốc lên ngùn ngụt: “Nàng là thiếp thất bỏ trốn, theo luật pháp thì dù ta có đánh chết ngươi cũng chẳng có gì quá đáng.”
Tần Thư căm hận thốt lên: “Ta sớm đã được trả lại văn tự bán thân, vốn là người dân lương thiện đàng hoàng. Chính ngươi đã giống như phường cường hào mà cóc ta, là ngươi ép người lương thiện thành kỹ nữ!”
Lục Trạch đã hoàn toàn mất sạch kiên nhẫn, hắn lập tức đứng dậy khỏi giường, mở toang cửa rồi gọi lớn: “Đinh Vị!”
Đinh Vị vốn dĩ đang né thật xa ở dưới lầu, thấy vậy liền chạy lạch bạch lên tầng hai. Nhìn sắc mặt khó coi của Lục Trạch, y biết ngay là Gia nhà mình lại vừa “vấp phải đá” rồi, chẳng dám nhìn ngó lung tung, chỉ cúi đầu cung kính: “Thưa gia, ngài có điều gì sai bảo ạ?”
Lục Trạch ra lệnh: “Gọi kiệu đến đây.” Dứt lời, hắn xoay người lấy chăn quấn chặt lấy Tần Thư rồi bế ngang nàng lên, gằn giọng: “Nếu nàng không muốn mấy tên đồng hành kia phải vào đại lao trình diện, thì tốt nhất nên im lặng một chút.”
Bước ra bên ngoài, động tĩnh lớn đã làm kinh động đến những người khách trọ vốn đang ngủ không sâu giấc. Thấy dáng vẻ dữ dằn và đằng đằng sát khí của Lục Trạch, họ chẳng ai dám ho he hỏi han, chỉ dám xì xầm bàn tán nhỏ to.
Tần Thư bị hắn bế trên tay, mái tóc rối bời, áo trong đã bị lột sạch, chỉ còn quấn hờ một lớp ga trải giường thêu hoa mẫu đơn. Đóa mẫu đơn ấy rực rỡ nở rộ ngay trên lồng ngực đang phập phồng, càng làm tăng thêm vẻ kiều mị, xộc xệch đến nao lòng của nàng. Nàng nhìn chằm chằm vào đường xương hàm lạnh lùng, cứng nhắc của Lục Trạch, chẳng hiểu sao trong lòng lại dần trở nên bình tĩnh đến kỳ lạ, dường như có một cảm giác cam chịu trước số phận đang từ từ dâng lên trong huyết quản.
Lục Trạch cảm nhận được ánh mắt ấy liền nhìn lại, thấy nàng chậm rãi thốt lên: “Lục Trạch, ta hận ngươi.”
Trên đời này có rất nhiều người hận hắn. Những văn quan võ tướng bị hắn xử lý triệt hạ, Hán Vương bị hắn từ chối hôn sự, còn cả những ngự sử thanh liêm dâng sớ kể tội hắn nữa. Những kẻ đó đứng dưới công đường nguyền rủa, hận không thể ăn tươi nuốt sống hắn. Lục Trạch nghe xong mà chỉ thấy nực cười, nhưng hắn chẳng để lọt tai một chứ nào. Hận ta thì đã sao?
Thế nhưng khi nghe Tần Thư nói hận mình, Lục Trạch vô thức khựng bước lại. Nhìn khuôn mặt nhỏ nhắn của nàng dưới ánh trăng vẫn còn vương những giọt lệ long lanh, trong lòng hắn chẳng rõ là đang tức giận hay là cảm giác gì khác, chỉ thấy bỗng chốc trở nên trống rỗng đến lạ thường.
Hắn ngoảnh mặt đi, lời nói đầy vẻ đe dọa: “Họa từ miệng mà ra, nếu không muốn liên lụy đến người bên cạnh, thì tốt nhất nàng nên biết điều một chút. Chỉ là một món đồ chơi thôi, cũng xứng đáng để nói chuyện hận hay không hận sao?”
Lục Trạch bế Tần Thư bước ra, ngoài cửa đã chuẩn bị sẵn một chiếc kiệu bốn người khiêng. Thấy hắn đi tới, Đinh Vị vội vàng vén rèm kiệu lên, rồi hỏi: “Gia, chúng ta về phủ ạ?”
Lục Trạch lại lắc đầu, ra lệnh: “Đến Tây Lăng Thư Ngụ.”
Đinh Vị nghe xong thì trong lòng không khỏi giật mình, nhưng thấy Lục Trạch đang lúc lôi đình thịnh nộ nên chẳng dám tiến lên khuyên can nửa lời.
Tây Lăng Thư Ngụ nằm ở phía Đông của thành Hàng Châu, được giới văn nhân và quan lại mệnh danh là “Đông Phủ Lạc Hồn Tiêu Kim Địa”, chốn ăn chơi phù hoa bậc nhất dành cho các bậc phong lưu, nơi hội tụ những hồng phấn giai nhân hàng đầu của thành Hàng Châu.
Tây Lăng Thư Ngụ nhìn từ bên ngoài chỉ giống như một ngôi nhà dân bình thường, tường xanh ngói xám, đến cả biển hiệu cũng không có, chỉ là dưới mái hiên treo hai chiếc lồng đèn lưu ly vàng son rực rỡ, hoàn toàn xứng đáng với hai chữ “tiêu kim” mà người đời ban tặng.
Đinh Vị từng theo hầu gia đến đây vài lần, nhưng cũng chỉ là để tiếp đãi vị họ Vương từ ngoài khơi xa tới. Y gõ gõ vào vòng cửa, chỉ một lát sau đã có một người thiếu phụ ra mở cửa.
Người thiếu phụ búi tóc theo kiểu phu nhân, mặc áo khoác bằng lụa trắng màu xanh tuyết cùng váy nhu quần, tuổi chừng ngoài ba mươi, trông chẳng khác nào một vị thiếu phu nhân của đại gia tộc. Có điều, thiếu phu nhân nhà quyền quý chẳng ai lại tự mình ra mở cửa đón khách giữa đêm khuya thế này. Nàng ta nở một nụ cười mỉm, không chút lả lơi, trái lại còn khiến người ta cảm thấy đoan trang lễ độ: “Đinh gia.”
Đinh Vị chỉ tay về phía chiếc kiệu: “Hà phu nhân, bên trong là một vị cô nương, hãy dọn dẹp một khoảng sân viện sạch sẽ ra đây.”
Hà phu nhân gật đầu, cũng không hề hỏi han dư thừa: “Mời đi theo tôi.”
Tần Thư ngồi trong kiệu, tựa lưng vào thành kiệu, nhắm nghiền mắt lại. Nàng chẳng nghe thấy lấy một tiếng tơ trúc sáo nhị nào. Xem ra viện tử này rất rộng, từ lúc vào cửa không biết đã qua bao lâu, mới thấy có người vén rèm kiệu lên, Lục Trạch lại bế nàng đi ra ngoài.
Hà phu nhân đứng sang một bên, bất chợt thấy từ bên trong bế ra một nữ tử, đến khi nhìn kỹ lại, nhận ra đó chính là Tổng đốc đại nhân tân nhiệm, trong lòng không khỏi âm thầm kinh hãi.
Tần Thư bị hắn đặt xuống giường, nàng vươn một cánh tay trắng ngần như tuyết chống đỡ lấy thân mình, rồi từ từ ngồi dậy. Nhìn xuống dưới chân là cả một tấm thảm dệt hoa ngọc lan đính hạt châu xen lẫn sợi vàng sợi bạc, nàng hơi nghiêng đầu, không thèm nhìn Lục Trạch, liền thấy khung cửa sổ chạm trổ tinh xảo, bên cạnh cửa sổ có một đỉnh hương đồng xanh đang tỏa làn khói đàn hương vướng vít. Quả là một nơi vừa thanh nhã lại vừa phú quý vô ngần.
Tần Thư cười khẩy một tiếng, rồi ngước mắt nhìn Lục Trạch: “Sao nào, Tổng đốc đại nhân cưỡng bức dân nữ mà cũng phải chọn một chốn lầu xanh kỹ viện thế này cho hợp cảnh hợp tình sao?”
Lục Trạch bước tới bóp chặt cằm nàng, gằn giọng: “Đúng là hạng vô tri không biết sợ, sinh ra đã mang sẵn xương cốt phản chủ. Nàng cứ ở đây mà mài giũa cái tính nết của mình đi, bao giờ mài cho ngoan rồi thì mới được ra ngoài.”
Tần Thư quay mặt đi chỗ khác, rồi lạnh lùng đáp: “E rằng chỉ khiến Tổng đốc đại nhân thất vọng thôi. Loại người vốn không biết điều như ta, thà chết già ở nơi này cũng chẳng màng bước chân ra ngoài.”
Lục Trạch đứng đó, thấy Tần Thư ngẩng cao đầu, những giọt lệ không kìm được cứ lăn dài trên má, nhưng tấm lưng nàng vẫn luôn giữ thẳng băng, không lộ ra một chút khuất phục nào. Hắn vốn định nói thêm điều gì đó, nhưng nhìn thấy cảnh này lại chẳng thốt nên lời, đành quay người phất tay áo bỏ đi.
Hà phu nhân đứng dưới bậc thềm, gương mặt dường như lúc nào cũng giữ một nụ cười mỉm thường trực: “Đại nhân.”
Nàng ta cũng không hỏi han gì thêm, chỉ cung kính chờ Lục Trạch ra lệnh. Hắn nói: “Nha đầu này có tính tình quái gở. Ngươi vốn dĩ có chút bản lĩnh trong việc dạy dỗ người khác, nay ta giao nàng ấy cho ngươi, hãy mài giũa cái nết của nàng ấy đi.”
Hà phu nhân đáp: “Đại nhân đã giao cho tôi làm, thì tôi đương nhiên sẽ tận tâm tận lực. Chỉ là, chúng tôi ở đây dạy dỗ các cô nương, nếu muốn thấy hiệu quả ngay lập tức thì không tránh khỏi việc phải dùng cả nhu lẫn cương, chịu chút đau đớn xác thịt. Còn nếu dùng thủ đoạn ôn hòa hơn thì cũng có, chỉ e là phải tốn thêm chút công phu.”
Lục Trạch sải bước đi thẳng ra ngoài, chỉ để lại một câu: “Ngươi cứ liệu mà làm là được.”
Bên cạnh Hà phu nhân có một ma ma lớn tuổi kinh nghiệm đầy mình đi theo, bà ta khom người ghé sát tai nàng ta thầm thì: “Phu nhân, cái việc này e là khó nhằn đây. Ban nãy đứng ở cửa tôi có nghe lỏm được vài câu, vị cô nương kia xem chừng chẳng phải hạng người dễ dàng thay đổi chủ ý đâu.”
Trái lại Hà phu nhân lại cảm thấy khá tự tin, nàng ta phất phất chiếc khăn tay ra hiệu cho mọi người lui xuống, rồi tự mình bưng lấy khay đựng y phục. Vừa mới đi tới cửa, một chiếc bình sứ trắng đã ném thẳng về phía nàng ta, vỡ tan tành ngay dưới chân. Nàng ta ngẩng đầu lên thì nghe thấy vị cô nương kia nói: “Vị này chắc hẳn là Hà phu nhân rồi. Phu nhân cũng không cần phải tính kế dạy dỗ tôi làm gì. Tôi đến chốn này đã ngót nghét mười năm, những quy củ giáo huấn từng nếm trải chẳng biết bao nhiêu mà kể, nhưng cũng chưa từng có thứ gì khiến tôi thay đổi được những cốt cách trong xương tuỷ.” Nếu như thật sự đổi tính đổi nết, thì kẻ đang sống này chỉ là một cái xác không hồn mang tên Bằng Nhi, chứ chẳng còn là Tần Thư nữa.
Đến đây đã ngót nghét mười năm? Lời này nói ra nghĩa là sao, chẳng phải nàng mới chỉ ở đây chưa đầy một nén nhang sao? Hà phu nhân thấy sắc mặt nàng tái xanh, thầm nghĩ chắc là do giận quá hóa lú nên mới nói mấy lời mê sảng như vậy.
Hà phu nhân vốn không bó chân, nhưng lại đi đôi giày sen vàng nhỏ nhắn đang thịnh hành, bước đi uyển chuyển nhẹ nhàng Nàng ta tiến lại gần rồi mỉm cười ngồi xuống, vừa giúp Tần Thư gỡ lớp ga giường đang quấn chặt trên người, vừa nói: “Đêm đã khuya rồi, cô nương chắc hẳn cũng mệt, ta đã chuẩn bị sẵn nước nóng, cô nương tắm rửa xong rồi nghỉ ngơi đi. Có chuyện gì thì để đến mai chúng ta nói cũng chưa muộn.”
Ánh mắt của Tần Thư vẫn đầy vẻ đề phòng, Hà phu nhân mỉm cười: “Cô nương đừng nhìn ta như vậy, ta là người từng trải, chẳng ai vừa sinh ra đã ở chốn phong hoa tuyết nguyệt này cả, ta có thể thấu hiểu nỗi khổ tâm của cô nương.”
Tần Thư đáp: “Đã vậy thì hà tất phải đến khuyên bảo tôi?”
Hà phu nhân lắc đầu: “Ta không khuyên bảo gì cô nương cả, cũng chẳng có gì để khuyên. Giờ mà ta khuyên nhủ chẳng khác nào xát muối vào vết thương của cô nương, chuyện thất đức ấy ta không làm nổi. Ta và cô nương gặp nhau cũng là cái duyên, đằng nào cô nương cũng phải ở lại đây vài ngày, ta xin làm tròn bổn phận chủ nhà, mời cô nương đi dạo quanh vườn tược các phía cho khuây khỏa tâm hồn.”
Nói xong, nàng ta choàng chiếc áo khoác sạch sẽ vừa mới may lên người Tần Thư, rồi phân phó nha hoàn: “Hầu hạ cô nương tắm rửa.”
Tần Thư như một cỗ máy, để mặc người ta đỡ đến bồn tắm, rồi lại như một cỗ máy được dìu trở lại chiếc giường thêu. Nàng nằm trên giường, ngửi thấy một mùi hương hoa quả thanh đạm, mí mắt mệt mỏi trĩu xuống, nhưng đầu óc lại đau nhức như có kim châm.
Nàng không tài nào hiểu nổi mình đã để lộ ra sơ hở ở đâu. Chẳng lẽ Lục Trạch lại sai người túc trực canh gác tại cửa thành Hàng Châu mọi lúc mọi nơi để nhận diện nàng sao? Không, lúc vào thành nàng ngồi trong xe ngựa, căn bản không hề lộ mặt, làm sao có thể để lại dấu vết được?
Trong đầu nàng cứ vang lên những tiếng ong ong hồi lâu, mãi đến tận lúc trời hửng sáng, nàng mới miễn cưỡng chìm vào giấc ngủ mê mệt.
Lần thứ hai Hà phu nhân quay trở lại đã là buổi trưa của hai ngày sau đó. Bên ngoài tuyết rơi trắng trời như lông ngỗng, tiểu nha hoàn vén rèm lên đón lấy áo choàng, nàng ta đứng lặng một hồi, thấy bên trong im phăng phắc liền hỏi: “Thế nào rồi?”
Một người phụ nữ mặc đồ đỏ đứng bên cạnh nói: “Thưa phu nhân, chuyện này thật lạ lùng. Cô nương kia không khóc cũng chẳng náo loạn, chỉ cứ ôm chăn ngồi thừ trên giường. Đưa cơm vào cũng ăn, có điều tuyệt nhiên không nói nửa lời. Người xem, thế này là đã thông suốt rồi, hay là vẫn chưa thông suốt đây?”
“Đã khuyên nhủ gì chưa?”
Người phụ nữ nọ cau mày: “Khuyên rồi chứ, có điều cô nương kia cứ như người câm, chẳng thốt ra lấy một lời. Không chỉ chúng tôi đâu, ngay cả mấy con bé hầu hạ trong phòng cũng chẳng thấy cô nương ấy nói lấy một câu. Chỉ e là chúng tôi không rõ nông sâu bên trong, chẳng gãi đúng chỗ ngứa của cô nương ấy được. Hơn nữa, vị cô nương này đâu phải người của viện chúng ta. Luận về việc dạy dỗ người khác, phải dùng cả nhu lẫn cương mới xong, chứ cứ một mực nói lời hay ý ngọt thì sao mà thành cho được? Thân phận của cô nương ấy khác biệt, chúng tôi làm sao dám dùng biện pháp mạnh?”
Người này trình bày mọi việc rất mạch lạc, vừa nói vừa liếc nhìn sắc mặt của Hà phu nhân: “Phu nhân, người xem, chúng ta nên làm thế nào cho phải đây?”
Hà phu nhân phất tay ra hiệu cho đối phương lui xuống, rồi đẩy cửa bước vào. Quả nhiên thấy Tần Thư đang ngồi ngẩn ngơ ở đó. Thấy nàng ta bước vào, Tần Thư liền nói: “Tôi có một việc muốn cầu xin Hà phu nhân.”
Hà phu nhân bảo nha hoàn mang một chiếc ghế đẩu đến rồi ngồi xuống một bên: “Cô nương cứ nói, cô là khách quý, việc gì trong tầm tay ta đương nhiên ta sẽ dốc sức thực hiện.”
Tần Thư nói: “Xin hãy giúp tôi gửi một phong thư đến quán trọ Đại Đồng, nói với họ rằng tôi vẫn ổn, bảo họ đừng lo lắng, cứ việc trở về nhà đi.”
Hà phu nhân không trả lời, Tần Thư cười nhạt: “Sao thế, không làm được à?”
Hà phu nhân khẽ lắc chiếc quạt: “Cô nương, cô là người thông minh, không phải ta không làm được, mà là không dám làm. Vị gia đã đưa cô đến đây đêm nọ có thân phận thế nào, chắc hẳn cô rõ hơn ai hết, vậy hà tất phải làm khó nhau như vậy? Cha mẹ sinh thành dưỡng dục vốn chẳng dễ dàng gì, trên đời này đối đầu với ai cũng được, chứ đừng bao giờ tự đối đầu với chính mình. Con người ta sống ở đời, ai cũng chẳng thoát khỏi một chữ ‘khó’, cô nương có cái khó của cô nương, hạng người như bọn ta cũng có cái khó riêng của mình.”
Tần Thư không đáp lời, một bàn tay nàng vân vê những dải tua rua trên chiếc móc vàng, ánh mắt dần trở nên thẫn thờ.
Hà phu nhân khom người hành lễ, rồi chậm rãi lui ra ngoài: “Cô nương là người hiểu chuyện, chắc cũng chẳng cần ta phải nói nhiều thêm nữa.”