Chương 73
Đêm ấy, quả nhiên trời đổ mưa như trút nước. Tần Thư ngồi trên một chiếc kiệu nhỏ bọc vải xanh không chút nổi bật, đi ra từ cửa ngách hẻo lánh, hướng thẳng về phía phủ của Hạ học sĩ.
Tần Thư khoác áo tơi, lúc đến được cửa thư phòng của Hạ Cửu Sênh thì vạt váy đã ướt sũng cả. Nàng đứng dưới hành lang vắt bớt nước trên áo, bấy giờ mới đẩy cửa bước vào.
Trên chiếc ghế bành bằng gỗ tử đằng là một người phụ nữ tầm ba mươi lăm, ba mươi sáu tuổi. Trong tiết trời lạnh lẽo thế này, bà ấy chỉ khoác duy nhất một chiếc áo mỏng, đang chuyên chú lấy nước tuyết từ trong hũ sành màu xanh đổ vào ấm đồng. Nghe thấy tiếng bước chân của Tần Thư, bà ấy cũng chỉ thản nhiên nói một câu: “Đến rồi à.”
Bà ấy đưa một bàn tay ra, chỉ chỉ vào phía đối diện: “Cô đến thật đúng lúc, nước tuyết tôi thu gom từ trên những cánh hoa mai này, mà mang đi đun nước pha trà, thì đúng là hời cho cô rồi.”
Tần Thư chậm rãi bước lại gần, thấy sắc mặt bà ấy vàng vọt như nến, thỉnh thoảng còn ho lên vài tiếng. Nàng ngồi xuống chiếc ghế bành đối diện, trải phần vạt váy đã ướt đẫm ra cạnh chiếc lò đất nung nhỏ đỏ lửa rồi nói: “Bên ngoài ai nấy đều bảo ngài cáo bệnh bỏ triều, ngay cả Nội các cũng không thèm tới, còn đồn rằng ngài đã bệnh thập tử nhất sinh. Tôi thì lại nghĩ, chắc chắn là ngài đang giả bệnh rồi.”
Hạ Cửu Sênh mỉm cười, nhấc ấm nước sôi sùng sục rót vào chén trà: “Nửa thật nửa giả thôi! Cô tìm tôi có chuyện gì?”
Tần Thư bưng chén trà lên, khẽ nhấp một ngụm rồi mới nói: “Là chuyện của Định Võ Hầu, ông ta ngày càng tham lam vô độ. Tốn thêm chút bạc thì cũng chẳng sao, nhưng tôi đang trong quá trình thực hiện cải cách ngân phiếu mệnh giá nhỏ, chỉ sợ lúc này ngài cáo bệnh, mà vị Quý phi kia lại hung hăng ép tới như vậy, lòng người sẽ dao động mất.”
Hạ Cửu Sênh dùng kẹp gắp một thỏi than bạc bỏ vào lò, chẳng mấy chốc ngọn lửa đã bùng lên rực rỡ. Bà ho khẽ hai tiếng rồi mới lên tiếng: “Chuyện của phiếu hiệu không được phép dừng lại. Vốn dĩ tôi định để tên Định Võ Hầu đó nhởn nhơ thêm vài năm nữa, nhưng giờ nếu tiến hành luôn, thì dù có hơi mạo hiểm một chút cũng không còn cách nào khác.”
Hạ Cửu Sênh làm việc xưa nay luôn tính toán kỹ lưỡng rồi mới hành động, nếu không có mười phần nắm chắc thì tuyệt đối sẽ không ra tay. Bà đưa ngón tay nhúng vào nước trà, viết một chữ “Phùng” lên chiếc bàn cao: “Cô hãy đến chùa Đại Ngọa Phật để gặp người này.”
Tần Thư lấy tay che chữ đó lại, nàng hỏi: “Quý phi thực sự sẽ sinh hạ long tử chứ?” Nếu đứa trẻ đó thực sự chào đời, thì tất cả những gì họ đang làm hiện nay, sẽ tan thành mây khói chỉ trong nháy mắt.
Hạ Cửu Sênh nhìn Tần Thư, khẽ cười nhạt rồi đưa ra một lời nhận định: “Cô là kiểu nhân tài thuộc về học thuật, không hiểu về chính trị rồi. Một vị Trữ quân mà không có chút khao khát hay tham vọng nào, thì tuyệt đối chẳng bao giờ có cơ hội ngồi lên vị trí đó đâu. Một khi đã tự thấy mình có tài, thì phải biết gánh vác không nhường ai, đó mới là trách nhiệm đối với quốc gia.”
Tần Thư nghe vậy thì mới yên lòng đôi chút, lại nghe thấy bà khẽ thở dài, rồi thốt ra từng chữ một: “Ván cờ hiện nay, tôi đang đứng ngay tại vị trí sống còn. Kể từ giờ, mỗi một bước đi đều có thể khiến trời đất đảo điên, ranh giới giữa sinh và tử mong manh trong gang tấc. Nếu như… nếu như sự việc thật sự không thành, ở Thiên Tân có một con tàu lớn luôn sẵn sàng viễn xứ ra khơi, khi ấy con trai và con gái của tôi, đành toàn quyền thác phó lại cho cô vậy.”
Tần Thư đứng dậy, ngược lại còn mỉm cười: “Ngài nhất định sẽ thắng thôi, tôi chẳng muốn sang tận Miến Điện để làm người rừng đâu.”
Nói xong, nàng che ô, bóng dáng dần biến mất vào màn đêm mịt mù thăm thẳm.
Tại Yên Vũ Lâu trong phủ Định Quốc Công, Định Quốc Công đã uống vài chén rượu, men say chuếnh choáng, ông nói với Lục Trạch rằng: “Hiện nay kinh thành gió bụi mịt mù, chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể khiến ván cờ sụp đổ, cháu phải hết sức cẩn thận.”
Lục Trạch gật đầu: “Đại bá phụ yên tâm, cháu là một ‘cô thần’, phe phái nào cháu cũng sẽ không chạm vào đâu.”
Định Quốc Công đã sáu mươi tuổi, khó tránh khỏi việc phải lo lắng cho hậu bối: “Hiện nay ta đã cáo lão về hưu rồi, chuyện triều chính cháu am hiểu hơn ta, ta cũng chỉ dặn dò thừa thãi vậy thôi. Thế nhưng chuyện gia đình thì cháu lại trước sau như một, chẳng bao giờ chịu để tâm. Tổ mẫu cháu đã viết thư tới, bảo ta phải thúc giục cháu mau chóng cưới một tiểu thư khuê các về nhà.”
“Năm mười bảy mười tám tuổi, cháu vốn đã có một mối nhân duyên tốt đẹp, chẳng ngờ lại bị Quận chúa của Hán Vương nhảy vào phá ngang, để rồi lãng phí thời gian tới tận năm ba mươi tuổi. Vốn dĩ cháu đã tự mình chọn trúng tiểu thư nhà Vương Tướng gia, nhưng sau đó lại hủy hôn, nhất quyết không chịu cưới nữa. Qua đi một hai năm, cha cháu lại qua đời, dù Bệ hạ có lệnh ‘đoạt tình’ giữ lại làm việc, nhưng chuyện cưới xin cứ thế mà bị trì hoãn mãi.”
(Đoạt tình: nghĩa là tước bỏ thời gian chịu tang để người đó tiếp tục tại chức.)
Lục Trạch vừa định mở miệng nói vài câu lấy lệ, đã thấy Định Quốc Công xua tay cắt ngang: “Cháu đừng có lôi mấy chuyện quân vụ ở Mân Triết bận rộn ra mà lừa ta. Quân vụ có bận đến mấy thì cũng chẳng có cái lý nào lại phải ở lì trong doanh trại suốt ngày đêm, huống hồ cháu là Tổng đốc chứ có phải Tổng binh đâu.”
Quốc công phu nhân ngồi bên cạnh thấy sắc mặt Lục Trạch không được tốt, bèn cười nói đỡ lời: “Chúng ta cũng chỉ nghĩ là hiện giờ cháu đã về lại kinh thành, tuổi tác cũng đã đến lúc, quả thật là nên lấy vợ rồi.”
Định Quốc Công vốn là võ tướng, ông đập mạnh một bàn tay xuống bàn làm bát đĩa kêu loảng xoảng: “Thẩm thẩm của cháu nói đúng đấy! Đại ca của cháu lớn hơn cháu năm tuổi mà giờ đã tục huyền đến người vợ thứ ba rồi, còn cháu thì một mống vợ cũng chưa cưới, thế này mà coi được à? Bất hiếu có ba tội, không có người nối dõi là tội lớn nhất, sinh được mống con trai để kế thừa tước vị ở Nam Kinh của nhà cháu mới là việc hệ trọng nhất lúc này.”
Vị Ngũ gia ngồi bên cạnh, năm ấy từng đi du ngoạn đến Hàng Châu, đã tận mắt chứng kiến dáng vẻ suy sụp, tự dày vò bản thân của Lục Trạch khi đó, nên cũng biết đôi chút nội tình thấp thoáng phía sau. Thấy mấy câu vừa thốt ra đã khiến bầu không khí lập tức rơi vào trầm mặc, gã vội vàng đỡ phụ thân mình là lão Định quốc công đi ra ngoài: “Cha, cha say rồi, để con đỡ cha về nghỉ ngơi. Dù sao thì Trạch đại ca cũng đã về lại kinh thành, có chuyện gì để mai nói cũng không muộn. Cha thì được thong thả ở nhà, chứ đại ca sớm mai còn phải dậy sớm lên triều nữa đấy.”
Lục Trạch cũng chẳng để tâm, hắn uống thêm mấy chén rượu lớn nữa, sau đó mới lên tiếng cáo từ để trở về phủ.
Cái dáng vẻ lầm lì uống rượu, mặt mày trắng bệch ra của Lục Trạch, khiến Quốc công phu nhân được một phen kinh hãi. Vừa tan tiệc rượu, bà đã túm ngay tiểu Ngũ lại tra hỏi: “Ta thấy lúc nãy con vội vã kéo cha con ra ngoài là ta biết ngay có chuyện rồi. Nói mau, sao nó cứ nhất quyết không chịu lấy vợ? Sao cứ hễ nhắc đến chuyện này là Trạch đại ca của con lại biến thành một con người khác thế hả? Con không thấy bộ dạng nó lúc nãy đâu, cứ cắm đầu uống rượu, chẳng nói chẳng rằng, trông thật đáng sợ.”
Ngũ gia gãi gãi đầu: “Mẹ à, con có biết gì đâu, chỉ là trước kia lúc đi Hàng Châu có nghe đám hạ nhân buôn chuyện vài câu thôi. Họ nói Trạch đại ca trước đây ở Hàng Châu có một người sủng thiếp, nha đầu đó có tính cách ngang ngược, sau này đang mang thai mà lại tự thiêu chết. Chuyện hôn sự với nhà họ Vương cũng chính vì lẽ đó mà bị hủy bỏ đấy.”
Quốc công phu nhân nghe xong, vội vàng niệm một câu: “A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, vậy chẳng phải là một xác hai mạng sao?” Con người ta khi đã về già thường có tâm hướng thiện và rất tin vào cửa Phật.
Ngũ gia gật đầu: “Chứ còn gì nữa, một xác hai mạng, táng ở mộ tổ của Lục gia tại Nam Kinh rồi. Hồi con đi du ngoạn Hàng Châu có ở lại phủ Tổng đốc mấy tháng. Mẹ chưa tận mắt thấy dáng vẻ của Trạch đại ca lúc đó đâu, đau buồn đến mức gầy rộc cả người, dù bề ngoài vẫn xử lý công vụ như không có chuyện gì, nhưng con nghe nói suốt mấy năm trời huynh ấy đêm nào cũng mất ngủ, sau phải tìm đến phương trượng chùa Đại Ngọa Phật mới miễn cưỡng chợp mắt được đôi chút đấy.”
Quốc công phu nhân nghe vậy bèn thở dài, tay khẽ vân vê chuỗi tràng hạt: “Cuộc đời của Trạch ca nhi cũng khổ, mẹ mất sớm, trong phủ ở Nam Kinh thì lại loạn lạc, lão thái thái giờ đây chẳng màng thế sự nữa. Suốt bao nhiêu năm qua, đến một người biết chăm lo bên cạnh cũng không có.”
Bà vỗ vỗ vai Ngũ gia rồi nói: “Thế nhưng chuyện này e là cũng chẳng thể do tự nó quyết định được. Cho dù chúng ta không hỏi đến, thì chỉ e là Hán Vương cũng sẽ hỏi tới thôi. Các con xấp xỉ tuổi nhau, con hãy lựa lời mà khuyên bảo nó thêm.”
…
Lúc Lục Trạch trở về phủ, ngoài trời đổ mưa mỗi lúc một lớn hơn. Hắn nằm trên xe ngựa, đầu óc mơ màng, trong cơn nửa tỉnh nửa mê chợt thấy bóng dáng Tần Thư bưng chén trà trên tay, nàng nở nụ cười nhẹ nhàng thướt tha: “Đại thiếu gia, đã uống rượu rồi thì phải dùng chút trà giải rượu mới tốt ạ.”
Một Tần Thư ngoan ngoãn thuận theo như thế chỉ tồn tại trong giấc mơ của hắn mà thôi. Hắn thầm nghĩ, thực tế nàng sẽ chỉ giả vờ như đường gập ghềnh không bằng phẳng, rồi hất đổ nửa chén trà lên vạt áo hắn, sau đó cười đầy vẻ tinh quái: “Thời tiết nóng nực thế này, dội chén trà lạnh lên người chắc cũng chẳng sao đâu nhỉ?”
Lục Trạch chẳng dám cử động, ngay cả trong mơ hắn cũng chẳng nỡ chớp mắt lấy một lần, chỉ sợ vừa chớp mắt thì người xưa khó khăn lắm mới mộng thấy được sẽ tan biến mất.
Hắn cảm thấy sống mũi cay cay, đôi mắt nhòe đi: “Nàng sống có tốt không? Phật dạy rằng người có lòng thiện thì không cần phải chờ đợi nơi địa phủ, mà sẽ sớm được luân hồi chuyển thế. Chắc hẳn giờ đây nàng đã đầu thai vào một nhà nào đó, trở thành một bé gái xinh xắn rồi cũng nên.”
Bóng hồng đối diện khẽ lắc đầu, đôi mắt long lanh liếc nhìn đầy tình tứ: “Ta sống rất tốt mà!”
Lục Trạch cảm thấy nàng như ở nơi xa thẳm, hắn vươn tay định kéo nàng lại thì đột nhiên giật mình tỉnh giấc. Hắn ngơ ngác nhìn quanh, hóa ra mình đang nằm trên chiếc giường Bạt Bộ ở gian phòng phía trong, còn Trừng Tú đang quỳ dưới đất giúp hắn cởi ủng.
Trừng nương tử cũng chẳng còn trẻ trung gì nữa, lúc nãy nàng ta vừa bưng trà giải rượu vào thì nghe thấy Lục Trạch trong cơn mê ngủ cứ lẩm bẩm gọi tên “Bằng Nhi”. Nàng ta nhìn Lục Trác, rồi mở miệng khuyên nhủ: “Gia, Bằng Nhi cô nương đã mất được năm năm rồi, cô ấy sẽ không bao giờ quay về nữa đâu.”
Nói xong, nàng ta quỳ sụp xuống: “Gia, nô tỳ biết nói những lời này là vô cùng phạm thượng, không hợp quy củ. Thế nhưng trước khi phu nhân lâm chung đã dặn dò nô tỳ phải chăm sóc chu đáo cho sinh hoạt của gia, lúc nào nô tỳ cũng ghi tạc trong lòng. Nếu như phu nhân còn sống, nhìn thấy gia vì một người nô tỳ mà tự dày vò bản thân, nhất quyết không chịu cưới vợ như bây giờ, thì sao người có thể yên lòng nhắm mắt cho được?”
Lục Trạch khẽ cười, hắn đưa một bàn tay nâng cằm Trừng Tú lên: “Ngươi lấy tư cách gì mà nhắc đến nàng ấy? Nàng ấy là chủ tử, còn ngươi là nô tỳ. Đến cả chủ tử mà cũng không biết tôn kính, xem ra ngươi thực sự chẳng còn chút quy củ nào nữa rồi.” Nói xong, hắn cất tiếng gọi: “Người đâu!”
Ngay lập tức, hai hộ vệ từ bên ngoài tiến vào: “Gia.”
Lục Trạch buông tay khiến Trừng Tú ngã quỵ xuống đất. Hắn ra lệnh: “Dẫn quản gia nương tử của các ngươi xuống, đánh hai mươi gậy. Ngươi dám đặt điều về chủ tử một câu, thì hãy tới trước linh vị của nàng ấy trong từ đường mà quỳ đủ mười ngày.”
Trừng Tú nằm rũ trên mặt đất, nước mắt giàn giụa, nàng ta dập đầu lạy Lục Trạch một cái rồi bị lôi đi. Hai mươi gậy mà Lục Trạch hạ lệnh lại do thị vệ trực tiếp thi hành chứ không phải các bà tử trong phủ, hai mươi gậy này chắc chắn sẽ đánh đến mức da nát thịt tan.
Đinh Vị vì niệm tình nghĩa nhiều năm nên đã mang thuốc trị thương đến. Thấy Trừng Tú đang nằm sấp trên giường, cả người kiệt sức đến mức mồ hôi đầm đìa như thể vừa mới dưới sông đi lên, y nói: “Bà thừa biết Bằng Nhi cô nương chính là vảy ngược của gia, hà tất gì phải đâm vào tim ngài ấy làm chi? Bà cũng đâu phải không biết, mới chỉ một hai năm trở lại đây gia mới bắt đầu ngủ tròn giấc được, việc gì phải tự chuốc khổ vào thân như thế.”
Trừng Tú nghe xong liền giữ im lặng, một lát sau mới nói: “Người chết như đèn tắt, cứ cứ khăng khăng canh giữ mãi thì ngọn đèn đó cũng chẳng thể nào cháy lại được nữa.”
Đinh Vị thấy nàng ta thật là ngoan cố, bèn lắc đầu, đặt lọ thuốc xuống rồi bỏ đi. Lúc y trở về, quả nhiên thấy Lục Trạch đã không còn ngủ được nữa, ánh đèn trong thư phòng vẫn đang sáng rực.
Y bước vào trong, rồi nhỏ giọng khuyên nhủ: “Gia, nếu ngài không ngủ được, hay là để thuộc hạ sắc chén thuốc an thần, ngài dùng xong rồi hãy nghỉ ngơi.”
Lục Trạch vốn đang tìm sách trên giá, bỗng nhiên bắt gặp một cuốn tiểu thuyết cảnh thế. Hắn lật mở một trang, trang sách vốn đã hơi ố vàng, bên trên là lời phê bên lề của Tần Thư: “Phù sinh trường hận hoan ngu thiểu”. Nàng vốn dùng tập chữ của hắn để luyện tập, lại chịu khó hạ công phu, nên nét chữ sau này xét về cốt cách đã giống với chữ của Lục Trạch đến năm sáu phần rồi.
( Phù sinh trường hận hoan ngu thiểu: Kiếp nhân sinh phù du luôn mang nỗi hận dài vì những lúc vui vẻ thì quá ít ỏi)
Trận đại hỏa hoạn năm ấy đã thiêu rụi tất cả, thiêu sạch sẽ không còn một mảnh, chẳng để lại cho hắn bất cứ thứ gì. Cuốn sách này là thứ hắn đã tìm thấy trong thủy các, nơi nàng vẫn thường ngồi hóng mát lúc sinh thời.
Lục Trạch nhìn những nét chữ kia mà thầm nghĩ trong lòng, chẳng biết lúc ấy nàng đã mang tâm trạng thế nào để viết ra lời phê này. “Phù sinh trường hận hoan ngu thiểu”… Cuộc đời ngắn ngủi ấy của nàng, những lúc đắc ý thì ít mà trái ý lại nhiều. Kể từ khi gặp gỡ hắn, những ngày vui vẻ lại càng thưa thớt đi, suốt nửa năm sớm tối bên nhau đó, e rằng trong lòng nàng chỉ còn sót lại duy nhất một chữ “Hận” trong câu “Phù sinh trường hận” mà thôi.
Lục Trạch ngồi lặng thinh ở đó hồi lâu, đưa mắt nhìn bức họa mỹ nhân trên bàn sách mà thẫn thờ người đi. Chẳng biết đã ngồi như thế bao lâu, cho đến khi Đinh Vị từ bên ngoài bưng bộ quan bào màu đỏ tía bước vào: “Gia, đến giờ lên triều rồi ạ.”
Lục Trạch lúc này mới sực tỉnh, hắn đứng dậy, nhìn ra ngoài trời đã bắt đầu mờ mờ sáng: “Hôm nay là ngày Đình thôi.”
Sau khi thay quan phục và rửa mặt súc miệng xong xuôi, hắn cũng chẳng vội khởi hành ngay mà tiến về phía từ đường. Sau khi rửa tay sạch sẽ, hắn thắp một nén hương rồi hỏi: “Đèn cầu phúc ở chùa Đại Ngọa Phật đã treo lên chưa?”
Đinh Vị đáp: “Trừng nương tử đã sai người đi làm rồi ạ, còn cắt cử người riêng trông nom cẩn thận nữa.”
Lục Trạch ừ nhẹ một tiếng. Thấy bức họa treo ở chính giữa có vương chút bụi, hắn liền dùng tay áo nhẹ nhàng phủi đi, sau đó mới lên kiệu, thẳng tiến về phía Tử Cấm Thành.
Chương 74
Tần Thư lợi dụng bóng đêm để đến chùa Đại Ngọa Phật. Nàng khoác trên mình chiếc áo choàng màu sẫm, bên cạnh có Linh Lung đi cùng. Hai người đi vào từ cửa sau ở phía núi sau, một tiểu thái giám đứng đợi sẵn ở cửa đã dẫn nàng vào trong một gian thiền phòng.
Trong phòng là một lão giả chừng sáu mươi tuổi, tóc đã điểm hoa râm, chỉ cài đơn sơ một chiếc trâm gỗ. Ông mặc chiếc đạo bào đã bạc màu vì giặt giũ nhiều lần, chắp tay sau lưng ngẩng đầu nhìn bức tranh thủy mặc treo trên tường, chậm rãi ngâm khẽ: “Khói ấm đất nồng mùa vụ tới, mưa mới rơi đầy cuốc xới xuân. Đồng nội mênh mông xanh ngút mắt, cỏ dại hoa hèn nở dập dồn.”
Tần Thư đứng lại trước cửa, thấy cửa tuy đóng nhưng cửa sổ lại mở toang, nàng cười nói: “Song Lâm tiên sinh lại có ý niệm muốn vui vầy chốn điền viên rồi sao?”
Người này tên là Phùng Đông Đình, hiện là Thái giám Bỉnh bút trong đại nội. Ngay cả khi họp bàn trước mặt Hoàng đế, các vị Các lão cũng phải nể trọng ông ta đến ba phần. Ông ta vào cung từ thuở nhỏ, từng được các học sĩ Hàn Lâm viện dạy bảo tại Nội thư đường, nên tuy là thái giám nhưng cốt cách lại mang đậm hơi hướng văn nhân, thường tự coi mình là giới trí thức và lấy hiệu là Song Lâm.
Phùng Đông Đình xoay người lại, chỉ khẽ gật đầu: “Tần chưởng quỹ, chúng ta cũng hai ba năm rồi chưa gặp lại nhỉ?”
Tần Thư khách sáo đáp: “Bệ hạ nửa ngày cũng chẳng thể rời xa Song Lâm tiên sinh, hạng người như chúng tôi dĩ nhiên chẳng có duyên được diện kiến ngài rồi.”
Phùng Đông Đình cười cười, đuôi mắt và vầng trán hiện lên nhiều nếp nhăn, ông ta xua tay: “Kỳ nghệ của Tần chưởng quỹ vô cùng tinh thông, hay là chúng ta làm một ván xem sao?”
Tần Thư gật đầu, rồi nàng ngồi xuống chiếc sập trúc bên cửa sổ. Nơi đó đã bày sẵn một bàn cờ, sau khi mở nắp che ra, nàng nói: “Thật không ngờ, tiên sinh vẫn còn giữ lại thế cờ của ba năm trước.”
Phùng Đông Đình hạ một quân cờ trắng xuống: “Đánh cờ thì phải đánh cho trọn vẹn. Một ván cờ mới đi được nửa đường, cũng giống như mắc xương cá trong cổ họng vậy, cứ kẹt ở đó chẳng dễ chịu chút nào.”
Tần Thư khẽ cười, không nói thêm lời nào mà tập trung vào ván cờ, nhưng đó cũng chỉ là một sự điểm xuyết mà thôi. Một lát sau, nàng buông quân cờ nhận thua: “Kỳ nghệ của tiên sinh ngày càng thăng tiến, tôi đã không còn là đối thủ của ngài nữa rồi.”
Phùng Đông Đình cười nói: “Ván cờ này ta đã nghiền ngẫm trong đầu suốt ba năm nay, huống hồ Tần chưởng quỹ còn cố ý nhường nhịn. Nếu ta còn không thắng nổi nửa quân cờ, thì chẳng phải là phụ lòng tâm huyết của ngươi hay sao?”
Ông ta vẫy tay, lập tức có thái giám mặc áo xanh bưng hai tách trà thơm vào. Cử chỉ của ông ta rất nhã nhặn, nhấp một ngụm trà rồi mới thong thả nói: “Định Võ Hầu hiện đang nhận được sự sủng ái nồng hậu của Bệ hạ. Không chỉ chức Tuần phủ Tuyên Đại là do hắn bảo cử, mà ngay cả chức Thị lang bộ Công hắn cũng giành về tay mình. Lúc này đây, dù hắn có phạm phải sai lầm gì, Bệ hạ cũng sẽ nhẹ nhàng bỏ qua mà thôi. Các người hà tất gì phải làm khó hắn? Chẳng phải chỉ là hai mươi vạn lạng bạc sao, chẳng lẽ phiếu hiệu Đại Thông của các người còn thiếu bạc hay sao? Hắn ở Tuyên Đại nói một tiếng, các người cũng dễ bề hành sự hơn.”
Tần Thư lấy từ trong ống tay áo ra một tờ ngân phiếu, trải ra đặt lên bàn cờ: “Song Lâm tiên sinh, đây là ngân phiếu trị giá năm mươi vạn lạng của phiếu hiệu Đại Thông. Trước khi đến đây, chính tay tôi đã viết ám mã, tự tay tôi đóng dấu. Tại hai kinh và mười ba tỉnh, chỉ cần nơi nào có chi nhánh của phiếu hiệu Đại Thông, là có thể lập tức đổi thành bạc trắng ngay.”
Nàng nhìn thẳng vào Phùng Đông Đình, giọng nói đầy vẻ quyết đoán của người đứng đầu phiếu hiệu Đại Thông: “Năm mươi vạn lạng này, chỉ cần tiên sinh nói một câu, đúng bảy chữ thôi. Những việc còn lại tự khắc sẽ có người lo liệu, không cần phiền hà đến tiên sinh.”
Phùng Đông Đình hầu hạ bên cạnh Hoàng đế thì không sai, nhưng vị Hoàng đế này vốn tính keo kiệt, thấy đám nô tỳ mặc lụa là thôi cũng đủ để trách phạt, tiền biếu xén của cấp dưới mỗi năm cũng chỉ vài vạn lạng bạc. Ông ta chưa bao giờ thấy một khoản tiền khổng lồ đến mức ấy được bày sẵn ra trên bàn như thế này.
Thế nhưng, dù sao cũng là nhân vật đứng nơi trung tâm quyền lực, ông ta quan sát Tần Thư rồi nói: “Thứ mà Định Võ Hầu muốn chẳng qua cũng chỉ có hai mươi vạn, các người làm việc kiểu này, e là phải tiêu tốn đến mấy lần cái ‘hai mươi vạn’ đó rồi.”
Tần Thư nhấc lò đồng lên châm thêm trà cho Phùng Đông Đình, nghe vậy liền cười đáp: “Song Lâm tiên sinh, đối với chúng tôi mà nói, có những kẻ thì cả bản thân lẫn tính mạng đều không đáng giá nổi hai mươi vạn, nhưng có những người chỉ một lời nói thôi đã đáng giá năm mươi vạn rồi. Giữa người với người, vốn dĩ có sự khác biệt rất lớn.”
Phùng Đông Đình nghe xong thì ngửa đầu cười lớn: “Ha ha ha, Tần chưởng quỹ quả là người sảng khoái, làm việc cũng thật dứt khoát, rất đáng nể!”
Bàn xong chính sự cũng chẳng cần lưu lại thêm, Tần Thư băng qua phật đường, chợt thoáng thấy trong phòng thắp hương bên trái có một ngọn đèn cầu phúc lớn đang rực cháy. Nàng tiến lại gần vài bước, nhìn thấy trên dải lụa buộc vào đèn viết: “Ái thiếp Đổng Bình Nhi.”
Gương mặt nàng tối sầm lại, bật ra hai tiếng cười lạnh đầy giễu cợt: “Đèn này là ai thắp vậy?”
Chú tiểu đứng đợi bên cạnh liền đáp: “Dạ, đây là ngọn đèn cầu phúc do phủ Hộ bộ Thượng thư thắp ạ.”
Tần Thư mỉm cười lắc đầu, mặc kệ tiếng kêu kinh ngạc của chú tiểu, nàng giật phăng dải lụa xuống rồi đưa vào ngọn đèn dầu châm lửa. Nhìn dải lụa rơi xuống đất hóa thành một ngọn lửa sáng rực, nàng thản nhiên cảm thán: “Thật là xúi quẩy.”
Mặt mày của chú tiểu nọ trở nên méo mó: “Thí chủ, đây là bùa siêu độ do đích thân Huệ Hiền pháp sư viết, giờ ngài ấy đã đi du ngoạn trên núi rồi, đào đâu ra lá thứ hai nữa đây? Nếu hương khách đến cúng bái mà trách tội, tiểu hòa thượng chắc chắn sẽ bị trụ trì phạt gánh nước mất thôi.”
Linh Lung thấy bộ dạng đó của chú tiểu thì cảm thấy khôi hài, nàng nhịn không được mà bật cười thành tiếng: “Chú tiểu này, chẳng lẽ ở trong chùa cậu lại không gánh nổi nước hay sao?”
Tần Thư cũng mỉm cười: “Được rồi, nếu phương trượng có trách tội thì cậu cứ bảo là do tôi xé. Còn nếu gia đình hương khách kia tìm các người gây khó dễ, cậu cũng cứ đổ hết lên đầu tôi là được.”
Chú tiểu ngập ngừng ấp úng: “Vậy… nhà thí chủ ở nơi nào ạ?”
Tần Thư đáp: “Ngõ Kỳ Bàn, Tiểu Đàn Viên.”
Linh Lung đỡ Tần Thư đi ra, sau khi lên xe ngựa, cô ấy lo lắng không thôi: “Vốn dĩ tụi em không định nói cho cô nương biết đâu, Lục tổng đốc đã về kinh rồi, Bệ hạ bổ nhiệm ngài ấy làm Hộ bộ Thượng thư. Cô nương đã chuẩn bị tâm lý để gặp lại ngài ấy chưa?”
Tần Thư nhắm mắt lại, đầu bắt đầu đau âm ỉ: “Kinh thành này cũng chỉ lớn chừng đó, hắn lại là quan của Hộ bộ, sớm muộn gì cũng sẽ chạm mặt thôi, sớm một chút hay muộn một chút thì có gì khác biệt đâu?”
Linh Lung nghe xong thì im lặng không nói gì, mãi một lúc lâu sau mới lên tiếng: “Nếu là trước kia, chắc chắn cô nương sẽ không chịu gặp đâu.”
Tần Thư mở mắt ra, trong ánh nhìn thoáng chút mệt mỏi, nàng hỏi: “Là chuyện của bao lâu về trước?”
Linh Lung đáp lời: “Năm năm trước, tại biệt viện ở Hàng Châu, cô nương đã nói với em rằng, chuyện cũ trước kia, mọi ân oán hận thù, đều hãy cùng nhau quên hết đi. Trên thế gian này, sẽ không còn người nào tên là Đổng Bằng Nhi nữa.”
Tần Thư thoáng chút thẫn thờ, mới chỉ năm năm trôi qua mà những chuyện cũ ấy đã cũ kỹ đến mức mờ mịt như thể từ kiếp trước. Nàng nhìn ngọn nến trên bàn án đang rung rinh theo nhịp xóc nảy của cỗ xe trên đường núi: “Trên thế gian này đúng là không còn người nào tên Đổng Bằng Nhi nữa rồi, chỉ có đại chưởng quầy của phiếu hiệu Đại Thông – Tần Thư mà thôi. Đổng Bằng Nhi có thể không gặp hắn, nhưng Tần Thư của phiếu hiệu Đại Thông thì không thể không gặp.”
Linh Lung cúi đầu đáp: “Nô tì đã hiểu.”
Tần Thư lại hỏi: “Chuyện tuyển học đồ cho phiếu hiệu năm nay tiến triển thế nào rồi?”
Linh Lung vốn đang giữ lưng thẳng tắp cũng phải xụ xuống, cô ấy nản chí nói: “Trong số ba trăm sáu mươi ba học đồ, chỉ có vẻn vẹn hai mươi cô gái. Thậm chí có một người vốn đã được chọn rồi, nhưng cha mẹ lại tìm đến, bảo là đã nhận sính lễ của người ta nên nhất quyết đòi đưa về.”
“Cô gái đó cũng chẳng có chủ kiến, bị cha mẹ dỗ ngon dỗ ngọt vài câu cũng nháo nhào đòi về theo. Chính vì chuyện này mà đám chưởng quầy kia chẳng biết đã nói bao nhiêu lời quái gở, nào là vốn dĩ không nên tuyển nữ học đồ, cứ đến rồi đi như thế thì còn ra thể thống gì nữa, làm được vài năm lại về nhà lấy chồng, công sức chúng ta bồi dưỡng mấy năm trời coi như đổ sông đổ biển cả.”
Sắc mặt của Linh Lung lộ rõ vẻ hậm hực, Tần Thư liền hỏi: “Chắc là họ không chỉ nói có bấy nhiêu đó thôi đúng không?”
Linh Lung hừ một tiếng đầy uất ức: “Còn có người nói, đều là mấy cô nàng xấu xí không gả đi đâu được, nên mới phải làm cái việc lộ mặt ra ngoài xã hội này. Họ còn bảo chúng ta khuyên con gái nhà người ta đi làm, là vì ghen tị với người ta gả được chồng tốt.”
Tần Thư thầm thở dài trong lòng, những lời lẽ này, cho dù là mấy trăm năm sau đi chăng nữa thì vẫn có rất nhiều người tin.
Tần Thư vỗ vỗ lưng Linh Lung, an ủi cô ấy: “Vạn sự khởi đầu nan, chúng ta cứ từng bước một mà làm. Nếu có kẻ nào nói lời quái gở, em cứ ghi lại tên họ cho ta, đến lúc đó ta cũng sẽ nói lời quái gở về bọn họ.”
Linh Lung bật cười giữa hai hàng nước mắt: “Cô nương toàn khéo lừa em…”
Tần Thư nằm xuống lại, kéo chiếc áo choàng khoác lên người, chóp mũi thoang thoảng mùi hương hoa dành dành được ướp trên áo. Nàng nhắm mắt lại: “Em hãy theo các chưởng quầy mà học hỏi bản lĩnh cho thật tốt. Sau này, chúng ta còn phải mở một ngôi trường, đến lúc đó sẽ để em đi dạy học, để cho người trong phiếu hiệu đều biết rằng, nữ tử cũng có thể làm bậc thầy thiên hạ.”
Linh Lung không dám tin vào tai mình: “Mở trường sao ạ? Nhưng em nào có hiểu mấy thứ chữ nghĩa kia đâu? Chỉ sợ ngay cả những việc trong phiếu hiệu, người ta cũng chẳng chịu phục em ấy chứ.”
Tần Thư cảm thấy cả người ấm áp vô cùng, nàng thoải mái khẽ hừ hừ hai tiếng: “Vậy thì hãy đem bản lĩnh ra, khiến cho kẻ khác không phục không được.”
…
Lục Trạch vừa từ Hộ bộ trở về, cởi bỏ quan phục, thay sang bộ thường phục mặc ở nhà, liền thấy Tiểu Hồi Hương gấp gáp chạy vào bẩm báo: “Đại nhân, người nhà canh giữ ở chùa Đại Ngọa Phật vừa về báo tin, nói rằng ngọn đèn dầu cầu phúc của Bằng Nhi cô nương đã bị ai đó đốt mất dải lụa viết tên rồi ạ.”
Lục Trạch nghe xong cũng không nổi giận, trong nhất thời hắn chỉ cảm thấy đây chính là ý trời, là vì nàng vẫn chẳng chịu tha thứ cho mấy câu nói nóng nảy của hắn vào năm ấy. Hắn đặt chén trà xuống, rồi hỏi: “Là ai đã bất cẩn làm cháy?” Hắn chỉ đơn thuần nghĩ rằng đám gia nhân đã ngủ gật nên không trông nom chu đáo mà thôi.
Hai năm nay tính khí của Lục Trạch càng ngày càng thất thường, chẳng biết khi nào hắn sẽ nổi trận lôi đình. Chuyện này lại liên quan đến Bằng Nhi cô nương, nên Tiểu Hồi Hương càng thêm sợ hãi, cô ấy cúi gầm mặt bẩm báo: “Người về báo tin nói rằng… có một vị cô nương đã giật dải lụa xuống rồi đốt đi, còn nói mấy lời đại loại như là… thật xui xẻo.”
Lục Trạch nghe xong liền cười lạnh một tiếng: “Cô nương nhà ai mà hống hách như vậy, đến cả đèn cầu phúc của ta cũng dám giật?”
Tiểu Hồi Hương thưa: “Người báo tin nói rằng, vị cô nương kia ăn nói rất ngông cuồng. Cô ta bảo nếu có gì trách tội thì cứ việc tìm đến Tiểu Đàn Viên, bao nhiêu bạc cô ta cũng bồi thường.”
Thực ra vế sau của câu nói đó không phải lời của Tần Thư, mà chỉ là do kẻ về báo tin thêm mắm dặm muối vào mà thôi.
Lục Trạch nghe xong mà sắc mặt đại biến, hắn đập mạnh xuống bàn trà, lực mạnh đến mức khiến nắp chén trà rơi xuống đất vỡ tan: “Láo xược!” Ngay lập tức, hắn gọi Đinh Vị vào truyền lệnh: “Cầm danh thiếp của ta đi mời Tần cô nương của Tiểu Đàn Viên tới đây. Ta cũng muốn xem thử, chẳng qua chỉ là một phiếu hiệu Đại Thông, rốt cuộc cô ta lấy đâu ra cái vốn liếng để mà ngông cuồng đến thế.”
Lúc Đinh Vị đến Tiểu Đàn Viên, Tần Thư đang cầm cuốn “Thiên Tự Văn”, bảo Hành Nhi chắp tay sau lưng để dò bài. Cậu bé đang đọc một cách ngập ngừng, đứt quãng thì thấy bên ngoài có khách được dẫn vào: “Thưa tiên sinh, Đinh hộ vệ của phủ Thượng thư mang thiếp mời đến ạ.”
Bên ngoài, Đinh Vị lên tiếng: “Đại nhân nhà tôi gửi thiệp, mời Tần chưởng quỹ qua phủ gặp mặt một chuyến.”
Hành Nhi nghe thấy câu đó liền ghé đầu ra khỏi cửa sổ, nhìn thấy Đinh Vị vẫn trong bộ y phục đen quen thuộc. Cậu bé vốn vẫn nhận ra đối phương, dù mới chỉ gặp một lần nhưng đã tỏ ra vô cùng thân thiết, cười hớn hở chào hỏi: “Đại thúc, là thúc ạ? Thúc đến tìm cháu sao?”
Tần Thư cau mày: “Sao con lại quen biết người ta?”
Hành Ca Nhi thè lưỡi, chẳng hề ngần ngại mà “bán đứng” ngay Tả Dương. Cậu bé hạ thấp giọng nói: “Hôm đó tiểu Tả ca ca dẫn con đi Đa Bảo Lầu chơi, con bị lạc đường, lúc ở trong đình thì thấy thúc này với một thúc khác nữa. Cái mặt dây chuyền ngọc này cũng là bạn của thúc ấy tặng cho con đấy ạ.”
Cậu bé liếc nhìn sắc mặt của Tần Thư, thấy nàng không có vẻ gì là quá giận dữ, liền nhảy qua bậu cửa, chạy lại nắm tay Đinh Vị: “Đại thúc, vào uống trà đi ạ. Nhà cháu có một loại trà ngon lắm, các thúc thúc bá bá đến chơi uống xong ai cũng khen ngon đó.”
Đinh Vị cứ thế để cậu bé kéo vào trong nhà. Đám nô tỳ đứng tản mát dưới hành lang cũng không thấy ai tiến lên ngăn cản. Y bị kéo bước qua ngưỡng cửa, đập vào mắt là một bức bình phong lớn bằng gỗ sưa vàng khảm ngũ sắc, thấp thoáng sau bức bình phong ấy là dáng hình một người phụ nữ tóc búi mây, tay áo rộng đầy vẻ mờ ảo.
Bên trong hoàn toàn im lặng không một lời đáp, Hành Ca Nhi cảm thấy lạ lùng, liền hỏi: “Mẫu thân, con muốn mời vị đại thúc này uống trà được không ạ?”
Đinh Vị chắp tay: “Tần chưởng quỹ, trà thì không cần thiết phải uống đâu. Việc Tần chưởng quỹ có đi hay không, xin hãy cho một câu trả lời dứt khoát để kẻ hèn này còn về phục mệnh.”
Tần Thư khẽ cười: “Đinh Vị, nói chuyện kiểu đó ở kinh thành là dễ đắc tội với người ta lắm đấy. Đã đến đây rồi thì nhất định phải uống một chén trà.” Nói xong, nàng vẫy tay: “Linh Lung, dâng trà.”
Giọng nói này, Đinh Vị làm sao có thể không nhận ra cho được? Y đột ngột ngẩng phắt đầu lên, ánh mắt nhìn trừng trừng vào bức bình phong như thể muốn xuyên thấu qua nó. Y đứng chôn chân tại chỗ, cảm giác như bị một chậu nước nóng dội thẳng từ đỉnh đầu xuống, đôi môi run rẩy hé mở, thốt lên một câu: “Bằng Nhi cô nương?”
Linh Lung dâng trà lên. Mấy năm nay cô ấy đã thay đổi rất nhiều, tuy không hẳn là xinh đẹp xuất sắc, nhưng cũng không còn là đứa trẻ gầy gò với nước da vàng vọt năm xưa nữa. Đinh Vị đón lấy chén trà, nhất thời không nhận ra cô, nhưng cái tên này thì y có biết. Đêm xảy ra vụ hỏa hoạn năm đó, trong phủ cũng mất tích một tiểu nha hoàn, trong tên cũng có một chữ “Linh”, chỉ là không gọi là Linh Lung mà gọi là Linh Tửu.
Y đón lấy chén trà, nhấp một ngụm mà chẳng cảm nhận được hương vị gì, lại nghe thấy tiếng cười từ bên trong vọng ra: “Đinh Vị, ngươi uống trà kiểu ‘trâu gặm hoa mẫu đơn’ như vậy, thật là lãng phí trà ngon của ta quá đi mất.”
Hành Ca Nhi thấy mẫu thân dường như có quen biết vị đại thúc này, cậu bé lân la đi vào trong. Có vẻ như đã bắt đầu mất kiên nhẫn, cậu bé ôm chầm lấy cổ Tần Thư nũng nịu: “Mẫu thân cũng quen biết đại thúc này sao ạ?”
Tần Thư không đáp lời. Đinh Vị ở bên ngoài lại gọi thêm một tiếng nữa: “Bằng Nhi cô nương, là cô phải không? Cô vẫn còn sống sao? Trận đại hỏa ngày hôm đó đã thiêu rụi hoàn toàn viện Phù Dung Úy nơi cô ở, bấy lâu nay cô đã đi đâu vậy?”
Nghe những lời đó, Tần Thư im lặng một hồi lâu. Nàng không thừa nhận, cũng chẳng phủ nhận. Nàng tự cảm thấy năng lực của mình mấy năm qua đã tiến bộ không ít, giờ đây gặp lại cố nhân mà vẫn có thể bình thản đến nhường này. Nàng khẽ cười một tiếng rồi cất lời: “Hôm nay ta mệt rồi, có chuyện gì thì để ngày mai hãy nói.”
Tuy nàng không thừa nhận điều gì, nhưng trong mắt Đinh Vị thì đó rõ ràng là đã ngầm thừa nhận rồi. Y có chút kích động, tiến lên phía trước một bước: “Bằng Nhi cô nương, bấy lâu nay gia vẫn luôn đinh ninh rằng cô đã bỏ mình trong trận hỏa hoạn đó rồi, cô không biết mấy năm qua ngài ấy…”
Tần Thư ngắt lời y, nàng hoàn toàn không muốn nghe tiếp: “Đủ rồi, ngươi ra ngoài đi. Hôm nay ta thực sự mệt rồi, có gì thì để ngày mai hãy nói.”