Ngoại Thất – Chương 71 – 72

Chương 71

Tần Hành bĩu môi, thần thái ấy giống hệt mẹ cậu, rồi lắc đầu: “Quên thật rồi mà…”

Vừa dứt lời, tiếng nhạc bên ngoài cửa sổ vang lên, ánh đèn tỏa sáng rực rỡ. Hàng chục thiếu nữ đang độ xuân thì từ tám góc của chiếc đình tiến vào, họ vừa hát vừa nhảy múa. Những tà áo bay bổng, điệu múa thướt tha, quả thực mang đậm phong thái của câu thơ: “Miệng động anh đào hé, búi thấp phỉ thúy rơi”.

Tần Hành lập tức bị choáng ngợp, cằm tựa lên bậu cửa sổ, đôi mắt dán chặt không rời. Kinh thành tuy phồn hoa, nhưng cậu vẫn còn là một đứa trẻ lên ba, Tần Thư lại luôn bận rộn, trong phủ không có đàn ông gánh vác, bởi vậy những nơi như thế này cậu chưa từng được đặt chân đến.

Tả Dương thấy đám vũ cơ và ca cơ kia ăn mặc thiếu vải, lúc nắm tay khoác vai nhảy múa cùng nhau còn lộ ra cả đôi chân trắng nõn nà. Bản thân hắn ta thì chẳng sao, nhưng vị “tiểu tổ tông” này thì tuyệt đối không thể nhìn thấy những thứ đó. Nếu quay về mà cậu nhóc lỡ miệng nói ra, thì hắn ta coi như xong đời thật rồi.

Tả Dương đóng cửa sổ lại, dỗ dành nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của Tần Hành: “Tiểu công tử, điệu múa này cũng chẳng có gì lạ đâu. Trước đây chẳng phải cậu nói chưa từng thấy hoa mẫu đơn màu vàng sao? Ở đây có một gốc đấy, hoa mọc còn cao hơn cả cậu nữa cơ.”

Tần Hành còn nhỏ tuổi, quả nhiên liền bỏ mặc điệu múa kia, tò mò hỏi: “Mùa đông mà cũng có hoa mẫu đơn nở sao ạ?”

Tả Dương bế cậu bé lên rồi đi ra phía ngoài: “Đó là chuyện đương nhiên, mẫu đơn nhà họ khác hẳn bên ngoài, được chăm bẵm còn quý giá hơn cả đại tiểu thư cơ, dù là giữa mùa đông giá rét thì hoa vẫn nở. ‘Mẫu đơn trong tuyết’ chính là một thắng cảnh nổi tiếng của tòa lầu này đấy.”

Hai người xuống lầu, đi dọc theo lối mòn nhỏ, sau khi nói với người hầu một tiếng thì có người dẫn đường đưa họ đi.

Đó là một vạt mẫu đơn rộng lớn, những bông Diêu hoàng và Ngụy tử kết thành một dải dài, dáng vẻ vô cùng lộng lẫy và uy nghi. Tần Hành thốt lên kinh ngạc: “Quả nhiên là cao hơn cả ta thật này!”

Chỉ là giống hoa này vô cùng quý giá, được bao quanh bởi lan can ngọc, bình thường không cho phép ai tùy tiện vào trong, chỉ được đứng cách xa ba thước để thưởng ngoạn.

Viên quản sự dẫn hai người đến cười nói: “Cũng là vì Tả nhị gia muốn xem, chúng ta vốn là chỗ quen biết cũ, chứ không thì hoa này quý báu lắm, người thường cũng chẳng mấy khi được xem đâu.”

Tả Dương biết rõ tay quản sự này đang cố tình tâng bốc để giữ thể diện cho mình, liền cười mắng: “Bớt giở trò đó đi.”

Viên quản sự lại nói: “Chẳng giấu gì Tả nhị gia, số hoa này ngày mai là phải mang đi tặng người ta rồi. Người ta đã đào sẵn đất lên, cho cả hoa lẫn rễ vào trong khung, ngay tối nay khi trời tối hẳn là phải khiêng vào phủ của quý nhân rồi.”

Tả Dương đứng sang một bên, rồi thản nhiên trò chuyện: “Đúng là chuyện lạ. Mấy gốc hoa này của các người, trước đây chẳng phải ngay cả Hán Vương muốn lấy mà các người còn cứng đầu nhất quyết không cho đó sao? Vị quý nhân nào mà khiến các người phải sốt sắng dâng tận cửa thế này?”

Viên quản sự vốn đang hết lòng nịnh nọt Tả Dương, thấy xung quanh không có ai liền ghé sát lại, chỉ chỉ về phía Nam: “Chẳng giấu gì ngài, vị ở phương Nam đó vừa hồi kinh rồi, lại còn được bổ nhiệm làm Hộ bộ Thượng thư. Bên trên nói rằng công lao của ngài ấy cao đến mức chẳng còn gì để ban thưởng thêm, mới hỏi ngài ấy muốn được thưởng gì, ngài ấy liền bảo: “Chẳng cầu gì khác, chỉ cầu mẫu đơn trong tuyết”. Thế nên, chúng tôi phải cấp tốc mang sang cho người ta.”

Tả Dương vốn là kẻ thích hóng hớt, hắn ta khoanh tay lại rồi hạ thấp giọng hỏi: “Thật không đấy? Chuyện trước mặt Hoàng thượng mà sao ngươi tường tận thế, cứ như mắt thấy tai nghe vậy.”

Viên quản sự “hừ” một tiếng đầy đắc ý: “Đa Bảo Lâu chúng tôi đây loại người nào mà chẳng có, từ thượng lưu đến hạng ba quân giáo hạng gì chẳng qua lại. Hôm trước con nuôi của Phùng công công ra khỏi cung để đổi một bức họa, chúng tôi lân la hỏi chuyện nên mới biết rõ ngọn ngành đấy chứ.”

Hai người mới nói được vài câu, Tả Dương vừa quay đầu lại đã chẳng thấy bóng dáng tiểu công tử đâu nữa. Hắn ta gọi liền mấy tiếng nhưng không thấy ai thưa, bèn hoảng hốt: “Tiểu công tử, Hành ca nhi, cậu đừng dọa tôi nữa, mau ra đây đi! Chẳng phải cậu muốn ăn kẹo nặn sao? Lát nữa tiểu Tả ca ca sẽ bế cậu đi mua ngay. Chẳng phải cậu nói muốn mua cái đĩa ngọc đựng vải đó sao, còn không mau ra là bị người ta đấu giá mất bây giờ!”

Vừa gào vừa gọi nửa buổi mà ngay cả một tiếng đáp lại cũng không có, viên quản sự kia cũng bắt đầu hoảng loạn. Con trai của nhị gia phiếu hiệu Đại Thông mà bị lạc mất ở chỗ họ, thì cái trách nhiệm này bọn họ gánh không nổi: “Tả nhị gia, ngài đừng gấp, tôi lập tức gọi người đi tìm ngay. Đồ đấu giá hôm nay đều là vật quý trọng, người thường không vào nổi phía sau này đâu, chắc chắn là không mất được đâu.” Nói xong, cả hai liền chia nhau chạy về phía trước tìm kiếm.

Đợi hai người kia đi khỏi, Tần Hành mới từ trong bụi hoa mẫu đơn ló ra, trên tay ôm một con vẹt. Cậu bé nhìn quanh quất nhưng chẳng thấy ai, bèn gọi vài tiếng: “Tiểu Tả ca ca, tiểu Tả ca ca ơi?”

Hóa ra lúc nãy cậu thấy một con vẹt bay vào bụi hoa, sợ nó mổ nát hoa nên đã vội vàng lách qua khe hở lan can để chui vào. Đến khi chui ra được, tay ôm con vẹt thì cậu đã lạc khỏi chỗ cũ mất rồi.

Cậu nhóc vốn dĩ gan dạ, lại thấy hành lang phía trước đèn đuốc sáng trưng, cậu do dự một chút rồi bước về phía đó. Càng đi ánh đèn càng mờ dần, cậu thấy phía trước có một thủy các đang thắp đèn, có một bóng người thấp thoáng ẩn hiện.

Đôi chân ngắn ngủn của Tần Hành thoăn thoắt chạy tới, thấy ở cửa quan có một nam tử mặc huyền y mang theo trường kiếm đang đứng canh giữ. Cậu bé liền nở một nụ cười ngọt ngào, rồi cất giọng sữa non nớt: “Đại thúc, con bị lạc đường rồi, người có thể đưa con về không?” Lúc ở Tiểu Đàn Viên, cậu dùng chiêu này lần nào cũng linh ứng, chẳng ai là không chiều theo ý cậu cả.

Người nọ chẳng mảy may đáp lời, gương mặt sầm lại lắc đầu, đôi cánh tay đang khoanh trước ngực khẽ nghiêng đi, để lộ ra lưỡi kiếm sắc lạnh tuốt khỏi vỏ.

Tần Hành bị dọa cho giật mình, nụ cười trên môi vụt tắt. Cậu bé cố lấy lại bình tĩnh, rồi cũng sầm mặt nói: “Ngươi muốn làm gì? Đây là dưới chân thiên tử, ngươi mà giết người là sẽ bị đưa đi xử trảm sau mùa thu đấy. Nếu thanh đao chém đầu không sắc, cái đầu của ngươi sẽ còn dính lủng lẳng với da cổ, sống không được mà chết cũng chẳng xong đâu!”

Từ trong thủy các truyền ra một tiếng phân phó: “Đinh Vị, đừng dọa nạt trẻ con nữa, dẫn nó vào đây.”

Tần Hành cũng chẳng hề sợ hãi, trong lòng thừa hiểu kẻ đứng ngoài kia chỉ là nô tài, người ngồi bên trong mới là chủ tử nắm quyền quyết định. Cậu ôm con vẹt sải bước vào trong, thấy một nam tử mặc thanh y đang ngồi đó, môi mỏng, gò má hơi gầy, đôi mắt phượng dài hẹp, trông chừng cũng trạc tuổi đại thúc mặc huyền y ngoài kia. Người nọ đang múa bút trên án thư, thấy cậu liền vẫy tay ra hiệu: “Ngươi là con cái nhà ai?”

Tần Hành bước lại gần, cái đầu nhỏ mới vừa cao hơn án thư nửa gang tay. Thấy trên bàn đặt một bức thư pháp, cậu bé nghiêng đầu ngắm nghía. Đây là lối chữ Thảo, viết đến độ rồng bay phượng múa, khiến cậu nhận mặt chữ vô cùng chật vật: “Ngọa thạch thính… cái gì tùng sắc, khai môn khán vũ, nhất phiến cái gì thanh…”

Cậu bé trông khôi ngô như tạc bằng phấn ngọc, giọng nói lại còn nồng mùi sữa non nớt. Lục Trạch mỉm cười, đưa tay gạt chiếc lá mẫu đơn vương trên tóc cậu xuống, rồi bế cậu đặt ngồi lên đầu gối mình, kiên nhẫn dạy cậu nhận mặt từng chữ một: “Ngọa thạch thính đào, mãn sam tùng sắc; khai môn khán vũ, nhất phiến tiêu thanh.”

Tần Hành lẩm nhẩm đọc theo một lượt, rồi chỉ vào chữ “Đào” mà nói: “Đại thúc, chữ này người viết giống hệt mẹ của con. Tiên sinh nói nét chấm như quả đào, nét phẩy tựa ngọn đao, chính là lối chữ ‘Kim Thác Đao’ của Nam Đường Hậu Chủ.”

Lục Trạch chẳng rõ vì sao trong lòng lại thấy đứa nhỏ này vô cùng thân thiết, bèn chấm mực viết một tờ khác, chỉ cho cậu xem: “Kiểu chữ này mới đích thực là ‘Kim Thác Đao’ của Nam Đường Hậu Chủ, dùng để viết đại tự trên cuộn lụa, uốn lượn tựa rồng bay, thanh thoát như chim hồng nhạn.”

Tần Hành ngồi ngoan trong lòng Lục Trạch, nghe giọng nói của người nọ vừa ôn hòa vừa uy lực, cậu bé ngoan ngoãn gật đầu: “Hóa ra là tiên sinh đã nhầm rồi.” Cậu thở dài một tiếng: “Đại thúc, giá mà người là tiên sinh của con thì tốt biết mấy. Người biết nhiều hơn ông ấy bao nhiêu, chữ viết cũng đẹp hơn ông ấy bội phần.”

Lục Trạch mỉm cười rồi khẽ hỏi: “Ngươi là con cái nhà ai? Năm nay bao nhiêu tuổi rồi?”

Tần Hành thấy trên bàn bày một ống cắm bút bằng bích ngọc, liền từ trên gối nhảy xuống, đưa tay sờ vào những hình sơn thủy khắc nổi trên đó, cằm tì sát lên cạnh án thư: “Con bốn tuổi rồi, là con cái nhà họ Tần ở Tiểu Đàn Viên ạ.”

Cậu bé đứng đối diện Lục Trạch, thấy gương mặt người nọ lúc nãy còn mỉm cười, vừa nghe xong câu này thì sắc mặt lập tức u ám hẳn đi. Tần Hành biết mình đã nói sai điều gì đó, bèn rụt rè hỏi: “Đại thúc, người sao thế? Người có quen biết nhà chúng con không?”

Lời vừa ra khỏi miệng, trong lòng cậu đã thầm trách mình không nên nói. Tần ma ma từng bảo, kẻ thù của nhà họ nhiều vô kể, mẫu thân dường như cũng đã đắc tội với không ít người. Người này vừa nghe đến ba chữ ‘Tiểu Đàn Viên Tần gia’ , thì sắc mặt liền sầm lại như thế, e rằng cũng là một kẻ thù của nhà mình rồi.

Lục Trạch lẽ nào lại không nhìn thấu tâm tư của cậu bé, hắn duỗi ngón tay giữa, khẽ gõ nhẹ lên trán Tần Hành: “Đại thúc cũng từng có một đứa con, nếu như còn sống, có lẽ cũng đã lớn bằng nhường này rồi.”

Tần Hành đảo tròn mắt, câu hỏi tuôn ra dồn dập như súng liên thanh: “Thật sao ạ? Bạn ấy cũng bốn tuổi sao? Bạn ấy bị bọn buôn người bắt cóc, hay là bị lạc mất rồi? Là bé nam hay bé nữ ạ? Trên người bạn ấy có vết bớt gì không? Mọi người đã đi tìm chưa…”

Cậu bé vốn dĩ quen thói nghịch ngợm gây rối, nhưng ở cái tuổi này đã sớm học được cách nhìn sắc mặt người lớn. Thấy dáng vẻ của Lục Trạch lộ rõ vẻ cô tịch, cậu liền biết điều ngậm miệng lại: “Đại thúc, xin lỗi người, hình như con hỏi hơi nhiều rồi.”

Trước kia mỗi khi phạm lỗi trước mặt Tần Thư, cậu lại cố tình bày ra bộ dạng đáng thương như chú hươu nhỏ này. Lục Trạch nhìn cậu, thoáng chút thẫn thờ, bất giác cảm thấy thần thái của đứa nhỏ này có vài phần quen thuộc. Hắn xoa đầu cậu bé: “Không sao, là tự đại thúc nhớ lại chuyện buồn mà thôi.”

Tần Hành “ồ” lên một tiếng. Cậu vốn có tính hay để bụng, thầm nhủ trong lòng: “Ai bảo tên thị vệ kia của người dám dọa nạt ta làm gì, vậy thì người cứ tự mình đau lòng thêm một lát nữa đi.” Chợt thấy dưới tờ giấy tuyên có một tấm da dê, cậu bé rút ra xem, liếc mắt một cái đã nhận ra ngay: “Là Lữ Tống này! Chỉ tiếc là tỷ lệ không được đúng cho lắm, đường bờ biển cũng vẽ sai cả rồi.”

Lục Trạch không khỏi kinh ngạc. Tấm bản đồ này là do thương nhân hàng hải mang về, cho dù là người lão luyện như hắn, lại đã để mắt tới vùng này từ lâu, cũng không thể vừa nhìn đã khẳng định được tỷ lệ hay đường bờ biển sai lệch. Hắn cất giọng hỏi: “Cháu cũng xem hiểu được bản đồ sao?”

Tần Hành mím môi chẳng đáp, cậu không nói thật mà chỉ lắc đầu qua chuyện. Kỳ thực cậu đương nhiên xem hiểu, bởi trong thư phòng của mẫu thân có treo một bức bản đồ lớn vùng Lữ Tống trị giá vạn lượng vàng. Mẫu thân thường chỉ vào bản đồ mà dạy cậu rằng: “Đây là Lữ Tống, nơi có những bến cảng tuyệt hảo, sản vật phong phú, lại còn nức tiếng là vùng đất thịnh vượng nhiều vàng.”

Bỗng nhiên từ bên ngoài vang lên một tràng cười sảng khoái: “Ha ha ha, Tuyên Viễn huynh thật là nhã hứng, đêm hôm khuya khoắt vẫn còn ngồi đây dạy bảo hài nhi.”

Người bước vào có gương mặt chữ điền, bộ râu rậm rạp che khuất nửa khuôn mặt, trên chân mày bên trái có một vết sẹo lớn. Giọng nói của người nọ sang sảng, đưa tay xoa xoa mặt Tần Hành: “Đây chắc hẳn là công tử nhà Tuyên Viễn huynh rồi!”

Vừa nói, gã vừa tháo miếng ngọc bội bên hông xuống, nhét vào tay Tần Hành: “Bá bá lần đầu gặp cháu, chưa kịp chuẩn bị gì, miếng ngọc này coi như là chút quà gặp mặt vậy.”

Người nọ có diện mạo dữ tợn, trên mặt lại có vết sẹo đao, giọng nói lại oang oang, nhưng Tần Hành từ nhỏ đã bạo gan, lại thường được mẹ dẫn đi gặp các vị thúc bá ở các phân hiệu, thế nên vẻ mặt của cậu vẫn bình thản như thường, chỉ nhỏ giọng chối từ: “Con không phải là nhi tử của đại thúc, con họ Tần ạ.”

Lục Trạch vỗ vai cậu bé, bảo rằng: “Đã là đồ tặng cho cháu thì cháu cứ nhận lấy đi.” Nói xong, hắn gọi Đinh Vị vào: “Đứa nhỏ này bị lạc đường, chắc hẳn người nhà đang tìm kiếm, ngươi hãy đưa nó ra ngoài kia thăm dò xem sao, nếu không tìm thấy thì đưa nó về thẳng Tiểu Đàn Viên.”

Tần Hành có chút ngần ngại, mẹ vốn dặn không được tùy tiện nhận đồ của người ngoài. Có điều, cậu nhìn Lục Trạch một chút, lại nhìn miếng ngọc bội trong tay, thấy nó dường như cũng chẳng đáng giá bao nhiêu, bèn gật đầu: “Đa tạ đại thúc.”

Đinh Vị bế cậu ra khỏi thủy các, mới đi được chừng trăm bước đã bắt gặp Tả Dương đang đôn đáo tìm người ở phía trước. Tần Hành liền vẫy vẫy tay gọi lớn: “Tiểu Tả ca ca!”

Tả Dương mồ hôi nhễ nhại vì lo lắng, vội vàng đón lấy cậu bé: “Tiểu tổ tông của tôi ơi, tôi vừa mới sơ sẩy một chút mà cậu đã chẳng biết chạy đi đằng nào rồi. Nơi đây người xe đông đúc, nếu cậu mà lạc mất thì tôi xong đời mất thôi. Mà miếng ngọc bội này từ đâu ra thế?”

Tần Hành đáp: “Là một vị đại thúc tặng, à không, là bạn của đại thúc ấy tặng ta.”

Tả Dương thấy Đinh Vị đi ủng quan, thanh bội đao bên hông cũng chẳng phải vật tầm thường. Ở mảnh đất Kinh thành này, đạo lý hàng đầu vốn là “hòa khí sinh tài”, nên hắn ta lập tức chắp tay hành lễ: “Đa tạ huynh đài này, chẳng hay phủ thượng ở đâu, để ngày sau chúng tôi nhất định chuẩn bị hậu lễ tới bái tạ.”

Đinh Vị vốn đã kinh qua bốn năm năm chinh chiến, vóc dáng càng thêm khôi ngô, vạm vỡ. Y chỉ chắp tay đáp gọn lỏn: “Không cần đâu.” Nói xong, y dứt khoát quay người rời đi.

Tả Dương thấy cử chỉ hành sự của người nọ, biết chắc hẳn là bậc có thân phận không tầm thường, nên cũng chẳng dây dưa thêm. Hắn bế Hành ca nhi về khu vực ngồi riêng biệt, vừa vặn thấy giữa đình đang bày một chiếc chén quai đơn hoạ tiết quả vải, để khách bắt đầu đấu giá.

Tả Dương liếc nhìn Hành ca nhi, thấy cậu bé vẫn đang mải mê nghịch món đồ chơi là miếng ngọc bội kia, chẳng thèm ngó ngàng gì đến chiếc chén ngọc trên đài, liền biết ngay lúc nãy cậu chỉ lấy cớ mua đồ để lẻn ra ngoài chơi mà thôi. Tuy vậy hắn ta vẫn giơ bảng, chi ra ba năm ngàn lượng bạc để đấu giá thành công vật ấy.

Lúc trở về, Tần ma ma đã đợi sẵn ở cửa. Vừa xuống xe ngựa, bà liền đón lấy Hành ca nhi đang ngủ say, đồng thời ra hiệu ngắt lời Tả Dương: “Tiên sinh hôm nay mệt rồi, cậu cứ về đi, mai hãy đến. Nếu người thực sự muốn ‘thanh lý môn hộ’ thì hôm nay đã chẳng để cậu dẫn tiểu công tử ra ngoài rồi.”

Tả Dương trịnh trọng đa tạ, giao chiếc chén bạch ngọc cho Linh Lung đang đứng cạnh ma ma, rồi lại lấy từ trong tay áo ra một cặp búp bê cầu phúc: “Linh Lung, biết cô thích thứ này, nay đi trên phố thấy được nên ta mua về tặng cô đấy.”

Linh Lung đón lấy cặp búp bê cầu phúc, thấy đó là một đôi gồm một nam một nữ, cô ấy khẽ lắc đầu: “Huynh cầm về đi, nay ta lớn rồi, chẳng còn thích những thứ này nữa, sau này cũng đừng tặng ta nữa.” Nhưng trong thâm tâm, cô ấy lại thầm nghĩ: “Cô nương nói đúng, một người có thực sự thích một người khác hay không, điều đó vốn dĩ vô cùng rõ ràng.”

Linh Lung xoay người đi vào trong, Tả Dương gọi với theo, gương mặt không hiểu chuyện gì đang xảy ra: “Linh Lung, cô làm sao thế?”

Linh Lung chẳng thèm ngoảnh đầu lại, chỉ khẽ lắc đầu: “Không có gì, cô nương nói đúng, là do ta còn ít tuổi, gặp gỡ người đời còn quá ít mà thôi.” Nói xong, cô ấy đi thẳng vào trong. Đám nha hoàn và bà tử xách lồng đèn lụa mỏng, chậm rãi khép lại cánh cổng chính.

Chương 71

Khi Tần Hành được bế về đến Đạm Tĩnh Đường, thì cậu bé đã ngủ rất say, gương mặt nhỏ nhắn hồng rực, đôi mắt cũng là dáng mắt phượng hệt như Lục Trạch, hàng mi vừa dày vừa dài.

Tần Thư cởi y phục cho cậu, lấy khăn tay lau mặt lau tay, không rõ là chạm phải chỗ nào trên người mà khiến cậu bé mơ màng mở mắt ra. Cậu bé ngẩn ngơ nhìn Tần Thư một lúc lâu, rồi lại như một “ông cụ non” khẽ thở dài một tiếng, vòng tay ôm lấy cổ nàng: “Mẹ ơi, con yêu mẹ nhiều lắm.”

Tần Thư lạ gì cái trò “mồm mép tép nhảy” của cậu bé, nàng chẳng hề lay động, hỏi vặn lại: “Thế nào mới gọi là yêu hả?”

Tần Hành ngẫm nghĩ một hồi: “Là nhường bánh bao nước con thích ăn nhất cho người này, sau này con sẽ trồng thật nhiều hoa mẫu đơn mà người thích nữa, rồi dẫn người đi chơi, mua kẹo hồ lô cho người, bất kể là món ăn vặt gì người cũng đều được ăn thỏa thích, con đều để người ăn hết.”

Đây rõ ràng là cậu đang mượn cớ để than phiền việc nàng chẳng bao giờ cho mình ăn vặt đây mà. Tần Thư vờ như không hiểu ý tứ đó, nàng lắc đầu: “Mấy thứ này ta đều có cả rồi, ta muốn ăn bánh bao nước là có bánh bao nước, muốn ăn kẹo hồ lô là có kẹo hồ lô. Những thứ con vừa nói, ta đây chẳng thiếu thứ gì.”

Tần Hành bĩu môi: “Người khó tính đến vậy sao?”

Tần Thư liền hỏi: “Tại sao con lại trêu chọc tiên sinh?”

Tần Hành nhắm nghiền mắt lại, hàng mi khép lại tựa như hai chiếc quạt nhỏ. Cậu kéo chăn trùm kín đầu, giọng nói vang lên nghẹt nghẹt từ trong chăn: “Hôm nay vốn dĩ là do Đại Mập không thuộc bài, lại còn giật tóc bạn nữ trong lớp. Tiên sinh bèn phạt cậu ta đứng, còn mắng cậu ta là ‘Nuôi con mà không dạy dỗ là lỗi của người cha’, bảo rằng nếu cậu ta còn không sửa thì sẽ mời phụ thân cậu ta đến.”

Tần Thư vỗ nhẹ lên bờ vai nhỏ của cậu, nàng sớm đã đoán được nội dung phía sau. Nghe cậu vẫn trốn kỹ trong chăn, giọng nói càng kể càng thấy uất ức, thấp thoáng cả tiếng nức nở: “Ai mà ngờ được Đại Mập đứng phắt dậy nói, rằng trước đây Hành ca nhi cũng phạm lỗi, sao tiên sinh không mời phụ thân cậu ta đến… Tiên sinh nói, nói con không có cha, nếu có, thì cũng sẽ gọi đến như vậy.”

Tần Thư lặng lẽ vỗ về tấm lưng nhỏ của cậu, nghe tiếng cậu bé thút thít nức nở trong chăn mà đột nhiên cảm thấy thật bất lực. Nàng là người trưởng thành, có thể chẳng màng đến những định kiến thế tục này, dẫu có nghe thấy cũng chỉ cười nhạt cho qua. Thế nhưng, một đứa trẻ ba bốn tuổi thì lại khác, tâm hồn nhạy cảm và yếu ớt ấy chắc chắn sẽ bị tổn thương sâu sắc.

Đợi đến khi tiếng nức nở dần dần nhỏ đi, Tần Thư mới lấy khăn tay ra lau nước mắt nước mũi cho cậu, rồi trịnh trọng bảo: “Hành nhi của chúng ta sao lại không có cha được chứ? Chỉ là khi con còn rất nhỏ thì cha đã qua đời rồi, vậy nên con mới không nhớ được cha mà thôi. Cái tên của con cũng là do đích thân cha đặt cho đấy. Hành có nghĩa là viên ngọc quý, cha hy vọng sau này con có thể trở thành một người đức độ như ngọc vậy.”

Tần Hành lộ ra đôi mắt đen láy: “Ngọc quý sao ạ? Tiên sinh bảo đọc sách là để đi thi, để đỗ Tiến sĩ, sau này ra làm quan, những người như thế mới được coi là ngọc quý chứ ạ?”

Tần Thư khẽ nhíu mày. Dù nàng đã ra sức ngăn chặn, nhưng những quan niệm phân biệt sang hèn của thói đời vẫn không thể tránh khỏi việc gây ảnh hưởng đến con trai mình: “Mẹ chỉ mong sau này con luôn khỏe mạnh, vui vẻ, có thể làm những việc mình thực sự muốn làm, chứ không nhất thiết cứ phải đi thi khoa cử làm quan.”

Những lời này đối với cậu bé mà nói còn quá xa vời, cũng có phần quá thâm sâu. Tần Hành mím môi: “Hiện giờ con cũng đang rất vui mà.”

Tần Thư xoa xoa cái đầu nhỏ của con: “Ngủ đi thôi, vậy thì hãy cứ luôn vui vẻ như thế nhé.”

Sáng sớm ngày hôm sau, Tần Thư vừa mới ngủ dậy, Tần ma ma đã chọn một chiếc trâm bích ngọc để búi tóc cho nàng, bà cảm thán: “Cô nương ngày đêm lo liệu việc ở phiếu hiệu, trước kia tóc rụng cả mớ, nay nhờ dùng phương thuốc của Thịnh phu nhân, cộng thêm việc chăm chút kỹ lưỡng, mà tóc lại đen nhánh mượt mà, trông cứ như dải lụa vậy.”

Tần Thư soi mình trong gương đồng, tuy lớp vỏ bọc này mới có hai mươi ba tuổi, nhưng ánh mắt lại già dặn hơn nhiều so với tuổi thật. Nàng khẽ thở dài, rồi thầm nghĩ: Đúng là đi làm chính là một loại hành xác. Ở hiện đại mình vốn là một đứa lười biếng, dù ở cổ đại bị hoàn cảnh ép phải đi lên, nhưng vẫn chẳng thể nào có được dáng vẻ thần thái rạng ngời, tinh thần phấn chấn như người chị khóa trên kiểu “phụ nữ thép” của mình.

Thấy Tần ma ma còn định cài thêm trâm châu báu lên đầu mình, nàng liền ngăn lại: “Đừng bày vẽ thêm nữa, đeo nhiều thế này mỏi cổ lắm.”

Tần ma ma ngần ngại: “Cô nương, chúng ta ở nhà mình thế nào cũng được. Nhưng hôm nay phải đến phủ Định Võ Hầu, vị Hầu phu nhân nhà ấy nổi tiếng là kẻ nhìn trang phục mà bắt hình dong, lại vốn dĩ chẳng ưa gì hạng thương nhân như chúng ta. Lão nô chỉ sợ nếu mình giản dị quá, e là lại không hay.”

Tần Thư gật đầu: “Vẫn là ma ma chu đáo, bà cứ xem mà sắp xếp đi.” Trên đời này quả thực luôn có kiểu người vừa nhòm ngó bạc trong túi bạn, lại vừa chê bai bạn nồng nặc mùi đồng tiền.

Tần ma ma vừa trang điểm cho Tần Thư vừa nói: “Chẳng phải do lão nô chu đáo đâu, mà là vì cô nương từ trước đến nay vốn chẳng màng đến chuyện phân chia thân phận. Ngay cả với đám nô tỳ chúng tôi, người cũng chỉ đối đãi như người bình thường, không hề coi chúng tôi thấp kém hơn một bậc. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, với những nơi như phủ Định Võ Hầu, chỉ sợ một câu nói của Hạ học sĩ còn có tác dụng hơn cả việc cô nương dăm lần bảy lượt đích thân tới cửa.”

Tần Thư xưa nay vốn không bao giờ nói những chuyện cơ mật này với bọn họ, nàng chỉ lắc đầu: “Văn võ khác biệt, đại thần vốn không nên kết giao với tầng lớp huân quý, Hạ học sĩ lúc này cũng có cái khó riêng của mình.” Nào chỉ là có cái khó, mà thực tế là đang lo sợ nơm nớp, như đi trên băng mỏng vậy.

Tần ma ma im lặng không nói tiếp. Chờ đến khi trang điểm xong xuôi, bà mới lên tiếng: “Cô nương vốn dĩ đã có dung mạo rực rỡ, nay điểm xuyết thêm trâm cài đá quý thế này, trông sắc diện lại càng thêm tươi tắn.”

Bên ngoài, nha hoàn bưng cháo trắng và dưa muối vào. Tần ma ma bày biện xong xuôi rồi trước tiên lấy đũa nếm thử một miếng. Đây là thói quen từ hồi ở trong cung đưa ra, bà chẳng cách nào sửa được. Bà quay đầu lại nói: “Cô nương, đây là mẻ dưa muối đầu tiên trong năm của hiệu Lục Tất Cư, người mau tới dùng thử đi.”

Buổi sáng Tần Thư vốn ăn không nhiều, nhưng lo rằng khi đến phủ Định Võ Hầu cũng chẳng còn tâm trí đâu mà ăn uống, nên nàng cố gắng ăn hết một bát cháo cùng với dưa muối. Thấy vẻ mặt đầy mong đợi của Tần ma ma, nàng mỉm cười rồi nói: “Dưa muối của Lục Tất Cư quả nhiên danh bất hư truyền, ta thấy nên đặt thêm một ít nữa để mọi người trong phiếu hiệu cùng nếm thử.” Chuyện là hiệu dưa muối Lục Tất Cư này cũng do người họ hàng xa của Tần ma ma mở, đứa con trai độc nhất của bà cũng đang làm việc tại đây.

Tần ma ma cười nói: “Vậy lão nô thay mặt thằng bé cảm tạ cô nương. Vốn dĩ cô nương có ý muốn gọi nó vào phiếu hiệu làm việc, nhưng cái tính nó lầm lì, cứ thấy người lạ là nửa lời cũng chẳng thốt ra được, thôi thì cứ để nó theo biểu cữu học cái nghề làm dưa muối này có khi lại hay hơn.”

Tần Thư dùng bữa xong, sai người chuẩn bị xe ngựa để ra ngoài. Nàng vừa mới ra khỏi cửa nhị thì đã thấy Tả Dương đang quỳ dưới gốc cây chuối tây, miệng thưa: “Hôm qua thuộc hạ không nên tự ý đưa tiểu công tử ra ngoài, xin tiên sinh trách phạt.”

Tần Thư liếc nhìn một cái rồi giẫm lên bục để lên xe ngựa. Nàng vừa vén rèm vừa lạnh lùng dặn dò: “Dương Châu thì ngươi đừng mong quay về đó nữa. Hãy đi tìm sư phụ của ngươi đi, có một nơi tên là Lữ Tống, ngươi hãy đến đó.” Lữ Tống cách xa vạn dặm, so với bị điều đi lính biên thùy còn khổ cực hơn nhiều.

Thế nhưng Tả Dương lại thở phào nhẹ nhõm, dập đầu tạ ơn: “Đa tạ tiên sinh.”

Ra khỏi cửa, xe ngựa hướng thẳng về phía đại lộ nơi phủ Định Quốc Công tọa lạc. Trải dọc con phố này toàn là dinh thự của những đại gia tộc huân quý có từ thời khai quốc, nếu không cũng là phủ đệ của các đại thần được ban ban thưởng sau khi chủ cũ bị tước tước vị hay tịch thu gia sản. Xe vừa mới đi đến đầu phố đã thấy kiệu xe qua lại tấp nập, thậm chí còn tắc nghẽn đến mức nước chảy không lọt.

Tần ma ma bèn nói: “Lão thái quân nhà Định Võ Hầu từng có hai năm nuôi dạy đương kim Quý phi, nhờ thế mà cả nhà được hưởng ân sủng. Vốn dĩ trước kia cũng chỉ là một gia đình sa sút, ấy vậy mà giờ đây lại khách khứa đầy nhà.”

Tần Thư nhắm mắt, lắng nghe Tần ma ma kể chuyện xưa: “Vị Quý phi này nhập cung khoảng sáu bảy năm trước, bản lĩnh cũng thật đáng nể, đến cả Hoàng hậu cũng bị ghẻ lạnh. Nếu không thì làm gì có vinh hoa phú quý như ngày hôm nay cho nhà Định Võ Hầu.”

Một lát sau, có một tiểu sai đến dẫn đường, xe ngựa lại tiến lên phía trước mấy mươi bước, rồi đi vào từ một cánh cửa ngách nhỏ hẹp.

Tần ma ma lập tức sầm mặt lại: “Cô nương, lão nô nghĩ rằng, ngay cả hạng họ hàng xa đến đây để ‘đào mỏ’ nhà Định Võ Hầu cũng chẳng phải đi lối cửa này, đây rõ ràng là cửa dành cho kẻ hầu người hạ. Hầu phu nhân đã gửi thiếp mời chúng ta tới, lại còn làm ra cái kiểu cách này, không sợ thói hẹp hòi của mình sẽ gây thù chuốc oán sao?”

Tần Thư vỗ nhẹ lên tay bà, ra hiệu cho bà bình tĩnh chớ nóng vội. Nàng vén rèm bước xuống xe, mỉm cười với đám nha hoàn và bà tử của Hầu phủ: “Làm phiền các người đã ra đón ta.”

Tần ma ma hiểu ý ngay lập tức, bà liền dúi một túi bạc vào tay người bà tử kia, chỉ thốt ra hai chữ ngắn gọn: “Làm phiền.”

Đám nha hoàn và bà tử này lập tức cười tươi rói. Tuy vị Tần phu nhân này không được lòng Hầu phu nhân nhà mình, nhưng người ta lại ra tay rất hào phóng. Chỉ riêng việc ra đón rước thế này thôi, mà mỗi người đã được chia tới năm lượng bạc, thế nên ai nấy đều vô cùng hớn hở.

Mấy người họ cười nói hớn hở dẫn Tần Thư vào trong, vừa đi vừa khéo léo nói đỡ để giữ thể diện cho nàng: “Hôm nay là sinh nhật của Nhị thái thái nhà chúng tôi, khách khứa nữ quyến đi lại rất đông. Phu nhân nhà chúng tôi có dặn trước, nếu có điều gì tiếp đón không chu toàn, xin Tần phu nhân lượng thứ cho.”

Tần Thư khách sáo đáp: “Đâu có, đâu có.” Nàng ngước mắt quan sát, thấy nơi đây tuy chỉ là phủ Hầu, nhưng tường đỏ ngói xanh, từng viên gạch hòn ngói đều đúng quy chuẩn pháp độ. Trong phủ không trồng nhiều hoa cỏ, chủ yếu là các loại cây xanh tốt um tùm, bấy nhiêu đó đủ để nàng nhận ra rằng, phủ đệ này tuy quý hiển thật đấy, nhưng lại chẳng hề dính dáng đến chữ “giàu” một chút nào.

Cả nhóm đi về phía chính viện, đám nha hoàn nô bộc đi lại như thoi đưa, bận rộn không ngơi tay, tuyệt nhiên chẳng có ai đoái hoài gì đến Tần Thư cả.

Bà tử dẫn nàng đến nắm lấy một tiểu nha hoàn hỏi: “Nhị thái thái và phu nhân đi đâu rồi?”

Con bé đó gạt tay bà ta ra, nhíu mày khó chịu: “Bà Triệu này, tay bà vừa làm cái gì thế hả? Đây là áo mới của tôi đấy. Nhị thái thái muốn xem kịch, phu nhân đã dẫn khách khứa sang lầu kịch Thanh Xuyên cả rồi.”

Bà tử kia kéo con bé nha hoàn sang một bên hỏi nhỏ: “Thế còn vị Tần phu nhân này thì tính sao? Dẫn người ta sang bên lầu kịch hay là để ở đây chờ?”

Con bé đó nghiêng người liếc nhìn một cái, rồi chau mày: “Ở lầu kịch toàn là các phu nhân có phẩm hàm, có cáo mệnh, một nhà buôn như thế này làm sao xứng đáng bước chân vào đó. Bà muốn dẫn thì tự đi mà dẫn, tôi đây không muốn bị phu nhân quở trách đâu.”

Hai người họ nép vào một góc thì thầm to nhỏ: “Đây là chưởng quầy của phiếu hiệu Đại Thông đấy, không giống với hạng nhà buôn tầm thường đâu.”

Con bé nha hoàn kia trợn mắt: “Có gì mà không giống? Chẳng qua là nhiều tiền hơn một chút thôi, mà giàu đến mấy thì có giàu bằng mấy ông trùm buôn muối được không? Mấy phu nhân nhà muối đến đây chẳng phải cũng phải quy củ mà chờ đó sao? Phu nhân đã dặn rồi, giờ đây trong bụng Quý phi nương nương đã có long thai, phủ chúng ta không thể hạng người nào cũng gặp được.”

Con bé nha hoàn tiện tay chỉ một hướng: “Hôm nay ai nấy đều đang bận tối mắt tối mũi, bà cứ dẫn nàng ta đến phòng trà mà ngồi đợi đi.”

Tần Thư tuy đứng cách đó một quãng, nhưng thính lực cực tốt nên đã nghe thấy rõ mồn một. Nàng cũng chẳng buồn che giấu việc mình đã nghe được, trên mặt vẫn giữ nụ cười hòa nhã: “Nếu đã như vậy, phiền vị cô nương đây dẫn ta tới phòng trà vậy.”

Tần Thư ngồi trên chiếc ghế đẩu trong phòng trà, gạt nhẹ lớp bọt trà nổi trên chiếc tách bằng sứ trắng thô kệch, khiến Tần ma ma không khỏi than vãn: “Cái loại sứ này, cái loại trà này, ngay đến nha hoàn trong Tiểu Đàn Viên của chúng ta cũng chẳng thèm dùng đến. Mang thứ này ra đãi khách, đúng là quá sức khinh người.”

Tần Thư không đáp lời, chỉ chỉ tay ra phía bên ngoài rồi mỉm cười: “Tần ma ma, mấy lời càm ràm này cứ để về nhà rồi hãy nói.”

Thành thật mà nói, những kiểu tiếp đón lạnh nhạt thế này, Tần Thư cũng hiếm khi gặp phải. Mấy năm đầu, tình cảnh của Hạ học sĩ vẫn còn thuận lợi, có thể ra mặt giúp nàng xoay sở khéo léo, chỉ khó khăn là ở một hai năm trở lại đây thôi. Hơn nữa, phiếu hiệu Đại Thông có tài lực hùng hậu, thế lực lớn mạnh, Tần Thư lại luôn sòng phẳng trong việc chi tiền lo liệu hay chia cổ phần, nên những bậc quyền quý thông thường chẳng mấy ai lại đối xử lạnh nhạt với nàng đến mức này.

Chỉ duy có nhà này, một mặt nhờ dựa dẫm vào vị Quý phi trong cung, mặt khác lại vì mối quan hệ mập mờ và khó nói với Hạ học sĩ, nên mới cố ý gây khó dễ đủ đường.

Chẳng biết đã ngồi đợi bao lâu, Hầu phu nhân mới chịu chậm chạp xuất hiện. Bà ta chừng hơn ba mươi tuổi, khoác trên mình bộ gấm Thụy Cẩm hoa nhí màu xanh bảo lam, người nồng nặc mùi rượu, hai gò má đỏ gay vì lớp phấn trang điểm. Chưa kịp bước vào cửa, bà ta đã cất tiếng cười giòn giã: “Tần phu nhân, tôi đến muộn rồi.”

Vừa nói bà ta vừa đẩy cửa bước vào, trước tiên tự lấy một chiếc chén, rót một ngụm trà uống cạn rồi cười nói: “Vẫn là cái thứ trà thô này uống mới giải khát làm sao.” Nói xong, bà ta đưa mắt nhìn quanh phòng trà chật hẹp, liền cất tiếng cười mắng mấy đứa nha hoàn vài câu: “Mấy đứa này thật chẳng biết làm việc gì cả, Tần phu nhân là khách quý của ta, sao lại không tìm nơi nào rộng rãi một chút cho người ta ngồi? Nếu không phải thấy ngày thường mấy đứa làm việc siêng năng, thì ta đã chẳng nể tình mà phạt nặng rồi.”

Bà ta lại nắm lấy tay Tần Thư, kéo về phía chính đường: “Tới đây, tới đây nào. Chuyện làm ăn thì vẫn cứ phải hỏi mấy người như các cô mới được, chứ mấy vị phu nhân nhà Công phủ, Hầu tước kia thật chẳng biết một tí gì. Chuyện cô nói lần trước, tôi có thưa lại với Hầu gia nhà tôi rồi, ý của ông ấy là phải thêm một phần nữa thì mới ổn được.”

Tần Thư ngồi xuống, nhưng chẳng thấy ai dâng trà, nàng thản nhiên nói: “Hôm nay là thọ thần của Nhị thái thái quý phủ, tôi đến đây là để chúc thọ. Còn bàn về chuyện làm ăn, dạo này tôi cũng chẳng mấy khi quản tới, e là không nói rõ ngọn ngành được. Nếu phu nhân muốn hỏi, ngày khác tôi tự khắc sẽ sai chưởng quầy đến tận cửa bẩm báo.”

Vị Định Võ Hầu này họ Giang, vốn là một tên công tử bột ăn chơi trác táng từ thời trẻ, mọi việc trong ngoài phủ đều do một tay phu nhân định đoạt. Nụ cười trên gương mặt Hầu phu nhân bỗng chốc cứng đờ, khi thấy chỉ trong chốc lát mà thái độ của Tần Thư đã thay đổi hoàn toàn. Mấy năm nay bà ta vốn đã quen với cảnh đắc ý, thuận buồm xuôi gió từ trong cung ra ngoài phủ, liền đặt mạnh chén trà xuống: “Tần phu nhân nói vậy là có ý gì?”

Tần Thư mỉm cười lắc đầu, phong thái vô cùng thong dong tự tại: “Hầu phu nhân thứ lỗi cho, phiếu hiệu Đại Thông không phải do một mình tôi làm chủ, các cổ đông rải rác khắp nam bắc đều có cả. Phu nhân muốn tăng thêm một phần, e là có chút làm khó người khác rồi. Chúng tôi đã đưa ra đủ sự thành ý, nhưng Hầu phu nhân lại không mấy hài lòng, vậy thì cũng chỉ biết nói là vô cùng đáng tiếc mà thôi.”

Nói xong, nàng lập tức đứng dậy: “Bộ trang sức điểm thúy nạm đá quý này vốn là quà mừng thọ, tôi xin phép không mang về nữa.”

Tần Thư khẽ nhún người hành lễ, thấy sắc mặt Hầu phu nhân đã lạnh tanh hoàn toàn. Bà ta trừng mắt nhìn Tần Thư, rồi cười lạnh một tiếng: “Đúng là hạng buôn bán, chỉ biết đâm đầu vào tiền. Chẳng qua cũng chỉ là đòi thêm một phần cổ phần biếu ở vùng Tuyên Đại, có đến mức phải trở mặt với chúng ta hay không?”

Tần Thư chỉ cười khẽ, đúng là lòng người không đáy, “rắn muốn nuốt cả voi”. Ngay cả Nội các Thủ phụ cũng chỉ lấy có nửa phần (5%), vậy mà bà ta vừa mở miệng đã đòi hẳn một phần (10%). Dù chỉ là phân hiệu ở vùng Tuyên Đại, nhưng một phần cổ phần biếu mỗi năm cũng đã lên tới hơn hai mươi vạn lượng bạc rồi. Hôm nay đòi một phần, ngày mai rất có thể sẽ là hai phần; hạng người “được đằng chân lân đằng đầu” như thế này Tần Thư đã gặp quá nhiều, bài học rút ra cũng chẳng ít, tuyệt đối không thể tạo ra tiền lệ này được.

Tần Thư quay người rồi sải bước đi thẳng ra ngoài: “Phiếu hiệu Đại Thông có quy tắc của phiếu hiệu Đại Thông, đây cũng chẳng phải là phiếu hiệu của riêng một mình tôi. Tôi chỉ là người làm việc mà thôi, nếu phu nhân muốn thêm một phần cổ phần biếu, đương nhiên là tôi phải về hỏi lại ý kiến của Đông gia đã.”

(Đông gia: Người chủ thực sự.)

Hầu phu nhân đang ngồi đó, vốn dĩ vẫn còn giữ được vẻ bình thản, nhưng khi nghe thấy câu nói này, trong lòng không khỏi có chút hoang mang. Bà ta dựa vào thế lực của Quý phi mà hống hách đã quen, bèn lầu bầu tự nói một mình với vẻ gượng gạo: “Đông gia thì đã làm sao? Đợi đến khi Quý phi sinh hạ tiểu Hoàng tử, tương lai có tịch thu cả kho vàng của các người ở Bắc Kinh thì đã tính là gì?”

Tần ma ma đỡ Tần Thư lên xe ngựa, lòng đầy phẫn uất: “Chẳng qua cũng chỉ là hạng họ hàng bắn đại bác mới tới với Quý phi, vậy mà dám hống hách đến nhường này.”

Tần Thư nhìn lên bầu trời xa xăm, nơi những đám mây đen kịt đang sà xuống như chực rơi, gương mặt nàng không một chút biểu cảm thừa thãi. Nàng khép rèm xe lại, rồi chậm rãi nói: “Sắp có mưa lớn rồi.”

>>

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *