Hầu Môn – Chương 33 – 34

Chương 33

Sáng sớm mùng hai tháng Chạp, nắng đông xuyên qua cửa sổ, đổ xuống một mảng ánh sáng rực rỡ chan hòa.

Vừa tới đầu giờ Mão, Minh Di đã tỉnh giấc, được Phó ma ma đưa đến Xuân Cẩm Đường ở thượng phòng. Tuân thị đích thân chăm chút việc chải chuốt trang điểm cho nàng, từ y phục, trang sức cho đến cả một chiếc nút thắt lụa hình tứ phương như ý cũng đều hỏi han kỹ lưỡng. Minh Di giống như một con rối gỗ, được đám nha hoàn và bà tử vây quanh, mặc cho bọn họ sắp đặt.

Sau khi thu xếp xong xuôi, đám nha hoàn mời nàng nhìn lại mình trong gương đồng. Minh Di liếc mắt nhìn, gương mặt trong gương kia hoàn toàn là một diện mạo xa lạ: mặt phủ một lớp phấn trắng, điểm chút ít phấn son; chính giữa búi tóc khảm một bộ trang sức đính ngọc trai phương Đông, bên trái cài một chiếc bộ dao vàng ròng điểm thủy thúy, hai bên tóc mai đều dán hoa điền, đuôi hoa điền rủ xuống những sợi lưu tô dày đặc, lấp lánh, quả thật mang đậm phong tình của một thiếu nữ.

Đối với Minh Di mà nói, cả đầu đầy trâm cài châu báu thế này thực sự gây cản trở nàng thi triển quyền cước. Thế nhưng nhìn dáng vẻ hài lòng của mẹ chồng, nàng cũng chỉ có thể phối hợp mà thốt lên một câu “đẹp lắm”, cứ như thể người được khen chẳng phải là chính mình.

“Tiếc là vẫn còn hơi đơn giản quá, đợi đến khi sắc phong cáo mệnh truyền xuống, khoác lên mình bộ đại phục phẩm cấp, Minh Di nhà chúng ta sẽ chẳng thua kém bất kỳ…”

Minh Di và Bùi Việt kết hôn chưa đầy một tháng, tấu chương xin ban cáo mệnh đệ lên vẫn còn cần Lễ Bộ, Tư Lễ Giám và bên phía Hoàng hậu phê duyệt, nhất thời vẫn chưa thể hạ xuống ngay được.

Minh Di vừa vâng dạ đáp lời mẹ chồng vừa nhìn quét một lượt từ trên xuống dưới. Bộ đối khâm bằng gấm dày thêu toàn thân họa tiết hoa bách hợp màu đỏ sẫm này đã đủ xa hoa rồi, vậy mà trong mắt mẹ chồng cũng chỉ được coi là “đơn giản”. Nếu thật sự có cáo mệnh, chẳng phải nàng sẽ biến thành một con búp bê tinh xảo trong tranh Tết hay sao.

Nàng chẳng muốn thế chút nào.

Tuân thị ngắm nghía kỹ lưỡng một lượt từ trên xuống dưới, cảm thấy vô cùng hài lòng: “Đi vài bước thử xem nào…

Minh Di nghe lời làm theo, nhưng bước chân đầu tiên vừa mới đưa ra, Tuân thị đã cuống quýt gọi: “Tổ tông của ta ơi, chậm lại, chậm lại chút đi! Ai mướn con bước rộng đến thế hả? Quy củ học mấy ngày trước lại quên sạch rồi sao?”

Minh Di vốn quen mặc đồ gọn nhẹ, bước đi như gió, nay khoác trên mình bộ váy áo trang sức cầu kỳ này, chẳng thể không chú trọng lễ nghi. Nàng đành phải cứng nhắc thu bước chân lại, lén lút nhìn Tuân thị. Tuân thị bị bộ dạng ấy của nàng làm cho bật cười: “Con đấy, đúng là một cô bé ngốc nghếch!”

Trong lời nói không giấu nổi vài phần nuông chiều.

Một lát sau, các cô nương đã đến đông đủ. Ai nấy đều bị cách trang điểm của Minh Di làm cho kinh ngạc, vây quanh nàng ríu rít khen ngợi không ngớt.

Minh Di chỉ cười cho qua chuyện.

Suốt dọc đường đi ra cửa, Tuân thị giữ chặt Minh Di bên cạnh mình bằng một tay, bảo nàng dìu bà: “Hôm nay con cứ đi theo ta như thế này, không được rời nửa bước, bước chân cũng không được nhanh hơn ta, rõ chưa?”

Minh Di học theo dáng vẻ ung dung chậm rãi của mẹ chồng, nàng ngoan ngoãn gật đầu: “Con rõ rồi ạ.”

Hai mẹ con đi đến cửa hông, xe ngựa đã chuẩn bị sẵn sàng. Tuân thị định đưa Minh Di lên chiếc xe đầu tiên, nhưng sau khi đưa bà lên đến càng xe, Minh Di bỗng chỉ tay về phía chiếc xe phía sau: “Mẹ ơi, hay là trên đường đi cứ để con dâu được tự tại một chút nhé.”

Tuân thị dở khóc dở cười, nhưng cũng không trách mắng nàng: “Đi đi.”

Minh Di lập tức trèo lên chiếc xe ngựa của mình. Vừa mới vào trong, nàng đã thấy một người đang ngồi trên chiếc ghế gấm bên cạnh. Chỉ thấy người đó mặc một chiếc váy xếp ly dài màu hồng phấn, trên đầu cũng búi tóc kiểu đọa mã, cài một chiếc bộ dao vàng, còn gương mặt kia… sao mà đỏ như mông khỉ vậy.

“Ngươi…”

“Cô nương…”

Cả hai cùng lúc chỉ tay vào đối phương, đều bị cách ăn mặc của người kia làm cho kinh hãi.

“Cô nương, là người đấy ạ?” Thanh Hòa suýt chút nữa không nhận ra sư phụ mình, nàng ấy chưa bao giờ thấy Minh Di đeo hoa tai hay cài bộ dao bao giờ.

Minh Di gạt tay nàng ấy ra: “Không phải ta thì còn là ai nữa? Ngược lại là ngươi, sao lại thành ra cái bộ dạng này?”

Thanh Hòa buồn bực vuốt lại búi tóc: “Sáng sớm ma ma đưa em đến hoa sảnh, là Lục cô nương và Thất cô nương đã ‘thu dọn’ em đấy.” Vì lần trước Thanh Hòa lập công ở Thượng Lâm Uyển, nên Hoàng đế đặc cách cho phép nàng ấy theo nữ quyến nhà họ Bùi vào cung chúc thọ. Vì thế, bộ đồ xanh bình thường không được mặc nữa, mà họ trang điểm cho nàng ấy theo tiêu chuẩn của một vị biểu cô nương.

Minh Di nhìn Thanh Hòa cười: “Trông cũng… đẹp độc lạ đấy chứ.”

Thanh Hòa làm sao không nhận ra sự trêu chọc trong ánh mắt nàng, liền chẳng chịu thua kém đáp lại: “Lát nữa, nếu Trường Tôn Lăng mà nhận ra người, em sẽ không tên là Thanh Hòa nữa.”

Một tay của Minh Di chống lên thành xe, một tay đỡ trán rồi bực mình nói: “Ngươi đổi tên thành Hoàng Hòa luôn cho rồi.”

“Tại sao phải là Hoàng Hòa, không gọi là Lục Hòa được ạ?”

Minh Di chỉ chỉ vào chùm bộ dao vàng trên đầu nàng ấy: “Soi gương đi, nhìn lại cái bộ dạng của ngươi ấy.”

Thanh Hòa cũng chọc chọc vào dải lưu tô của Minh Di: “Người thì khá hơn chắc?”

Hai thầy trò cứ thế vừa đi vừa chê bai nhau, vừa càm ràm không ngớt, mãi cho đến tận Đông Hoa Môn thì mới thu tiết chế lại cảm xúc để xuống xe.

Tất cả nữ quyến của các quan lại đều vào cung từ Đông Hoa Môn, phía ngoài cửa đã sớm xếp thành một hàng dài dằng dặc. Các hiệu úy gác cổng cùng một vài thái giám, ma ma đứng dưới đường dốc, kiểm tra kỹ lưỡng từng người một mới cho phép tiến vào.

Đám cung nhân này đều được huấn luyện bài bản, dù người có đông đến mấy cũng vẫn ung dung thong thả, chẳng chút vội vàng, nhất định phải kiểm tra rõ ràng mọi người thì mới cho đi qua.

Có một nhóm ma ma chuyên phục vụ các vị quý quyến nhất phẩm và hoàng thân quốc thích, phía bên này ít người hơn, vậy nên nhà họ Bùi rất nhanh đã qua được khâu kiểm tra để vào Đông Hoa Môn.

Từ Đông Hoa Môn đến cung Khôn Ninh phải đi bộ mất gần nửa canh giờ, đối với những quý phụ quen sống trong nhung lụa như Tuân thị mà nói, đây quả là một thử thách lớn. Đi chưa đầy nửa khắc, Tuân thị đã bắt đầu thấy mệt. Lúc này mới thấy được cái lợi của việc cưới một nàng dâu “vùng quê”: Minh Di dìu lấy bà, để bà tựa nửa người vào mình, nhờ vậy Tuân thị đi lại không còn tốn nhiều sức lực nữa.

Tuân thị cảm thấy rất ái ngại: “Minh Di, thế này có làm con mệt không?”

Minh Di phì cười: “Con dâu không sao, con khỏe lắm ạ.”

Tuân thị thấy nàng mặt không đỏ, thở không gấp, bước đi vẫn ung dung tự tại thì mới yên tâm.

“Minh Di à, có phải trong mắt con đám nữ quyến kinh thành chúng ta đều là ‘gối thêu hoa’, chỉ được cái mã ngoài chứ chẳng được tích sự gì không?”

Minh Di dở khóc dở cười: “Mẹ à, thật sự không có mà.”

Tuân thị cười: “Con có nghĩ thế cũng chẳng sao, chúng ta đúng là chỉ có cái khung rỗng, chẳng thể so được với cơ thể dẻo dai của các con, đúng là dễ bề sinh nở…”

Minh Di: “…”

Ba câu lại không rời chuyện con cái, đúng thật là mẹ chồng ruột có khác.

Con trai mẹ mỗi tháng chỉ chung phòng có năm ngày, mẹ có biết không hả?

Thế mà cứ nhắm vào con mà giục khéo!

Minh Di cạn lời một hồi, cũng không tiếp lời bà nữa. Cuối cùng bọn họ cũng đi hết con đường cung dài dằng dặc để bước vào Thương Chấn Môn, sau đó rẽ về hướng Tây, đến gần Cảnh Hòa Môn. Bên trong cánh cửa cung đang mở rộng, một tòa điện uy nghi với mái đơn bốn góc chóp nhọn, vàng son lộng lẫy sừng sững hiện ra, đó chính là điện Giao Thái trước cung Khôn Ninh. Điện Giao Thái nằm giữa cung Khôn Ninh và cung Càn Thanh, là nơi Hoàng hậu tiếp kiến nữ quyến và nhận lễ vật chúc thọ.

Trước cửa cung vẫn xếp một hàng dài, vẫn phải kiểm tra lại một lần nữa mới được vào. Chỉ là so với Đông Hoa Môn thì việc kiểm tra ở đây không còn quá khắt khe nữa. Người đến là nữ quan trong cung Hoàng hậu, vốn đã quen mặt với các vị quý quyến nên không muốn đắc tội, chỉ làm cho có lệ rồi cho người vào.

Lễ vật chúc thọ của các nhà đã lần lượt nhập cung từ ngày hôm qua, hôm nay được bày ra từng món một trên quảng trường đá bạch ngọc bên ngoài điện Giao Thái, chỉ chờ các nhà vào yết kiến sẽ lần lượt khiêng qua để Hoàng hậu xem xét, sau đó mới đăng ký vào sổ sách và nhập kho.

Trước đó, các chưởng tư chủ bộ của Tư Lễ Giám và Ngự Dụng Giám đã lập sẵn một danh sách đưa qua cung Khôn Ninh cho Hoàng hậu xem trước. Hoàng hậu sẽ căn cứ vào lễ vật của từng phủ gửi đến mà ban thưởng lại tương ứng.

Vừa mới đợi ngoài cửa Cảnh Hòa một lát, bên trong đã có một vị thái giám cấp cao của Tư Lễ Giám niềm nở tiến ra đón: “Xin thỉnh an phu nhân. Bên ngoài trời lạnh, mời phu nhân mau theo lão nô vào trong điện ạ.”

“Đa tạ công công.” Tuân thị dẫn theo đoàn nữ quyến của Bùi phủ đi vào trong.

Điện Giao Thái được lợp toàn bộ bằng ngói lưu ly, các dãy hành lang đều vẽ họa tiết rồng phượng hòa hỉ rực rỡ, bốn mặt mở cửa, vô cùng khoáng đạt và uy nghiêm. Vào những ngày như thế này, các cửa bên đều đóng chặt, mọi người đi vào từ cửa chính hướng Nam. Minh Di cùng mọi người bước lên thềm đá, vòng qua hành lang đến trước cửa chính điện, bên trong có tiếng trò chuyện nhỏ nhẹ truyền ra, không hề ồn ào chút nào.

Vị thái giám cấp cao vào trong thông báo một tiếng, người nhà Bùi phủ lần lượt nối đuôi nhau đi vào. Trong điện yên tĩnh lạ thường, Minh Di không dám ngước mắt, nàng bước qua ngưỡng cửa, chỉ thấy gạch vàng lót sàn, hương trầm nghi ngút tỏa ra từ dưới khung cửa sổ. Trong điện có khá nhiều người đang ngồi, nhưng bầu không khí có chút trầm mặc. Minh Di dìu mẹ chồng từng bước tiến về phía trước, cho đến khi trong tầm mắt xuất hiện một đôi hài phượng thêu hoa văn phượng hoàng trên nền vàng rực rỡ thì mới dừng lại.

Đó chắc hẳn là vị trí của báu tọa bàn long, và người ngồi trên cao kia, không nghi ngờ gì chính là đương kim Hoàng hậu Lý Tú Ninh – người từng là đệ nhất mỹ nhân danh chấn kinh thành.

Đây là lần đầu tiên Hoàng hậu xuất hiện trước mặt mọi người kể từ sau khi Lý gia gặp chuyện, triều đình và dân chúng đều đổ dồn sự chú ý. Có thể thấy các nữ quyến đều vô cùng cẩn trọng, dường như ai cũng sợ chạm phải vận xui hay làm phật ý vị Hoàng hậu này.

Cung nhân kịp thời mang đệm lót đến.

Tuân thị buông tay Minh Di ra, là người đầu tiên quỳ xuống: “Thần phụ Tuân thị, tông phụ nhà họ Bùi, dẫn theo toàn thể nữ quyến trong phủ, khấu đầu thỉnh an nương nương, chúc nương nương thiên tuế, thiên tuế, thiên thiên tuế; chúc nương nương thọ sánh non cao, phúc thọ vô cương.”

Chỉ có một vài người theo Tuân thị vào điện, còn đại đa số các cô nương đều dập đầu ở ngoài điện rồi lui ra.

Một lát sau, từ phía trên truyền xuống một giọng nói trầm thấp: “Miễn lễ.” Giọng nói bình thản, không lộ chút vui buồn.

Tuân thị dẫn mọi người đứng dậy, chờ thái giám Tư Lễ Giám xướng tên lễ vật xong, mới một lần nữa nhún người hành lễ với Hoàng hậu: “Một chút lòng hiếu kính, mong nương nương vui lòng nhận cho.”

Hoàng hậu nghe vậy chỉ khẽ nâng mí mắt, nói một câu “tốn kém rồi”, trong lời lẽ toát ra vẻ lạnh nhạt khiến người khác khó lòng đến gần.

Ánh mắt của bà bất chợt dừng lại trên người Minh Di đang đứng cạnh Tuân thị, lúc này giọng điệu mới có chút cảm xúc: “Vị này chắc hẳn là tân phụ của Bùi đại nhân?”

Tuân thị đoán trước Hoàng hậu sẽ hỏi đến Minh Di, lập tức kéo con dâu từ bên cạnh ra: “Bẩm nương nương, đúng là tân phụ Minh Di ạ.” Rồi bà nói với Minh Di: “Mau dập đầu chào Hoàng hậu đi.”

Minh Di nâng vạt áo, quỳ xuống trên bồ đoàn rồi cúi thấp người nói: “Thần phụ Lý Minh Di kính chúc nương nương thọ xuân vô tận.”

Hoàng hậu thấy nàng hành xử hào phóng tự nhiên thì lấy làm bất ngờ: “Chẳng giống người từ vùng quê lên chút nào. Ngẩng đầu lên, để bản cung nhìn xem…”

Minh Di từ từ ngẩng mặt lên, nàng không hề khép nép cụp mi để mặc người khác soi xét như những nữ quyến khác, mà trái lại, nàng bình thản nhìn thẳng về phía đó. Chỉ thấy hai gò má của Hoàng hậu lõm sâu, diện mạo nhợt nhạt, làn da có một sắc trắng gần như bệnh tật. So với lần gặp trước, gương mặt ấy không chỉ gầy gò hốc hác mà còn lộ rõ vẻ già nua, càng khiến đôi mắt đen láy kia trông như hai hố sâu thăm thẳm.

Minh Di cảm thấy cổ họng hơi nghẹn lại.

Hoàng hậu cũng quan sát Minh Di một lượt rồi nói với Tuân thị: “Dáng vẻ quả thực xinh đẹp.”

Tuân thị nghe vậy thì vô cùng vui mừng: “Đa tạ nương nương khen ngợi.”

Hoàng hậu nhận ra sự yêu thích trong lời nói của Tuân thị: “Xem ra nàng dâu này khiến Bùi phu nhân rất hài lòng.”

Câu nói này… thật chẳng dễ trả lời chút nào.

Tuân thị từng khéo léo từ chối Thất công chúa, nay lại đề cao Minh Di, ít nhiều cũng cho thấy bà không coi trọng Thất công chúa cho lắm.

Những nữ quyến khác ở trong điện đồng loạt đổ mồ hôi hột thay cho Tuân thị. Hoàng hậu năm xưa nổi tiếng là người vô cùng kiêu ngạo, đến mức suýt chút nữa còn chẳng thèm để mắt tới Thánh thượng. Nay con gái bà bàn chuyện hôn sự lại bị nhà họ Bùi từ chối, cơn giận này chưa chắc đã dễ dàng nuốt trôi.

Nhân lúc này, Minh Di lùi về bên cạnh Tuân thị. Tuân thị trìu mến vỗ nhẹ lên mu bàn tay nàng, rồi ung dung đáp lời: “Đã vào cửa thì chính là người một nhà, đứa nhỏ này lại ngoan ngoãn hiểu chuyện, thần phụ đương nhiên là thấy hoan hỉ rồi.”

Hoàng hậu cũng không có ý làm khó bà, chỉ mỉm cười rồi gạt chuyện đó sang một bên. Bà ấy nhìn Minh Di thêm lần nữa rồi vẫy tay gọi: “Bản cung nghe nói, lần trước chính ngươi ở Thượng Lâm Uyển đã giúp Thành Khánh thắng được Công chúa Bắc Tề? Ngươi lại đây, bản cung muốn ban thưởng cho ngươi.”

Minh Di chỉ đành tiến lên phía trước một lần nữa. Lần này, vị ma ma đã dịch chuyển chiếc đệm lót đến gần hơn một chút. Minh Di gần như quỳ ngay sát dưới chân bà. Hiếm khi được ở gần bà đến thế, nàng không nhịn được mà ngước mắt lên rồi nhìn bà ấy đăm đăm.

Hoàng hậu rút từ trên búi tóc mình một chiếc trâm ngọc ra, thuận tay cài lên đầu Minh Di rồi tùy ý ngắm nhìn hai cái: “Tốt lắm, cũng rất hợp với ngươi.”

Tầm mắt hai người chạm nhau.

Lúc này Hoàng hậu mới phát hiện đứa nhỏ này cứ nhìn mình chằm chằm, bà ấy lấy làm lạ: “Nha đầu ngươi gan lớn thật đấy, dám nhìn thẳng vào bản cung.”

Tuân thị nghe vậy thì tim thắt lại, lập tức quỳ xuống: “Nương nương thứ tội, Minh Di vốn ở vùng quê nên tính tình thuần phác, e là chưa từng được gặp thiên hoàng quý tộc, nên trước quốc mẫu tự nhiên sinh lòng hiếu kỳ và ngưỡng mộ. Mong nương nương rộng lượng tha thứ cho hành động non nớt của con bé.”

Hoàng hậu cũng không để tâm, thấy sắc mặt của Minh Di từ đầu đến cuối vẫn bình thản, dù khen hay trách cũng không chút dao động, bà ấy cảm thấy khá thú vị: “Ngươi thay nó tạ tội, nhưng nó lại có phong thái ‘sủng nhục bất kinh’, quả thật đúc từ một khuôn với Bùi Các lão nhà ngươi đấy.”

(Sủng nhục bất kinh: được sủng ái hay bị nhục mạ đều không biến sắc)

Hoàng hậu vốn không thích Bùi Việt, nên Tuân thị không rõ lời này là đang khen hay đang mỉa mai Minh Di.

Bà chỉ đành cứng người cười đáp: “Thần phụ xin mạn phép coi như nương nương đang khen con cháu trong nhà ạ.”

Hoàng hậu vuốt ve chiếc trâm trên đầu Minh Di: “Chiếc trâm này là Thái hậu nương nương ban tặng cho bản cung vào ngày phong hậu, ta đã đeo rất nhiều năm rồi. Nay ban cho ngươi, nguyện chúc ngươi và phu quân trăm năm hoà hợp.”

Những lời này nghe thật êm tai, Minh Di rất thích. Sau đại hôn, nhận được một chiếc trâm làm quà mừng từ bà ấy là điều đáng an ủi. Cha mà biết được chắc chắn sẽ vui lắm, tâm nguyện duy nhất cả đời này của ông chính là mong cô mẫu đối xử tốt với nàng một chút.

Minh Di cười đáp: “Đa tạ nương nương.”

Nụ cười ấy như mang theo hơi ấm của nắng xuân khiến Hoàng hậu phải nhìn thêm lần nữa, trong lòng bỗng nảy sinh một cảm giác quen thuộc đến lạ kỳ. Nhưng khi bà định nhìn kỹ lại thì Minh Di đã lui ra, không nói thêm lời nào, cũng không nhìn bà nữa.

Việc Hoàng hậu ban thưởng vật tùy thân cho nữ quyến là một vinh dự to lớn, Tuân thị vui mừng một lần nữa tạ ơn.

Nữ quan mời Tuân thị ngồi vào chỗ. Ngoài bà ra, trong tiệc còn có vài vị phu nhân của các trọng thần và hoàng thân ngồi cùng. Sau đó, lục tục có người vào dập đầu hành lễ. Không phải ai cũng có tư cách vào trong điện, nhiều nữ quyến chỉ dập đầu ngoài điện, nghe nội thị xướng tên một tiếng rồi lui về phía đảo Quỳnh Hoa.

Đa số các cô nương và phu nhân trẻ đều được mời ra Ngự Uyển chơi đùa, duy chỉ có Minh Di là bị Tuân thị giữ chặt bên sườn. Cũng chẳng còn cách nào khác, ai bảo nàng dâu này của bà gan thì lớn mà tính tình lại có chút ngây ngô, Tuân thị không đặt nàng dưới tầm mắt thì thực sự không yên tâm, chỉ sợ nàng gây ra tai họa gì.

Các nữ quyến cẩn trọng bồi tiếp Hoàng hậu trò chuyện dăm ba câu chuyện phiếm, thầm nghĩ đã sắp đến giờ Ngọ, Hoàng hậu cũng nên khởi thân đi tới đảo Quỳnh Hoa rồi. Thế nhưng vị ngồi trên cao kia rõ ràng không có dấu hiệu muốn đứng dậy. Đang lúc mọi người lấy làm lạ, thì từ phía thềm đá đằng trước truyền đến một tiếng thông báo dõng dạc:

“Bệ hạ giá lâm!”

Tất cả nữ quyến đều sững sờ trong chốc lát. Theo lời đồn, kể từ khi Lý gia gặp chuyện cho đến nay đã tròn ba năm, Đế – Hậu chưa từng gặp mặt. Nếu lời đồn là thật, thì hôm nay chính là lần đầu tiên họ đối diện kể từ khi nảy sinh hiềm khích. Các phu nhân đều nín thở tập trung, đứng dậy cúi đầu cung kính chờ đợi.

Minh Di lén quan sát Hoàng hậu một chút, chỉ thấy vị cô mẫu này thần sắc nhanh chóng nhạt đi, cả người ẩn hiện một tầng tử khí bao trùm.

Chuyện này thực sự không ổn chút nào.

Một lát sau, Hoàng đế khoác trên mình long bào màu vàng rực rỡ cùng Thất công chúa bước vào điện. Minh Di lập tức theo chân các nữ quyến thực hiện đại lễ khấu bái.

Thần thái của Hoàng đế vẫn như thường lệ, dường như không có gì khác biệt, ông mỉm cười nói: “Tất cả bình thân.”

Mọi người đều hành lễ, duy chỉ có Hoàng hậu là vẫn ngồi yên bất động. Thất công chúa thấy vậy, vội vàng đi đến bên cạnh Hoàng hậu, khẽ giật giật tay áo bà, gần như khẩn khoản mà gọi khẽ một tiếng: “Mẫu…”

Nàng ta đã tốn bao công sức mới thuyết phục được phụ hoàng đích thân đến mời mẫu hậu đi dự tiệc, nếu mẫu hậu vẫn không cho phụ hoàng sắc mặt tốt, thì chuyện này sẽ chẳng còn đường lui để cứu vãn nữa.

Hoàng hậu chậm trễ mãi mới đứng dậy, lùi lại một bước, khẽ nhún người hành lễ rồi giữ im lặng mà không nói thêm lời nào nữa.

Hoàng đế vờ như không thấy, đi thẳng tới ngồi xuống ngai vàng bàn long, mỉm cười hỏi thăm vị Đại trưởng công chúa đang đứng gần nhất, cũng chính là cô ruột của Hoàng đế, bà nội của Trường Tôn Lăng.

“Sức khỏe của cô mẫu dạo này thế nào rồi?”

Đại trưởng công chúa cười rạng rỡ đáp: “Nhờ hồng phúc của Bệ hạ, bộ xương già này của ta vẫn còn cứng cáp lắm. Nghĩ bụng đã lâu không thăm hỏi Hoàng hậu, nên hôm nay đặc biệt đến đây góp chút niềm vui.”

Hoàng đế cười nói: “Chỉ cần cô mẫu có thời gian, thường xuyên vào cung đi dạo cũng là điều tốt, trẫm sẽ sai người chuẩn bị kiệu cho người.”

Đại trưởng công chúa vội vàng từ chối: “Thế thì không dám, không dám…”

Bà cụ này cứ gặp ai là ba câu lại không rời khỏi đứa cháu Trường Tôn Lăng: “Nó hiện giờ đang làm việc bên cạnh Bệ hạ, ta cũng thấy yên tâm, chỉ là tính khí còn hơi tinh nghịch, mong Bệ hạ hãy quản giáo nó nghiêm khắc hơn.”

Ở kinh thành này ai mà không biết Trường Tôn Lăng được vị Đại trưởng công chúa này nuông chiều đến mức vô pháp vô thiên. Trường Tôn Lăng gây họa, bà là người đứng ra thu dọn tàn cuộc; Trường Tôn Lăng bị bắt nạt, bà liền vào cung cáo trạng. Bà cứ thế mà nuôi dạy Trường Tôn Lăng thành kẻ ăn chơi trác táng đệ nhất kinh thành. Nếu năm xưa cha của hắn không nhẫn tâm tống hắn ra biên ải rèn luyện, thì giờ này chẳng biết hắn còn khốn nạn đến mức nào nữa.

Hoàng đế bật cười: “Trẫm chỉ sợ nếu mình thực sự trách phạt nó, cô mẫu lại giận dỗi với trẫm…”

“Bệ hạ nói thế thật là làm khó ta quá…”

Sau vài câu chuyện phiếm, Hoàng đế tùy ý đưa mắt quét qua trong điện một lượt, chợt dừng lại trước một gương mặt trẻ tuổi, đó chính là Minh Di.

“Nha đầu này hình như trẫm đã từng gặp ở đâu rồi thì phải?”

Thất công chúa vừa nãy cũng phải nhìn Minh Di hồi lâu mới nhận ra nàng, liền cười nói: “Phụ hoàng, nàng chính là thê tử của Bùi Việt, Lý Minh Di đó ạ.”

“…Trẫm nhớ ra rồi.” Hoàng đế sực nhớ lại, chỉ tay về phía Thất công chúa rồi nói với nàng: “Lại đây, lại đây. Ngươi và Thất công chúa của trẫm rất có duyên, trẫm giao Thất công chúa cho ngươi, ngươi hãy dạy con bé đánh mã cầu đi.”

Minh Di nhìn Tuân thị một cái, rồi cứ đi một bước lại quay đầu nhìn một cái, chậm chạp nhích về phía trước.

Hoàng đế thấy vậy, không hiểu nổi bèn hỏi: “Sao thế, ngươi sợ mẹ chồng mình đến thế kia à?”

Tuân thị khổ không tả nổi, vội vàng đứng dậy giải thích: “Bệ hạ hiểu lầm rồi, là do thần phụ lo lắng Minh Di vào cung sẽ đi lạc, nên mới dặn con bé không được rời khỏi thần phụ nửa bước.”

Trong lòng Tuân thị lại thầm nghĩ: Mong sao Thất công chúa đừng bám lấy Minh Di, cũng đừng có làm hư Minh Di nhà mình.

Hoàng đế hoàn toàn không hay biết, chỉ cười nói: “Không đâu, bên cạnh Thất công chúa có nội giám đi theo, không lạc được.”

Sau đó ông buông tay Thất công chúa ra và ngồi thẳng người lại, nụ cười trên môi cũng dần thu lại: “Các con ra ngoài chơi đi.”

Thất công chúa dẫn Minh Di lui ra ngoài. Chẳng bao lâu sau, toàn bộ nữ quyến còn lại cũng bị lệnh cho rời đi, ngay cả nội thị thái giám cũng bị đuổi ra hết, ai nấy đều lánh ra xa không dám lại gần. Bên trong điện Giao Thái chỉ còn lại duy nhất hai người Hoàng đế và Hoàng hậu.

Thất công chúa vừa kéo Minh Di ra khỏi điện, ngay sau đó đã vòng ra phía hông điện Giao Thái, nép mình dưới khung cửa sổ rồi im lặng nghe ngóng động tĩnh bên trong.

Minh Di thấy vậy liền hạ thấp giọng hỏi: “Điện hạ, người đang làm gì thế?” Hành động này không được đúng quy tắc cho lắm.

Thất công chúa chỉ tay vào nội điện rồi nhỏ giọng đáp: “Ngươi không hiểu đâu, mẫu hậu không chịu đến đảo Quỳnh Hoa dự tiệc, ta phải khó khăn lắm mới thuyết phục được Phụ hoàng đến mời bà ấy đấy. Ta chỉ lo họ lại xảy ra tranh chấp thôi.”

Minh Di nghe vậy thì lập tức dừng bước không đi nữa, cùng nàng ta đứng nép dưới khung cửa sổ. Nàng nhìn sâu vào trong điện, điện Giao Thái mở cửa sổ bốn phía, ánh sáng ban ngày rạng rỡ hắt vào trong, soi rõ từng vật dụng bày trí. Tại gian phòng phía Tây đặt một chiếc đồng hồ tự minh, phía sau chiếc đồng hồ, cách một cánh cửa ngăn khung rồng phượng, có thể lờ mờ thấy bóng dáng Hoàng đế và Hoàng hậu đang ngồi nghiêm nghị trên báu tọa.

Kể từ sau khi mọi người lần lượt lui ra, trong điện im lặng hồi lâu không có tiếng người nói.

Sau khi cung nhân dâng trà xong, Hoàng đế im lặng gạt nắp trà rồi thổi nhẹ làn hơi nóng, mãi một lúc lâu mới lên tiếng: “Sao thế, không chịu đến đảo Quỳnh Hoa dự tiệc à?”

Giọng điệu lãnh đạm vô tình, không còn chút ấm áp nào như ban nãy.

Hoàng hậu cũng chẳng thèm nhìn ông, chỉ nhìn thẳng về phía trước, đôi mắt trống rỗng như vực sâu rồi mỉa mai đáp: “Con trai ruột của ta đang bị giam lỏng trong vương phủ, còn ta lại phải rình rang ở đảo Quỳnh Hoa vui vẻ cùng người khác, cố tạo ra vẻ thái bình giả tạo sao? Đổi lại là Người, trong lòng Người có thể vui vẻ được không?”

Hoàng đế thấy giọng điệu của bà ấy không mấy thiện cảm thì dừng động tác, lạnh lùng quát lớn một tiếng: “Ai cho phép nàng ăn nói với trẫm như thế!”

Hoàng hậu cũng chẳng nể nang chút nào, lạnh lùng bác lại một câu: “Bệ hạ cho phép hay không thì thần thiếp cũng vẫn nói năng như vậy đấy!”

“Sao nào, cả nhà họ Lý của ta đều đã chết sạch, con trai thì bị giam lỏng, bệ hạ còn trông mong ta phải tươi cười đối đãi hay sao?”

Hoàng đế giận quá hóa cười: “Lý Tú Ninh, nàng đừng có mà không biết điều! Lý Tương phạm tội gì, chẳng lẽ nàng không rõ hay sao? Phản quốc, đó là đại tội chu di cửu tộc! Trẫm nể tình nàng nên mới cho phép mẫu thân nàng được ở lại hầu phủ, chi thứ nhà họ Lý cũng chỉ bị giáng xuống làm thường dân chứ chưa hề diệt tộc, nàng còn muốn thế nào nữa?”

Hoàng hậu nghe ông nhắc đến Lý Tương thì ngọn lửa giận trong lòng tức khắc bị châm ngòi, bà ấy mắng nhiếc: “Đó chẳng qua là vì dòng chính nhà họ Lý đã chết sạch trên chiến trường rồi, Người không còn ai để mà giết nữa thôi! Chỉ cần ca ca ta còn sót lại một mống con trai nào, nhất định Người sẽ đuổi tận giết tuyệt. Người biết rõ Lý gia giờ chỉ còn là một cái vỏ rỗng, không thể đe dọa đến Người được nữa, nên mới dứt khoát đóng vai người tốt để giữ vững cái hình tượng minh quân đó mà thôi!”

“Hỗn xược!” Hoàng đế giận đến mức lồng ngực phập phồng dữ dội, ông chỉ tay vào bà ấy rồi gằn từng chữ: “Nàng đừng tưởng rằng trẫm không biết, nhà họ Lý ở bên ngoài vẫn còn một cô nhi, tên gọi là Lý Lận Nghi. Trẫm là đang nể mặt Lận Chiêu nên mới luôn không truy bắt con bé đó!”

Hoàng hậu vừa nghe thấy cái tên Lý Lận Nghi, lại càng cười một cách ngông cuồng hơn: “Người có giỏi thì bắt con bé về đây, một đao chém chết đi! Ta chỉ sợ là lúc đó Người sẽ phải hối hận đấy!”

Hoàng đế chỉ cảm thấy bà ấy thật không thể lý giải nổi, nên chẳng muốn đôi co thêm nữa: “Hôm nay cái đảo Quỳnh Hoa này, nàng muốn đi thì đi, không đi thì ngày mai cứ đợi nhận chiếu thư phế hậu của trẫm đi!”

Hoàng hậu chẳng mảy may lay động, chỉ lạnh nhạt đáp: “Người không cần phải dọa nạt ta, có giỏi thì giết ta đi, bằng không ta sẽ không chấp nhận việc phế hậu đâu.”

“Lý gia vô tội, Dục nhi càng vô tội hơn! Nếu Người muốn ta đi dự tiệc để giữ thể diện cho Người, vậy thì hãy thả con trai ta ra!”

Hoàng đế không thể nhẫn nhịn thêm được nữa, ánh mắt sắc như dao phóng tới: “Nó tự ví mình với Lý Thế Dân, thì trong mắt nó còn có người cha, người làm vua như ta nữa không? Ta thấy nó bị Lý Tương kia dạy hư rồi!”

“Người nói bậy!” Nước mắt Hoàng hậu suýt nữa trào ra, nhưng bà ấy ép bản thân phải kìm lại, tiến tới túm lấy cánh tay Hoàng đế rồi áp sát mà chất vấn: “Lúc nó mới chào đời, Người đã vui mừng biết bao nhiêu? Người nâng niu nó như ngọc quý trên tay, bồi dưỡng nó thành người kế vị. Nó là đứa trẻ do chính tay Người dạy dỗ nên người, lẽ nào Người thật sự tin nó có thể nói ra những lời đại nghịch bất đạo như vậy sao?”

Khuôn mặt của Hoàng đế không cảm xúc chỉ nhìn bà ấy mà không đáp lời. Trong đôi mắt đỏ ngầu ẩn hiện chút lưỡng lự, nhưng rất nhanh sau đó, sự do dự ấy đã bị vẻ tàn nhẫn tuyệt tình thay thế: “Con người rồi cũng sẽ thay đổi. Ban đầu nó ngoan ngoãn biết bao, nhưng về sau, nó năm lần bảy lượt lén lút thư từ với Túc Châu, đi lại mật thiết với cữu phụ và biểu huynh của nó, nhưng lại chẳng hề nói với trẫm lấy một lời thật lòng…”

“Đó là vì Người quá yêu thương Hằng Vương, khiến nó phải lạnh lòng.”

“Hằng Vương cũng là con của trẫm, trẫm không nên yêu thương nó sao?”

Hoàng hậu nghe đến đây, bỗng nhiên như quả bóng xì hơi, từ từ buông tay khỏi người ông ấy rồi thẫn thờ ngồi xuống. Bà ấy mặc cho nước mắt giàn dụa, đau khổ bịt mặt khóc: “… Nếu Chương nhi của ta còn sống, ta đâu đến mức rơi vào cảnh ngộ như ngày hôm nay…”

Hoàng đế nghe lời này, lồng ngực cũng nhói lên một cơn đau thắt: “Nếu Chương nhi còn, trẫm cũng chẳng phải lo không có Thái tử để lập!”

….

“Phụ hoàng và Mẫu hậu trước ta từng sinh dưỡng một vị hoàng tử, đó chính là đích trưởng huynh của ta.” Thất công chúa dắt tay Minh Di chậm rãi bước ra khỏi cửa Khôn Ninh: “Nghe nói vào ngày huynh ấy chào đời, trên trời xuất hiện mây ngũ sắc rực rỡ, cả triều đình đều xem đó là điềm lành. Đáng tiếc, sinh ra lại là một thai tử chết lưu, mẫu hậu và phụ hoàng đều đau buồn khôn xiết. Phụ hoàng đã đặc cách hạ táng huynh ấy theo nghi lễ Thái tử, ban thụy hiệu là Chương…”

(Thuỵ hiệu: Tên hiệu được ban cho sau khi qua đời để tôn vinh người nào đó.)

Ra khỏi cửa Khôn Ninh, ngay phía trước chính là Ngự Hoa Viên. Dẫu đang giữa tháng Chạp giá rét căm căm nhưng Ngự Hoa Viên vẫn hiện lên một khung cảnh tràn đầy sức sống. Để chúc tụng thọ yến của Hoàng hậu, cung nhân đã mang đủ loại cúc mùa đông nuôi trồng trong phòng hoa ra bày biện, khắp nơi đều có thể thấy sắc hoa rực rỡ, muôn hồng ngàn tía.

Minh Di giơ tay gạt cành cây chắn ngang đường, ánh mắt thẫn thờ nói: “‘Vạn vật có trật tự, đạo pháp từ đầu đến cuối đều thành chương; nhật nguyệt giao hòa, chiếu rọi khắp thiên hạ là minh.’ Nếu như ngài ấy còn sống, nhất định sẽ là một vị Thái tử vô cùng xuất sắc.”

Thất công chúa lẩm bẩm rồi bật cười tự giễu: “Đáng tiếc là ta chưa từng được gặp huynh ấy. Phụ hoàng từng nói, người từng thấy dáng vẻ của huynh trưởng trong mộng, mà ta lại sinh ra có ba phần giống huynh ấy. Cũng chính vì lẽ đó mà trong số các nhi nữ, phụ hoàng mới thiên vị ta hơn đôi chút. Ta chẳng dám tưởng tượng nổi, nếu huynh trưởng còn tại thế thì phụ hoàng sẽ hết mực coi trọng huynh ấy đến nhường nào.”

“Ngươi nói xem, một người huynh trưởng tốt như vậy, sao lại chết được chứ…”

Đầu ngón tay của Minh Di hơi run lên, một cơn đau nhói thấu tận tâm can cuộn trào qua lồng ngực nàng.

Chương 34

Đã bước sang đầu giờ Ngọ, phần lớn các cô nương đã lần lượt lên đường tới điện Quảng Hàn trên đảo Quỳnh Hoa. Chỉ còn lại số ít quý nữ có giao tình thân thiết với Thất công chúa là đang đợi tại đình Thiên Thu. Khi Thất công chúa tiến lại chào hỏi họ, Tạ Như Vận cũng dắt Thanh Hòa rời khỏi đình, bí mật kéo Minh Di nép vào dưới một tán cây xanh tốt để trò chuyện.

“Ngươi vừa mới diện kiến Hoàng hậu sao?”

Minh Di gật đầu: “Sắc mặt Nương nương đúng là không được tốt lắm.”

Tình trạng sức khỏe của Hoàng hậu thì Tạ Như Vận đã rõ, nhưng nàng ta còn quan tâm đến một chuyện khác hơn: “Bà ấy không nhận ra ngươi sao?”

Tâm trạng của Minh Di lúc này vô cùng phức tạp, nàng nở nụ cười gượng gạo đáp: “Bà ấy sao có thể nhận ra ta được chứ?”

Tạ Như Vận tiếc nuối nói: “Cũng khó trách, ai bảo ngươi cứ ở mãi nơi biên ải làm gì… Ôi, Lận Nghi, tại sao ngươi không thú nhận với Nương nương? Nếu bà ấy biết ngươi đã trở về kinh thành thì nhất định sẽ rất vui mừng.”

Minh Di không muốn đôi co thêm về chuyện này, bèn tùy miệng nói lấp liếm cho qua: “Thân phận của ta dù sao cũng đầy rủi ro. Chẳng may sơ suất để lộ ra ngoài, ngươi nói xem Hoàng đế nên bắt ta, hay là không bắt ta đây?”

Sau khi Lý gia gặp chuyện, chính Hoàng hậu đã ôm linh vị của Chương Minh thái tử đại náo Ngự thư phòng, lấy cái chết ra uy hiếp, ép Hoàng đế phải để thứ tộc Lý gia di dời khỏi kinh thành chứ không hạ ngục. Thế nhưng đích chi Lý gia thì lại khác, Lý Lận Nghi là con gái ruột của Lý Tương, chẳng có lý do gì để Hoàng đế tha cho nàng cả.

Tạ Như Vận nghĩ đến tầng quan hệ này, chợt nhận ra mình đã quá sơ suất: “Cũng đúng, không có gì quan trọng hơn sự an toàn của ngươi cả. Thời gian không còn sớm nữa, thọ yến sắp khai tiệc rồi, chúng ta mau đến đảo Quỳnh Hoa thôi.”

Dọc theo Ngự Hoa Viên đi ra khỏi cửa Huyền Vũ, sau đó rẽ hướng về phía cửa Thiệp Sơn là đến được đảo Quỳnh Hoa. Đảo Quỳnh Hoa nằm ngay giữa hồ Thái Dịch, có hai cây cầu đá hình vòm dẫn lên đảo: một là cầu Thái Dịch ở phía Nam, hai là cầu Thiệp Sơn ở gần cửa Thiệp Sơn phía Đông. Các quan viên văn võ sẽ đi qua cầu Thái Dịch, còn tất cả nữ quyến đều đi từ cửa Thiệp Sơn để vào điện.

Hôm nay là thọ yến của Hoàng hậu nên khách quý tụ hội đông đảo như mây, Cấm vệ quân vây quanh toàn bộ đảo Quỳnh Hoa kín mít tới mức một con muỗi cũng không lọt được vào, hôm nay Trường Tôn Lăng cũng đang làm nhiệm vụ.

Kể từ sau khi trở về từ biên ải, hắn được phong một chức quan nhờ bóng lộc tổ tiên và được đưa vào đội vệ binh Hổ Bôn. Hôm nay, ba ngàn quân Hổ Bôn được điều động để canh giữ đảo Quỳnh Hoa, năm trăm người do Trường Tôn Lăng dẫn dắt cũng nằm trong số đó. Chẳng ai lại đi tự kiểm tra người nhà mình, huống hồ Trường Tôn Lăng có thân phận cao quý, nếu hắn thực sự muốn mang thứ gì đó vào cung thì cũng không phải chuyện khó khăn.

Chính vì thế, Minh Di đã nhờ Trường Tôn Lăng mang hai chiếc vòng bạc đó vào đảo Quỳnh Hoa.

Trên đảo Quỳnh Hoa có đông người nên không tiện trò chuyện, Trường Tôn Lăng cố ý nán lại đợi gần cửa Thiệp Sơn. Hắn đã thấy bọn người Thất công chúa đi qua cửa, nhưng mãi vẫn không thấy bóng dáng chủ tớ Minh Di đâu, trong lòng không khỏi nôn nóng.

Chỉ còn một khắc đồng hồ nữa là khai tiệc, hai chủ tớ nhà này rốt cuộc đã đi đâu rồi?

Cuối cùng cũng thấy Tạ Như Vận dẫn theo hai cô nương đi về phía này, hắn rảo bước đón đầu: “Tạ Nhị, Minh Di và Thanh Hòa đâu rồi?”

Chủ tớ Minh Di đứng ngay bên cạnh: “…”

Khẽ ho một tiếng, Thanh Hòa vỗ vỗ vai hắn: “Ta ở đây này?”

Trường Tôn Lăng trợn tròn mắt nhìn nàng ấy chằm chằm, thật không thể tưởng tượng nổi một Thanh Hòa vốn dĩ luôn đầy khí chất nữ hiệp mà hôm nay lại khoác lên mình bộ váy hồng, còn thoa cả son phấn, thật đúng là khiến người ta phải rớt cả cằm. Thế nhưng Trường Tôn Lăng không dám trêu chọc nàng ấy, đành phải cố gắng giữ vững nét mặt rồi khách sáo khen một câu: “Cũng được lắm.”

“Vậy còn sư phụ ta…”

Lời còn chưa dứt, hắn chợt nhận ra điều gì đó, ánh mắt không tự chủ được mà liếc về phía Minh Di đang đứng cạnh Thanh Hòa. Ngay từ cái nhìn đầu tiên, hắn đã bị vẻ diễm lệ rực cháy giữa đôi mày nàng làm cho chùn bước, không dám nhìn thêm lần thứ hai, chỉ biết đứng sững người ra đó: “Không phải chứ, sư phụ, sao người lại trở thành bộ dạng này…”

Việc Minh Di trang điểm xinh đẹp thanh tú như thế này, đối với hắn còn khó chấp nhận hơn cả việc bị sét đánh ngang tai.

Minh Di tức mình giáng một cú tát vào sau gáy hắn: “Có chịu nói năng cho hẳn hoi được không hả?”

Đúng là phong thái này rồi, đúng là ‘hương vị’ quen thuộc đây rồi! Trường Tôn Lăng rốt cuộc đã tìm lại được sư phụ của mình, lúc này mới gãi đầu gãi tai dời mắt nhìn sang: “Lần sau người đừng có ăn mặc kiểu này nữa.” Đẹp đến mức hắn còn không dám nhận người quen.

Thanh Hòa đưa tay ra: “Bớt nói nhảm đi, đồ đâu?”

Trường Tôn Lăng không nói hai lời, lập tức móc từ trong hộ tâm kính trước ngực ra hai chiếc vòng bạc đưa cho nàng ấy. Thanh Hòa cũng nhanh tay lồng ngay chúng vào dưới lớp tay áo. Tạ Như Vận thấy hành tung của hai người lén lút, liền hỏi: “Cái gì thế?”

Minh Di nói: “Ngươi không cần quản chuyện này đâu, nhưng hôm nay, còn phải phiền ngươi che chắn cho Thanh Hòa một chút.”

Nàng là thê tử của Bùi Việt nên nhất định phải ngồi ở chủ điện. Thanh Hòa thì khác, chắc chắn sẽ cùng các cô nương trẻ tuổi khác dùng bữa ở phối điện. Mà Tạ Như Vận là người thích tản mạn, lại có chút thể diện trước mặt Hoàng đế và Hoàng hậu, dù ngồi ở đâu cũng không ai quản thúc nàng ta. Có nàng ta hỗ trợ Thanh Hòa, Minh Di mới có thể yên tâm.

Tạ Như Vận đáp: “Đã rõ.”

Không nói thêm lời nào nữa, cả nhóm cùng đi về phía điện Quảng Hàn. Chỉ vừa mới bước được vài bước, từ đằng xa họ đã trông thấy một bóng dáng cao gầy đang đứng đợi sẵn trên cầu Thiệp Sơn.

Bùi Việt chắp tay đứng giữa cầu, đưa mắt nhìn về phía tường cung. Đôi lông mày và ánh mắt thanh tú của chàng vẫn không bị ánh nắng chói chang xua đi chút lạnh lùng nào, vẫn cứ như sương như tuyết. Gió hồ lồng lộng thổi qua vạt áo, khiến tà bào đỏ tung bay phần phật, dưới ánh nắng rực rỡ đến lóa mắt, chàng trông thoát tục như một vị thần tiên thoát tục vậy.

Tạ Như Vận thở dài cảm thán: “Quả không hổ danh là người đứng cùng hàng với Lận Chiêu, phong thái này thật đúng là làm lòng người run rẩy!”

Trường Tôn Lăng nghe thấy câu đó thì chậc lưỡi một cái: “Thế rốt cuộc còn đi hay không đây?”

“Không đi nữa.”

Tạ Như Vận và Thanh Hòa quả thực không đi tiếp nữa, chỉ có mình Minh Di cất bước tiến lên đón.

Khi nãy Bùi Việt vẫn chưa nhìn thấy họ, chỉ nghe nói Minh Di bị Thất công chúa đưa đi, trong lòng không mấy yên tâm nên mới tới đây đón nàng. Ánh mắt chàng vẫn đang dán chặt về phía cửa Thiệp Sơn, chẳng ngờ từ dưới bóng cây bên cạnh lại có một bóng hình tiến tới, gọi chàng một tiếng: “Phu quân!”

Tiếng gọi ‘Phu quân’ này mang theo sự trong trẻo và rạng rỡ dưới ánh nắng gay gắt, tựa như tiếng suối chảy róc rách trượt qua bên tai.

Bùi Việt lập tức dời mắt nhìn sang, và chỉ trong chớp mắt, chàng đã hoàn toàn ngẩn ngơ.

Người tới diện một bộ đại sam đối khâm màu đỏ tươi thêu toàn thân, cổ áo và mép tay áo đều được viền họa tiết Tứ Quý Như Ý. Nhờ dáng người cao ráo, nàng hoàn toàn tôn lên được vẻ uy nghi của bộ trang phục. Mái tóc đầy trâm anh châu thúy dưới ánh nắng gay gắt phản chiếu ánh vàng lung linh, vẻ ngọc rạng ngời, hòa cùng nét rực rỡ nơi đuôi mày tựa như ráng hồng phá tầng mây mà hiện ra, thật đúng là phong thái rạng ngời, cốt cách như tiên.

Ngày thành hôn, Minh Di trùm khăn voan đỏ, chàng dắt nàng lên xe hoa nên chẳng thể nhìn rõ mặt mày nàng ra sao. Sau đó lại chẳng kịp bái đường mà chàng đã rời đi trước, thành ra chàng chưa từng được chiêm ngưỡng dung nhan của Minh Di trong ngày cưới. Hôm nay vào cung, mẫu thân rõ ràng đã chăm chút cho nàng vô cùng lộng lẫy, chàng mới biết thê tử của mình khi khoác lên bộ hỷ phục lại rạng rỡ chói mắt đến nhường này. Cảm giác nuối tiếc, thậm chí là hối hận đau đớn vì sự thiếu sót trong ngày tân hôn càng lúc càng dâng trào mãnh liệt trong lòng chàng.

Nàng quả thực đẹp đến mức khiến người ta không nhận ra. Bùi Việt cứ ngây người, chậm chạp không đáp lại tiếng ‘Phu quân’ kia. Chỉ đến khi nàng lại gần, để lộ nét thanh cao và khoáng đạt như gió mát trăng thanh vốn có nơi đuôi mày, thì Bùi Việt mới chắc chắn đây đúng là Minh Di. Lúc này, chàng mới đưa tay ra: “Nàng đã đi đâu vậy? Để ta phải đợi mãi.”

Chưa từng thấy qua dáng vẻ dịu dàng và thanh khiết tựa trăng sáng này của Minh Di, giọng nói của Bùi Việt cũng bất giác trở nên mềm mỏng hơn hẳn, như thể sợ rằng sẽ làm nàng kinh động.

Minh Di đưa tay tới, đặt lòng bàn tay mình vào tay chàng rồi đáp lời: “Thiếp bị Thất công chúa giữ lại một lát, vừa rồi lại gặp Tạ cô nương, phải dặn dò nàng ta để mắt trông nom Thanh Hòa giúp thiếp, thành ra mới quá giờ.”

Thanh Hòa đã có các cô nương nhà họ Bùi chăm sóc, đâu đến lượt Tạ Như Vận?

“Ta biết ngay là nàng không nghe lời khuyên mà, cứ nhất quyết phải dây dưa cùng mấy người đó. Đã vậy thì lát nữa nàng cứ đi theo ta, không được rời nửa bước.”

Lỡ như bị lạc mất thì biết đi đâu mà tìm?

Bùi Việt dắt tay nàng đi về phía điện Quảng Hàn. Tay áo của cả hai đều rộng lẫm liệt, nhìn từ xa cứ ngỡ chỉ là hai vạt áo chạm vào nhau, không thấy rõ điều gì khác lạ. Cho đến khi tới trước những bậc thềm của điện Quảng Hàn, Bùi Việt mới chợt nhận ra mình đã nắm tay Minh Di suốt cả quãng đường. Cảm thấy có chút không thỏa đáng, chàng liền lặng lẽ buông tay nàng ra một cách tự nhiên, rồi dặn dò: “Lát nữa hãy ngồi cạnh mẫu thân, nếu có ra khỏi điện thì nhớ phải báo cho ta một tiếng.”

Chàng dẫn nàng theo lối cửa nách rồi tiến vào trong điện.

Điện Quảng Hàn là một cung điện hai tầng với mái chồng diềm kiểu Hiết Sơn. Công trình gồm một chính điện và hai phối điện; hôm nay phối điện đã chật kín người, chính điện cũng không còn chỗ trống. Chính điện rộng năm gian, vừa bước vào trong sẽ thấy mười hai cột chu sa xà vàng chống đỡ tạo nên khí thế hào hùng. Hai bên ngự đạo sắp xếp bốn hàng án tiệc dành cho các quan văn võ, phía sau treo rèm châu màn lụa để ngăn cách với khu vực dành cho nữ quyến hai bên. Khắp trong điện đèn thắp sáng trưng, gấm vóc rực rỡ.

Từ ngự đạo đi lên có mấy tầng đài bằng đá bạch ngọc. Tầng đài thứ nhất là nơi ngồi của sứ thần Bắc Yến và Bắc Tề; tầng thứ hai là vị trí dành cho các Công chúa và Vương gia; cao hơn nữa là chỗ ngồi của các phi tần phẩm cấp cao; và ở vị trí cuối cùng chính là ngai vàng chạm rồng màu vàng rực rỡ.

Mãi vẫn chưa thấy Đế – Hậu đến, hai vị Thị lang Bộ Lễ bèn đứng dậy mời rượu để khuấy động không khí; Hằng Vương lại càng chủ động đứng ra nắm giữ đại cục, trò chuyện cùng sứ thần. Ngược lại, người ngồi đối diện hắn là trưởng hoàng tử Hoài Vương, lúc nào cũng giữ bộ dạng cười hì hì, chỉ lo tự mình thưởng thức tiệc rượu.

Vì Hoàng đế và Hoàng hậu chưa đến, nên trong điện bao trùm một bầu không khí náo nhiệt đầy gượng gạo.

Thất công chúa đã bắt đầu nóng lòng, chốc chốc lại liếc mắt nhìn ra ngoài điện, thậm chí còn sai nội thị thân cận đi nghe ngóng tin tức. Hằng Vương ở phía này vẫn ung dung thong thả, khách sáo mời mọi người uống rượu; trong mắt hắn, Đế – Hậu càng không hòa hợp thì lại càng có lợi cho hắn. Nếu hôm nay Hoàng hậu không lộ diện, phỏng chừng ngày bị phế truất cũng không còn xa, khi đó Chu Thành Dục cũng sẽ mất đi danh phận đích hoàng tử.

Đừng nhìn hắn hiện giờ đang là nhân vật quyền cao chức trọng trong triều, cũng mặc kệ Lý gia đã suy tàn, nhưng vẫn có một nhóm lão thần luôn coi Đích tử của Trung cung là chính thống. Chẳng nói đâu xa, ngay cả ngoại tổ phụ của hắn là Nội các Thủ phụ Vương Hiển cũng thường xuyên nói đỡ cho Chu Thành Dục. Hằng Vương ngoài mặt không nói nhưng trong lòng đã phải chịu không ít uất ức, ngặt nỗi mấy lão phu tử kia ai nấy đều cố chấp, động một chút là mang cái chết ra đe dọa, khiến Hằng Vương cũng chẳng có cách nào khác.

Cũng may sự sốt ruột của trăm quan không kéo dài quá lâu, vào khoảng giữa giờ Ngọ (khoảng 12 giờ trưa), Hoàng đế cuối cùng cũng cùng Hoàng hậu xuất hiện. Bá quan đồng thanh hô vang lạy tạ, trong lòng ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm. Hoàng đế vẫn giữ bộ dạng sâu không lường được như thường ngày, ông ấy mang theo tâm trạng cực tốt hỏi thăm các sứ thần về chuyện ăn ở tại Đại Tấn ra sao. Hoàng hậu ngồi tuỳ ý ở một bên, tuy không nở nụ cười nhưng may sao chẳng còn vẻ giận dữ, thần sắc bình thản đến mức gần như thờ ơ.

Tính tình của Hoàng hậu rất cương quyết, xưa nay chưa từng cúi đầu trước bất kỳ ai, nhưng bà cũng không phải kẻ ngốc. Hôm nay Hoàng đế đã gióng trống khua chiêng tổ chức đại thọ cho bà, nếu bà thật sự không lộ diện thì chẳng khác nào dâng tận tay phe cánh Hằng Vương cái cớ để công kích. Đến lúc đó, chút hy vọng cuối cùng của con trai bà cũng sẽ tan thành mây khói.

Giai nhân bên cạnh Hoàng đế nhiều như mây, chẳng nói đến sinh mẫu của Hằng Vương là Hiền Quý phi hay sinh mẫu của Hoài Vương là Mẫn Quý phi, ngay cả mẫu thân của Thục Vương và Tín Vương cũng đều được sủng ái hơn bà. Giữa đôi phu phụ họ giờ đây chỉ còn chút tình nghĩa của Chương nhi năm nào vương vấn mà thôi.

Chương nhi tuy đã mất, nhưng vào ngày đứa trẻ ấy chào đời, vùng đất Trung Châu vốn hạn hán lâu ngày bỗng đón cơn mưa ngọt từ trời ban xuống, binh đao ở vùng Tây Bắc cũng theo đó mà lùi xa. Kể từ sau đó, Đại Tấn quả thực thái bình thịnh trị, quốc lực tăng tiến từng ngày. Điềm lành năm ấy, cho đến tận bây giờ bá quan văn võ ai nấy đều phải công nhận.

Hoàng đế tin chắc rằng đứa con trai này có liên quan mật thiết đến vận mệnh của Đại Tấn, chính vì thế Người đã cho thắp đèn trường minh trong khu lăng mộ của đứa trẻ, ngày ngày cung phụng không dám để tắt dù chỉ một khắc.

Nghĩ đến con trai lớn đã qua đời, con trai út thì bị giam lỏng, một mình bà cô độc ngồi giữa điện này, nhìn bọn họ ca múa mừng cảnh thái bình, trong lòng khó tránh khỏi bi phẫn, nơi đáy mắt không kìm được mà rưng rưng lệ hoa.

Ở phía dưới, Hiền Quý phi thấy cảnh đó, giống như cuối cùng cũng chộp được nhược điểm của bà, bèn nóng lòng nâng chén hướng về phía bà hành lễ rồi nói: “Hôm nay là đại thọ của tỷ tỷ, sao tỷ lại rơi lệ? Làm như vậy chẳng phải là phụ tấm lòng yêu thương sâu nặng của Thánh thượng hay sao?”

Hoàng đế nghe vậy bèn đặt chén rượu trong tay xuống, đưa mắt mắt mang theo vẻ lạnh lùng nhìn về phía Hoàng hậu.

Hoàng hậu thấy vậy thì hừ lạnh một tiếng, dùng đôi mắt lạnh lùng liếc nhìn Hiền Quý phi ở phía dưới: “Hiền phi, chính vì tấm lòng yêu thương sâu nặng của Bệ hạ khiến bản cung cảm kích khôn nguôi, nên mới vui mừng mà rơi lệ. Phải rồi, Hiền phi vẫn nên theo đúng quy củ mà gọi ta là Nương nương thì hơn, tiếng “tỷ tỷ” này, ta nghe không được thoải mái cho lắm.”

Sắc mặt của Hiền Quý phi bỗng chốc cứng đờ, bà ta tỏ vẻ tội nghiệp nhìn về phía Hoàng đế.

Hoàng đế nhíu chặt đôi mày, nhất thời cũng không nói năng gì.

Ở phía dưới, Hằng Vương thấy Hoàng hậu năm lần bảy lượt gọi ‘Hiền phi’, trong lòng có chút nóng giận, bèn đứng dậy hành lễ với bà: “Hoàng hậu nương nương tại thượng, nhi thần có một điều không rõ. Mẫu phi của nhi thần đã được phụ hoàng sắc phong làm Hiền Quý phi, cớ sao nương nương lại cứ luôn miệng gọi là Hiền phi?”

Hoàng hậu chỉ chờ có bấy nhiêu thôi, bà liền mỉa mai: “Chà, câu này ngươi chẳng thà đi hỏi ngoại tổ phụ của ngươi là Nội các Thủ phụ Vương đại nhân xem? Luật pháp Đại Tấn ta có ghi rõ, Bệ hạ sắc phong tần phi cần phải có phượng ấn của Hoàng hậu đóng dấu vào, vậy tờ thánh chỉ sắc phong của mẫu thân ngươi, bản cung đã chuẩn y chưa?”

Hằng Vương bị một phen thẹn quá hóa giận, lập tức gắt lên: “Đây là phụ hoàng đích thân sắc phong, không chỉ có mẫu phi của nhi thần, mà ngay cả sinh mẫu của Hoài Vương là Mẫn Quý phi cũng nằm trong danh sách sắc phong đó. Chẳng lẽ nương nương muốn kháng chỉ, hay là nương nương cảm thấy mọi việc trong hậu cung này phụ hoàng đều không thể làm chủ? Tất thảy đều phải dựa vào sự tùy hứng của nương nương mà quyết định sao?”

Hoàng hậu thu ống tay áo lại, chẳng thèm liếc nhìn hắn lấy một cái, bà không nhanh không chậm khiển trách: “Ngay trước mặt sứ thần các nước mà dám khiêu khích và chia rẽ mối quan hệ giữa Đế – Hậu. Hằng Vương à, tầm nhìn của ngươi cũng chỉ đến thế thôi sao?”

Hoàng hậu rốt cuộc vẫn là Hoàng hậu, chỉ một câu nói đã nắm thóp được điểm yếu của Hằng Vương. Hắn tức khắc cứng họng, vội vã quỳ xuống trước mặt Hoàng đế: “Nhi thần không dám.”

Thất công chúa mấy lần định lên tiếng giúp sức nhưng đều không tìm được cơ hội. Một mặt, nàng ấy cảm thấy an lòng vì mẫu hậu cuối cùng cũng chịu phấn chấn tinh thần để đối phó với những tranh đấu trong triều; mặt khác, nàng ấy lại cảm thán tính cách của mẫu hậu vẫn chẳng hề thay đổi, gặp ai cũng sẵn sàng đối đầu trực diện, ngay cả phụ hoàng đôi khi cũng chẳng thể làm gì được bà.

Hoàng đế nhìn Hằng Vương với ánh mắt cảnh cáo, cũng không truy cứu sự gay gắt của Hoàng hậu mà chỉ phất tay ra lệnh: “Tấu nhạc.”

Chốc lát sau, mười mấy vũ nữ nối đuôi nhau tiến vào, nhạc sư của Chung Cổ Ty cũng bắt đầu tấu lên nhạc khúc yến tiệc. Trăm quan đồng thanh hát vang lời chúc tụng, không khí trong tiệc một lần nữa được đẩy lên cao trào. Trong khi những người khác đều đang đắm chìm trong bầu không khí hân hoan, thì chỉ riêng Hằng Vương là trong lòng bực bội không vui. Câu nói vừa rồi của Hoàng hậu đã khiến hắn bị mất mặt trước mặt bá quan, hắn nhất định phải tìm cách gỡ gạc lại mới được.

Đừng thấy Hoàng hậu ba năm không lộ diện mà lầm, hễ bà đã xuất hiện là mẫu phi của hắn lại bị chèn ép đến mức không ngóc đầu lên nổi. Hoàng hậu cứ giữ cái ‘bản sắc thật sự’ này mãi thì còn đỡ, chỉ sợ bà đổi tính mà quay sang tranh sủng, đến lúc đó, liệu phụ hoàng của hắn có trụ vững được hay không còn là chuyện khó nói.

Hắn không làm gì được Hoàng hậu, nhà họ Lý đã xảy ra chuyện lớn như vậy mà Phụ hoàng vẫn chưa từng phế hậu, đủ thấy tình nghĩa sâu nặng đến nhường nào. Tuy nhiên, cái ‘vảy ngược’ của Hoàng hậu là Thất hoàng tử thì lại có thể nắm thóp được. Hắn đúng lúc liếc mắt ra hiệu với một vị quan viên phía dưới, vị quan đó hiểu ý, tìm được một khoảng trống liền đứng dậy rồi nâng chén bái kiến:

“Bệ hạ, Công chúa Bắc Tề đến kinh thành cũng đã được một thời gian, không rõ Bệ hạ định chọn vị Hoàng tử nào để liên hôn, để Lễ bộ chúng thần còn sớm chuẩn bị.” Người đứng ra chính là Lễ bộ Hữu Thị lang, vốn là môn sinh của Nội các Thủ phụ Vương Hiển, một thành viên kiên định của phe Hằng Vương.

Hoàng đế cũng đang phiền lòng vì việc này, ông ấy nhìn về phía Công chúa Bắc Tề đang ngồi trong tiệc: “Nhu Nhã, mấy ngày nay trẫm đã phái mấy vị hoàng tử đi cùng ngươi đi săn, ngươi đã có ai vừa ý chưa?”

Ý của Hoàng đế là muốn Công chúa Bắc Tề chọn một trong ba người: Hán Vương, Tín Vương hoặc Thục Vương.

Công chúa Bắc Tề đều đã gặp qua mấy vị này, nàng ta chê dung mạo của bọn họ không đủ anh tuấn nên chẳng hề ưng ý. Tuy nhiên, lời này không thể nói thẳng ra được, nàng ta bèn đáp: “Các vị hoàng tử của Bệ hạ ai nấy đều là bậc nhân trung long phụng, Nhu Nhã người nào cũng thích, thật sự không biết nên chọn ai mới phải?”

Hằng vương ngồi bên cạnh thì thì lòng dạ sáng như gương, hắn bật cười nói: “Nhu Nhã công chúa, bản vương đã sớm nghe nói nàng từng đi khắp nơi ở Bắc Tề để tìm kiếm mỹ nam, muốn chọn làm phò mã mà không được. Lại nghe Đại Tấn ta núi sông linh tú, nhân tài đông đúc, nên nàng mới chủ động đến hòa thân. Nói thật cho nàng hay, Đại Tấn quả thực rất nhiều mỹ nam, mà trong số các hoàng tử…”

Nói đến đây, Hằng vương xoay người về phía Hoàng đế rồi cung kính chắp tay: “Phụ hoàng, nếu luận về dung mạo trong các hoàng đệ, Thất đệ chính là người tuấn tú khôi ngô nhất, ắt hẳn sẽ nhận được sự ưu ái từ phía công chúa Bắc Tề!”

Thất công chúa nghe đến đó thì lồng ngực phập phồng vì giận dữ, nàng ấy không kìm được mà quát lên đầy phẫn nộ: “Vô lễ! Thất đệ là hoàng tử dòng chính, thân phận tôn quý bậc nhất, sao có thể mang đi liên hôn với ngoại bang? Ngươi thừa hiểu một khi hoàng tử kết thân với nước khác thì cũng đồng nghĩa với việc vĩnh viễn mất đi tư cách kế vị. Hằng vương, ngươi cố tình đẩy Thất đệ vào đường cùng, rốt cuộc là có dụng ý gì? Phụ hoàng đang độ thanh xuân thịnh trị, chẳng lẽ ngươi đã bắt đầu mơ tưởng đến ngôi vị Thái tử rồi sao?”

Trước lời cáo buộc đanh thép ấy, Hằng vương vẫn không hề biến sắc, hắn chỉ thản nhiên xòe tay rồi buông một nụ cười nhạt đầy vẻ mỉa mai: “Thất muội, ta đây chỉ là nói sự thật. Nếu không chọn Thất đệ, thì muội bảo công chúa Bắc Tề phải chọn ai trong số chúng ta đây? Hơn nữa, Thất đệ hiện nay vẫn đang là kẻ mang tội trên mình, nếu có thể vì Phụ hoàng mà phân ưu, vì quốc gia mà hòa thân, thì đó chẳng phải là phúc phần và cơ hội để đệ ấy chuộc tội hay sao?”

“Ngươi…!”

“Cãi đủ chưa!” Một tiếng quát lạnh nhạt vang lên. Hoàng đế nâng mí mắt, ánh nhìn uy nghiêm quét qua khiến cả gian điện đang sục sôi bỗng chốc rơi vào tĩnh lặng.

Hai người lập tức im bặt.

Hoàng hậu cố nén cơn giận đang âm ỉ trong lòng, bà nhìn thẳng vào Hoàng đế rồi hỏi: “Bệ hạ… người thật sự muốn cân nhắc đến Dục nhi sao?”

Hoàng đế không đưa ra một lời khẳng định hay phủ quyết nào. Ông ấy chỉ thong thả gõ nhẹ ngón tay vào thành chén trà, tạo ra những tiếng cộc cộc khô khốc giữa đại điện tĩnh lặng, giọng nói nhạt nhẽo như nước ốc: “Trẫm sẽ suy nghĩ thêm.”

Câu trả lời nước đôi ấy khiến Hoàng hậu không dám đánh cược vào vận mệnh của con trai mình. Nhân lúc có mặt đầy đủ quần thần, bà lạnh lùng quét mắt nhìn xuống hàng văn võ bá quan, uy nghiêm cất tiếng: “Chư vị đại nhân, các ngươi thấy sao? Đường đường là hoàng tử dòng chính do bản cung sinh ra, liệu có thể đem đi kết thân với Bắc Tề hay không?”

Các vị đại thần đưa mắt nhìn nhau, ai nấy đều lộ vẻ khó xử, mồ hôi lạnh thấm đẫm lưng áo. Nếu là trước kia, khi Thất hoàng tử còn đang ở thời kỳ đỉnh cao, thì dẫu có nằm mơ cũng không ai dám nghĩ đến việc bắt hắn đi hòa thân. Nhưng nay tình thế đã xoay vần, hắn đang là kẻ mang tội bị giam giữ, việc dùng một quân cờ đang thất thế để đổi lấy hòa bình biên giới dường như lại là một lựa chọn đầy cám dỗ đối với những kẻ theo chủ nghĩa thực dụng.

Giữa lúc bầu không khí đang căng như dây đàn, bỗng có một người dứt khoát đứng dậy. Tiếng vạt áo va chạm vang lên mạnh mẽ, người đó quả quyết tuyên bố: “Tuyệt đối không thể!”

Sào Chính Quần ngẩng cao đầu, giọng nói đanh thép vang vọng khắp đại điện: “Bệ hạ! Thất hoàng tử mang thân phận dòng chính tôn quý, tuyệt đối không thể mang đi liên hôn với công chúa ngoại quốc. Không chỉ vậy, thần mạn phép khẩn cầu Bệ hạ hãy sớm tuyển chọn một tiểu thư danh môn trong kinh thành để ban hôn, chính vị phi tử cho Điện hạ.”

Nói thật lòng, Sào Chính Quần cũng chẳng muốn vào thời điểm nhạy cảm này mà đề cập chuyện chọn phi cho Thất hoàng tử. Giữa lúc vụ án nhà họ Lý còn chưa ngã ngũ, có gia đình quan lại nào lại cam tâm tình nguyện gả con gái vào “vũng nước đục” này? Thế nhưng, đây là hạ sách duy nhất để đánh lạc hướng sự chú ý của Hoàng đế, cứu Thất hoàng tử khỏi kiếp hòa thân xứ người.

Nghe những lời ấy, Tạ Thủ phụ đứng bên cạnh liền dấy lên muôn vàn toan tính. Ông vẫn còn một ái nữ chưa gả là Tạ Như Vận. Hiện nay, cả kinh thành đều tránh Thất hoàng tử như tránh tà, nếu Hoàng hậu thấy Tạ Như Vận không thể gả cho Lý Lận Chiêu mà nảy ra ý định ban nàng cho Thất hoàng tử, thì Tạ gia thật sự sẽ bị kéo xuống vũng bùn không lối thoát.

Nghĩ đến đó, Tạ Thủ phụ đưa tay kéo nhẹ ống tay áo bên phải của Bùi Việt, ra hiệu nhắc nhở chàng hãy mau chóng mở miệng để chấm dứt cuộc tranh luận đầy rủi ro này.

Thế nhưng, Bùi Việt vẫn đứng đó và bất động như một pho tượng. Đối với những cuộc tranh chấp phe phái công khai như thế này, chàng xưa nay chưa từng hé môi, cứ để mặc cho những luồng sóng dữ dội xô đẩy xung quanh mình.

Tạ Thủ phụ lâm vào thế bất đắc dĩ, đành kín đáo ra hiệu cho Vương Hiển đang đứng phía trước. Vương Hiển tuy là ngoại tổ phụ của Hằng vương, nhưng xưa nay ông vẫn nổi tiếng là người giữ thái độ công tâm, không ít lần từng lên tiếng bênh vực Thất hoàng tử. Nếu không vì muốn giữ đại cục, lần này ông cũng chẳng mất công khuyên nhủ Hoàng đế tổ chức đại lễ mừng thọ cho Hoàng hậu để xoa dịu mối quan hệ đang căng thẳng giữa hai người.

Vương Hiển dĩ nhiên không tán thành việc Thất hoàng tử đi hòa thân, nhưng một khi đã phản đối, ông buộc phải đưa ra được một phương án khả thi khác để thuyết phục Hoàng đế. Trong lúc ông còn đang do dự chưa biết mở lời thế nào, cả gian điện bỗng chốc rơi vào sự tĩnh lặng đến nghẹt thở.

Công chúa Bắc Tề cũng thầm cảm thấy bất ổn. Nàng ta vốn không phải hạng nữ nhi nông cạn, nghe qua vài lời đã hiểu ngay việc chọn phò mã lần này đang bị cuốn vào vòng xoáy đảng tranh tàn khốc của Đại Tấn. Nàng ta không muốn bản thân trở thành quân cờ cho kẻ khác lợi dụng, bèn nhanh chóng tìm cho mình một đường lui. Đôi mắt sắc sảo của nàng đảo quanh điện rồng, rồi bỗng chốc dừng lại trên một bóng hình đơn độc.

“Bệ hạ, Thất hoàng tử thì ta chưa được diện kiến nên không dám bàn luận. Ta thấy ngay trong điện này có một người phong tư tuyệt thế, cốt cách như ngọc phỉ thúy hiện thế, chi bằng chọn người đó đi…!”

>>

30 thoughts on “Hầu Môn – Chương 33 – 34

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *