Chương 9: Bảo Đức Lâu
Cả nhà liên tục gật đầu, nhưng nghe nàng sắp xếp mọi việc chu toàn như đang trối trăng hậu sự, ca ca nàng không kìm lòng được mà khuyên nhủ: “Muội muội, muội đừng có làm điều gì dại dột. Tuy ca ca là kẻ bất tài vô dụng, nhưng nếu biết muội định làm chuyện khờ dại, ta thà đi chối từ lão thái thái, dù cho có bị chủ tử bán đi nơi khác, ta cũng sẽ bán cả cửa tiệm này để chuộc mọi người về.”
Bảo nhi chạy tới ôm chầm lấy Tần Thư: “Cô cô đừng khóc, Bảo nhi thổi thổi, cô cô đừng khóc, Bảo nhi thổi thổi…”
Tần Thư đưa tay quệt ngang mặt, không ngờ lệ đã tuôn rơi từ lúc nào, nàng vội lấy chiếc khăn tay ra lau sạch.
Người ca ca này từ nhỏ đã đối xử với nàng rất tốt, tính tình tuy có phần lỗ mãng nhưng lại là người thực thà và đôn hậu. Nàng sợ huynh ấy thật sự đi cự tuyệt lời của chủ tử thì lại chuốc thêm họa vào thân, bèn tìm lời che đậy: “Muội không có ý gì khác đâu, chỉ là nghĩ đến chuyện lần này đi rồi, chẳng biết đến bao giờ cả nhà ta mới lại được đoàn viên.”
Nửa đêm, mẹ Tần thở dài nói với nàng: “Con gái à, tất cả đều là mệnh, đều là cái số cả rồi.”
Tần Thư ngơ ngác, rồi thầm nhủ trong lòng: “Đây không phải là số mệnh của mình, dù ở bất cứ đâu, thì đây cũng không thể là số mệnh của mình được. Nếu ở hiện đại, mình đáng lẽ đang làm công việc yêu thích, bên cạnh là người bạn trai mình thương, khi rảnh rỗi thì đưa cha mẹ đi du lịch khắp thế giới, còn nếu ở cổ đại, thì cũng phải dựa vào khả năng kinh doanh của bản thân để không phải lo cơm áo gạo tiền, gả cho một người đàn ông có tính tình ôn hòa, lúc thảnh thơi thì ra phố mua nhành hoa mẫu đơn về cắm trong nhà… Chứ không phải làm một món đồ chơi cho kẻ khác, đến danh phận tiểu thiếp cũng chẳng bằng.”
Tần Thư nghỉ ngơi ở nhà hai ngày, tự mình nghĩ thông suốt đối sách, thế là bệnh tình cũng tự nhiên khỏi hẳn.
Hôm ấy, nàng dẫn theo Bảo nhi ra phố mua hoa sen về, trên tay ôm một bó nụ hoa chực nở, còn Bảo Nhi thì cầm một lá sen trên tay. Vừa đi qua góc cua, đã thấy phía trước có một hàng kiệu san sát, dưới gốc cây hòe còn có mấy con ngựa đang dừng chân. Người dẫn đầu với đôi lông mày rậm và ánh mắt sắc lanh, chẳng phải là Đinh Vị, hộ vệ của Đại thiếu gia đó sao?
Khi Tần Thư tiến lại gần hơn thì rèm kiệu được vén lên, người bước ra thế mà lại là Ngọc cô nương cùng Tứ thiếu gia trong phủ. Hai người họ vừa đi chơi ở đâu đó về, nhìn thấy Tần Thư liền hỏi: “Bằng nhi tỷ tỷ, tỷ đi dạo phố mua hoa đấy à?”
Tần Thư hành lễ, mỉm cười nhẹ nhàng đáp: “Đúng vậy, hôm qua nghe người ta bảo sen trên phố đẹp lắm, nên sáng sớm nay ta đã đi ngay, mua được một bó nụ hoa thế này đây. Ngọc cô nương và Tứ thiếu gia sao lại ở đây? Hai vị vừa đi đâu chơi về à?”
Tứ thiếu gia lớn hơn Ngọc cô nương một tuổi, hai người từ nhỏ đã cùng nhau khôn lớn, làm gì cũng có nhau. Cậu ấy cười đáp: “Tỷ tỷ minh giám, hôm nay chẳng phải ta đưa Ngọc nhi ra ngoài chơi bời đâu, mà là đại ca đưa bọn ta đi đấy. Cũng không hẳn là đi chơi, mà là đi nghe Ôn Lăng tiên sinh giảng bài một lát. Tỷ không biết đâu, trên núi đó đông kinh khủng, từ các tiểu thư khuê các cho đến những tiểu thương buôn bán, có người còn lặn lội từ cách đây mấy chục dặm tới, đứng chật cứng đến mức nước chảy không lọt…”
Tần Thư đang nghe thấy thú vị, bỗng nghe thấy Ngọc cô nương “phì” một tiếng cười rộ lên: “Huynh vẫn còn gọi là ‘tỷ’ đấy à? Hết ‘tỷ’ này đến ‘tỷ’ nọ, xem ra huynh chẳng biết giữ ý tứ gì cả. Chỉ qua vài ngày nữa thôi, xét theo lý thì chúng ta phải gọi là ‘tiểu tẩu tử’ rồi đấy.”
Nói đoạn, Ngọc cô nương lay lay cánh tay Tần Thư, trêu chọc: “Phải không nào, tiểu tẩu tử?”
Tứ thiếu gia vốn biết chút nội tình bên trong, vội vàng nhìn sang Tần Thư, quả nhiên thấy sắc mặt nàng không tốt, bèn lên tiếng tạ lỗi: “Bằng nhi tỷ tỷ, Ngọc nhi từ trước đến nay vẫn luôn có tính khí như vậy, tỷ đừng chấp nhặt với muội ấy.” Nói rồi, cậu ấy còn lườm Ngọc cô nương một cái đầy trách cứ.
Tần Thư nói: “Tính nết của Ngọc cô nương thế nào, lẽ nào ta lại không biết, vốn dĩ cũng chẳng có chuyện gì đâu, mọi người ở cạnh nhau đùa giỡn quen rồi.”
Ngọc cô nương cười nhạt một tiếng, trong lòng bỗng thấy không thoải mái: “Ta từ trước đến nay vẫn vậy sao? Thế ta từ trước đến nay là hạng người nào? Các người là chốn hầu môn phủ đệ quyền quý, ta vốn dĩ chỉ là con gái nhà võ quan phẩm hàm thấp kém, là kẻ hồ đồ, chẳng hiểu nổi quy củ nơi đây của các người. Xem ra ta cứ về nhà cho xong, kẻo chẳng may buông lời đùa giỡn nào đó lại đắc tội với cả nha hoàn lẫn thiếu gia nhà các người.”
Nói xong, cô ấy chào từ biệt Tần Thư, rồi phớt lờ luôn cả Tứ thiếu gia, một mình quay trở lại kiệu. Chẳng bao lâu sau, chiếc kiệu đó được nâng lên, hướng thẳng về phía phủ đệ nhà mình.
Tứ thiếu gia bị bẽ mặt một vố, thấy Ngọc cô nương bỏ đi thì trong lòng chỉ muốn đuổi theo ngay lập tức. Cậu ấy vội nói với Tần Thư: “Bằng nhi tỷ, hôm nay lúc đang dùng bữa ở lầu Bảo Đức, ta có lỡ miệng nói một câu rằng từ chỗ đó nhìn sang là thấy ngay cây hòe trước cửa nhà tỷ. Đại ca nghe xong liền bảo: Mọi người thân thiết với cô ấy như vậy, sao không sang đó mà thăm?”
Tần Thư cảm thấy mất kiên nhẫn, dường như ai nấy cũng đều đang nhắc nhở rằng nàng đã là “chim trong lồng” rồi: “Tứ thiếu gia, nói chuyện này làm gì chứ? Mọi người muốn đến thăm thì ta vui mừng còn không kịp nữa là.”
Tứ thiếu gia thấy vậy không tiện nói thêm gì nữa, chỉ đành bảo: “Hôm khác ta lại đến thăm tỷ vậy.”
Tần Thư đứng từ xa, nhìn đoàn kiệu đã bắt đầu rời đi. Đinh Vị vẫn còn ở lại chỗ cũ, trên tay bưng một chiếc hộp, y nhảy xuống ngựa rồi dâng cho Tần Thư: “Đây là điểm tâm gia chủ mang cho cô nương, ngài ấy bảo quán này làm điểm tâm kiểu Tô Châu ăn cũng khá chính tông.”
Mặt Tần Thư không chút cảm xúc, nàng quay sang dặn Bảo nhỉ: “Tay cô cô đang bận rồi, Bảo nhi cầm giúp cô cô nhé.”
Bảo nhi đón lấy chiếc hộp, cầm khá chắc chắn rồi dõng dạc nói: “Đa tạ đại thúc.”
Đinh Vị tự sờ lên mặt mình, y mới có ngoài đôi mươi, sao đã thành “đại thúc” rồi chứ?
Nói xong, hai người họ quay trở vào trong viện.
Đinh Vị đứng bên ngoài một lúc, thấy người phụ nữ ấy chẳng thèm nói với mình lấy một lời, y thẩn thờ leo lên ngựa. Nếu lát nữa gia hỏi cô nương ấy có nhắn gửi lại lời gì không, mình biết phải ăn nói thế nào đây? Y suy nghĩ hồi lâu, quyết định cứ sự thật mà báo cáo, dù sao nếu mình có tự bịa lời ra để thưa lại, chắc chắn cũng bị gia nhìn thấu ngay thôi.
Tẩu tử của Tần Thư nghe thấy tiếng động bên ngoài, nhưng vốn tính nhút nhát sợ gặp người lạ nên không ra mặt. Đợi đến khi nghe tiếng Tần Thư vào nhà, thì cô ấy mới bước ra đỡ lấy đồ đạc.
Cô ấy cầm lấy hộp điểm tâm trên tay Bảo nhỉ, không khỏi ngạc nhiên: “Đây là hộp điểm tâm của lầu Bảo Đức mà. Chưa bàn đến điểm tâm bên trong ra sao, riêng chiếc hộp này thôi đã đáng giá tới hai lượng bạc rồi đấy! Chắc chắn là tại con bé Bảo nhi này tham ăn, nên mới bắt cô cô nó tốn kém thế này phải không?”
Bảo Nhi cãi lại: “Không phải đâu, là người ta tặng đấy ạ.”
Tần Thư cũng không muốn giải thích nhiều, thấy Bảo nhi đang thèm thuồng đến mức sắp chảy nước miếng, nàng bèn mở hộp ra bảo cô bé ăn: “Vừa rồi là Ngọc cô nương và Tứ thiếu gia trong phủ ghé qua, họ ra ngoài chơi rồi tiện ghé lại nói chuyện với muội đôi câu mà thôi.”
Tẩu tử của nàng nghe vậy, không khỏi ngập ngừng nói thêm một câu: “Sáng nay muội vừa dẫn Bảo nhi ra phố thì thê tử nhà Vương Nhị Hỷ đã đến, hỏi xem bệnh tình của muội đã khỏi hẳn chưa. Nói là một hai ngày tới là đại thọ của lão thái thái, bên chỗ bà ấy vốn dĩ chẳng thể thiếu muội được, ngày nào bà ấy cũng nhắc tên muội vài lần. Nếu đã khỏi hẳn rồi thì nên quay về viện tử đi. Lúc đó, ca ca và mẹ đều không có nhà, ta chẳng biết phải thưa chuyện thế nào, đành nói là vẫn chưa khỏi, vẫn còn đang phải uống thuốc.”
Tần Thư thở dài: “Sớm muộn gì cũng phải quay về thôi, cũng chỉ được một hai ngày này nữa mà thôi. Tẩu tử giúp muội thu dọn đồ đạc một chút, sáng mai muội sẽ quay lại viện tử.”
Lại nói về phía Đinh Vị, sau khi trở về, y thu nhận mấy phong thư niêm phong bằng sáp nóng rồi mang vào dâng lên: “Hạ đại nhân ở kinh thành đã truyền tin tới, nói rằng đợi khi vụ án này ngã ngũ, ngài ấy sẽ đến Hồ Châu để cùng Gia thương nghị chuyện quan trọng.”
Y vốn dĩ chỉ vào để đưa thư, nhưng thấy Gia không bảo lui ra, đành phải kiếm đủ chuyện linh tinh vụn vặt để báo cáo. Đợi đến khi nói xong xuôi, thật sự chẳng còn gì để nói nữa mới im bặt, đứng chôn chân trong thư phòng mà cảm giác như đang phải chịu cực hình.
Lục Trạch viết xong mấy lá thư hồi đáp, lúc này mới đặt bút xuống, hỏi: “Không còn chuyện gì khác sao?”
Đinh Vị suy nghĩ một hồi, chợt nhận ra điều Gia đang thực sự muốn hỏi là về cô nương kia, thế là y vừa gật đầu lại vừa lắc đầu.
Lục Trạch bị bộ dạng của y làm cho buồn cười: “Rốt cuộc là có, hay là không có?”
Đinh Vị hơi ngước mắt lên, lén quan sát một chút, thấy sắc mặt của hắn vẫn còn ổn mới dám thưa: “Bẩm Gia, Bằng Nhi cô nương không nói lời nào cả. Lúc tôi đưa bánh mứt, cô ấy liền bảo một bé gái cầm lấy, rồi cứ thế đi thẳng vào trong, không nói với tôi một câu, cũng không có lời nào nhắn gửi lại cho Gia ạ.”
Sắc mặt của Lục Trạch xanh mét, hắn vơ lấy cuốn sách trên thư án ném thẳng vào đầu Đinh Vị, rồi mắng nhiếc: “Đồ ngu xuẩn! Ai cho phép ngươi nhắc đến chuyện này? Cút ra ngoài cho ta, đứng trung bình tấn đủ một canh giờ mới được nghỉ!”
Đinh Vị vâng mệnh, lập tức lui ra ngoài. Trong lòng y thầm nghĩ, thà ra đây đứng tấn còn hơn cứ phải chôn chân trong kia như chịu khổ hình. Có điều, chẳng biết lần tới phải bẩm báo thế nào cho phải phép, bởi nói ngược nói xuôi gì cũng khó tránh khỏi bị phạt. Đây hẳn chính là điều mà Dương sư gia thường giảng: Cửa thành bốc cháy, cá dưới ao cũng bị vạ lây.
Tần Thư đối với những chuyện này đều không hay biết. Buổi chiều hôm ấy, trong nhà có khách ghé thăm, chính là mẹ con Phan Thịnh tìm đến để thoái hôn.
Mẫu thân và ca ca của Tần Thư tự cảm thấy hổ thẹn với đối phương. Sau khi đôi bên hoàn trả lại canh thiếp, hai người họ cứ đứng ngẩn ra đó, chẳng biết phải nói năng chi cho phải phép.
Mẫu thân của huynh ấy khẽ lắc đầu, thở dài nói: “Cũng đành coi như hai đứa trẻ này không có duyên phận. Bọn ta vốn định hỏi qua ý tứ của Bằng nhi, ngờ đâu Nhị phu nhân trong phủ đệ lại phái người đến. Mẹ góa con côi bọn ta thật sự không đủ sức đối phó, tính ra là đã có lỗi với Bằng nhi rồi. Ta biết, Bằng nhi vốn là một đứa trẻ ngoan.”
Mẫu thân của Tần Thư hổ thẹn đến mức không còn mặt mũi nào nhìn ai: “Đại tỷ, tỷ đừng nói những lời ấy làm muội thêm đau lòng. Chuyện này vốn không liên quan đến mẹ con tỷ, tất cả đều tại muội mà ra. Bằng nhi vốn định chuộc thân sớm một chút, nhưng muội lại nghĩ con bé còn nhỏ tuổi, đợi đến năm mười tám cũng chẳng muộn màng gì, nào ngờ đâu lại khiến hai đứa trẻ đứt đoạn duyên phận thế này.”
Tần Thư đứng cách một tấm mành trúc, nghe tiếng hai người họ ôm nhau khóc lóc than thở, nhưng tuyệt nhiên chẳng nghe thấy Phan Thịnh thốt lên lấy một lời.
Nàng đang thầm nghĩ như vậy cũng tốt, bỗng nghe thấy tiếng Phan Thịnh đứng dậy thưa rằng: “Di mẫu, con có vài lời muốn được trực tiếp hỏi biểu muội, có được không ạ?”
Bên ngoài lập tức có tiếng người khuyên can: “Con trai, con làm vậy chi cho thêm khổ?” Người nọ rõ là không muốn để hai người gặp mặt, cốt cũng chỉ sợ nhìn nhau rồi lại thêm đau lòng xót dạ mà thôi.
Tần Thư từ bên trong khẽ cất lời: “Biểu ca, huynh vào đi.”
Bên ngoài phút chốc im bặt. Sau một hồi tĩnh lặng, Phan Thịnh mới vén rèm bước vào. Huynh ấy thấy Tần Thư đang ngồi trên sập, gương mặt thoáng nét cười nhàn nhạt, bên tay nàng đặt một chén trà, nhưng nước đã nguội ngắt từ lâu.
Tần Thư nhìn dáng vẻ của huynh ấy, dường như còn tiều tụy hơn cả mình mấy ngày trước, bèn cất giọng trong trẻo hỏi: “Biểu ca có điều gì muốn hỏi muội vậy?”
Phan Thịnh lên tiếng, giọng nói rành rọt từng chữ một: “Biểu muội, hiện giờ… trong lòng muội liệu có còn muốn rời khỏi vương phủ hay không?”
Tần Thư khẽ gật đầu: “Đó là lẽ đương nhiên.” Chẳng một ai cam tâm tình nguyện làm nô tỳ, lại càng không muốn làm hạng đồ chơi tiêu khiển, đến danh phận tiểu thiếp cũng chẳng bằng.
Phan Thịnh chua chát nói: “Ta chẳng qua cũng chỉ là một tiểu địa chủ nơi thôn dã, sách đọc chẳng được mấy chữ, đến cả cái danh hiệu Tú tài cũng chưa thi đỗ. Ta không đủ sức che chở cho biểu muội, để muội phải chịu nỗi khuất nhục lớn lao đến nhường này, đều tại ta vô năng, mọi chuyện không hề liên quan đến muội.”
Tần Thư vừa nghe thấy lời ấy, nước mắt đã không cầm được mà lã chã rơi. Khi nàng bị điều đi hầu hạ Lục Trạch, ai ai cũng bảo nàng thật có phúc, ngay cả người thân trong nhà cũng chỉ đơn thuần nghĩ rằng nàng đang buồn lòng vì hôn sự với biểu ca bị đứt đoạn mà thôi.
Nào ngờ, chỉ có duy nhất người này hiểu thấu, nói rằng nàng đang phải chịu khuất nhục. Đúng vậy, là khuất nhục! Người đời ngoài kia vẫn thường xì xào sau lưng, bảo rằng việc Tần Thư đi hầu hạ đại thiếu gia chính là một sự đề bạt, là diễm phúc của nàng. Nếu không bàn đến quyền thế, thì dẫu là tướng mạo, học vấn hay văn chương, tất cả đều là thứ mà hạng người như Tần Thư có trèo cao cũng không chạm tới được.
Nghĩ đến đây, nàng vừa rơi lệ vừa nói: “Đa tạ huynh đã an ủi ta như vậy, cảm ơn huynh rất nhiều!”
Phan Thịnh trước lúc từ biệt chỉ để lại một lời: “Ta vốn chẳng có năng lực gì lớn lao, nhưng dẫu là sau này, nếu như biểu muội có gặp chuyện gì khó khăn, thì nhất định phải gửi thư cho ta biết.”
Chương 10
Sáng sớm ngày hôm sau, Tần Thư đã vào lại trong viện tử. Khi đến Tĩnh Diệu Đường, thấy các nha hoàn cùng bà tử đều hành động nhẹ nhàng, nàng liền biết lão thái thái vẫn còn chưa thức giấc.
Vừa mới bước vào, nàng đã thấy Bích Ngân đon đả đi tới, cười tươi nắm lấy tay mình: “Ngươi đã khỏe hẳn chưa? Ngày thường vốn chẳng thấy ngươi đau ốm bao giờ, lần này coi như dồn hết bệnh tật mấy năm nay ra mà phát một thể rồi đấy nhỉ?”
Tần Thư cũng mỉm cười, hỏi han vài câu về tình hình của lão thái thái: “Đêm về lão thái thái có chợp mắt được không? Vinh Dưỡng Hoàn vẫn dùng đều đặn theo giờ giấc chứ?”
Hai người đang mải chuyện trò, bỗng nghe thấy bên trong có tiếng động khẽ. Vừa vén rèm bước vào, quả nhiên là lão thái thái đã tỉnh giấc.
Tần Thư cùng Bích Ngân hầu hạ lão nhân gia chải tóc rửa mặt. Lão thái thái khẽ vuốt ve gò má của Tần Thư, rồi xót xa nói: “Gầy đi rồi, ngươi cứ hễ đổ bệnh là lại gầy sọp hẳn một vòng. Lần trước lâm bệnh là năm ngươi mười ba tuổi, khi ấy vốn dĩ đã chẳng béo tốt gì, về nhà tĩnh dưỡng một tháng, lúc trở lại tay chân chẳng còn chút thịt nào cả.”
Tần Thư cúi đầu lặng im không đáp, để mặc lão thái thái vỗ nhè nhẹ lên mái tóc mình. Bà ấy thở dài cảm thán: “Bằng nha đầu à, phủ chúng ta tuy là Quốc công phủ, nhưng nhìn khắp phủ đều là lũ công tử bột ăn chơi trác táng, duy chỉ có một người tiền đồ xán lạn nhất, chính là đại thiếu gia. Ta sao lại không hiểu tâm tính của ngươi cơ chứ? Ngươi vốn dĩ là đứa có vài phần cốt cách, một lòng chỉ mong được rời khỏi viện tử này để làm một chính đầu nương tử đàng hoàng, không cam tâm phải nhìn sắc mặt kẻ khác mà cầu bát cơm ăn.”
Tần Thư cúi đầu, nghe những lời ấy mà những tâm tư vốn định chôn giấu bỗng chốc tuôn ra: “Con biết những suy tính này của mình có phần đại nghịch bất đạo. Luận về tôn ti, đương nhiên là hạng người như con không xứng với đại thiếu gia, nhưng nếu hỏi có cam lòng hay không, thì thực sự là con không cam lòng. Lão thái thái đã sai bảo thì con không thể không đi. Thế nhưng trước khi đi, những lời này con vẫn phải thưa cho rõ: Phận làm nô tỳ hầu hạ chủ tử là việc đương nhiên không có gì để bàn cãi, nhưng nếu là đi làm nha hoàn thông phòng, thì con thực không cam tâm.”
Bích Ngân nghe xong thì kinh hồn bạt vía, vội vàng kéo Tần Thư cùng quỳ xuống đất: “Lão thái thái, nha đầu này bệnh đến lú lẫn rồi nên mới nói càn nói bậy như vậy, đó tuyệt đối không phải là suy nghĩ thật của muội ấy đâu ạ!”
Nụ cười trên gương mặt lão thái thái dần tan biến, bà ấy trầm ngâm: “Đâu phải nói càn, đây rõ ràng là lời thật lòng của nha đầu này.” Bà ấy khẽ xua tay: “Thôi bỏ đi, nha đầu này vốn có tính cách ngang ngạnh. Đợi đến ngày sau, tự khắc ngươi sẽ hiểu được nỗi khổ tâm này của ta.”
Lão thái thái vừa nói, vừa quay sang dặn dò Bích Ngân: “Ngươi hãy đưa nó đến Hàn Bích sơn phòng hầu hạ. Nó lúc này không thể lưu lại chỗ ta được nữa, nếu cứ cố giữ lại đây, e rằng chỉ làm tổn thương đến tình nghĩa bấy lâu nay của chúng ta mà thôi.”
Bích Ngân chỉ sợ Tần Thư lại thốt ra thêm lời lẽ nào khó nghe hơn nữa, nên cứ một mực kéo nàng đi ra ngoài.
Nào ngờ Tần Thư quỳ dưới đất vững như bàn thạch, nàng ngẩng đầu thưa: “Lão thái thái, người sai con đi hầu hạ đại thiếu gia, con tuyệt không dám kháng mệnh. Chỉ xin người nhìn vào tình nghĩa con đã hầu hạ bấy nhiêu năm nay mà chuẩn y cho con một thỉnh cầu cuối cùng. Mẫu thân con nay tuổi tác đã cao, bà hằng mong được rời khỏi viện tử để về cho ca ca phụng dưỡng, cầu xin lão nhân gia người thành toàn cho con ạ!”
Suy cho cùng, mười năm gắn bó, dẫu là giống mèo giống chó cũng nảy sinh tình cảm, huống chi là hạng người sớm tối kề cận, đối đãi mặt mừng?
Lão thái thái nhìn dáng vẻ mặt xám như tro tàn của Tần Thư, trong lòng không khỏi dâng lên vài phần xót xa, bà ấy bèn gật đầu đảm bảo: “Ngươi cứ yên tâm, ngày mai ta sẽ bảo Tam thiếu phu nhân thu xếp ổn thỏa. Mẫu thân và ca ca ngươi đều là những người thật thà, ta sẽ ban thưởng thêm ngân lượng để bọn họ ra ngoài làm ăn kiếm kế sinh nhai.”
Đến nước này Tần Thư cũng chẳng còn gì để nói thêm nữa. Nàng dập đầu bái tạ: “Đa tạ lão thái thái đã nể tình thương xót. Nô tỳ đi đây, mong người ở lại giữ gìn sức khoẻ ạ.”
Nói xong, nàng đứng dậy, dứt khoát rời khỏi Tĩnh Diệu Đường mà không một lần ngoảnh đầu nhìn lại. Khi đi tới dưới chân hòn non bộ, nàng mới vịn tay vào phiến đá lớn, khẽ trút một hơi thở dài sườn sượt.
Bích Ngân từ phía sau vội vã đuổi theo: “Bằng nhi, để ta đưa ngươi đến Hàn Bích sơn phòng, dọc đường tỷ muội chúng ta cũng tiện nói với nhau vài câu tâm tình.”
Hai người sánh bước bên nhau, đám tiểu nha hoàn dọc đường trông thấy đều dừng chân cúi chào, gọi một tiếng “tỷ tỷ”. Đi được một lát, đến đoạn hành lang yên tĩnh, bóng người thưa thớt dần, Bích Ngân mới khẽ khàng mở miệng: “Bằng nhi, ngươi xưa nay vốn là người nhìn xa trông rộng, thấu hiểu sự đời, tuyệt đối đừng nên nghĩ quẩn. Cứ một mực đâm đầu vào ngõ cụt, chỉ e lại tự hại chính mình mà thôi.”
Tần Thư lặng im không đáp. Mãi đến khi tới cửa sơn phòng, nàng mới lên tiếng: “Tỷ cũng đừng khuyên nhủ ta làm chi, ta sẽ không nghĩ quẩn đâu. Chỉ là hai chúng ta thân thiết đã lâu, trông thấy cái kết cục này của ta, tỷ cũng nên sớm có tính toán cho mình đi. Cứ ngỡ lão thái thái đối đãi với chúng ta khác hẳn người ngoài, đến nay nhìn lại, hóa ra tất cả đều là ta tự huyễn hoặc mà thôi. Tỷ hiện vẫn còn đang trong kỳ chịu tang, Đại lão gia chưa thể động đến tỷ. Nhưng sau này khi mãn tang rồi, tỷ dự định làm như thế nào đây?”
Bích Ngân gật đầu, ghi tạc những lời ấy vào sâu trong lòng, nhất thời không khỏi dâng lên nỗi sầu lo: “Tỷ muội tốt, ngươi bảo ta phải tính sao cho vẹn đôi đường bây giờ?”
Tần Thư đáp: “Thành sự tại thiên, mưu sự tại nhân, tỷ hãy tự mình lưu tâm kỹ lưỡng. Nếu bên ngoài có nơi nào tốt, hãy sớm tìm cách gả đi cho rảnh nợ. Bằng không, hãy tìm đến lão thái thái mà xin từ bỏ cái chức trách quản lý chìa khóa này. Chỉ hiềm nỗi lão thái thái vốn chẳng tin tưởng ai khác, muốn từ bỏ trọng trách này thì e là cực kỳ nan giải.”
Nàng thì mải miết dặn dò, Bích Ngân lại nghe đến xuất thần, nhất thời cả hai đều không nhận ra đại thiếu gia đang đi thẳng về phía mình. Tần Thư khi ấy lại đứng quay lưng về phía lối đi, nên đương nhiên càng không hay biết gì cả.
Đợi đến khi người chỉ còn cách chừng dăm ba bước chân, Bích Ngân mới hốt hoảng nhận ra đại thiếu gia. Hắn vận một bộ lan sam bằng lụa màu ngọc bích, tóc búi gọn trong võng cân, chỉ cài duy nhất một chiếc trâm ngọc đơn sơ, tay cầm quạt xếp. Trông ngài ấy thanh tú tựa như một vị thư sinh nhà quyền quý nào đó, dáng vẻ cũng chỉ chừng ngoài đôi mươi.
Bích Ngân vội kéo Tần Thư cùng hành lễ: “Nô tỳ thỉnh an đại thiếu gia.” Thỉnh an xong, nàng ấy lại tiếp lời: “Bệnh tình của Bằng nhi đã thuyên giảm, lão thái thái hiện sai muội ấy sang Hàn Bích sơn phòng để hầu hạ ngài ạ.”
Lục Trạch chỉ khẽ gật đầu, rồi phân phó cho Tần Thư: “Ngày mai ta phải tiếp khách, ngươi hãy lui tới chuẩn bị y phục cho chu toàn.”
Nói xong, hắn liền dẫn theo Đinh Vị rời đi. Bích Ngân khẽ vỗ lồng ngực cho hoàn hồn: “Ta lần nào diện kiến đại thiếu gia cũng thấy ngài ấy lạnh lùng nghiêm nghị, cứ như thể sắp lôi người ta ra đánh bản tử đến nơi vậy. Ngươi mau vào đi, lát nữa lúc vơi việc, ta sẽ sai tiểu nha hoàn mang y phục thường ngày qua cho ngươi.”
Hàn Bích sơn phòng vốn là nơi Lục Trạch đọc sách thuở nhỏ, lấy ý tứ từ sự thanh vắng và u tĩnh, để hắn có thể chuyên tâm tu chí học hành.
Tần Thư từ biệt Bích Ngân, một mình bước lên những bậc thềm đá dẫn vào hoa sảnh. Vừa vào tới nơi đã gặp ngay Thần Tú, hai người quyến luyến nắm tay nhau hàn huyên hồi lâu. Đang lúc trò chuyện, một tiểu nha hoàn từ bên trong chạy hớt hải ra thưa: “Bằng nhi tỷ tỷ, đại thiếu gia đang ở trong thư phòng đòi dùng trà ạ.”
Thần Tú xưa nay vốn chẳng ưa thói lười nhác của đám tiểu nha hoàn này, liền mỉa mai: “Chẳng qua cũng chỉ là chén trà thôi, lẽ nào ngươi không biết bưng vào, mà cứ nhất thiết phải đợi đến lượt chúng ta làm? Ngươi là thiên kim tiểu thư, chỉ việc động môi truyền lời thôi sao? Còn chúng ta là thân nô tỳ hầu hạ, nên mới phải lao tâm khổ tứ thế này à?”
Tiểu nha hoàn một bụng ấm ức, cô bé phân trần: “Tỷ tỷ chẳng lẽ lại không biết, đại thiếu gia xưa nay vốn không cho phép hạng người như chúng em được bước chân vào thư phòng sao.”
Thần Tú hứ một tiếng lạnh nhạt: “Ngươi vào không được, lẽ nào hạng như chúng ta lại vào được chắc? Ngươi tự đi mà tìm Đinh hộ vệ, giao trà cho huynh ấy là xong chuyện, việc gì cứ phải chạy tới chạy lui bẩm báo với chúng ta làm chi?”
Tiểu nha hoàn rụt rè liếc nhìn Tần Thư một cái, lí nhí đáp: “Dạ… đại thiếu gia có truyền lời, bảo đích thân Bằng nhi tỷ bưng trà vào cho ngài ạ.”
Thần Tú nghe vậy thì bừng bừng nổi giận, đưa tay vặn lấy tai con bé mà mắng: “Cái đồ tiểu tỳ ăn nói hàm hồ này! Chẳng qua là ngươi muốn kiếm cớ lười nhác, nên mới dám bịa đặt truyền lời bậy bạ để trốn tránh công việc phải không?”
Tiểu nha hoàn bị Thần Tú vặn tai đau đến mức la oai oái. Tần Thư vội can ngăn, sa sầm nét mặt nói: “Được rồi, chẳng qua cũng chỉ là chuyện nhỏ thôi, cứ đánh mắng như thế này thì còn ra thể thống gì nữa?”
Thần Tú ngượng nghịu buông tay, tiểu nha hoàn cũng phải cố kìm tiếng khóc. Tần Thư liền phân phó: “Lui xuống rửa mặt trước đi, rồi hãy quay lại làm việc.” Nói xong, nàng liếc xéo Thần Tú một cái rồi nói tiếp: “Trong lòng ngươi có điều gì không vừa ý thì cứ nói ra, hà tất phải đánh mắng con bé, chuyện này vốn chẳng can hệ gì đến nó cả.”
Thần Tú cúi đầu thấp giọng đáp: “Vâng!”
Tần Thư đi rửa tay sạch sẽ, rồi ra gian ngoài pha trà. Nàng cung kính bưng khay trà vào thư phòng, thấy Lục Trạch đang bày ra hai hũ quân cờ đen trắng, tự mình đánh với chính mình.
Nàng vừa tiến lại gần, Lục Trạch đã ngửi thấy một mùi hương thanh mát thoang thoảng, dịu nhẹ thấm đẫm vào lòng người, hương vị ấy chẳng giống với mùi mật hoa hồng của mấy ngày trước, cũng không giống với hương tường vi mà hắn từng ngửi thấy dạo nọ.
Trong lòng hắn vô thức thầm nghĩ, nha đầu này thật lắm suy tính, hương thơm trên người dường như mỗi ngày một khác, nhất thời hắn không sao đoán định được đó rốt cuộc là loại hương gì.
Tần Thư đặt chén trà lên chiếc bàn nhỏ, rồi khẽ thưa: “Thưa đại thiếu gia, trà đã có rồi ạ, là loại vừa mới pha xong. Nô tì nghe mấy tiểu nha hoàn bên ngoài nói ngài vốn ưa dùng trà nóng.”
Lục Trạch khẽ ừ một tiếng rồi ngước mắt nhìn nàng, nhưng nàng vẫn như cũ, đôi mắt cứ một mực nhìn đi chỗ khác. Hắn thong dong hạ một quân cờ đen, rồi lại dùng tay trái đặt xuống một quân cờ trắng, hờ hững hỏi: “Trên người ngươi là mùi hương gì vậy?”
Tần Thư đang đứng bên cạnh thất thần, đột ngột bị hỏi như vậy liền giật mình, tự đưa ống tay áo lên ngửi thử. Lúc này nàng mới nhận ra một mùi hương củ ấu thanh khiết cực kỳ nhạt, bèn thành thực thưa: “Bẩm đại thiếu gia, có lẽ đây là hương thơm của củ ấu. Ngày hôm qua ca ca và tẩu tẩu ở nhà có mua rất nhiều củ ấu về, chắc hẳn mùi hương đã vương trên y phục. Hôm nay nô tì đến đây hơi vội, nên chưa kịp thay xiêm y mới.”
Lục Trạch khẽ gật đầu, đáp: “Không cần phải thay đâu, mùi hương này rất tốt.”
Tần Thư khẽ đáp một tiếng “Vâng”, rồi vẫn giữ vẻ mặt bình thản đứng sang một bên. Cứ như thể lời nói vừa rồi chẳng mảy may mang chút ý vị ám muội hay tình tứ nào, cũng tựa hồ như hai người chỉ vừa bàn luận về chuyện tiết trời hôm nay rất tốt vậy.
Lục Trạch tay phải hạ quân đen, tay trái đặt quân trắng, chẳng mấy chốc thế cờ đã rơi vào cục diện bế tắc. Hắn liếc thấy Tần Thư đang đứng bên cạnh, ánh mắt nàng từ lâu đã dừng lại trên bàn cờ, liền cất tiếng hỏi: “Ngươi đã từng học qua môn cờ này chưa?”
Tần Thư đương nhiên là biết chơi cờ này. Từ nhỏ cô đã sống trong khu nhà tập thể mà đơn vị phân cho bố mẹ. Đối diện nhà cô chính là bạn học đại học của bố cô, nhưng oái oăm thay, người bạn này học hành không giỏi bằng bố cô, vậy mà ngoại trừ chuyện học ra, từ thăng tiến cho đến kết hôn đều nhanh hơn bố cô một bước, ngay cả việc sinh con cũng sớm hơn, lại còn là một cậu con trai.
Máu hiếu thắng của ông bố Tần Thư trỗi dậy, ông thề phải bồi dưỡng con gái mình trở thành nhân tài ưu tú hơn hẳn thằng con trai nhà đối diện. Nhà bên kia học cái gì thì Tần Thư phải học cái đó, nhà bên kia báo danh lớp năng khiếu nào, thì cô cũng phải báo danh lớp năng khiếu nấy.
Những thứ râu ria khác thì cô không kiên trì được lâu, duy chỉ có môn cờ vây là theo học suốt đến tận cấp ba, còn đoạt được giải thưởng cấp tỉnh. Đến lúc này, cô mới coi như là có lời ăn tiếng nói để ăn nói với ông bố của mình.
Ngày nhận được chứng chỉ, bố cô còn đặc biệt đặt mấy bàn tiệc ở nhà hàng, mời tất cả đồng nghiệp đến để khoe khoang, khiến Tần Thư ngượng ngùng đến mức đứng ngồi không yên.
Thấy Lục Tích hỏi vậy, Tần Thư dĩ nhiên là lắc đầu phủ nhận: “Dạ bẩm, nô tỳ chưa từng được học qua, chẳng qua là đôi khi trông thấy các tiểu thư hạ cờ, thấy cũng có phần thú vị nên đứng xem thôi ạ.”
Tần Thư đến thế giới cổ đại này tính ra cũng đã ngót nghét mười năm. Giờ đây nhớ lại, dung mạo của bố mẹ đã chẳng còn rõ nét như những ngày đầu mới tới. Chẳng biết rồi mấy năm sau nữa, nàng còn có thể ghi nhớ được những gì? Càng ngẫm nghĩ, lòng nàng lại càng không khỏi trùng xuống, buồn bã khôn nguôi.
Lục Trạch buông lơi quân cờ, rồi lên tiếng phân phó: “Thay xiêm y cho ta, chuẩn bị sang chỗ lão thái thái dùng bữa.”
Tần Thư vâng mệnh, nàng liền đi tìm tiểu nha hoàn, lấy ra bộ áo bào màu xanh thạch thêu hoa chìm để hắn thay vào. Nàng lại giúp hắn chải lại mái tóc, tháo võng cân ra rồi đội ngọc quan lên. Trên thắt lưng của hắn, ngoài đai lưng như thường lệ, nàng vẫn thắt thêm dải cung thao và đeo miếng ngọc bội vào.
Khi đến Tĩnh Diệu Đường, còn chưa bước chân vào cửa đã nghe thấy tiếng cười đùa hỉ hả vọng ra từ bên trong. Nguyên do là bởi lão thái thái tâm niệm rằng khó khăn lắm cả gia đình mới được đoàn tụ đông đủ, nên mỗi ngày đều gọi mọi người cùng tới dùng bữa chung.
Lại thêm ý chỉ của lão thái thái, bà ấy bảo rằng mọi người đều là người nhà, không cần phải câu nệ khách sáo mà phân chia ra bàn nam bàn nữ làm gì, cứ thế tất cả cùng ngồi chung một bàn dùng cơm cho thêm phần thân mật.