Chương 79
Định Võ hầu lấy từ trong ống tay áo ra một tấm thiếp mời: “Vài ngày tới là thọ thần của gia mẫu, lão phu nhân nói ngài vốn là bậc Tam nguyên cập đệ, là Văn Khúc Tinh trên trời hạ phàm, nên nhất định phải gửi thiếp mời ngài hạ cố ghé chơi một chuyến.”
Trong Hàn Lâm viện có biết bao nhiêu Trạng nguyên, chẳng thấy lão đi mời ai khác, cái cớ này quả thực quá đỗi vụng về.
Lục Trạch khẽ cười, hắn cụp mắt xuống gạt nhẹ nắp chén trà, vừa mở miệng đã là lời từ chối: “Lão phu nhân quá khen rồi. Chỉ là trước kia quân vụ vất vả, khiến thân thể ta mang đầy thương bệnh, nay bệnh cũ tái phát nên không thể tùy tiện ra ngoài gặp gió, e là phải thất lễ rồi. Đại thọ của lão phu nhân, ta chắc chắn sẽ tự chuẩn bị thọ lễ kính dâng, những chỗ khiếm khuyết về lễ nghi, mong ngài lượng thứ cho.”
Lời này của hắn vừa thốt ra, kẻ nào hơi biết nhìn sắc mặt một chút đều sẽ biết đường mà đứng dậy cáo từ. Hiềm nỗi vị Hầu gia này vốn đã quen cảnh nhà cửa sa sút từ lâu, mấy năm nay đột ngột giàu sang phú quý trở lại, nên vẫn chẳng sửa nổi cái thói da mặt dày khi xưa: ‘Không sao, không sao cả! Lục đại nhân không gặp gió được thì chúng ta cứ ngồi xe ngựa mà đi, đến lúc đó vào trong sảnh đường uống rượu chứ chẳng ngồi ngoài trời đâu. Trong phủ chúng tôi còn có một bức Mãnh hổ đồ của Tạ học sĩ thời Thành Tổ, nghe danh Lục đại nhân tinh thông hội họa, còn muốn mời ngài giám định giúp xem đó có phải là chân tích hay không.”
Bức Mãnh hổ đồ của Tạ học sĩ thời Thành Tổ sao? Lục Tích ngước mắt lên, thấy Định Võ hầu vẫn đang nở nụ cười nịnh bợ, liền thong thả nói: “Bệ hạ vốn dĩ là người yêu thích nhất các bức họa của Tạ học sĩ, chỉ hiềm nỗi chân tích lưu truyền lại quá ít. Hầu gia quả là thần thông quảng đại, chẳng ngờ lại có thể sở hữu được bức Mãnh hổ đồ danh tiếng lẫy lừng đến thế?”
Định Võ hầu cười hì hì, trên khuôn mặt phúng phính mỡ lộ vẻ đắc ý: “Cũng là người dưới biếu tặng thôi. Tần chưởng quỹ của phiếu hiệu Đại Thông mấy hôm trước đã đặc biệt sai người mang đến phủ tôi, cũng nói là chẳng rõ thật giả thế nào, muốn mời phu nhân nhà tôi bình phẩm thưởng thức giúp.”
Lục Trạch ừ hử một tiếng rồi hỏi: “Tần chưởng quỹ cũng sẽ đến dự thọ yến của quý phủ sao?”
Định Võ hầu không hiểu tại sao hắn lại đột nhiên hỏi đến Tần chưởng quỹ, lão gật đầu đáp: “Cái đó là đương nhiên, Tần chưởng quỹ vốn dĩ vẫn luôn giao hảo tốt với chúng tôi.” Dẫu vài ngày trước nàng ta có chút không hiểu quy tắc, nhưng sau đó đã lập tức bù đắp bằng lễ vật hậu hĩnh, lại còn nới lỏng miệng, nói rằng chuyện cổ phần vẫn có thể thương lượng thêm, nên lúc này đương nhiên phải nể mặt nàng ta một chút rồi.
Lục Trạch lập tức thay đổi ý định, hắn đưa tay nhận lấy tấm thiệp mời: “Vậy thì tốt, ngày hôm đó Lục mỗ nhất định sẽ đến làm phiền quý phủ một chuyến.”
Vị bệ hạ đương triều vốn hiếm muộn con cái, sinh được một hoàng tử thì lên mười tuổi đã sớm chết yểu. Mãi đến năm ba mươi tuổi, người mới có được mụn con duy nhất là Công chúa Xương Nguyên, từ nhỏ đã hết mực yêu chiều. Năm công chúa lên năm, bệ hạ đích thân chọn lựa các Hàn lâm học sĩ để dạy dỗ; năm lên mười, người lại chiếu theo quy chế dành cho Thái tử xuất các đọc sách, mà chọn các bậc Các lão trong Nội các trực tiếp truyền thụ. Năm mười sáu tuổi, sau khi đã tuyển chọn khắt khe mới chọn được một vị Phò mã, ngay sau đại hôn, bệ hạ liền hạ lệnh cho công chúa quan chính lục bộ, chuyển đến cư ngụ tại Đông Cung. Tuy không mang danh vị Thái tử, nhưng công chúa lại nắm thực quyền của một Thái tử, người trong triều dã không gọi nàng là Công chúa Xương Nguyên, mà chỉ cung kính gọi là Đông Cung.
Thế nhưng, tất cả những điều đó đã thay đổi vào sáu năm trước. Tô Quý phi tiến cung, nhận được muôn vàn sủng ái. Vào cung được một năm, nàng ta hạ sinh một vị công chúa, tuy rằng mới ba tháng đã sớm chết yểu, nhưng lại nhen nhóm trong lòng bệ hạ một niềm hy vọng tràn trề rằng, mình vẫn còn khả năng sinh hạ một vị hoàng tử.
Tiếp đó, có kẻ phương sĩ buông lời gièm pha rằng: ‘Hai rồng không thể gặp nhau’, vì Đông Cung hiện đã có tiềm long cư ngụ, nên vị ‘chân long còn lại vạn lần không thể giáng thế. Loại ngôn từ vô căn cứ này, người bình thường chắc chắn sẽ chẳng tin, nhưng bệ hạ hiện giờ thì nhất định sẽ tin.
Ông ta là một kẻ cuồng tu đạo, say mê thiền định và luyện đan dược đến mức, hàng chục năm ròng không màng lên triều. Đối với những phương sĩ thần thần quỷ quỷ, ông ta tin tưởng mù quáng đến vạn phần.
Sau vài tháng do dự, bệ hạ liền hạ chỉ, lệnh cho Công chúa Xương Nguyên phải rời cung ra ngoài xây dựng phủ đệ riêng. Mối quan hệ cha con cũng dần trở nên xa cách, hiếm khi gặp mặt, ngay cả vào dịp tân xuân giai tiết, ông ta cũng chỉ để Công chúa dập đầu bái lạy bên ngoài điện Càn Thanh, chứ nhất quyết không triệu kiến nàng.
Cho đến mùa hè năm nay, Tô Quý phi kia lại mang long thai. Kể từ đó, các quan viên thuộc phái Công chúa Xương Nguyên kẻ thì bị giáng chức, người thì bị đày ải. Ngay cả một người vốn dĩ luôn dè dặt, cẩn trọng hết mực như Hạ Cửu Sanh, cũng bị quở trách năm lần bảy lượt, nên phải thường xuyên phải cáo bệnh ở nhà, không màng đến việc bên ngoài nữa.
Lục Trạch nhìn chăm chú vào tấm thiếp mời đỏ thắm dát vàng trên án kỷ, khẽ buông tiếng thở dài: “Nếu không phải lâm vào cảnh khốn cùng, với tính cách của nàng, sao nàng có thể hạ mình đi lấy lòng hạng người như thế kia chứ…”
Khi Tần Thư trở về Tiểu Đàn Viện, đứng trên hành lang cầu, nàng liền nghe thấy tiếng đọc sách vang lên lảnh lót từ trong thư các. Nàng đứng lặng nghe một hồi lâu, mới nhận ra đó là quyển Tứ Thư Tập Chú.
Tần ma ma bước lại gần, trên gương mặt đầy vẻ vui mừng hân hoan: “Cô nương, người xem kìa, từ lúc tan học là tiểu công tử cứ ở lì trong thư các đọc sách, đã đọc suốt cả nửa đêm rồi. Lão nô sợ cậu ấy đói nên mới xuống bếp bưng một bát bánh trôi mè đen lên, mười viên bánh nhỏ mà cậu ấy ăn hết sáu viên đấy. Cô nương thì thích ăn cay, vậy mà tiểu công tử lại thích ăn ngọt…”
Tiếng đọc sách nhỏ dần đi, Tần Thư bước tới, ngay lập tức đập vào mắt là tấm bia cấm dựng phía trước: “Kẻ nào vô cớ mở cửa vào các, lập tức đuổi ra khỏi môn hộ”. Lên tới tầng hai, đây là một gian tàng thư các rộng lớn, được thông từ sáu căn phòng lớn lại với nhau. Đẩy cánh cửa thư các ra, liền thấy những dãy giá sách bằng gỗ đàn hương cao sừng sững. Tiến về phía sau vài bước, đã thấy Hành ca nhi đang ngồi trên chiếc thang gỗ cao cao. Thằng bé dường như đang mải mê đọc sách đến mức nhập tâm, ngay cả tiếng bước chân của Tần Thư cũng chẳng hề hay biết.
Tần ma ma đi theo phía sau, vừa cười vừa nói: “Cô nương xem kìa, cậu ấy đã ngồi trên đó suốt nửa ngày rồi đấy.”
Tần Thư vịn tay vào thang gỗ, khẽ khàng bước lên phía trước. Phải đến khi nàng tới sát bên cạnh, thì Hành ca nhi mới ngẩng đầu lên: “Mẫu thân?”
Tần Thư ngồi xuống bên cạnh, nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn của cậu bé, quả nhiên là lạnh ngắt như đồng. Nàng khẽ thở dài: “Chà, tiểu nghịch ngợm nhà chúng ta cuối cùng cũng tự giác đọc sách rồi, thật là đáng mừng, đáng mừng quá đi. Lát nữa nhất định phải phát hồng bao cho tất cả mọi người mới được, chuyện này còn hiếm lạ hơn cả Tết đến xuân về ấy chứ?”
Hành ca nhi khép quyển sách lại, rồi đặt sang một bên: “Đọc sách không tốt sao? Trước kia tiên sinh bảo con đọc sách, ma ma cũng bảo con đọc sách, mẹ cũng dạy con đọc đủ loại sách, chẳng lẽ con không nên đọc sách sao?”
Thằng bé càng nói càng thấy tủi thân, nước mắt bắt đầu chực trào quanh hố mắt. Tần Thư không nhịn được mà bật cười một tiếng, nàng lấy khăn tay định lau nước mắt cho con, nhưng lại bị cậu bé né tránh: “Nam nhi đại trượng phu, mới nói có vài câu mà đã giận dỗi rồi sao?”
Tần Thư cầm quyển Tứ Thư Tập Chú kia lên, lật giở vài trang rồi nói: “Trước đây mẹ bảo con đọc sách, chẳng qua là muốn con học mặt chữ, đọc thêm thơ từ ca phú để hiểu được thế giới này vận hành ra sao mà thôi. Mẹ chưa từng thật sự định để con phải khổ công nghiên cứu những bộ Tứ Thư Ngũ Kinh này, coi đó là đạo an thân lập mệnh. Càng không có ý định bắt con phải đi thi khoa cử, mong cầu sau này được ‘mẹ quý vì con'”.
Những lời này, Tần Thư chưa từng nói với Hành ca nhi bao giờ. Thằng bé nghe xong thì nhất thời ngẩn người ra, ngây ngô hỏi: “Vậy sau này mẹ muốn con làm gì ạ?”
Tần Thư khẽ lắc đầu: “Mẹ không biết, quan trọng là chính con sau này muốn trở thành một người như thế nào.”
Nàng đưa tay lau đi những giọt nước mắt trên mặt Hành ca nhi, rồi từ từ nói: “Hôm trước tiên sinh có bảo, con muốn trở thành một nhà hàng hải, để thuyền buồm cứ tiến về một hướng rồi cuối cùng lại quay trở về điểm xuất phát ban đầu. Ý tưởng đó thực sự rất lãng mạn đấy.”
Hành ca nhi nghiêng đầu suy nghĩ một hồi: “Con chỉ là muốn đi xem thử, những nơi trên bản đồ có thật sự giống như người ta nói hay không. Biển cả liệu có thật sự rộng lớn đến mức, chỉ thấy được một đường chỉ trắng xóa hay không? Và liệu ở Lữ Tống có thật là vàng bạc rải khắp lối đi không?”
Tần Thư bật cười thành tiếng: “Lữ Tống thời điểm này còn chưa khai phá đâu, lấy đâu ra mà vàng bạc rải khắp lối? Đợi đến khi Tiểu Tả ca ca của con làm việc ở đó chừng ba, bốn năm nữa, thì may ra mới đào được vàng nhé.”
Hành ca nhi chống cằm vào hai bàn tay, lại ngẫm nghĩ một hồi: “Trước đây con cũng nghĩ như vậy, nhưng giờ con đổi ý rồi. Con muốn thử xem cảm giác thi đỗ khoa cử, trúng được Trạng nguyên là như thế nào. Tiên sinh nói: Xuân phong đắc ý mã đề tật, nhất nhật khán tận Trường An hoa*, liệu có thật sự tuyệt vời đến thế không hả mẹ?”
(*: Hai câu thơ nổi tiếng của Mạnh Giao mô tả niềm kiêu hãnh và sự rạng rỡ của tân khoa tiến sĩ khi cưỡi ngựa dạo quanh kinh thành.)
Tần Thư khẽ nhéo mũi cậu bé: “Trước đây tiên sinh cũng từng nói như vậy, mà có bao giờ con chịu nghe lời ông ấy đâu?”
Hành ca nhi sụt sịt mũi, cúi gầm mặt xuống, mấy giọt nước mắt rơi lã chã trên bậc thang gỗ, giọng nói của cậu bé trở nên nghẹn ngào: “Nhưng mà… nhưng mà con không muốn mẹ bị người ta coi thường, con không muốn mẹ bị kẻ khác bắt nạt đâu!”
Tần Thư thấy thằng bé khóc đến mức bờ vai run rẩy, vậy mà vẫn cố kìm nén không để phát ra tiếng động. Nàng khẽ thở dài: “Mẹ có bị ai bắt nạt đâu nào? Chẳng phải con vẫn thường thấy các thúc bá ở phiếu hiệu đó sao, mẹ mà nói một tiếng là họ chẳng ai dám không nghe theo. Mẹ không mắng mỏ họ thì thôi chứ họ nào dám bắt nạt mẹ? Còn chuyện coi thường thì lại càng không có đâu.”
Hành ca nhi sụt sịt mũi: “Rõ ràng là có mà. Hôm đó vị đại thúc kia xông vào nhà lúc đêm hôm khuya khoắt, rõ ràng là đang bắt nạt mẹ, không hề tôn trọng mẹ chút nào.”
Tần Thư ngập ngừng: “Vị đại thúc hôm đó…”
Nàng mới nói được nửa câu thì đã bị cậu bé ngắt lời: “Mẹ, con không muốn biết bất cứ chuyện gì về vị đại thúc đó hết!”
Thằng bé vốn thông tuệ, nhạy cảm lại hay đa nghi, Tần Thư chỉ lo rằng nó đã thấp thoáng đoán ra điều gì đó. Nàng vỗ vỗ vai Hành ca nhi: “Được rồi, nếu con muốn đọc sách thi khoa cử, thì mẹ cũng sẽ ủng hộ con. Con không thích vị tiên sinh này thì chúng ta đổi người khác là được. Thái thường Thiếu khanh Vương Vũ đã mãn hạn tang trở về kinh thành, ông ấy vốn là Trạng nguyên năm Quảng Đức thứ hai mươi bảy, danh tiếng văn chương vang dội thiên hạ. Tuy đường quan lộ không mấy hanh thông, nhưng lại là bậc minh chủ được công nhận trên văn đàn hiện nay.”
Hành ca nhi ngẩng đầu lên, gương mặt vẫn còn vương những vệt nước mắt. Thấy vẻ mặt của Tần Thư không giống như đang đùa giỡn, cậu bé bèn hỏi: “Người ta có danh tiếng lẫy lừng như vậy, liệu có chịu nhận con làm học trò không ạ?”
Tần Thư nhướn mày, cầm lấy chiếc quạt tròn bằng lụa cát thêu hoa mẫu đơn, khẽ gõ nhẹ vào đầu con trai: “Con trai à, con cũng xem thường mẹ của con quá rồi đấy. Là bà chủ thứ hai của phiếu hiệu Đại Thông, chẳng lẽ chút nhân mạch này mẹ lại không có sao?”
Những việc mà mẫu thân đã hứa thì chưa bao giờ không làm được, Hành ca nhi gật đầu lia lịa: “Vâng ạ, con muốn được bái sư chính thức, học hành chính quy.”
Trong lòng Tần Thư nhất thời không biết nên vui hay nên buồn. Tính cách của thằng bé giống hệt nàng, vô cùng quật cường; một khi đã hạ quyết tâm dưới sự kích động đầy tiêu cực thế này, e rằng không phải chỉ khuyên nhủ dăm ba ngày là có thể lay chuyển được. Con người vốn dĩ là sinh vật có tính xã hội, nếu bị tách biệt hoàn toàn khỏi dòng chảy của xã hội ấy, ắt sẽ cảm thấy vô cùng đau đớn.
Bên ngoài, Tần ma ma mang vào một phong thư niêm phong bằng sáp nóng: “Cô nương, là Vạn chưởng quỹ gửi tới, thư từ Tuyên Phủ ạ.”
Tần Thư thấy lớp sáp vẫn còn nguyên vẹn, chưa từng bị ai bóc mở. Nàng mở thư ra, mới lướt qua nhanh hai dòng đầu mà sắc mặt đã trở nên vô cùng nghiêm trọng. Sau khi xem xong, nàng đặt bức thư sang một bên rồi dặn dò: “Bà bảo Vạn chưởng quỹ, phải chuẩn bị sẵn sàng cho cả hai phương án, bạc trắng nhất định phải dự trữ cho đủ. Nếu ở Bắc Kinh không đủ thì lập tức điều động từ Hàng Châu và Tô Châu tới.”
Tần ma ma vâng lời, rồi lo lắng hỏi: “Cô nương, đã xảy ra chuyện gì vậy?”
Tần Thư dắt tay Hành ca nhi bước xuống cầu thang, rồi chậm rãi nói: “Ngân khố của phân hiệu tại Tuyên Phủ bị cướp rồi. Hai triệu lượng bạc trắng mà tổng hiệu ở Bắc Kinh vừa vận chuyển qua đó, đã không cánh mà bay.”
Tần Thư ngồi xổm xuống, thấy đôi lông mày của Hành ca nhi đang nhíu chặt lại, bèn đưa tay nhéo nhéo khuôn mặt bánh bao của cậu bé: “Mấy chuyện nhỏ nhặt này con không cần phải bận tâm đâu. Đợi ngày mai mẹ đi dự tiệc đại thọ của Định Võ hầu về, mẹ sẽ đưa con đi bái sư nhé.”
Nói xong, nàng giao Hành ca nhi cho Tần ma ma: “Bà đưa tiểu công tử đi ngủ đi, nhớ cho thằng bé uống sữa trước khi ngủ đấy.”
Tần Thư xoay người, định bụng đi về phía thư phòng thì Hành ca nhi đã níu tay nàng lại. Khuôn mặt nhỏ nhắn của cậu bé lộ rõ vẻ nghiêm nghị: “Mẹ, con không thích vị đại thúc kia.”
Tần Thư sững sờ trong giây lát, trong lòng dâng lên một cảm giác khó tả, nàng cũng gật đầu: “Mẹ cũng không thích vị đại thúc đó.”
Tần ma ma mỉm cười tiến lên giảng hòa: “Đã đêm hôm khuya khoắt rồi, hai mẹ con nhà này tự dưng lại đi nhắc đến cái người ngoài không liên quan làm gì. Thôi, ai nấy mau về phòng tắm rửa nghỉ ngơi đi, ngày mai còn bao nhiêu là việc đang chờ đấy.”
Hành ca nhi gật đầu ngoan ngoãn: “Vâng ạ, mẹ mau đi làm việc của mẹ đi.”
Tần Thư xoay người đi về phía thư phòng, trong lòng không khỏi dâng lên cảm giác tội lỗi. Nói thằng bé thông tuệ quả nhiên chẳng sai chút nào, chỉ từ vài câu chữ ít ỏi mà nó đã tự mình đoán ra được đại khái rồi.
Chương 80
Khi tới thư phòng, Linh Lung đã đợi sẵn ở đó. Cô ấy hầu hạ nghiên bút cho Tần Thư, đợi nàng viết xong bức thư mới khó hiểu mà hỏi: “Chẳng phải chúng ta đã nhờ cậy Phùng công công rồi sao, vì cớ gì mà mãi vẫn chưa chịu động thủ? Tổng đốc Tuyên Đại vốn là thuộc hạ thân tín của Định Võ hầu, vụ cướp số bạc trắng này chắc chắn không thể không liên quan đến ông ta.”
Tần Thư đi ra phía sau rửa tay, rồi từ từ giải thích cho Linh Lung: “Có những việc, thời cơ chưa tới thì không thể làm. Huống hồ, bệ hạ vốn coi ông ta là cánh tay đắc lực của Quý phi, lẽ nào chỉ bằng một câu nói của Phùng thái giám, mà có thể đẩy ông ta vào chỗ chết ngay được sao?”
Linh Lung vặn hỏi lại: “Chẳng qua là đống củi khô này vốn đã dựng sẵn cả rồi, thứ còn thiếu chẳng phải chính là một mồi lửa từ phía Phùng công công đó sao?”
Tần Thư lắc đầu: “Củi khô đã chuẩn bị sẵn là thật, nhưng thời tiết lại không thuận lợi. Nếu chúng ta châm lửa mà trời lại đổ mưa, chẳng phải sẽ lợi bất cập hại sao?”
Linh Lung nghe vậy thì lo lắng: “Nhưng mà, đến bao giờ trời mới ngừng mưa đây?”
Tần Thư mở cửa sổ, nghe thấy một tiếng tiêu ngọc vẳng lại: “Sẽ không lâu nữa đâu.”
Ngày hôm sau, khi Tần Thư đến phủ Định Võ hầu, thái độ của Hầu phu nhân đã nhiệt tình hơn lần trước rất nhiều. Sau khi nhìn qua món trọng lễ mà Tần Thư mang tới, nụ cười trên mặt bà ta lại sâu thêm vài phần.
Bà ta cho bày một bàn tiệc nhỏ riêng tư ở gian trong để đích thân mời Tần Thư. Vừa nắm tay Tần Thư, bà ta vừa cười nói: “Tần chưởng quỹ, cô xem kìa, chúng ta vốn dĩ đều cùng một ý cả, vậy mà lời qua tiếng lại thế nào lại thành ra hiểu lầm. Nếu không nhờ Hạ học sĩ đánh tiếng trước, thì làm sao chúng ta có thể tháo gỡ được cái nút thắt này đây?”
Bà ta đang lúc đắc ý, tinh thần phấn chấn, vừa nói vừa nhấp một chén rượu: “Cô cứ yên tâm, chuyện ngân khố ở Tuyên Phủ của các cô bị cướp, Hầu gia nhà chúng ta đã nói rồi, tự khắc sẽ viết thư hỏi han giúp các cô. Tuy nói là các cô có tiền, nhưng tự dưng mất trắng hai triệu lượng thì cũng là chuyện lớn rồi.”
Tần Thư nghe bà ta nói vậy, đến cả số bạc bị mất bao nhiêu cũng nắm rõ mười mươi, đúng là quyền thế đang lúc thịnh trị, chẳng thèm kiêng dè chút nào. Nàng khẽ cười: “Vậy thì đa tạ phu nhân giúp đỡ. Phiếu hiệu nói cho cùng cũng chỉ là chuyện làm ăn của thương gia, nếu không có quý nhân lưu tâm chiếu cố, thì tuyệt đối không thể xong xuôi được.”
Rượu trên bàn là loại rượu nho do chính Tần Thư mang tới, nồng độ rất thấp, mấy năm nay tửu lượng của nàng cũng đã khá hơn đôi chút. Nàng nâng chén rượu lên: “Ta xin được uống chén này để tạ lỗi với phu nhân, trước đây có nhiều điều mạo phạm, mong phu nhân đại nhân đại lượng, đừng chấp nhặt kẻ tiểu nhân này.”
Nụ cười của Hầu phu nhân càng lúc càng đắc ý, bà ta vỗ vỗ tay Tần Thư: “Đâu có, đâu có, vốn dĩ chỉ là hiểu lầm thôi mà. Ta còn phải cảm ơn bức “Mãnh Hổ Đồ” kia của cô nữa kìa, nó đã giúp chúng ta được một việc lớn đấy.” Nói xong, bà ta cũng nâng chén rượu lên: “Thôi, cũng đừng nhắc đến chuyện tạ lỗi hay không nữa, hai ta hãy uống cạn chén này, từ nay vẫn cứ thân thiết và qua lại với nhau như trước kia nhé.”
Tần Thư uống xong chén rượu, ngồi một lát bỗng cảm thấy đầu óc choáng váng. Tửu lượng của nàng tuy kém, nhưng cũng chẳng đến mức chỉ nhấp một ly rượu nho mà đã say khướt thế này. Nàng gượng đứng dậy, cả đất trời như đảo lộn, phải vịn vào chiếc cột bên cạnh mới đứng vững. Toàn thân nàng nóng bừng, đến cả hơi thở thoát ra cũng mang theo sức nóng hầm cập.
Hầu phu nhân ngồi đối diện cũng đứng phắt dậy, tươi cười tiến đến đỡ lấy Tần Thư: “Ui chao, Tần chưởng quỹ, xưa nay vẫn nghe danh cô không biết uống rượu, mọi khi đến phủ chúng ta cũng chỉ nếm qua cho có lệ, sao hôm nay mới một chén mà đã say đến mức này rồi?”
Tần Thư khẽ run rẩy, nàng run giọng hỏi: “Bà đã bỏ thứ gì vào trong rượu?”
Hầu phu nhân thu lại nụ cười trên gương mặt, để lộ vẻ khắc nghiệt xen lẫn tàn nhẫn: “Ta đây là đang tặng cho Tần chưởng quỹ một mối lương duyên tốt lành đấy chứ. Tuy cô là góa phụ, nhưng cũng mới chỉ mới ngoài đôi mươi, người lại xinh đẹp như hoa thế này, cứ để vậy mà thủ tiết héo mòn, phòng khuê cô độc, ta nhìn mà cũng thấy sốt ruột thay cho cô.”
Nói xong, bà ta vỗ tay một cái, cánh cửa gian trong lập tức bị đẩy ra. Một nam tử mặc trường bào rộng màu đỏ táo bước ra, gã vừa cười híp mắt vừa tiến lại gần, cúi đầu vái chào Hầu phu nhân: “Thẩm thẩm, tiểu điệt xin bái kiến. Đa tạ đại ân đại đức của thẩm, sau này nhất định điệt nhi nhất định sẽ báo đáp ạ.”
Hầu phu nhân mỉm cười: “Đây không phải ý của ta, mà là ý của thúc thúc cháu đấy. Nhà chúng ta với Tần chưởng quỹ vốn là vinh nhục có nhau, đợi chuyện hôm nay thành công, sau này ngươi cưới cô ta vào cửa, chúng ta liền trở thành người một nhà. Một khi đã là người nhà thì mọi chuyện đều dễ nói, cũng đỡ cho Tần chưởng quỹ thay lòng, hôm nay nói năng tử tế, ngày mai đã lại đổi ý mất rồi.”
Bà ta quay đầu lại, thấy sắc mặt của Tần Thư đã đỏ bừng như ráng chiều, ánh mắt bắt đầu lờ đờ, những lọn tóc trên trán đã bị mồ hôi làm cho ướt đẫm, bèn cười nói: “Tần chưởng quỹ, điệt nhi này của ta năm nay mới mười tám tuổi, tính ra còn kém cô vài tuổi đấy. Nó vốn dĩ rất quy củ, chẳng giống đám con em huân quý suốt ngày chỉ biết lao đầu vào chốn phong hoa tuyết nguyệt, nhân tài như vậy cũng chẳng tính là làm nhục cô đâu.”
Tần Thư vịn chặt vào thân cột, trong lòng thầm hận bản thân quá đỗi chủ quan. Hôm nay nàng đã dặn Linh Lung đến phủ học sĩ, không để cô ấy đi cùng, bên ngoài lúc này chỉ có một tiểu nha hoàn chẳng làm nên trò trống gì. Cho dù nàng có mang theo hộ vệ thì họ cũng chỉ ở ngoại viện, tuyệt đối không được phép bước chân vào chốn nội trạch này.
Nàng đã tính toán trăm phương nghìn kế, nhưng tuyệt đối không ngờ vị Hầu phu nhân này lại dùng đến thủ đoạn hạ lưu đến thế. Tần Thư bấm mạnh móng tay vào lòng bàn tay, nỗi đau nhói giúp nàng gượng dậy được chút tỉnh táo cuối cùng: “Phu nhân làm vậy là có ý gì? Ta tuy là góa phụ nhưng cũng chẳng có ý định thủ tiết thờ chồng, nếu thật sự là vì muốn tác thành lương duyên, thì cứ việc đường đường chính chính sang cầu thân, hành xử kiểu này e rằng sẽ làm mất đi thể diện của Hầu phủ.”
Hầu phu nhân cười nhạt: “Ta vốn dĩ cũng không nghĩ đến chiêu này, đây đều là diệu kế của Hầu gia nhà ta cả. Ông ấy nói rất có lý, nữ nhân hễ gả đi là tự khắc sẽ hướng về nhà chồng. Nếu như lại có thai cốt nhục nữa thì coi như chuyện đã an bài, có đóng đinh cũng không đổi thay được nữa.”
Nói xong, bà ta đẩy nhẹ nam tử kia một cái: “Văn ca nhi, cháu còn đứng đực ra đó làm gì? Còn không mau dìu Tần chưởng quỹ vào trong đi.”
Trong rượu chẳng biết đã bị hạ loại thuốc liệt tính gì mà khiến đôi chân của Tần Thư bủn rủn, toàn thân không còn chút sức lực nào. Nam tử kia tiến lại gần, gã khoảng chừng mười bảy mười tám tuổi, nhưng trên mặt mọc đầy những mụn nhọt lồi lõm, trông vô cùng ghê tởm. Gã cười hì hì định đỡ lấy Tần Thư, một bàn tay đã bám chặt lấy cánh tay nhỏ nhắn của nàng, vừa mở miệng đã phả ra một luồng hôi hám nồng nặc: “Tần chưởng quỹ, nàng say rồi, để ta dìu nàng vào phòng trong nghỉ ngơi nhé.”
Tần Thư muốn đẩy gã ra, nhưng trong người chẳng còn lấy một chút sức lực, cứ thế ngã nhào về phía trước.
Nam tử tên Văn ca nhi kia thuận thế ôm chặt lấy thắt lưng của Tần Thư. Thấy nàng mềm nhũn không chút sức kháng cự, gã liền bế bổng nàng lên, dùng chân đá văng cánh cửa, rồi tiến thẳng về phía chiếc sập xuân ở tận cùng bên trong.
Gã đặt Tần Thư xuống sập, vừa tháo dải thắt lưng của nàng, vừa lải nhải tự bạch: “Tần chưởng quỹ, e là nàng không nhận ra ta, ta là Triệu Thụy Hồng, con cháu bàng chi của Hầu phủ, hiện đang chạy việc vặt cho thẩm thẩm. Lần đầu nàng đến phủ, ta đang dẫn người trồng hoa cỏ, nàng đứng trên cầu trông còn đẹp hơn cả hoa mẫu đơn nữa. Lúc đó ta đã nghĩ, nếu được ngủ với kiểu phụ nữ như nàng một giấc, dù có chết cũng đáng. Ta vốn hay làm việc thiện, giờ đây ông trời quả nhiên đã cho ta được như nguyện rồi.”
Gã cười lên hô hố, đôi tay cuống quýt tháo thắt lưng của chính mình, chẳng mấy chốc trên người đã không còn mảnh vải.
Tần Thư rút chiếc kim thoa trên đầu, cố gắng đâm mạnh vào đùi mình. Cơn đau nhói ập đến khiến nàng run rẩy, nhưng cũng nhờ đó mà giữ được chút tỉnh táo. Nàng nhìn chằm chằm vào Triệu Thụy Hồng, khẽ nở nụ cười: “Hóa ra là ngươi, ta nhớ ra rồi, ngươi thường xuyên đến thưa chuyện với thẩm thẩm của mình, ngày hôm đó ngươi mặc một chiếc bào màu xanh lục…”
Triệu Thụy Văn nghe xong, bàn tay vốn đang định lột y phục của Tần Thư bỗng khựng lại một nhịp: “Tần chưởng quỹ còn nhớ rõ ta sao? Đúng là hôm đó ta có mặc một chiếc áo xanh lục. Xem ra trong lòng Tần chưởng quỹ cũng có ta đấy chứ, bằng không chuyện đã lâu như vậy rồi, sao nàng vẫn còn nhớ rõ ta mặc y phục màu gì?”
Tay áo của Tần Thư vốn rất rộng, nàng đưa một bàn tay lên ôm lấy bả vai gã, rồi dịu dàng vuốt ve. Không chỉ Triệu Thụy Văn, mà ngay chính bản thân nàng cũng không kìm được một cơn rùng mình run rẩy. Nàng hạ thấp giọng, thanh âm bỗng trở nên dịu dàng như nước: “Đi đóng cửa sổ lại đi, trời lạnh thế này mà trong phòng lại chẳng đốt lấy một lò than, để nhiễm phong hàn thì thật không tốt chút nào.”
Triệu Thụy Văn nghe vậy thì lập tức gật đầu lia lịa: “Phải đấy, phải đấy! Không nói đến chuyện lạnh, lỡ có ai nhìn thấy thì cũng chẳng hay ho gì.”
Gã vừa xoay người lại đã cảm thấy một cơn đau nhói nơi cổ họng. Vừa định mở miệng nói điều gì, thì máu tươi đã trào ra từ khóe miệng. Gã nhìn thấy trên tay Tần chưởng quỹ đang cầm một chiếc bao nhỏ bằng ngọc, lưỡi dao nhỏ kiếm vẫn còn dính máu: “Ngươi… ngươi…”
Gã chỉ thốt lên được hai chữ rồi đổ rầm xuống đất như một khúc gỗ.
Nhát dao của Tần Thư đã cắt đứt động mạch lớn ở cổ gã, máu tươi bắn tung tóe, chẳng mấy chốc đã chảy lênh láng thành một vũng lớn. Nàng thở dốc dồn dập, phải ngồi lặng trên sập hồi lâu mới hồi lại chút sức lực, lúc này mới run rẩy đưa tay thắt lại dải thắt lưng đã bị nới lỏng.
Cửa chính đã bị khóa chặt, bên ngoài lại có người canh giữ, nàng tuyệt đối không thể thoát ra bằng đường đó. Nàng đưa mắt nhìn về phía cánh cửa sổ đang mở toang, bên ngoài cửa sổ là một con lạch dẫn nước chảy từ ngoài vào.
Tần Thư đứng trước cửa sổ quan sát một lượt, rồi không chút do dự mà nhảy xuống. Con lạch ấy vốn không sâu, nước chỉ vừa quá bắp chân, nhưng vì đang giữa tiết đại hàn, nên cái lạnh thấu tận tâm can, trái lại còn giúp nàng khôi phục được vài phần tỉnh táo.
Men theo con lạch đi được mấy chục bước, nàng trông thấy phía trước có một hòn non bộ, lại nghe thấy tiếng người lao xao nên vội vàng lách mình trốn vào trong. Trên hòn non bộ này có dẫn nước chảy qua, nên bên trong hang hốc vô cùng ẩm ướt, vừa nhớp nháp vừa lạnh lẽo. Tần Thư ngồi bệt xuống đất, dược tính trong người lại bắt đầu bốc lên hừng hực. Dẫu vừa lội qua nước lạnh một quãng dài như thế, nhưng lúc này nàng vẫn thấy đầu óc mê muội, toàn thân nóng rực, cổ họng khô khốc như thiêu như đốt.
Nàng không biết mình đã trốn trong hòn non bộ đó bao lâu, tâm trí đã chẳng còn phân biệt được thời gian dài ngắn ra sao. Có lẽ chỉ mới qua vài câu nói, mà cũng có thể đã trôi qua cả một canh giờ. Bỗng nàng nghe thấy tiếng người vang lên phía trên: “Hầu gia không cần tiễn đâu. Chắc hẳn chỉ chốc lát nữa là người của cung đình sẽ mang ban thưởng tới, ngài cứ đi lo việc chính sự đi.”
Định Võ hầu đáp lời: “Đâu có, đâu có. Để tôi tiễn Lục đại nhân ra ngoài. Tôi tuy là kẻ võ phu, nhưng lễ nghi cần có thì vẫn phải chu toàn.”
Lục Trạch thoáng thấy một góc vạt áo quen thuộc lấp ló dưới chân hòn non bộ, bèn đưa tay day trán nói: “Hầu gia cứ đi lo việc đi, để ta tùy tiện tìm cái đình nào đó ngồi tỉnh rượu là được.”
Định Võ hầu vốn tưởng Lục Trạch định rời đi, nghe thấy vậy thì lấy làm yên tâm, liền vẫy tay gọi một tên tiểu sai lại gần: “Lối mòn trong vườn này rất nhiều, ngươi hãy dẫn Lục đại nhân đến Huề Phương Các nghỉ ngơi một lát đi.” Nói xong, lão lại chắp tay cáo lỗi thêm vài câu tiếp đón sơ suất, rồi mới quay mình rảo bước về phía sảnh chính.
Lục Trạch xua tay, rồi bảo tên tiểu sai: “Ngươi đi lấy chút trà và bánh ngọt lại đây.” Chờ bóng người đã khuất xa, hắn mới vén vạt áo rồi nhảy xuống phía dưới hòn non bộ.
Bên trong hòn non bộ vốn rỗng ruột, bốn bề đều có nước chảy qua nên vô cùng ẩm thấp và lạnh lẽo. Hắn bước tới thì thấy Tần Thư tóc mai rối bời, sắc mặt đỏ bừng, đang nhắm nghiền mắt tựa vào một tảng đá. Lục Trạch ngồi thụp xuống, thấy vạt váy của nàng đã ướt sũng, còn vương lại những vết máu, sắc đỏ trên mặt nàng đã lan xuống tận cổ, trên trán lấm tấm những giọt mồ hôi li ti.
Lục Trạch cau mày, đưa tay định nâng khuôn mặt nàng lên. Ngón tay vừa mới chạm vào đã nghe thấy tiếng rên rỉ khẽ khàng, nàng chậm rãi mở mắt, thần trí trông vẫn còn tỉnh táo: “Lục Trạch?”
Bộ dạng này của nàng, Lục Trạch sao có thể chưa từng thấy qua. Ngày trước ở Hàng Châu, mỗi khi nàng còn chịu chiều chuộng hắn, vẻ diễm lệ chốn giường chiếu cũng tuyệt đối chẳng kém cạnh thế này. Hắn cởi chiếc áo choàng trên người mình ra, bao bọc nàng thật kỹ từ đầu đến chân, rồi bế bổng nàng lên: “Ta đưa nàng ra ngoài.”
Tần Thư không tin người trong Hầu phủ, nhưng cũng chẳng mảy may muốn tin hắn. Nàng lắc đầu: “Đừng… phiền ngài đi gọi nha hoàn của ta lại đây.”
Lục Trạch chẳng thèm để tâm đến lời nàng, cứ thế ôm ngang lưng bế nàng đến một tiểu hiên gần đó, rồi quay sang dặn dò Đinh Vị: “Đi, cứ bảo là ta không cẩn thận bị ngã, trật khớp chân rồi, bảo bọn họ khiêng kiệu đến đây ngay.”
Hắn quay đầu lại nhìn Tần Thư, rồi rút từ trong tay áo ra một chiếc khăn tay để lau mồ hôi cho nàng. Thấy nàng nhắm nghiền mắt tựa vào vai mình, tiếng thở dốc ngày một dồn dập hơn.
Lục Trạch định đưa tay lên thử nhiệt độ trên trán nàng, nào ngờ lại bị nàng nắm chặt lấy bàn tay. Toàn thân nàng chẳng còn chút sức lực nào, dù bàn tay nàng chạm đúng vào vết thương trên tay hắn nhưng không hề thấy đau, ngược lại còn mang đến một cảm giác ngứa ngáy mơn trớn, thế nhưng lời thốt ra bên tai lại lạnh thấu tâm can: “Ngài đừng chạm vào ta!”