Chương 89
Tám chữ ‘Giết dân tranh công, báo cáo sai viêc’ vừa thốt ra, không chỉ riêng Dương Lặc mà tất cả quan lại văn võ vùng Tuyên Phủ có mặt tại đó đều kinh hoàng bạt vía. Họ đưa mắt nhìn nhau đầy hãi hùng; những việc này vốn chẳng phải mình Dương Lặc làm, nếu thực sự truy cứu đến cùng, thì tất cả những kẻ ngồi đây không một ai có thể thoát tội.
Dương Lặc ‘ầm’ một tiếng hất tung bàn tiệc, những món cao lương mỹ vị lập tức văng tung tóe khắp sàn: “Lục Trạch, ngươi dám bôi nhọ biên tướng như thế sao? Dám bôi nhọ quan lại văn võ Tuyên Phủ chúng ta đến mức này à? Ta nhất định phải viết tấu chương, dốc hết sức mà tham tấu ngươi một bản. Lục Trạch, thiên hạ này không có kiểu làm quan như ngươi đâu!”
Dương Lặc đang định hạ lệnh cho người bắt giữ Lục Trạch để tống tiễn ra khỏi địa giới, thì chợt thấy trong viện một toán giáp vệ ùa vào như nước lũ, bao vây chặt chẽ đám hộ vệ của phủ Tổng đốc.
Từ ngoài cửa, một nữ tử tầm ba mươi tuổi bước vào, vóc người cao ráo hiên ngang, đầu đội võng cân, ăn mặc theo lối nam trang, mỗi bước đi đều nghe tiếng giáp trụ va chạm lanh lảnh. Vào đến cửa, cô ấy liền quỳ một gối hành lễ: “Ty chức Lý Lương Chi phụng mệnh dẫn quân Hổ Bôn đã tới, xin Khâm sai đại nhân hạ chỉ thị!”
Lục Trạch ‘ừ’ một tiếng, rồi hắn hỏi: “Đã bắt đầu thẩm vấn chưa?” Việc thẩm vấn này đương nhiên là hỏi về phía Tuần phòng doanh. Đánh bại trận, chết bao nhiêu người, vậy mà lại dám nói là căn bản không hề có chiến sự, tất cả đều chết vì dịch bệnh, những chuyện như thế này, từ trên xuống dưới trong quân doanh làm gì có ai mà không rõ tường tận.
Gương mặt Dương Lặc lúc này trắng bệch như tờ giấy, lão nghe thấy Lý Lương Chi dõng dạc bẩm báo: “Bẩm đại nhân, đã cho Cẩm y vệ tại Tuyên Phủ bắt đầu thẩm vấn rồi. Họ đều là những tay lão luyện trong việc tra hình, thiết nghĩ chỉ trong vòng một hai canh giờ nữa, nhất định bọn chúng sẽ phải mở miệng khai ra thôi.”
Dương Lặc lúc này đã hoàn toàn vỡ lẽ, Lục Trạch đến Tuyên Phủ là định chơi chiêu ‘rút củi dưới đáy nồi’. Bữa tiệc tẩy trần này đã giam chân toàn bộ quan văn võ tướng từ trên xuống dưới của Tuyên Phủ tại đây. Lão đảo mắt nhìn quanh một lượt, những thuộc hạ vốn trước nay luôn nhìn sắc mặt lão mà hành sự, giờ đây đều cúi gằm mặt, ánh mắt né tránh.
Lục Trạch đứng dậy, nhìn đống thức ăn thừa thãi vương vãi dưới đất, hắn khẽ cười một tiếng: “Mâm cao cỗ đầy tan tác thế này, sao có thể coi là đạo tiếp khách được. Người đâu, dâng rượu mạnh Thiêu Đao Tử vùng Tây Bắc lên! Chư vị đây đều là can tướng của Tuyên Phủ, chắc hẳn biết rõ điều gì nên nói và điều gì không nên nói. Ai là người đứng ra nói, và rốt cuộc định nói những gì, chư vị hãy mau thương lượng cử ra một người đi. Bản quan sẽ không làm mất thời gian của các ông quá lâu đâu, một khi khẩu cung bên ngoài đưa tới, chư vị có muốn nói gì thì cũng đã muộn, và lúc đó… cũng chẳng còn gì để mà nói nữa.”
Nói xong, hắn cũng chẳng buồn bận tâm xem sắc mặt những kẻ này ra sao, cứ thế thong dong đi thẳng vào hậu sảnh. Đám đông trong sảnh bắt đầu rơi vào im lặng, Dương Lặc biết rõ lòng dạ bọn họ đã bắt đầu dao động, lập tức ném mạnh chén rượu xuống đất, đứng phắt dậy đe dọa: “Những việc Dương Lặc ta đã làm, các người chưa chắc đã không có phần đâu! Kẻ nào tự cho rằng mình thanh cao sạch sẽ, thì cứ việc ra phía sau mà tìm Khâm sai để phân trần!”
Lời này vừa thốt ra, bầu không khí càng thêm im ắng đến đáng sợ. Một lát sau Từ Tổng binh đứng dậy, rồi hạ quyết tâm đánh liều: “Dương đại nhân, chúng tôi không nói thì người bên ngoài cũng sẽ nói thôi. Ngài cũng đừng trách huynh đệ chúng tôi, có những việc ngài làm đã quá phi lý, quá tuyệt tình rồi!”
Giữa thư phòng của phủ Tổng đốc, là một chiếc lò than bằng pháp lam khảm dây đồng tinh xảo, Lục Trạch ngồi bên cạnh, hắn nhỏ giọng gọi Tần Thư: “Lại đây!”
Tần Thư bước tới, trong lòng vẫn còn chưa hết bàng hoàng, nàng hỏi: “Ngài không có thánh chỉ, sao lại dám điều động binh lính bao vây quân doanh? Đây quả thực là đại kỵ của văn thần, nếu hoàng đế là người đa nghi, e rằng ngài cũng chẳng được yên thân đâu.”
Lục Trạch nắm lấy bàn tay của Tần Thư, quả nhiên nó đã lạnh ngắt từ lúc nào, vậy mà chính nàng cũng chẳng hề hay biết. Hắn nói: “Thuốc của Lý thái y kê, nàng vẫn nên uống thường xuyên thì hơn.”
Thấy Tần Thư vẫn đang nhìn mình chằm chằm bằng ánh mắt đầy lo lắng, hắn khẽ mỉm cười: “Nàng không cần phải lo cho ta, có những việc, quan trọng nằm ở sự linh hoạt của mỗi người mà thôi.”
Tần Thư gật đầu, gương mặt lộ rõ vẻ mệt mỏi. Lục Trạch đưa tách trà qua cho nàng, hắn nói: “Nàng đứng suốt nửa ngày trời rồi, uống ngụm trà nóng đi.”
Mấy năm nay Tần Thư vốn sống trong nhung lụa, quả thực cũng chưa từng phải đứng lâu như vậy giữa trời giá rét. Nàng bưng tách trà, ngồi bên lò đồng thong thả nhấp từng ngụm. Chẳng rõ đã ngồi bao lâu, mí mắt nàng ngày càng nặng trĩu, rồi bất thình lình nàng thấy chân mình hẫng đi, cả người đã được Lục Trạch bế ngang lên rồi rảo bước về phía sau.
Tần Thư giật mình mở mắt ra, liền nghe thấy Lục Trạch khẽ thì thầm bên tai: “Đây là Thiên Nhật Túy của Lý thái y, là thuốc an thần chứ không phải rượu đâu. Nàng cứ ra phía sau ngủ một giấc đi, đợi khi tỉnh dậy thì mọi chuyện đều đã giải quyết xong xuôi rồi.”
Về phần Tần Thư, trong lòng nàng tuyệt đối không muốn ngủ chút nào, chỉ là phương thuốc Thiên Nhật Túy này quả thực quá lợi hại.
Lục Trạch đặt nàng nằm xuống chiếc sập mềm ở hậu sảnh, cởi bỏ mũ cho nàng rồi vén lại chăn màn cẩn thận. Thấy nàng chậm chạp nhắm mắt lại, chẳng mấy chốc hơi thở đã dần trở nên đều đặn. Hắn ngồi bên cạnh, đưa tay vuốt ve đôi lông mày của nàng, trong lòng bỗng dâng lên một nỗi bi lương khi nhận ra rằng: Người nữ tử trước mắt này, có lẽ sẽ chẳng bao giờ khắc khoải nhớ nhung hắn, như cách hắn vẫn luôn nhớ mong nàng mỗi ngày.
Ngoài cửa có tiếng người nhỏ giọng bẩm báo: “Thưa gia, Từ Tổng binh cầu kiến.”
….
Khi Tần Thư tỉnh dậy thì đã là buổi trưa ngày hôm sau, nàng hốt hoảng ngồi bật dậy, thấy Lục Trạch đang ngồi bên án thư cạnh đó viết tấu chương.
Lục Trạch đặt bút xuống, dáng vẻ dường như cả đêm qua chưa hề chợp mắt, hắn hỏi: “Nàng tỉnh rồi à, có thấy trong người chỗ nào không khỏe không?”
Tần Thư lắc đầu, nàng chỉ cảm thấy đầu óc tỉnh táo lạ thường, giống như cảm giác tràn đầy sinh lực hồi còn nhỏ, thường thức dậy vào tầm năm sáu giờ sáng vậy. Nàng hỏi: “Chuyện bên ngoài thế nào rồi?”
Thực ra, chỉ cần nhìn thấy Lục Trạch lúc này vẫn còn có thể ung dung tự tại ngồi ở đây, là đủ biết chuyện bên ngoài đại khái đã được giải quyết êm xuôi cả rồi.
Lục Trạch gõ gõ lên mặt bàn: “Khẩu cung đều đã lấy xong, toàn bộ văn quan võ tướng của Tuyên Phủ đều đã ấn dấu tay và ký tên xác nhận cả rồi. Ta cũng đã cho dán niêm phong ngay trong đêm, lệnh cho Cẩm y vệ áp giải về kinh thành. Có điều, nàng cũng nên chuẩn bị tâm lý, hai triệu lượng bạc trắng bị thất thoát kia, đại khái là không thể thu hồi lại được nữa đâu.”
Nói xong, hắn lấy từ trên bàn ra một chiếc hộp rồi ngồi xuống cạnh Tần Thư. Mở hộp ra, bên trong chính là chiếc vòng tay nạm ngọc của mẫu thân hắn, món đồ mà mấy hôm trước vì Tần Thư phải cải trang thành nam giới nên đã tháo ra cất đi.
Lục Trạch lấy chiếc vòng ra, tự tay đeo lại vào cổ tay cho Tần Thư, rồi khẽ nói: “Từ nay về sau, ta sẽ không đeo bám nàng nữa. Duy chỉ có chiếc vòng này là tự tay nàng đã nhận lấy, vậy nên phải luôn đeo nó trên người.”
Tần Thư im lặng, hồi lâu sau mới khẽ ‘ừ’ một tiếng rồi bảo: “Ta muốn đến đại lý của phiếu hiệu Đại Thông xem sao.”
Lục Trạch hướng ra phía ngoài gọi một tiếng: “Người đâu!” Lúc này, Thủy Tụ bưng quần áo đi vào, hành lễ: “Đại nhân, Tiên sinh.” Khi có mặt người ngoài, cô ấy không bao giờ gọi Tần Thư là ‘Cô nương’, mà chỉ gọi theo cách gọi của người ở phiếu hiệu là ‘Tiên sinh’.
Lục Trạch ngồi trở lại sau án thư, cầm bút viết tiếp điều gì đó, cũng không còn đưa mắt nhìn Tần Thư nữa.
Tần Thư vẫn còn đang mặc bộ phi ngư phục trên người, nàng quay bước đi vào sau bức bình phong để thay xiêm y nữ tử. Đến khi trở ra, sau án thư đã trống không, chẳng còn thấy bóng dáng Lục Trạch đâu nữa.
Tần Thư lắc đầu, vốn dĩ định nói thêm vài câu gì đó, nhưng rồi nàng chỉ dẫn theo Thủy Tụ đẩy cửa bước ra, rồi đi thẳng ra khỏi phủ Tổng đốc.
Ở cửa đã dừng sẵn một chiếc kiệu nhỏ, kiệu đi dọc theo đại lộ của phủ Tổng đốc khoảng chừng nửa canh giờ, thì đến trước cổng phân hiệu phiếu hiệu Đại Thông tại Tuyên Phủ. Các chi nhánh phiếu hiệu trên khắp cả nước đều được xây dựng mô phỏng theo kiến trúc của tổng hiệu tại Bắc Kinh, chỉ có vài chi tiết nhỏ là khác biệt. Vừa mới bước vào cửa, đã thấy một người đàn ông trung niên tầm năm mươi tuổi đang chống gậy đi ra, lớn tiếng gọi: “Tần tiên sinh! Tần tiên sinh!”
Tần Thư vội vàng đỡ lấy ông: “Phùng lão chưởng quầy, ngài cứ nghỉ ngơi đi thôi, vết thương vẫn chưa lành, sao có thể ngồi dậy thế này?”
Đây là chưởng quầy của phân hiệu Tuyên Phủ, vốn dĩ là người rất đắc lực. Ông ấy lên tiếng thỉnh tội: “Chư vị đông gia tin tưởng phái tôi đến Tuyên Phủ, giao phó trọng trách, vậy mà tôi lại làm hỏng việc, còn để Tần tiên sinh phải lặn lội dặm trường tới đây dọn dẹp đống hỗn độn này. Tôi làm sao còn mặt mũi nào mà nằm yên một chỗ cho được?”
Tần Thư vội bảo Thủy Tụ đỡ lấy ông: “Việc vận chuyển hai triệu lượng tới đây là quyết định đã được chư vị đông gia đồng ý, tổng hiệu cũng đã phê duyệt, nếu có truy cứu trách nhiệm thì cũng không phải mình lão chưởng quầy phải gánh chịu đâu.”
Thực ra, ngay từ đầu Tần Thư đã cảm thấy việc vận chuyển hai triệu lượng bạc như thế này là quá mạo hiểm, chỉ là khi đó Hạ Cửu Sanh nhất quyết thúc đẩy chuyện này cho bằng được. Giờ ngẫm lại, hai triệu lượng bạc trắng lấp lánh này chẳng phải chính là một miếng mồi nhử lộ liễu hay sao?
Để lật đổ vị Tổng đốc Tuyên Đại này, với thân phận đang bị nghi kỵ như hiện tại, Hạ Cửu Sanh không thể tự mình ra mặt. Chính vì thế, bà ấy mới tung ra miếng mồi nhử trị giá hai triệu lượng bạc này. Số tiền ấy không thuộc sở hữu của riêng một mình Hạ Cửu Sanh, mà là tài sản của các cổ đông trong phiếu hiệu Đại Thông. Những cổ đông này gồm có những đại gia tộc giàu có lâu đời, những hào tộc vùng Giang Nam, và cả những danh thần thế hoạn, tuy họ cùng đứng chung một thuyền với phiếu hiệu Đại Thông về mặt kinh doanh, nhưng trong chốn quan trường, mỗi người lại theo đuổi một lập trường chính trị riêng biệt.
Hiện giờ Tô Quý phi đang lúc đắc sủng, quyền thế ngất trời, đám người này vốn dĩ vẫn luôn đứng giữa quan sát hai bên. Nay bị mất một số bạc lớn như vậy, họ sẽ không làm gì được Định Võ hầu, nhưng với vị Tổng đốc Tuyên Đại này, họ lại rất sẵn lòng ‘thừa nước đục thả câu’, dìm cho lão chết hẳn.
Vừa nói, họ vừa bước đến hoa sảnh tiếp khách bên cạnh. Cách bài trí ở đây giống hệt như ở tổng hiệu, nên không lo đi nhầm chỗ. Tần Thư ngồi xuống, nhấp một ngụm trà rồi mới hỏi: “Phùng lão chưởng quầy, những gia nhân, thợ thuyền bị thương vong đã được an bài ổn thỏa chưa? Hiện giờ trong ngân khố của phân hiệu còn bao nhiêu bạc hiện vật? Ta chẳng sợ gì khác, chỉ sợ tin tức này truyền ra ngoài, dân tình đồng loạt kéo đến rút bạc thì chúng ta sẽ rất khó ứng phó.”
Phùng lão chưởng quầy đưa qua một cuốn sổ cái: “Tần tiên sinh, ngài xem, người của chúng ta tổn thất khoảng bốn năm mươi người, nhưng người của tiêu cục thì thương vong nặng nề hơn, tất cả đều bị một đao mất mạng, không để lại một ai sống sót. Chỉ có duy nhất một người biết bơi là trốn thoát được, dù chân bị trúng một đao nhưng đã kịp nhảy xuống sông nên giữ được mạng già.”
Những tình cảnh này thực ra Tần Thư đều có thể hình dung ra được. Vị Tổng đốc Tuyên Đại kia đã ôm định kiến cướp bạc, nhất định sẽ ra tay sạch sẽ gọn gàng để không để lại hậu họa về sau. Tần Thư lẳng lặng suy nghĩ, những người này vốn dĩ không đáng phải chết, nhưng chính cuộc đấu đá quyền lực đã ép bọn họ vào con đường chết.
Nàng lật xem sổ sách rồi dặn dò: “Tiền mai táng và phí trợ cấp cho những người này nhất định phải được phát đến tận tay, sau này nếu có tuyển đồ đệ thì phải ưu tiên cân nhắc con em của họ. Tổng hiệu ở kinh thành cũng đang điều phối ngân lượng rồi, những hộ nhỏ lẻ thì không cần lo, còn với các thương gia có hối phiếu lớn, thì ta sẽ đích thân tới bái phỏng.”
Khoảng một hai ngày sau, Tần Thư bắt đầu đi khắp nơi thăm hỏi, chấp nhận nhường bớt phần lãi suất, để xin các thương nhân có hối phiếu tại Tuyên Phủ, cho phép dãn thời hạn thanh toán thêm mười ngày, nửa tháng. Trong số đó, quan trọng nhất là vị Hứa lão tiên sinh được mệnh danh là linh hồn của phái ‘Tây Đảng’. Khi Tần Thư đến nơi thì trời đang lất phất mưa phùn, ông ấy đang ngồi câu cá bên hồ, thấy nàng đến liền cởi bỏ áo tơi, rồi mời nàng vào trong đình ngồi nghỉ chân.
Trà được dâng lên là loại Thái Bình Hầu Khôi, sau vài câu hàn huyên, Tần Thư liền trao bức thư tay của Hạ Cửu Sanh cho ông: “Hứa lão tiên sinh, sự việc ở Tuyên Phủ lần này, xin làm phiền ngài rồi.”
Hứa lão tiên sinh tuy tuổi đã cao nhưng thân hình vẫn còn tráng kiện, tai thính mắt tinh. Hôm ấy thấy Tần Thư trong bộ trang phục Cẩm y vệ đứng sau lưng vị Khâm sai, ông không khỏi có vài phần suy đoán. Ông lướt nhanh qua bức thư rồi hỏi: “Lão phu mạn phép hỏi một câu, vị đứng sau lưng Khâm sai tại phủ Tổng đốc mấy ngày trước, có phải là Tần chưởng quầy đây không?”
Tần Thư không hề phủ nhận. Nàng biết rõ, Hạ Cửu Sanh để nàng theo Lục Trạch đến phương Bắc chính là vì toan tính này, muốn khiến người ngoài lầm tưởng rằng thái độ của Lục Trạch đã có phần thiên vị cho phía họ. Nàng khẽ mỉm cười đáp: “Đại khái là người giống người thôi ạ!”
Lại một hai ngày nữa trôi qua, năm mươi vạn lượng bạc vận chuyển từ tổng hiệu kinh thành, đi đường biển rồi chuyển sang đường bộ, cuối cùng cũng đã đến nơi an toàn. Tần Thư đích thân đến ngân khố kiểm tra, đối chiếu và kiểm kê từng hạng mục để nhập kho.
Đêm hôm ấy, ngỡ rằng rốt cuộc đã có thể đánh một giấc ngủ ngon nên nàng đã uống thuốc an thần. Đến giữa đêm, nàng bị đánh thức bởi tiếng đập cửa dồn dập. Tần Thư khoác vội chiếc áo rồi ngồi dậy, đầu óc vẫn còn hơi choáng váng vì tác dụng của thuốc, thì thấy Thủy Tụ đứng ở cửa, vẻ mặt kinh hoàng báo: “Cô nương, quân Đát Tử ngoài quan ải kéo đến rồi!”
Nghe thấy câu đó, Tần Thư vẫn chưa kịp phản ứng ngay. Nàng đứng lặng một hồi, luồng gió lạnh lùa vào mới khiến nàng tỉnh táo lại mà hỏi dồn: “Có bao nhiêu binh mã? Chúng từ hướng nào tới? Đã đến dưới chân thành Tuyên Phủ chưa?”
Quân Đát Tử ngoài quan ải chẳng thể so bì với đám giặc Oa vùng Giang Nam. Đám dân du mục này vốn dũng mãnh thiện chiến, thường xuyên cướp bóc các địa phương; tám năm trước, chúng thậm chí còn đi vòng qua phủ Đại Đồng, dẫn ba nghìn thiết kỵ áp sát kinh sư. Tuy tường thành cao nên không thể công phá, nhưng chúng đã bao vây kinh thành suốt một tháng ròng. Khi ấy, Thượng thư bộ Binh vì lo sợ bệ hạ trách tội mà đã rút kiếm tự sát. Quân đội triều đình có thể nói là cứ nghe danh kỵ binh Đát Tử là biến sắc, căn bản không dám đối đầu trực diện.
Thủy Tụ lắc đầu: “Tình hình cụ thể vẫn chưa rõ, đây là tin tức do Hứa lão tiên sinh gửi tới ạ.”
Tần Thư lập tức quyết đoán ra lệnh: “Cho người niêm phong chặt cửa kim quỹ, bất luận là ai cũng không được phép ra vào.” Nàng lại tự trấn an bản thân: “Tuyên Phủ là cửa ải hiểm yếu nhất thiên hạ, trước đây không phải chưa từng có kỵ binh Đát Tử kéo đến, ngay cả lần chúng bao vây kinh sư năm đó cũng chỉ là đi đường vòng, chứ không hề công phá được Tuyên Phủ.”
Tần Thư vừa dứt lời, Phùng lão chưởng quầy đã xách đèn lồng vội vã chạy tới: “Tần tiên sinh, quân binh quen biết vừa truyền tin tới, bên ngoài có đến ba vạn kỵ binh Đát Tử đang áp sát, kẻ dẫn đầu là Yểm Đáp của người Mông Cổ. Nghe tin Khâm sai Lục đại nhân đang ở Tuyên Phủ, hắn liền mang theo ba vạn quân, thề phải báo thù mũi tên năm xưa.”
Ba vạn kỵ binh? Tần Thư ngồi thẫn thờ tại đó, chỉ cảm thấy đôi chân bủn rủn. Lần bao vây kinh sư trước đây cũng chỉ có năm vạn quân mà thôi. Cô run giọng hỏi lại: “Báo thù mũi tên năm xưa sao?”
Phùng lão chưởng quầy nói: “Tần tiên sinh còn chưa biết, vị Lục đại nhân này trước đây cũng từng đi tuần tra biên giới. Lúc ấy ngài ấy còn trẻ, tuy là quan văn nhưng lại vô cùng anh dũng, đã một tên bắn mù mắt phải của tên Yểm Đáp này.”
Ông ấy ở Tuyên Phủ đã lâu, những chuyện thế này kinh qua cũng nhiều, thành ra lại quay sang trấn an Tần Thư: “Tần tiên sinh cứ yên tâm, cho dù có mười vạn quân Đát Tử Mông Cổ kéo đến, thì cũng chẳng công phá nổi thành Tuyên Phủ của chúng ta đâu. Huống hồ lúc này tiết trời đương lạnh, chẳng mấy ngày nữa là có tuyết lớn, đám Đát Tử này cùng lắm chỉ cướp bóc chút vàng bạc tài vật ngoài thành, tối đa một tháng là sẽ rút quân về thôi, chuyện này tuyệt đối không sai được.”
Cướp bóc chút vàng bạc và lương thực để vượt qua mùa đông, đó dẫu là kết quả tốt đẹp nhất cho quan quân trong thành, nhưng nếu sự thật là vậy, e rằng những người dân nơi thôn dã ngoài thành khó mà giữ nổi mạng sống.
Tần Thư trầm ngâm một nát, nàng nói với Phùng lão chưởng quầy: “Chuyện bên ngoài thế nào, chúng ta cũng lực bất tòng tâm, chỉ là ngân khố của phân hiệu chúng ta quá mức lộ liễu. Trước đây ta đã từng dặn, các chi nhánh ở địa phương đều phải có ngân khố dự phòng. Phân hiệu Tuyên Phủ của các ngài đã làm theo chưa?”
Thấy ông gật đầu, Tần Thư đang định dặn dò thêm thì chợt nghe thấy tiếng vó ngựa dồn dập vọng lại từ bên ngoài. Thủy Tụ vén rèm lên, một vài bông tuyết trắng xóa theo gió bay vào trong phòng: “Tiên sinh, Lục đại nhân đến rồi.”
Chương 90
Tần Thư ngước mắt lên, liền thấy Lục Trạch vận một bộ bào tử màu mực thêu hoa văn ly long dệt kim, ngang hông vẫn là dải đai ngọc như cũ. Hắn đứng ở cửa, vóc dáng cao ráo thanh thoát như ngọc, sau lưng là ánh nến bập bùng hòa cùng vô số bông tuyết theo gió cuốn vào trong.
Lục Trạch đứng đó, không nói nửa lời, chỉ lặng lẽ nhìn Tần Thư với thần sắc điềm nhiên. Phùng lão chưởng quầy thấy cảnh tượng ấy thì không khỏi kinh ngạc. Vị Khâm sai đại nhân này đến thăm giữa đêm khuya, nhìn biểu cảm của nha hoàn Thủy Tụ ở cửa thì chắc hẳn là người quen, lại liếc mắt thấy Tần tiên sinh vẫn bình tĩnh, chỉ có ánh mắt của Khâm sai đại nhân là nhìn chằm chằm không rời. Ông ấy lập tức hiểu ý, bèn chắp tay cáo lui: “Tần tiên sinh, Lục đại nhân, lão hủ xin phép lui bước trước.”
Trong chốc lát, tấm rèm được buông xuống, ngăn cách hẳn tiếng gió tuyết bên ngoài. Lục Trạch không rõ đã đứng đó tự bao giờ, bấy giờ hắn mới tiến lên phía trước, nhẹ nhàng nắm lấy đầu ngón tay của Tần Thư. Vẫn như mọi khi, tay nàng lạnh ngắt: “Nàng vốn dĩ thể hàn, tầm này ngồi nghe thuộc hạ báo cáo công việc, nếu không đốt lò đồng hay chậu than thì cũng phải mặc thêm áo vào chứ.”
Tần Thư chẳng rõ có phải vì vừa nghe tin quân Đát Tử áp sát thành hay không, mà lúc này trông thấy Lục Trạch, nàng đột nhiên cảm thấy rất an lòng. Chính điều đó khiến thần sắc của nàng có chút kỳ quặc. Nàng rút tay mình ra khỏi lòng bàn tay của Lục Trạch, lùi lại hai bước để giãn ra khoảng cách, tông giọng còn lạnh lùng hơn cả thường ngày: “Ngài có việc gì không?”
Nàng dường như chỉ vừa mới thức dậy không lâu, gương mặt mộc không chút phấn son, mái tóc đen dài như thác đổ xõa tung sau lưng. Nàng khoác trên mình chiếc áo tỉ giáp màu xanh thiên thanh viền chỉ kim hồng, phía dưới là chân váy sáu mảnh cùng màu, vòng eo mảnh mai không đầy một vòng tay ôm, tôn lên dáng vẻ thanh tú tựa như toả ra sắc ngọc. Lục Trạch rất muốn được giống như hồi ở Hàng Châu, nhẹ nhàng ôm lấy eo nàng, cầm tay nàng uốn nắn từng nét chữ. Thế nhưng khi ấy tâm trí hắn vốn chẳng hề đặt nơi bút mực, thường là viết được phân nửa đã kéo buông màn rủ, che kín một dải xuân sắc nồng nàn.
Ngày ấy có bấy nhiêu xuân sắc nồng nàn, thì hôm nay lại có bấy nhiêu lạnh lẽo như băng sương. Lục Trạch tự giễu: “Tần chưởng quầy đúng là hạng người lúc cần thì ngọt nhạt, xong việc thì quay lưng. Mới mấy hôm trước khi có việc cầu cạnh ta, nàng còn đồng ý ở chung một phòng, tự tay hầu hạ thuốc thang; nay thời thế đổi thay, mọi chuyện đã ngã ngũ, nàng đến nửa câu cũng chẳng buồn nói với ta rồi.”
Tần Thư ngồi xuống một bên, bưng tách trà nóng để sưởi ấm đôi tay: “Đã khuya rồi, nếu Lục đại nhân không còn việc gì khác, e là ta không thể tiếp chuyện thêm.” Vẻ mặt công tư phân minh, không buồn không vui này của nàng khiến lòng Lục Trạch lạnh buốt, hắn thà rằng nàng cứ nổi trận lôi đình, hay buông vài lời cay nghiệt như trước kia còn hơn.
Lục Trạch ngồi xuống một bên, tự rót cho mình một chén trà rồi uống một ngụm lớn, bấy giờ mới lên tiếng: “Hành Nhi là đứa con trai duy nhất của ta, sau này thằng bé nhất định phải nhận tổ quy tông.” Hắn vốn đinh ninh Tần Thư tuyệt đối sẽ không đồng ý, thậm chí là vô cùng giận dữ, nhưng đáng tiếc nàng lại khiến hắn thất vọng. Tần Thư chỉ trầm ngâm một lát rồi gật đầu: “Tuy ta sinh ra thằng bé, nhưng cũng không có tư cách thay nó quyết định mọi chuyện. Đợi khi nó khôn lớn, tròn mười sáu tuổi, nếu như nó tự nguyện muốn nhận lại ngài, thì ta cũng không có ý kiến gì.”
Ý tứ trong lời nói của nàng rõ ràng là: Cho dù Hành Nhi có tình nguyện theo hắn đi chăng nữa, thì bản thân nàng cũng tuyệt đối không vì con trai mà miễn cưỡng chính mình.
Lục Trạch thầm nghĩ, ‘Cha là phép tắc của con’, làm gì có chuyện cha đẻ lại đi thương lượng với con trai, thiên hạ này xưa nay vốn dĩ cha bảo sao thì con phải nghe vậy mới đúng đạo lý. Có điều, những lời này hắn chẳng đời nào dám nói ra trước mặt Tần Thư. Ngay cả cái đạo ‘Chồng là phép tắc của vợ’ còn chẳng làm nổi, thì còn bàn gì đến chuyện cha làm gương cho con nữa?
Lục Trạch trầm ngâm rồi lên tiếng: “Ta đến đây lần này là có chuyện muốn nói với nàng. Ba vạn kỵ binh Đát Tử ngày mai sẽ áp sát chân thành. Nếu là bình thường, cứ thực hiện chính sách ‘vườn không nhà trống’, đóng chặt cửa thành cố thủ thì dẫu là một tháng cũng vẫn giữ được. Thế nhưng lúc này ta vừa mới triệt hạ Tổng đốc Tuyên Đại, nếu chỉ biết thủ mà không chiến thì không cách nào ăn nói thỏa đáng với bệ hạ được.”
Nói xong, hắn dừng lại một chút, nương theo ánh nến vàng vọt nhìn sang, quả nhiên thấy khuôn mặt thanh tú tựa ngọc kia khẽ chau mày: “Ngài đâu có mang theo quân đội tới đây. Binh lính ở Tuyên Phủ này năm nào cũng chỉ biết giữ thành, chẳng lẽ đổi sang ngài thống lĩnh thì họ lập tức trở nên kiêu dũng thiện chiến, đánh thắng được kỵ binh Đát Tử ngay sao?”
Lục Trạch thấy nàng hỏi vậy, trong lòng cũng thấy dễ chịu hơn đôi chút, hắn đáp: “Đánh không lại thì cũng vẫn phải đánh, ít nhất là không thể ngồi yên nhìn bách tính ngoài thành bị cướp bóc được. Lục Trạch ta làm quan là để làm việc, nếu không làm được việc thì làm quan để làm gì?”
Tần Thư vốn chẳng mặn mà gì với kiểu hành xử “đạo đức cao thượng” này. Trong thâm tâm, nàng luôn thấy con người này vốn dĩ lão luyện gian hùng, tâm kế cực sâu, tuyệt đối sẽ không bao giờ làm chuyện gì mà không nắm chắc phần thắng. Nàng bèn thốt ra một câu mang đầy vẻ châm chọc: “Lục đại nhân quả nhiên có nhân cách cao thượng, một lòng vì dân vì nước.”
Lục Trạch không những không giận mà còn bật cười, hắn khẽ nhếch môi: “Tính khí của nàng vẫn chẳng khác gì trước kia, nói năng thế này nghe còn có sức sống hơn hẳn lúc nãy đấy.”
Tần Thư thầm đảo mắt một cái, rồi thấy hắn đứng dậy tiến về phía mình, bóng hình cao lớn của hắn tức khắc bao trùm lấy nàng.
Lục Trạch lấy từ trong tay áo ra một tấm lệnh bài, rồi đặt vào lòng bàn tay Tần Thư: “Quan văn tướng võ ở Tuyên Phủ mỗi người một ý, nếu không có ta trấn giữ, kẻ khác khó mà sai bảo được bọn họ. Ta phải dẫn binh ra khỏi thành, trong thành sẽ để Lý Lương Chi trấn thủ, nếu có chuyện gì thì nàng cứ cầm lệnh bài này đi tìm cô ta.”
Tần Thư vốn đinh ninh hắn sẽ chỉ phái người khác ra ngoài, còn bản thân thì ở lại trong thành. Nghe hắn nói vậy, trong lòng nàng không khỏi kinh ngạc, vẻ mặt cũng lộ rõ sự thảng thốt.
Còn chưa kịp mở lời, nàng đã nghe thấy Lục Trạch bật cười một tiếng: “Nàng rốt cuộc vẫn có vài phần lo lắng cho ta! Yên tâm đi, ta nhất định sẽ sống sót trở về gặp nàng.”
Tần Thư rất muốn bảo với hắn rằng, kinh ngạc không đồng nghĩa với lo lắng, thế nhưng lúc này ra khỏi thành dấn thân vào dã chiến, ắt hẳn hung nhiều cát ít, sinh tử khó lường, khiến nàng nhất thời chẳng thể thốt ra được lời nào. Cho đến khi Lục Trạch xoay người rời đi, Thủy Tụ bước vào phòng, thì nàng vẫn cứ ngồi thẫn thờ ở đó.
Đêm ấy, Tần Thư chẳng thể nào chợp mắt nổi, nàng cứ thế ngồi thẫn thờ cho đến tận lúc bình minh. Vừa mở cổng lớn của phiếu hiệu ra, quả nhiên thấy trên đường phố bắt đầu rơi vào cảnh hỗn loạn. Thế nhưng, tình trạng đổ xô đi rút tiền như dự đoán đã không xảy ra; trái lại, chính vì cuộc chiến này mà người tìm đến để đổi lấy hối phiếu lại đông hẳn lên.
Thực ra điều này cũng rất dễ hiểu. Vào thời điểm này, những khối bạc lớn chẳng khác nào ‘củ khoai nóng’ bỏng tay. Chưa bàn đến việc quân Đát Tử bên ngoài có đánh vào được hay không, chỉ riêng chuyện những kẻ đục nước béo cò ngay trong thành thôi cũng đủ để chúng nhìn chằm chằm vào số bạc ấy rồi. Đổi thành hối phiếu, với những giao dịch lớn thế này, nhất định phải là người được chỉ định mới có thể rút tiền được.
Ngoài phiếu hiệu ra thì các cửa hàng lương thực là nơi đông đúc nhất, chỉ mới nửa ngày mà lương thực của ngày hôm nay đã bán sạch, đồng loạt treo tấm biển gỗ lên: “Hôm nay đã hết, xin quý khách quay lại sớm vào ngày mai.”
Trên đường phố cũng xuất hiện thêm nhiều binh lính tuần tra. Bất cứ kẻ nào có hành vi hôi của hay làm loạn đều bị bắt giữ toàn bộ; chỉ trong vòng nửa ngày, bọn chúng đã bị dùng dây thừng thắt lại thành một xâu dài, áp giải đi diễu phố thị chúng.
Tần Thư vốn đã quen thói cẩn trọng, nên ngay từ buổi chiều nàng đã sai người đóng chặt cửa lớn của phiếu hiệu. Trái lại, Phùng lão chưởng quầy vốn đã quá quen với những cảnh này, ông bèn quay sang trấn an Tần Thư: “Tần tiên sinh không cần quá lo lắng đâu. Đám Đát Tử này vốn dĩ là do các bộ lạc khác nhau hợp lại mà thành, phần lớn bọn chúng đều thiếu lương thực để vượt qua mùa đông, nên mới kéo nhau đi cướp bóc chút lương thảo, vải vóc, xong xuôi tự khắc sẽ rút về thôi. Mùa đông năm nào quân Đát Tử cũng kéo đến mà.”
Tần Thư nghe xong, lại đích thân đi thăm hỏi và phát tiền trợ cấp cho những gia đình gia nhân, và người làm bị thương vong. Cứ thế trôi qua bảy tám ngày, vẫn chẳng thấy tin tức gì về việc Lục Trạch dẫn quân ra khỏi thành. Trái lại, Thủy Tụ có dịp ra ngoài một chuyến, lúc trở về liền kể: “Đám Đát Tử kia không có thang mây công thành nên đã chặt cây tại chỗ để chế tạo. Vị tướng quân giữ thành là một nữ nhân, chẳng biết lấy đâu ra hỏa dầu, cứ thế đổ xuống từng thùng từng thùng một, đốt cho lũ Đát Tử kia chạy trối chết, nhìn nhếch nhác vô cùng.”
Tần Thư nghe xong lại chẳng thể vui mừng nổi. Quân Đát Tử đã bắt đầu công thành, điều này chứng tỏ chúng không hề có ý định chỉ cướp bóc chút lương thảo ngoài thành, rồi rút lui như mấy lần trước nữa; chưa kể đến việc hỏa dầu dù nhiều đến mấy cũng sẽ có lúc cạn kiệt.
Qua thêm một hai ngày, vào giữa đêm có mấy tên trộm vặt mò đến phiếu hiệu. May mà đám gia nhân tuần đêm phòng bị kỹ lưỡng, sau khi áp giải đi tra khảo một hồi mới biết đó là lũ lưu manh côn đồ trên phố, thấy tình thế lúc này đang loạn lạc nên định mò đến phiếu hiệu Đại Thông để thử vận may.
Phùng lão chưởng quầy giận đến mức cho người đánh đám lưu manh kia bảy tám chục trượng, sau đó mới giải giao cho binh lính tuần tra trên phố.
Lại qua mấy ngày nữa, các tiệm lương thực lớn bắt đầu đóng cửa ngừng kinh doanh, mỗi ngày chỉ bán ra vỏn vẹn vài trăm thạch lương thực.
Tối hôm ấy, khi Thủy Tụ bưng bát cháo bát bảo đến, Tần Thư mới bàng hoàng nhận ra đã là ngày hai mươi tám tháng Chạp rồi. Nàng chẳng còn chút cảm giác thèm ăn, chỉ gượng gạo nếm thử một miếng rồi cất tiếng hỏi: “Tình hình bên ngoài thế nào rồi?”
Thủy Tụ kể lại một cách đầy hào hứng: “Cô nương, người không biết đâu, tên cầm đầu Đát Tử là Yểm Đáp, ở bên ngoài với vị Lý Lương Chi tướng quân kia hình như là chỗ quen biết cũ. Đánh suốt mấy ngày mà chẳng có lấy nửa mống quân nào leo lên nổi mặt thành, khiến hắn tức tối đứng dưới thành buông toàn những lời thô thiển. Thế mà vị Lý tướng quân kia vẫn mặt không đổi sắc, còn đáp lại rằng mình ‘quét dọn giường chiếu sẵn sàng đón tiếp’. Tối nay, Hứa lão tiên sinh cũng đã đưa tin sang, nói rằng vì mãi không cướp được lương thực, mà lương khô mang theo cũng đã vơi đi nhiều, nên nội bộ quân Đát Tử bắt đầu xảy ra lục đục, đã có vài nghìn quân rời đi từ mấy hôm trước rồi.”
Tần Thư bấy giờ mới buông lỏng tâm trí, đang định rửa mặt chải đầu để đi ngủ, thì chợt nghe thấy bên ngoài vang lên một hồi đập cửa dồn dập. Phùng lão tiên sinh vốn ăn ở tại phiếu hiệu cả ngày lẫn đêm, đám người canh cổng không dám tự tiện mở cửa bèn mời ông ra. Ông đứng ngăn cách qua cánh cửa mà hỏi vọng ra: “Bên ngoài là ai đấy? Đã muộn rồi, phiếu hiệu Đại Thông chúng tôi không tiếp khách nữa.”
Bên ngoài có tiếng hô lớn đáp lại: “Là người của đội vệ binh Khâm sai, đến để mời Tần chưởng quầy, mau mau mở cửa!”
Tần Thư bước ra, thấy bên ngoài mưa rơi như trút nước. Nghe tiếng gọi quen thuộc hình như là của Đinh Vị, nàng nhìn Phùng lão chưởng quầy rồi bảo: “Mở cửa đi!”
Cánh cửa vừa mở ra, một quầng lửa bập bùng hiện lên giữa màn mưa. Mười mấy binh sĩ mặc giáp trụ, tay cầm đuốc đứng sừng sững trước cổng. Dẫn đầu là Đinh Vị, mặt y bê bết máu, tóc tai bết lại thành từng lọn đỏ thẫm. Vừa thấy Tần Thư, y liền chắp tay hành quân lễ: “Cô nương, Gia muốn gặp người.”
Trước đây mỗi lần gặp y, lúc nào Tần Thư cũng thấy một vẻ sạch sẽ, chỉnh tề, chưa bao giờ y lại thất thố đến nhường này. Nàng đứng dưới hành lang, nhìn chiếc lồng đèn treo dưới mái hiên bị gió thổi đưa đi đưa lại, rồi khẽ hỏi: “Ngài ấy xảy ra chuyện gì rồi?”
Đinh Vị liếc mắt nhìn đám gia nhân đứng bên cạnh, tiến tới một bước rồi hạ thấp giọng nói: “Cô nương, người mau đi đi, nếu chậm trễ e là không kịp nhìn mặt lần cuối đâu.”
Tần Thư khẽ mỉm cười, vẻ mặt đầy vẻ không tin: “Làm sao có thể chứ?”
Đinh Vị lôi từ trong ngực áo ra một mảnh lụa bám đầy vết máu, y đưa cho Tần Thư: “Là binh lính bị Bạch Liên giáo mê hoặc. Rõ ràng đã đánh thắng trận, tiêu diệt được ba nghìn kỵ binh của bộ tộc Đóa Nhan, vậy mà ngài ấy lại bị một tên Bách hộ bắn một tiễn trúng ngay tim. Đại phu nói vị trí mũi tên này cực kỳ hung hiểm. Gia đã dặn rồi, nhất định phải mời cô nương đến, ngài ấy có chuyện cần trăn trối.”
Tần Thư mở mảnh lụa máu ấy ra, bên trong chỉ vỏn vẹn có tám chữ: “Sinh tử mịt mù, hồn thác một phương.”
Trong khoảnh khắc ấy, nàng lặng người không thốt nên lời, bên tai như vang lên tiếng sấm đông rền rĩ liên hồi. Phải mất một lúc lâu sau, nàng mới dần nghe thấy tiếng của Đinh Vị ở bên cạnh: “…Cô nương, lúc tôi rời đi để đưa tin, Gia thậm chí đã không còn sức để cầm bút nữa rồi, phải nhờ thuộc hạ đứng bên cạnh viết thay. Cầu xin cô nương nể tình tiểu công tử ở kinh thành, mà đến gặp Gia một lần đi…”
Tần Thư cảm thấy mọi giác quan của mình như trở nên trì trệ, mụ mị hẳn đi. Nàng quay đầu lại, chỉ thấy tiếng của Đinh Vị thật ồn ào chói tai. Tay nàng đón lấy chiếc ô giấy dầu từ Thủy Tụ, rồi trầm giọng dặn bảo: “Đi thôi!”
Tần Thư ngồi kiệu đến phủ Tổng đốc. Nơi đây không hề có cảnh hỗn loạn như nàng tưởng tượng, trái lại mọi thứ đều được sắp xếp vô cùng trật tự, ngăn nắp. Đứng trước cổng lớn phủ Tổng đốc, chỉ cảm thấy một luồng khí thế túc sát, lạnh lẽo bao trùm.
Bước vào nội đường, nàng thu lại chiếc ô dưới hành lang, liền thấy bên trong thấp thoáng bóng người lay động. Mấy vị đại phu dường như đang bàn bạc: “Lúc rút tên phải thật nhanh, máu ở tâm mạch này mà một khi đã phun ra thì không cách nào cầm lại được đâu.”
…..
Tần Thư chẳng hề vội vàng bước vào, nàng đứng dưới hành lang lắng nghe một hồi, thấy ẩn ý trong lời lẽ của mấy vị đại phu dường như vô cùng nguy hiểm.
Lúc này một cơn gió lớn nổi lên, màn mưa trắng trời bị gió tạt tới, hắt cả vào gấu váy của Tần Thư. Đinh Vị sốt ruột giục giã: “Cô nương!”
Tần Thư thản nhiên liếc y một cái rồi mới đẩy cửa bước vào. Giữa một toán đại phu đang vây quanh, nàng thấy gương mặt của Lục Trạch trắng bệch, đang nằm bất động trên chiếc giường bát bộ.