Lạc Hoa Xuân – 3 – 4

Chương 3.

Đôi mày của chàng khẽ nhíu lại trong thoáng chốc, nhưng cũng không hỏi lý do mà đứng dậy, dọc theo hành lang đi về phía đông sương phòng.

Thư phòng của Lục Thừa Tự là một ngôi nhà tứ hợp viện vô cùng rộng rãi. Nơi này vốn là thư phòng của lão thái gia khi còn sống. Vì lão thái gia trong đám con cháu yêu thương nhất là Lục Thừa Tự, nên trước khi qua đời đã để lại lời dặn: “Đứa trẻ này chính là kỳ lân nhi của Lục gia ta, căn thư phòng rộng rãi khang trang nhất này, hãy để lại cho nó.”

Chính viện có không gian cực kỳ rộng lớn, bên trong lưu trữ hàng vạn cuốn thi thư. Hai dãy sương phòng đông tây mỗi bên có năm gian; tây sương phòng dùng để tiếp khách, còn đông sương phòng nhờ có ánh sáng dồi dào lại thoáng đãng, nên được Lục Thừa Tự dùng làm nơi ở cho con trai.

Vừa bước vào phòng, quả nhiên chàng thấy Phái Nhi đang được nhũ mẫu dắt tay, dáng vẻ thằng bé vừa ngái ngủ vừa đầy vẻ tủi thân.

Lục Thừa Tự xót con vô cùng, chàng lập tức tiến lên ngồi xuống sập, rồi kéo con trai vào lòng hỏi han: “Phái Nhi, muộn thế này rồi, sao con không ngủ với mẫu thân?”

Phái Nhi ban chiều ngủ hơi lâu nên buổi tối thức muộn, lúc này đang bắt đầu gà gật thì lại bị Hoa Xuân gửi sang thư phòng.

Thằng bé chu đôi môi nhỏ lên: “Mẹ nói trong phòng vẫn chưa dọn dẹp xong, bảo Phái Nhi sang ngủ với cha.”

Lục Thừa Tự gật đầu tỏ ý đã biết.

Lời Hoa Xuân dùng để dỗ trẻ con, chẳng thể tin hoàn toàn được.

Có lẽ lấy cớ đó làm lý do, nhưng thực chất là đang dở chút tính khí đây mà. Xem ra chuyện của Quận chúa dạo trước nàng vẫn còn để tâm trong lòng.

Lục Thừa Tự đích thân dỗ Phái Nhi vào giấc, dặn dò nhũ mẫu trông nom cẩn thận rồi mới rời đi.

Bước qua ngưỡng cửa, một vầng trăng sáng treo lơ lửng giữa không trung, ánh trăng tuôn tràn như rắc lớp cát bạc xuống mặt đất, càng tôn thêm vẻ hiên ngang, bề thế của sân viện. Chợt nhớ lại Hạ Sảng Trai có hơi tù túng và tối tăm, chàng tự nhủ khi nào rảnh sẽ qua chỗ phòng tổng quản một chuyến, xem có sân viện nào khác thì đổi sang một căn khác.

Hết nhận nhầm người, lại đến việc không cho chàng ở lại ngủ.

Có thể thấy, trong lòng phu nhân dường như đang dồn nén cơn giận…!

Đang mải suy tính như thế, thì từ phía hành lang xuyên đường có một người vội vã vòng qua, đó là một vị quản sự ở phòng trực môn, chuyên lo việc tiếp đón khách khứa và các mối quan hệ xã giao của Lục Thừa Tự.

Thấy người này có dáng vẻ vội vàng, Lục Thừa Tự biết ngay là có chuyện, chàng thong thả bước đến trước cửa chính phòng chờ người kia tiến lại gần.

Vị quản sự đi thẳng tới, dâng lên một phong văn thư: “Thất gia, người của Ti Lễ giám vừa tới, gửi lại bức thư này ạ.”

Sắc mặt của Lục Thừa Tự hơi trầm xuống, có chút bất ngờ nhưng cũng như đã liệu trước. Chàng nhận lấy phong thư, rồi phẩy tay ra hiệu cho tên quản sự lui xuống, sau đó mới bước vào trong phòng.

Phong bì trông không hề bình thường, đó là loại phong thư màu cam vàng chuyên dụng của Ti Lễ giám, do cung đình đặc chế. Thế nhưng trên bì thư không đề một chữ nào, chẳng cần mở ra cũng đủ biết bên trong viết gì.

Ti Lễ giám đang thúc ép chàng phải phóng thích các con thuyền.

Lục Thừa Tự không vội mở thư ngay mà đưa tay day day tâm mày, bất chợt nghĩ về quãng thời gian năm năm chìm nổi trên chốn quan trường.

Năm năm trước, Lục Thừa Tự đỗ đạt Trạng nguyên, theo lệ được bổ nhiệm làm Hàn lâm viện Biên tu, hầu cận bên cạnh hoàng đế và chịu trách nhiệm soạn thảo chiếu thư. Nghe qua thì có vẻ tiền đồ vô lượng, nhưng thực chất mọi chuyện không đơn giản như thế. Trạng nguyên thì cũng chỉ là Trạng nguyên, vẻ vang cũng chỉ kéo dài được nửa năm. Sau nửa năm ấy, lại có những Tiến sĩ cùng khóa được cải nhiệm làm Thứ cát sĩ chen chân vào Hàn lâm viện, ai nấy đều nhìn chằm chằm vào mấy vị trí quan lại ít ỏi đó. Lục gia tuy có nền tảng trong triều, nhưng kể từ khi tổ phụ qua đời, nhân mạch có thể lợi dụng đã giảm đi đáng kể. Nếu chàng không tìm cách để vươn lên, e rằng cũng sẽ sớm chìm nghỉm giữa đám đông mà thôi.

Vừa vặn lúc ấy, cướp biển ở vùng ven biển phía Đông Nam nổi loạn, triều đình ra lệnh cấm biển. Một số ngư dân bất mãn đã nổi dậy, phóng hỏa đốt trụi mấy khu hoàng trang. Hoàng thượng nổi trận lôi đình, Lục Thừa Tự nhìn chuẩn thời cơ, chủ động xin đi giết giặc với thân phận Tuần án lục phẩm để tới Giang Nam. Vụ án vốn không quá phức tạp, chẳng bao lâu sau chàng đã dẹp yên ổn thỏa. Hoàng đế rất đỗi hài lòng, phong chàng làm Huyện lệnh Lâm An, có ý định bồi dưỡng chàng thành nhân tài cốt cán.

Tiến sĩ cứ hết đợt này đến đợt khác, nếu chàng không tạo ra chút chiến tích thực tế, thì triều đình sao có thể nhớ đến chàng đây?

Lâm An giáp biển, trăm họ nơi đây vốn trồng dâu, cấy lúa, phần lớn lấy nghề chài lưới làm sinh kế. Khi triều đình ban lệnh cấm biển, biết bao ngư dân rơi vào cảnh khốn cùng, chàng liền dốc sức đẩy mạnh việc canh tác cây dâu, sản xuất tơ sống rồi bán cho thương nhân; thương nhân lại dệt tơ thành tơ lụa để xuất khẩu sang Nam Dương. Đích thân chàng đứng ra kết nối, giám sát việc mua bán, chỉ trong vòng hai năm, tô thuế của Lâm An đã tăng hơn gấp ba lần. Nhờ vào chính tích lẫy lừng này, chàng được điều nhiệm đến Án sát ty ở Giang Chiết, bắt đầu con đường trừng trị tham quan, dẹp loạn hào cường.

Chàng khi ấy tuổi trẻ tài cao, thủ đoạn lại tàn khốc, liên tiếp triệt phá nhiều vụ đại án khiến danh tiếng vang dội khắp triều đình lẫn dân gian. Kể từ đó, gần như cứ hễ nơi nào triều đình gặp khó, người ta lại điều chàng tới đó để giải quyết.

Nửa năm trước, chàng vừa từ Bố chính sứ ty Hồ Quảng điều đi Túc Châu ở Tây Bắc, mới thanh tra xong một vụ án hào cường chiếm dụng ruộng đất, thì triều đình hạ chiếu triệu chàng về kinh đô, bổ nhiệm làm Hộ bộ Thị lang. Hơn nữa, đó còn là chức Hộ bộ Tả thị lang, người trực tiếp nắm giữ việc thu chi của quốc khố, quả thực là vị chức cao quyền trọng.

Đương nhiên là chàng có vui mừng, nhưng sau niềm vui ấy, Lục Thừa Tự nhanh chóng bình tĩnh lại.

Trên đời chẳng bao giờ có miếng bánh ngọt nào tự nhiên rơi xuống từ trên trời.

Chỉ cần nghe ngóng một chút là biết ngay “vùng nước” này sâu đến mức nào.

Vị Thánh thượng đương triều vốn là một phiên vương, chỉ vì Tiên đế không có con nối dõi, nên lúc lâm chung mới nhận làm con nuôi để hắn kế thừa đại thống. Thế nhưng, người thừa kế mà Thái hậu nhắm tới vốn không phải là hắn, vì vậy bà ta luôn nắm chặt quốc tỉ trong tay, một lần nắm đã suốt mười lăm năm trời.

Thái hậu một tay nắm giữ quốc tỉ cùng Ti Lễ giám, thao túng đại quyền phê chuẩn tấu chương; tay kia nắm giữ Nội khố, thâu tóm mọi nguồn tài chính. Bà ta dùng cái bên trong để khống chế cái bên ngoài, uy hiếp khắp cả triều đình.

Trước đây, thuế khóa thu được từ khắp bốn phương, ngoại trừ một phần tiến cống vào nội khố để phục vụ chi tiêu của hoàng thất, phần lớn còn lại đều được nộp vào quốc khố do Bộ Hộ thống nhất quản lý. Thế nhưng trong mười lăm năm qua, Thái hậu đã lợi dụng Ti Lễ giám, để vươn vòi bạch tuộc đến hai kinh và mười ba tỉnh. Các loại thuế muối sắt, thuế trà cùng ngân sách của nhiều tỉnh thành, đều bị lấy danh nghĩa khác nhau để nộp thẳng vào nội khố. Điều này dẫn đến tình trạng, quốc khố trống rỗng ngày càng trầm trọng. Cho đến tận bây giờ, mỗi khi có khoản chi tiêu lớn, triều đình đều phải xin Thái hậu mở nội khố, để cứu giúp thiên hạ, khiến cho cả Nội các lẫn Lục bộ Cửu khanh đều bị Thái hậu kìm kẹp, chế ngự.

Chính vì thế, vị Hộ bộ Tả thị lang, người vốn được mệnh danh là “kẻ giữ chìa khóa quốc khố”, lâm vào tình cảnh vô cùng bẽ bàng. Phía trước thì chẳng thu được bạc thuế, phía sau lại không đủ khả năng chi trả cho các nha môn.

Nghe nói hiện nay quân phí nơi biên ải đang thiếu hụt trầm trọng, ngay cả bổng lộc của quan lại các cấp trong triều ngoài nội cũng bị nợ không ít. Vị Hộ bộ Tả thị lang tiền nhiệm từng bị trăm quan vây kín cửa đòi lương, cuối cùng vì quá uất ức mà phải tự sát.

Khi chức Hộ bộ Tả thị lang còn trống, những kẻ cấp dưới có tâm tư muốn tranh giành thì lại chẳng đủ năng lực, còn những người đủ tài cán và bản lĩnh thì lại không muốn dây dưa vào. Nếu không phải vì lẽ đó, miếng “bánh vẽ” vừa to vừa tròn này làm sao có thể rơi trúng đầu chàng cho được?

Hoàng đế và vị Ân sư Thủ phụ, đã thăng cho chàng liền một mạch hai cấp để điều chuyển vào vị trí này, mục đích rốt cuộc là gì đây?

Mục đích là để chàng tranh quyền với đảng của Thái hậu, gia tăng nguồn thu cho quốc khố.

Kẻ mới đến như chàng, nếu chàng không nhảy vào biển lửa thì ai nhảy đây?

Đó chính là lý do vì sao chàng dám giữ lại thuyền bè của Cục Dệt may, chặn thu số bạc thuế này.

Chàng mới tiếp nhận chức Hộ bộ Thị lang được tròn bốn tháng. Vị cấp trên trực tiếp là Hộ bộ Thượng thư lại chính là tâm phúc của Thái hậu; còn các cấp nha môn bên dưới, tuy trên danh nghĩa thuộc quyền quản lý của Bộ Hộ, nhưng thực tế phần lớn đều hành sự theo sai bảo của Ti Lễ giám. Chàng là tân quan nhậm chức, cần thể hiện bản lĩnh thông qua “ba ngọn lửa” đầu tiên; nếu trận đầu này mà thất bại, cái ghế Hộ bộ Tả thị lang của chàng chắc chắn sẽ không ngồi vững được nữa.

Lục Thừa Tự chàng vốn tự phụ vào tài học của mình, mục tiêu nhất định phải là lập công dâng hiến, vào Nội các làm Tể tướng, để lại danh tiếng muôn đời trong sử sách!

Chút tính khí trẻ con kia của phu nhân, đối với chàng mà nói thì có đáng là bao?

Lục Thừa Tự nhanh chóng quẳng chuyện của Hoa Xuân ra sau đầu, chàng xé niêm phong bức thư tay của Ti Lễ giám, rồi tiếp tục xử lý công vụ.

Một đêm ngủ ngon giấc.

Có lẽ đã lâu lắm rồi mới được một giấc ngủ yên lòng đến thế, khi Hoa Xuân tỉnh dậy, nàng cứ nhìn trân trân lên đỉnh màn thêu họa tiết “Bách tử hí liên”, thẫn thờ mất một lúc lâu.

Nàng đảo mắt nhìn quanh một vòng, căn phòng tuy lạ lẫm và chật hẹp, nhưng lại mang đến một cảm giác thanh tịnh khó tả.

Sẽ không còn ai đứng đợi sẵn ngoài viện từ sớm, để thúc giục nàng xin chỉ thị, cũng chẳng còn ai chốc chốc lại đến báo với nàng rằng: “Thưa phu nhân, Thái thái lại vừa ho thêm mấy tiếng rồi.”

Thậm chí ngay cả con trai cũng chẳng thể làm phiền đến nàng.

Năm năm rồi, kể từ ngày tân hôn cho đến tận hôm qua, nàng chưa từng có được một giấc ngủ ngon. Cứ phải thức khuya dậy sớm, thực hiện đủ lễ nghi thỉnh an sáng tối, lòng chẳng lúc nào thôi lo nghĩ, với biết bao việc nhà phát sinh tầng tầng lớp lớp.

Giờ đây được trút bỏ mọi gánh nặng, cảm giác này thực sự quá đỗi tuyệt vời.

Đại nha hoàn Tùng Trúc nghe thấy động tĩnh, liền dẫn theo tiểu nha hoàn bưng chậu vào hầu hạ.

“Thiếu phu nhân, cuối cùng người cũng tỉnh rồi. Tuệ ma ma đã qua đây xem mấy lần, giờ đang ra viện trước thăm tiểu thiếu gia rồi ạ.”

Hoa Xuân rửa mặt súc miệng, chỉnh trang quần áo chỉnh tề rồi bảo nha hoàn dọn bữa sáng, nàng ngồi trên giường lò rồi gọi Tùng Trúc cùng dùng bữa với mình.

“Tùng Đào đâu rồi? Sao không thấy bóng dáng nha đầu đó đâu cả?”

Hoa Xuân có hai đại nha hoàn tâm phúc, một người tên là Tùng Trúc, ngày thường lo liệu việc ăn ở sinh hoạt, vốn là nha hoàn mà nàng mang theo từ Cố gia; người kia tên là Tùng Đào, vốn là con gái nhà nghèo, bán mình chôn cha thì được Hoa Xuân cứu giúp. Sau này thấy nha đầu đó có sức mạnh vô song, lại có chút quyền cước võ nghệ, nên Hoa Xuân đã giữ cô ấy lại bên mình.

Tùng Đào không thân thích không nơi nương tựa, một lòng một dạ phụng sự Hoa Xuân làm chủ.

Đừng thấy Tùng Đào mới chỉ đi theo nàng được hai năm, nhưng thực tế là hai chủ tớ Hoa Xuân và Tùng Đào lại vô cùng hợp tính nhau.

Tùng Trúc bê một chiếc ghế đẩu nhỏ ngồi xuống phía dưới, đáp lời: “Cô ấy chẳng chịu ngồi yên đâu ạ, chắc lại chạy đi dạo quanh khắp nơi rồi.”

Hoa Xuân lắc đầu, chỉ mỉm cười mà không nói gì.

Chẳng bao lâu sau Tuệ ma ma đã trở về. Bà vén rèm bước vào rồi hớn hở nói: “Thiếu phu nhân, tiểu thiếu gia nhà ta thật sự rất ngoan, sáng sớm đã theo tùy tùng đến học đường đèn sách rồi. Lão nô đã chuẩn bị đồ ăn sáng và tự tay tiễn cậu ấy ra tận cửa.”

Phép tắc nhà họ Lục quy định: tiểu sai là nam giới đã trưởng thành không được phép vào hậu viện, nha hoàn chưa gả chồng cũng không được ra khỏi Thùy Hoa môn. Ngược lại, những quản sự ma ma hoặc các bà tử trung niên thì có thể tự do đi lại trong phủ.

Hoa Xuân mỉm cười hỏi: “Thằng bé không khóc chứ?”

Tuệ ma ma lắc đầu: “Dạ không, tiểu thiếu chỉ bảo là, bữa trưa muốn được ăn món mì vân thốn chính tay thiếu phu nhân làm thôi ạ.”

Tùng Trúc lúc này mới tinh nghịch xen vào: “Rõ ràng là em nấu còn ngon hơn thiếu phu nhân, thế mà tiểu thiếu gia cứ nhất quyết đòi ăn đồ của thiếu phu nhân làm, hại người vừa lo xong việc nhà lại còn phải xuống bếp.”

Tuệ ma ma giơ tay véo cô ấy một cái: “Ngươi giỏi quá nhỉ, còn dám so kè với thiếu phu nhân cơ đấy. Đã thế thì bữa trưa nay cứ để ngươi làm, xem tiểu thiếu gia có nếm ra được hay không?”

Tùng Trúc đứng dậy, gương mặt nhăn nhó khổ sở: “Nhưng mà ma ma ơi, chúng ta vừa mới vào kinh, phủ đệ này đất khách quê người, trong viện lại chẳng có bếp núc gì, con biết đi đâu làm vân thốn cho tiểu thiếu gia bây giờ?”

Tuệ ma ma nghe vậy thì im lặng. Thấy Hoa Xuân cũng đã dùng bữa gần xong, bà xua tay ra hiệu cho Tùng Trúc thu dọn mang ra ngoài, rồi ngồi xuống cạnh Hoa Xuân, nắm lấy hai cổ tay nàng mà nói: “Cô nương ngoan, con nghe ma ma nói này, chúng ta là phận con cháu, đã vào trong phủ này rồi thì lẽ ra nên đi thỉnh an lão thái thái và các vị thái thái, để còn tính chuyện sống những ngày tháng sau này cho thật vững vàng, yên ổn chứ.”

Hoa Xuân im lặng, nàng chỉ lặng lẽ nhìn bà.

Ánh nắng mùa thu vượt qua khung cửa sổ, rải xuống căn phòng một không gian rạng rỡ, sáng sủa.

Dưới ánh sáng phản chiếu, gương mặt của Tuệ ma ma trông giống hệt như một quả bưởi khô héo. Gương mặt ấy đã từng rạng rỡ biết bao, vậy mà kể từ khi theo nàng đến Ích Châu, bà đã phải chịu đựng gian khổ cho đến khi những nếp nhăn hằn sâu đầy mặt.

Hoa Xuân nắm ngược lại mu bàn tay thô ráp và gầy guộc của bà, nàng nũng nịu nói: “Nhưng mà ma ma ơi, con không muốn phải hầu hạ người khác nữa đâu…”

Chỉ một câu nói ấy thôi, đã khơi dậy bao giọt nước mắt và nỗi xót xa, kìm nén suốt những năm qua của Tuệ ma ma. Bà ôm chặt lấy nàng vào lòng mà khóc nức nở: “Cô nương của tôi ơi! Nếu năm đó ở ngay Kim Lăng mà chọn lấy một tấm chồng môn đăng hộ đối, thì với bản lĩnh của con, ngày tháng chắc chắn sẽ trôi qua rạng rỡ huy hoàng, đâu đến nỗi phải chịu khổ bấy nhiêu năm… lại còn chẳng được phu quân đoái hoài…”

Trong mắt bà, Lục Thừa Tự rõ ràng là kẻ ghét bỏ xuất thân không tốt của cô nương nhà bà.

“Từ xưa đến nay, phận làm dâu nhà cao cửa rộng chẳng khác nào nuốt kim vào bụng, lời giáo huấn của tổ tiên để lại quả không sai chút nào…”

Hoa Xuân vốn không thích nghe người ta khóc lóc, nàng kéo bà ra khỏi lòng mình, cười nhẹ để trấn an: “Ma ma phải tin con chứ, đường là do người đi mà thành, con tự có tính toán của riêng mình!”

“Còn về chuyện trước mắt, người cứ nghe theo lời con dặn: hãy mang theo lễ vật biếu xén mà chúng ta đã chuẩn bị, đi bái phỏng các phòng. Cứ thưa với Đại thái thái rằng con đi đường xa mệt mỏi, lại bị nhiễm phong hàn, không hợp thời tiết nên đã đổ bệnh rồi.”

Tuệ ma ma hiểu ngay ý đồ của nàng, đây là mượn cớ sinh bệnh để khỏi phải đến trước mặt Lão thái thái hầu hạ đây mà.

Lần này bà không khuyên can thêm nữa, cứ theo lời dặn của Hoa Xuân mà đi làm.

Cũng thật khéo, ngay khi Tuệ ma ma vừa đi, trong viện lại trở nên náo nhiệt hẳn lên. Các quản sự ma ma từ khắp các ban bệ trong Quốc công phủ lũ lượt kéo đến thỉnh an.

Hóa ra Đại thái thái đã sai người tới truyền lời, nói rằng không rõ sở thích của Hoa Xuân ra sao, nên trong phòng vẫn chưa thêm thắt bày biện gì; hôm nay bà bảo Hoa Xuân hãy đích thân đến phòng đồ cổ, và phòng vàng bạc để chọn lấy vài món đồ trang trí vừa mắt, nhưng tất cả đều bị Tùng Trúc khước từ với lý do thiếu phu nhân đã lâm bệnh, xin hẹn dịp khác.

Ngoài ra, kho chung cũng gửi tới mười mấy sấp lụa là cùng vài hộp châu báu, coi như là quà ban đầu của phủ dành cho Hoa Xuân khi nàng chính thức vào cửa.

Còn về phía Tuệ ma ma, bà dùng một củ sơn sâm loại trung để hiếu kính Lão thái thái, thay mặt Hoa Xuân dập đầu tạ lễ ngoài cửa phòng bà, sau đó lần lượt gửi lễ vật đến cho Thái thái, thiếu phu nhân và các Cô nương của các phòng. Tuy nhiên, bà chỉ duy nhất không đặt chân tới viện của Bát thiếu phu nhân Tô Vận Hương. Tô Vận Hương thân là em dâu đích thân, nhưng lại không hề ra đón tiếp Hoa Xuân, nên Hoa Xuân cũng chẳng nể mặt nàng ta làm gì.

Các vị Thái thái là bậc bề trên, không tiện đích thân qua thăm, nên đều sai ma ma mang lễ vật đáp trả sang thưởng cho nàng.

Các chị em dâu cùng vai vế thì lại khác, sau khi nhận lễ bái phỏng, lại nghe tin Hoa Xuân lâm bệnh, theo lẽ thường tình họ nên đích thân mang theo quà cáp đến thăm hỏi.

Chính vì thế vào buổi chiều, vị đích trưởng tôn túc của đại phòng là Đại thiếu phu nhân, đã cùng Tam thiếu phu nhân và Ngũ thiếu phu nhân cùng nhau tìm đến tận cửa.

Trong ba người này, ngoại trừ Ngũ thiếu phu nhân Giang thị ra, hai người còn lại nàng đều đã từng gặp mặt.

Hoa Xuân đang nằm trên giường lò, trước ngực đắp một chiếc chăn nhỏ, nghe thấy tiếng cười nói liên hồi thì định ngồi dậy đón khách. Nào ngờ Đại thiếu phu nhân Thôi thị đã nhanh chân vén rèm bước vào trước, thấy nàng định xuống giường liền vội vàng tiến tới ấn nàng nằm lại, rồi ngồi xuống phía đối diện:

“Muội muội ngoan, chúng ta tuy mới chỉ gặp nhau một lần, nhưng ta lại thấy rất hợp duyên với muội. Ta biết rõ những năm qua một tay muội ở Ích Châu lo liệu việc trong tộc, trong lòng ta khâm phục vô cùng. Nay muội đã vào kinh rồi, từ nay về sau ta lại có thêm một người trợ thủ.”

Lời nói tuy nghe thì bùi tai, nhưng xưa nay “một rừng không thể có hai hổ”, đã có một Tô thị đang đối đầu kịch liệt với Thôi thị trong phủ, lẽ nào nàng ta lại thực lòng muốn có thêm một Hoa Xuân nữa nhúng tay vào?

Hay là, Thôi thị đang nóng lòng muốn xem nàng và Tô thị đấu đá lẫn nhau?

Hoa Xuân đương nhiên là lên tiếng từ chối: “Gió ở kinh thành này vừa khô vừa lạnh, quả thực chẳng dễ chịu như ở Ích Châu, muội thật sự không thích nghi nổi với khí hậu nơi đây.”

Câu nói này cũng có thể xem là một lời ẩn ý nhiều nghĩa, Thôi thị chỉ mỉm cười mà không nói thêm gì nữa.

Ngược lại, Ngũ thiếu phu nhân Giang thị lại tò mò hỏi: “Chà, muội chưa từng đến Ích Châu, nghe đệ muội nói thế, chẳng lẽ Ích Châu non xanh nước biếc, phong cảnh đẹp đẽ lắm sao?”

Hoa Xuân dặn ma ma bưng một chiếc ghế cao đến cho nàng ấy, nàng mỉm cười đáp: “Ích Châu từ xưa đã được mệnh danh là ‘Thiên phủ chi quốc’, vô cùng thích hợp để sinh sống.”

Giang thị bỗng dưng nảy sinh hứng thú, quay đầu kéo tay Tam thiếu phu nhân: “Thế thì năm sau về quê tế tổ, muội phải đi theo xem thử mới được.”

Tam thiếu phu nhân vốn dĩ là người không thích phô trương, ôn hòa và thanh tú, nàng ấy chỉ lắng nghe họ trò chuyện chứ không nói gì, chỉ mỉm cười.

Đại thiếu phu nhân Thôi thị vốn là người bận rộn, ngồi chơi một lát rồi cũng cáo từ ra về.

“Đệ muội, ta vẫn còn việc nhà cần lo liệu nên không thể ở lại tiếp muội được nữa. Muội cứ nghỉ ngơi cho khỏe, có chuyện gì thì cứ bảo với Tam tẩu, ta sẽ thu xếp giúp muội. Thêm nữa, mấy đứa em dâu và em chồng khác cũng đang nháo nhào đòi đến thăm, nhưng ta nghĩ muội đang bệnh, e là không tiếp nổi nên đã tạm khước từ giúp muội rồi. Đợi vài ngày nữa muội khỏe lại, trong phủ sẽ mở tiệc để tẩy trần cho muội.”

“Làm phiền tẩu tẩu quá…”

Tam thiếu phu nhân định thay Hoa Xuân tiễn nàng ta ra cửa, nhưng Thôi thị vội ngăn lại bảo không cần. Nhân lúc đó, Ngũ thiếu phu nhân Giang thị liền nhích lại ngồi đối diện với Hoa Xuân, hỏi dồn dập tới tấp mười câu về phong thổ nhân tình ở Ích Châu với đầy vẻ ngưỡng mộ. Thế nhưng cảnh tượng này đã bị Tam thiếu phu nhân đi vòng trở lại trông thấy, bèn lên tiếng can ngăn:

“Muội muội, Hoa Xuân đang bệnh, chúng ta đừng làm phiền muội ấy nữa, để muội ấy được yên tĩnh nghỉ ngơi đi.”

Giang thị tức khắc cười gượng gạo, vội che mặt mình lại: “Ôi chết đệ muội, muội sẽ không ghét ta chứ? Ta chỉ là có cái tội nói hơi nhiều một chút thôi.”

Hoa Xuân dĩ nhiên nói là không.

Tam thiếu phu nhân tìm một cái cớ để đuổi khéo Ngũ thiếu phu nhân đi, sau đó khép cửa vào phòng lại. Khi quay đầu nhìn lại Hoa Xuân, nước mắt nàng ấy bỗng chốc lăn dài: “Xuân Nhi, khổ cho muội quá!”

Nàng ấy đột ngột tiến lên phía trước, rồi ôm chặt lấy Hoa Xuân vào lòng.

Năm xưa khi Hoa Xuân đại hôn, bà mẹ chồng vẫn đang nằm trên giường bệnh, Lão thái thái lại đang căng thẳng với Tứ lão gia, nên chẳng thèm ngó ngàng đến chuyện của Tứ phòng. Nhà họ Lục đã phái một người từ kinh thành trở về để giúp đỡ lo liệu tiệc cưới, người đó chính là Tam thiếu phu nhân Đào thị.

Chính vì thế, Hoa Xuân luôn giữ lòng biết ơn đối với nàng ấy. Suốt những năm qua dù ở Ích Châu, nhưng chị em dâu vẫn thường xuyên thư từ qua lại; và chuyện Quận chúa phủ Tương Vương nhắm trúng Lục Thừa Tự cũng chính là do Đào thị báo cho Hoa Xuân biết. Đào thị cũng có thể coi là phận “trèo cao”, nên đối với Hoa Xuân lại càng thêm phần đồng bệnh tương liên.

Chẳng đợi Hoa Xuân kịp lên tiếng an ủi, Đào thị đã vội lau đi những giọt nước mắt, nắm chặt lấy tay nàng rồi nói với vẻ mặt đầy lo âu: “Xuân nhi, mấy chuyện vụn vặt trong nhà này chẳng đáng là gì, rắc rối lớn nhất của muội vẫn nằm ở Thường Dương quận chúa cơ.”

Ngay khi Đào thị vừa bước chân vào cửa, nàng đã biết Bát thiếu phu nhân Tô thị chiếm lấy viện lạc tốt nhất của Tứ phòng, chỉ để lại một cái viện nhỏ hẹp cho Hoa Xuân. Nhưng nếu Hoa Xuân không giữ nổi cuộc hôn nhân này, thì những thứ đó nào có đáng để nhắc tới.

“Thất đệ đang giữ chức Hộ bộ Tả thị lang, danh tiếng trong triều đang cực thịnh, nhưng lại lỡ chạm vào vảy ngược của Thái hậu nương nương. Mà phủ Tương Vương vốn xưa nay luôn thuộc phe Thái hậu, quận chúa lại được bà vô cùng sủng ái. Nếu Thái hậu hạ một tờ chiếu thư, nhất quyết ép Thất đệ phải cưới quận chúa để kéo đệ ấy về phe mình, thì chuyện đó không phải là không thể xảy ra đâu.”

Khổ cực chờ đợi suốt năm năm, cuối cùng cũng đợi được ngày phu quân thăng quan tiến chức, vậy mà giờ đây lại phải làm thiếp cho người ta, thử hỏi có ai mà chịu đựng cho nổi?

Chương 4.

Hiếm khi có một người vì mình mà lo liệu tính toán như vậy, Hoa Xuân cảm thấy vô cùng xúc động, nàng lại ôm lấy tỷ ấy vào lòng: “Muội còn chưa khóc, sao tẩu tẩu lại khóc trước rồi? Tẩu yên tâm đi, muội sẽ không bao giờ chịu làm thiếp cho bất cứ ai đâu.”

Đáng tiếc là những kẻ bề trên ,chỉ cần nhấc tay nhấc chân đã có thể định đoạt vận mệnh cả đời của người khác, Đào thị không hề lạc quan như vậy, nàng ấy hỏi: “Ta hỏi muội, Thất đệ rốt cuộc là có ý định gì?”

Chẳng đợi Hoa Xuân trả lời, nàng ấy đã đảo mắt nhìn quanh một lượt. Trong gian phòng phía Đông này nào có chút dấu vết đồ đạc gì của đàn ông, nàng ấy liền nảy sinh nghi hoặc: “Đêm qua Thất gia không ở lại đây sao?”

Hoa Xuân đối diện với ánh mắt lo lắng của nàng ấy, bèn giải thích một cách mập mờ: “Cái viện này của muội chật chội quá, nên muội để hai cha con họ sang ngủ bên thư phòng rồi!”

“Muội thật là!” Đào thị giận mà thương cho sự khờ khạo của nàng: “Sao muội không giữ người lại? Vào cái thời điểm mấu chốt này, chẳng phải muội càng phải giữ chặt lấy đệ ấy hay sao?”

Hoa Xuân mỉm cười, giọng điệu bình thản: “Tẩu tẩu, nếu lòng người đã ở nơi muội, thì muội cần gì phải tìm cách giữ; còn nếu lòng người đã không ở nơi muội, thì muội làm sao mà giữ cho nổi?”

Đào thị á khẩu không trả lời được.

“Quả thực là đạo lý này.”

Hai người lại chuyển sang chuyện con cái. Đào thị kết hôn đã nhiều năm nhưng vẫn chưa có mụn con nào, nên đối với bé Phối Nhi, nàng ấy vừa yêu mến lại vừa không khỏi ngưỡng mộ.

“Nghe Thường ma ma nói, từ khi Phối Nhi đến kinh thành, tẩu tẩu đã hết lòng trông nom, xin tẩu hãy nhận của Hoa Xuân một lạy này!”

“Ôi chao, tỷ muội chúng ta cần gì phải đa lễ thế…”

“Phải rồi, còn về phía Bát đệ muội, muội định tính sao đây?” Đào thị hỏi nàng.

Hoa Xuân vốn dĩ chẳng muốn nhắc tới người này: “Muội làm gì có thời gian mà bận tâm đến cô ta.”

Đào thị không nói thêm gì nữa, sau khi rời khỏi Hạ Sảng Trai, nàng ấy cố ý đi vòng qua phía nghị sự sảnh, quả nhiên thấy Bát thiếu phu nhân Tô thị và Đại thiếu phu nhân Thôi thị đang bận rộn bên trong.

Mỗi người ngồi một bàn án riêng, xung quanh có vài nô tỳ, bà vú đứng hầu hạ, trông ai nấy đều có vẻ như đang có rất nhiều sổ sách cần phải xử lý.

Trượng phu của Tam thiếu phu nhân Đào thị vốn không mấy nổi bật trong nhà họ Lục. Nàng ấy không có một người chồng bản lĩnh để làm chỗ dựa, cũng chẳng có mẫu tộc thế lực làm hậu thuẫn, nên xưa nay ở Lục gia nàng ấy vốn là người không có tiếng nói. Chính vì thế, dù cho nàng có chướng mắt trước những hành vi của Tô thị, cũng chẳng dám đối đầu trực diện. Ánh mắt nàng ấy lướt nhanh qua người Tô thị, rồi dừng lại nơi Đại thiếu thiếu phu nhân Thôi thị.

“Đại tẩu, muội vừa qua thăm Hoa Xuân, cháo do ma ma mang tới muội ấy cứ ăn vào là lại nôn ra ngay, e là trong vài ngày tới không thể ra khỏi cửa được.”

Đào thị cố ý nhắc đến chuyện này ngay trước mặt Tô thị, chẳng qua là muốn điểm mặt chỉ tên, trách cứ cô ta không tôn trọng tẩu tẩu. Còn việc nàng ấy nói với Thôi thị là để ngầm ám chỉ: Tỷ là thiếu thiếu phu nhân đương gia, nay chị em dâu trong phủ bất hòa, tỷ có định quản hay không đây?

Thôi thị vốn là người tinh khôn, “nghe tiếng đàn mà hiểu được ý nhạc”, nàng ta liền lập tức gấp sổ sách lại, lên tiếng dặn dò đám bà vú trong phòng: “Tất cả lui xuống cả đi, để mấy người chúng ta nói chuyện riêng tư một chút.”

Đám quản sự đồng thanh đáp lời rồi lui ra ngoài.

Phía bên kia, Tô thị cũng đã nhận ra điều gì đó, nhưng cô ta chẳng thèm mảy may quan tâm, vẫn tiếp tục công việc đang dang dở trên tay.

Thôi thị thấy vậy bèn xoay người đối diện với cô ta, thẳng thắn mở lời: “Bát đệ muội, muội đã gọi ta một tiếng tẩu tẩu, thì nếu muội có chỗ nào cư xử chưa được chu toàn, người làm tẩu tẩu như ta đây không thể không bảo ban đôi lời. Hoa Xuân dù sao cũng là tẩu tẩu đích thân của muội, hôm qua muội đã không đi đón, thì hôm nay cũng nên lộ diện một chút…”

Chẳng đợi Thôi thị nói hết câu, Tô thị đã “pạch” một tiếng, gập cuốn sổ sách trên tay lại, ngước mắt nhìn sang với vẻ oán hận:

“Tẩu tẩu chỉ biết trách cứ muội, chứ nào biết vị Thất tẩu kia cũng vô lý hết sức. Ngày hôm qua chẳng qua là vì muội hầu hạ tổ mẫu nên hơi muộn một chút, không kịp ra đón nàng, sau đó thấy đêm đã khuya không dám làm phiền, vốn định bụng hôm nay sẽ sang bái phỏng một chuyến. Ngờ đâu vị tẩu tẩu kia lại quá đáng như vậy, cứ thế thẳng tay tát vào mặt muội trước mắt cả phủ…”

Ai ai cũng đều có quà gặp mặt, duy chỉ mình cô ta là không có, đó chẳng phải là vỗ mặt cô ta hay sao?

Đào thị nghe xong thì vừa giận vừa cuống, quả nhiên là kẻ ác thường hay cáo trạng trước.

“Hôm qua tổ mẫu không khỏe, giờ Ngọ đã dùng thuốc, đến giờ Mùi vẫn chưa tỉnh, lúc đó muội vốn dĩ không hề ở thượng phòng… Mà Hoa Xuân chính là vào phủ lúc giờ Mùi đấy!”

Bị vạch trần tâm tư, mặt Tô thị đỏ bừng lên. Cô ta đang định cãi thêm vài câu thì đằng kia, Thôi thị đã trưng ra cái uy của dâu trưởng mà quát khẽ một tiếng: “Đủ rồi! Chuyện ngày hôm qua tạm thời không bàn tới nữa, bây giờ muội nghe ta, dù thế nào cũng phải đi Hạ Sảng Trai một chuyến!”

Bị khiển trách, Tô thị hậm hực bỏ về phòng. Bản tính của nàng ta xưa nay vốn kiêu ngạo, làm dâu phủ Quốc công bao nhiêu năm qua, đây là lần đầu tiên phải chịu sự giáo huấn bẽ bàng như vậy. Dĩ nhiên trong lòng nàng ta không phục, nhưng cũng chẳng dám xem nhẹ lời Thôi thị. Đợi đến lúc người của lão thái thái tới Hạ Sảng Trai ban thưởng, Tô thị liền sai ma ma thân cận của mình đi theo cùng, xem như miễn cưỡng cúi đầu nhận lỗi.

Hoa Xuân chỉ việc lăn ra ngủ thẳng giấc, chẳng buồn để tâm đến bất cứ chuyện gì khác.

Trong khi đó, vụ việc cắt xén tàu chở lương thực đã gây ra một cơn sóng dữ trong triều đình. Các bên đều đang đổ dồn mắt vào Lục Thừa Tự, xem xem chàng sẽ thu xếp tàn cuộc này ra sao. Chính vì thế mà Lục Thừa Tự bận rộn vô cùng, mãi đến đêm khuya mới trở về.

Khi trở về thư phòng, Phái Nhi đã ngủ từ lâu. Nghe quản sự báo lại rằng Hoa Xuân “sinh bệnh”, Lục Thừa Tự hơi ngẩn ra. Người đàn ông cao lớn chắp tay đứng giữa hiên nhà, khẽ day nhẹ chân mày mệt mỏi, rồi nhàn nhạt ra lệnh: “Cầm bài tử của ta đến Thái y viện mời Thái y qua xem thế nào, có chuyện gì thì báo lại cho ta biết.” Dứt lời, chàng liền bước vào phòng.

Ngày hôm sau là ngày nghỉ phép của chàng.

Suốt năm năm qua, trong từ điển cuộc đời của Lục Thừa Tự không hề tồn tại hai chữ “nghỉ ngơi”. Nếu không ở nha môn xử lý công vụ, thì chàng cũng sẽ đến phòng lưu trữ lật xem văn thư cũ, hoặc đi thực tế tìm hiểu dân tình.

Kể từ khi tiếp nhận chức vị Hộ bộ Thị lang bốn tháng nay, chàng lại càng ngày ngày túc trực tại phòng lưu trữ của Hộ bộ, dốc sức rà soát rõ ràng sổ sách của mười năm gần đây, nhằm nắm chắc kẽ hở tài chính của các nha môn trong triều đình, chưa từng để bản thân rảnh rỗi lấy một ngày.

Thế nhưng hôm nay, chàng lại ở lại phủ một cách đầy bất ngờ.

Cũng chẳng phải vì Hoa Xuân, mà là vì… hôm nay chàng định thu lưới.

Đầu tiên, hắn dắt con trai đến thỉnh an lão thái thái, sau đó định bụng đi thăm Hoa Xuân. Nào ngờ khi vừa tới ngoài hiên nhà Hạ Sảng Trai, chàng đã bị bà vú thông báo rằng Hoa Xuân sau khi uống thuốc đã đi ngủ, đến giờ vẫn chưa tỉnh. Lục Thừa Tự dĩ nhiên chẳng có cái tự giác của một người chồng, phải túc trực bên giường bệnh của vợ, chàng chỉ dặn dò tiểu sai đưa con trai đến học đường, rồi một mình quay trở lại thư phòng.

Ngày hôm qua trời vừa hửng nắng, hôm nay không trung lại lất phất những hạt mưa nhỏ. Tại cửa thư phòng của Lục Thừa Tự, đã có không ít người đang đứng đợi sẵn.

Trong số đó, có thư lại của Hộ bộ, cũng có cả quản sự trong phủ.

Vị thư lại kia vừa thấy chàng đi về phía thư phòng, liền rảo bước tiến lên đón lấy: “Lục đại nhân, Thượng thư đại nhân truyền lời, mời ngài đến nha môn một chuyến.”

Lục Thừa Tự đứng giữa làn mưa bụi, lạnh lùng hỏi: “Có chuyện gì?”

“Sắc thư của Tư Lễ Giám đã gửi tới Hộ bộ, Đại nhân muốn ngài đích thân tới phúc đáp ạ.”

Lục Thừa Tự khẽ cười một tiếng: “Ngươi về báo lại với Đại nhân, hôm nay là ngày nghỉ của ta. Thượng thư đại nhân là người thống lĩnh toàn bộ Hộ bộ, có chuyện gì thì cứ để ngài ấy gánh vác là được.”

Dứt lời, chàng cho người lui ra, rồi thong thả rảo bước về phòng.

Mưa mỗi lúc một nặng hạt. Ngoài thuỷ quan Đông Tiện Môn, hơn mười chiếc thuyền buồm lớn đang kẹt cứng lại, vừa vô cùng nổi bật vừa gây cản trở giao thông. Tư Lễ Giám thấy Lục Thừa Tự cứng rắn, chẳng chịu nể nang ai, nên chỉ còn cách gây áp lực lên nha môn quản lý sông ngòi. Các bên lòng nóng như lửa đốt, đều nháo nhào đi tìm Lục Thừa Tự, nhưng chàng cứ ẩn mình trong phủ, nhất quyết không lộ diện.

Đến giờ Ngọ, Phái Nhi đeo một cái túi sách nhỏ trở về phủ. Có lẽ cậu bé không ngờ Lục Thừa Tự lại có nhà, nên vừa quăng túi sách xuống đã chạy như bay về phía hậu viện: “Nhanh lên ma ma, đưa con đi gặp mẹ, con muốn ăn mì vân thán mẹ làm!”

Thường ma ma cũng không biết Lục Thừa Tự đang ở trong phòng chính, bà vừa cười vừa đuổi theo Phái Nhi: “Tiểu công tử, chậm một chút, cẩn thận kẻo trượt chân, mì vân thán của thiếu phu nhân cũng đâu có chạy mất được…”

Lục Thừa Tự đứng dưới cửa sổ, tay cầm một cuốn văn thư. Nhìn bóng dáng con trai chạy nhảy như bay ra khỏi hiên nhà, chàng hơi nheo mắt lại.

Thật sự ngã bệnh sao?

Đúng lúc này, gã tiểu sai được Lục Thừa Tự phái đi thám thính tin tức bước vội qua ngưỡng cửa, băng qua sân vườn rồi lao thẳng về phía thư phòng: “Thưa gia, Đỗ đại nhân truyền tin tới, thái giám tùy tùng của Tư Lễ Giám đã kéo đến Đông Tiện Môn rồi. Ngài ấy sắp chống đỡ không nổi nữa, xin ngài mau chóng qua đó cho.”

Thời cơ mà Lục Thừa Tự chờ đợi cuối cùng đã tới. Trong đôi mắt sâu thẳm thoáng xẹt qua một tia sáng sắc lẹm như lưỡi kiếm, chàng vứt cuốn thư tịch trong tay sang một bên, rồi cao giọng ra lệnh: “Người đâu, thay y phục!”

Tư Lễ Giám là gì? Nói một cách đơn giản, đó chính là “Nội các” của chốn cung đình.

Theo quy định của Đại Tấn, tất cả triều chính đều do Nội các dự thảo ý kiến xử lý trước, gọi là “Phiếu ưu tiên”. Sau đó, toàn bộ những bản tấu chương này sẽ được gửi tới Tư Lễ Giám. Ý định ban đầu là để Hoàng đế đích thân phê duyệt bằng mực đỏ, gọi là “Chu phê”. Thế nhưng trên thực tế, việc triều chính vốn chồng chất như núi, Hoàng đế lấy đâu ra thời gian để xem xét kỹ lưỡng từng tờ sớ một, nên về sau, đại quyền “Chu phê” này đều rơi vào tay những thái giám thân cận bên cạnh Hoàng đế.

Thái giám đứng đầu được gọi là Chưởng ấn Tư Lễ Giám, tay nắm ngọc tỷ và chu ấn, được người đời gọi là “Nội tướng”, quyền uy có thể sánh ngang với Thủ phụ Nội các. Bốn vị thái giám phụ trách phê duyệt tấu chương được gọi là Bỉnh bút. Những vị Bỉnh bút này không chỉ hỗ trợ Hoàng đế “Chu phê”, mà còn nắm giữ các chức vụ trọng yếu trong nội đình, mà Đề đốc Đông Xưởng chính là một trong số đó.

Bất kể là khi Hoàng đế nắm quyền hay Thái hậu nhiếp chính, thì cả Tư Lễ Giám luôn là thế lực quyền khuynh thiên hạ, có sức ảnh hưởng vô cùng to lớn.

Vị Tùy tùng thái giám đến Đông Tiện Môn ngày hôm nay họ Trần, vốn là nghĩa tử của Đề đốc Đông Xưởng đương triều. Gã này ngày thường vốn dĩ là hạng người thích dùng lỗ mũi để nhìn đời.

Mặt sông sương mù giăng lối, lại thêm không ít tàu thuyền đang bị kẹt cứng. Vốn dĩ trước đó đã mở được một lối đi nhỏ cho thuyền buôn và thuyền chở khách qua lại, nhưng hôm nay trời đổ mưa nên lối ấy lại bị tắc nghẽn. Những tiếng chửi rủa, la hét xôn xao lẫn vào nhau thành một mảnh hỗn độn.

Dưới mặt nước đã loạn, mà trên thành lâu thuỷ quan cũng loạn chẳng kém gì.

Trần công công trong bộ tử y, tay ôm phất trần liếc mắt nhìn xuống phía dưới một cái, rồi chỉ tay về phía Tuần thành Ngự sử đi cùng bên cạnh: “Mãn Ngự sử, ngài nhìn xem, nha môn quản lý sông ngòi này có ra thể thống gì không cơ chứ? Giữ rịt thuyền của Cục Dệt may đã đành, nay lại còn xem sinh kế của cả kinh thành này như trò đùa. Ngài là Ngự sử, ngài xem mà liệu liệu.”

Tuần thành Ngự sử vốn mang trọng trách dẹp loạn phò chính, minh biện thị phi, gặp phải tình cảnh này đương nhiên không thể ngồi yên. Ông ta chắp tay hướng về phía quan chủ quản của nha môn sông ngòi, đầy vẻ đầy phẫn nộ: “Lưu đại nhân, tại sao các ông lại giữ thuyền của Cục Dệt may không thả? Việc này làm liên lụy đến việc đi lại của bách tính và thương nhân khắp thành, các ông đặt quốc kế dân sinh ở đâu hả?”

Vị Tuần thành Ngự sử phẩm hàm cấp bảy này tuổi đời còn trẻ, lại chẳng am tường nội tình trong triều, đang lúc ý khí hào hùng, muốn vì dân mà thỉnh mệnh.

Trần công công đưa ông ta theo, chẳng qua là muốn dùng ông ta làm “bia đỡ đạn” mà thôi.

Nha môn sông ngòi tuy trực thuộc Bộ Công, nhưng lại thường xuyên phải giao thiệp với Tư Lễ Giám, cả hai bên đều không dám đắc tội. Vị Lưu đại nhân này tức khắc kêu khổ không thôi, liền chỉ tay về phía vị Đô úy thủy quân đang mặc giáp trụ đứng cạnh bên: “Chuyện này không liên quan đến tôi nhé! Tôi chỉ lo việc nạo vét kênh rạch, bảo đảm vận tải lương thực, còn việc giữ thuyền là do bên nha môn Thủy quân làm đấy chứ.”

Ánh mắt của Mãn Ngự sử lập tức quét về phía vị Đô úy thủy quân kia, lời lẽ lại càng thêm vẻ chính trực, đanh thép:

“Đô úy thủy quân chỉ lo việc phòng thủ thành trì, không được can thiệp chính vụ. Cớ sao các người lại dám giữ rịt thuyền của Cục Dệt may không thả?”

Đỗ Đô úy dĩ nhiên cũng tìm cách thoái thác, ông ta mở toang một phong văn thư trong tay cho đối phương xem: “Mãn Ngự sử, chuyện này cũng chẳng liên quan gì tới tôi cả. Đây là sắc lệnh do Nội các ban xuống, chỉ đích danh mấy con thuyền này chứa chấp nhơ bẩn, làm chuyện mờ ám nên không cho phép vào thành. Ngài xem, ở đây còn có cả ấn chương của phủ Đô đốc, đây là văn bản phối hợp của cả hai bên, họ Đỗ tôi chỉ đang làm theo quy định, không thể oán trách tôi được đâu!”

Nha môn Thủy quân nắm quyền phòng thủ thành trì, chịu sự quản lý của phủ Ngũ quân Đô đốc.

Thế nhưng tất cả những điều đó chỉ là lớp vỏ bọc bên ngoài. Đỗ Uy sở dĩ dám chặn thuyền, thực chất là bởi vì Lục Thừa Tự có ơn với ông ta. Nhiều năm trước, khi còn là một Hiệu úy ở Lâm An, ông ta từng bị vu oan mà mắc tội, cuối cùng chính Lục Thừa Tự đã trả lại sự trong sạch cho ông. Thấy ông ta có võ nghệ cao cường, Lục Thừa Tự liền tiến cử làm quan, sau này ông ta mới được điều động vào kinh thành nhậm chức. Chính vì cậy vào việc Đỗ Uy đang đương chức tại cửa sông Đông Tiện Môn, Lục Thừa Tự mới bày ra ván cờ này.

Bên nào cũng có cái lý của mình, Mãn Ngự sử vốn là kẻ mới bước chân vào chốn quan trường, vừa thấy tình cảnh này liền nhất thời lúng túng, chẳng biết phải làm sao cho phải.

Mãn Ngự sử không hiểu chuyện, nhưng Trần công công thì quá rành nội tình. Gã quát thẳng vào mặt Đỗ Uy: “Đỗ Uy! Đừng tưởng ta không biết chút giao tình giữa ngươi và Lục Thừa Tự. Ngươi bị hắn xúi giục nên mới dám bất kính với Tư Lễ Giám, bất kính với Thái hậu!”

Cái “mũ lớn” này vừa chụp xuống, sắc mặt Đỗ Uy lập tức biến đổi.

Lời này đừng nói là Đỗ Uy, ngay cả Hoàng đế cũng gánh không nổi. Đông Xưởng bấy lâu nay vẫn dựa vào cái câu “bất kính với Thái hậu” mà hoành hành khắp kinh thành.

Thấy Đỗ Uy không còn giữ được bình tĩnh, Trần công công vuốt ve chòm râu không hề tồn tại của mình, đôi lông mày giãn ra vẻ đắc thắng: “Nhanh, mở cửa, cho thuyền của Cục Dệt may vào thành…”

“Khoan đã!”

Trần công công đột ngột quay phắt người lại.

Mưa bụi mênh mang mang theo cái lạnh lẽo, trời đất là một màu u ám. Giữa làn sương ấy, một người vận bộ quan bào đỏ thẫm hiện ra, tựa như từ trong ảo ảnh bước tới. Chỉ thấy đôi lông mày cùng hàng mai dài thanh tú, sống mũi cao thẳng, đuôi mắt được làn nước mờ ảo ánh lên, dường như toát ra vài phần khí chất thanh quý, lẫm liệt khiến người ta chẳng dám khinh thường.

Lục Thừa Tự chắp tay sau lưng tiến lại gần, thong thả cúi người chào Trần Mân: “Lục mỗ bái kiến Trần công công.”

Vừa nhìn thấy chàng, nụ cười trên gương mặt Trần Mân liền thấm đẫm vài phần hàn khí: “Lục đại nhân, cuối cùng ngài cũng chịu lộ diện rồi.”

“Có điều, ngài có đến cũng vô dụng thôi. Đỗ Uy, mở cửa sông ngay!”

Đỗ Uy liếc nhìn Lục Thừa Tự một cái rồi lùi sang một bên, bất động.

Lục Thừa Tự tiến lên, đứng ngay vào vị trí của Đỗ Uy, đối diện với Trần Mân: “Dám hỏi Trần công công, trong thuyền này chứa thứ gì, vì sao nhất định phải vào thành?”

Trần Mân đến nhìn cũng chẳng thèm nhìn chàng: “Việc này không đến lượt ngài quản.”

Lục Thừa Tự gằn từng chữ một: “Trong 《Luật Đại Tấn, Chương Thành Phòng》 có ghi rõ: Bất kỳ thuyền bè nào muốn vào thành đều phải bốc dỡ hàng hóa để khám xét, không có sai sót gì mới được thông quan. Dám hỏi Trần công công, văn thư thông quan ở đâu?”

Trần Mân liếc mắt nhìn sang: “Ngài là Tả thị lang Bộ Hộ, không quản được chuyện phòng thủ thành trì.”

“Vậy thì cứ khám xét trước đã, để xem xem việc này có thuộc quyền quản lý của tôi hay không?”

Trần Mân nghẹn lời: “Lục Thừa Tự, ngài đang cố tình tìm chuyện đúng không? Đồ đưa vào cung mà ngài cũng dám khám?”

Lục Thừa Tự chỉ đợi có bấy nhiêu, chàng nở một nụ cười thâm trầm: “Đã là đồ đưa vào cung, liên quan mật thiết đến an nguy của Thái hậu nương nương và Bệ hạ, thì lại càng phải khám!”

Trần Mân thấy thái độ của chàng quá cứng rắn, liền rút phắt ra một phong văn thư rồi quăng thẳng vào mặt chàng, điệu bộ cực kỳ hống hách: “Thủ bút của Lão tổ tông ở ngay đây! Lô hàng này bắt buộc phải vào kinh, nếu có chuyện gì xảy ra thì đích thân ngài ấy sẽ đứng ra gánh vác!”

“Lão tổ tông” ở đây là để chỉ Chưởng ấn Tư Lễ Giám, Lưu Xuân Kỳ.

Đỗ Uy nghe vậy thì lo lắng liếc nhìn Lục Thừa Tự một cái. Nếu đích thân Chưởng ấn Ty Lễ Giám đã ra mặt, thì đừng nói là Lục Thừa Tự, ngay cả Thủ phụ Nội các có đích thân tới đây cũng không thể ngăn cản nổi.

Nếu là bất kỳ ai khác, khi đã dồn đến bước này thì chỉ còn nước khoanh tay chịu trói.

Nhưng Lục Thừa Tự là hạng người nào chứ? Chàng đi lên từ việc lăn lộn giữa chốn quan trường Giang Nam, hạng người gì mà chưa từng đấu qua, trận mạc nào mà chưa từng nếm trải. Chàng lại mỉm cười, thong thả giơ tay lên, nhẹ nhàng gạt phong thư tay kia sang một bên, rồi chỉ tay về phía vị Tuần thành Ngự sử mà Trần Mân mang tới:

“Những lời này của Trần công công, mau ghi chép lại vào hồ sơ ngay!”

Lời này vừa thốt ra, bốn bề đều kinh hãi.

Trần Mân sững sờ: “Lục Thừa Tự, ngài có ý gì?”

Vẻ mặt của Lục Thừa Tự không đổi.

Hồi mới đến Giang Nam, chàng từng bị một tên huyện lệnh địa phương chơi xỏ. Hắn ta ngoài mặt thì hứa hẹn đủ điều, nhưng vừa quay lưng đã lật lọng không thừa nhận, khiến Lục Thừa Tự phải chịu một vố đau nhớ đời. Sau này chàng học được một chiêu, đó chính là: Chuyện gì cũng phải để lại dấu vết.

Tuyệt đối không cho bất kỳ ai có cơ hội biện bạch hay đùn đẩy trách nhiệm.

Dựa vào chiêu thức này, chàng đã đánh đâu thắng đó tại chốn quan trường Giang Nam.

Lục Thừa Tự thấy Mãn Ngự sử vẫn còn đang ngẩn ngơ, liền thấp giọng quở trách: “Mãn Ngự sử xuất thân từ Đô Sát Viện, chẳng lẽ lại không hiểu quy cũ của Đô Sát Viện sao? Phàm là người đi tuần án, bất luận việc lớn hay nhỏ đều phải ghi chép lại hồ sơ để phục vụ cho công tác điều tra sau này. Bản quan rời khỏi Đô Sát Viện mới có vài năm, sao thế, Đô Sát Viện thay đổi quy định rồi à?”

Mãn Ngự sử bừng tỉnh, lắc đầu như trống bỏi: “Không, không có, hạ quan sẽ ghi chép ngay đây!” Nói xong, ông ta quay người tìm thư lại trên thành lâu để lấy bút mực.

Nếu thay bằng một vị Ngự sử lão luyện, chưa chắc đã bị Lục Thừa Tự dắt mũi dễ dàng như vậy, đáng tiếc là hôm nay để áp chế nha môn sông ngòi và Đô úy thủy quân, Trần Mân lại cố tình chọn một kẻ “ngựa non háu đá”.

Giờ thì đúng là tự mình bê đá đập chân mình rồi!

Trần Mân tức đến mức muốn ngã ngửa.

Thế nhưng giận thì giận, cái khí thế kiêu căng ngạo mạn của gã rõ ràng đã bị Lục Thừa Tự đè bẹp hoàn toàn.

Không chỉ bị lấn lướt, gã thậm chí còn không để lại dấu vết mà lén cất phong thư tay kia vào lại trong ngực.

Gã chỉ ra ngoài để làm nhiệm vụ, nếu việc không thành đã đành, lại còn kéo cả “Lão tổ tông” vào tròng thì gã có chết vạn lần cũng không hết tội.

Lục Thừa Tự coi như không thấy hành động kia của gã, cứ như thể màn kịch vừa rồi chưa từng xảy ra, chàng hỏi lại một lần nữa: “Bản quan xin thỉnh giáo Trần công công, trong thuyền này chứa những gì? Liệu có phải thuộc quyền quản lý của Ty Lễ Giám hay không?”

Trần Mân liếc nhìn chàng một cái rồi bực dọc đáp: “Là hàng hóa từ các hoàng trang thuộc Cục Dệt may vận chuyển về nội kho kinh thành, ngài nói xem có phải đồ của Ty Lễ Giám không?”

Lục Thừa Tự đưa tay ra: “Được, vậy đưa danh mục kê khai hàng hóa đây cho tôi xem.”

Trần Mân nghe xong thì cứ như vừa nghe chuyện nực cười nhất thiên hạ, gã nhảy dựng lên: “Lục Thừa Tự ngươi tính là cái thứ gì mà dám đòi tra sổ sách của Ty Lễ Giám?”

Sắc mặt của Lục Thừa Tự đanh lại: “Luật Đại Tấn có quy định rõ ràng: Thuế bạc và cống vật của hai kinh mười ba tỉnh đều phải thông qua Bộ Hộ thu nhận và điều phối, sau đó mới vận chuyển vào nội kho. Lục mỗ mọn giữ chức Hộ bộ Tả thị lang, nắm quyền quản lý quốc khố, ngươi nói xem ta có tư cách hay không?”

Lại là luật Đại Tấn… Thử hỏi trên đời này có mấy ai làm việc mà cứ nhìn vào luật pháp như người này cơ chứ.

Trần Mân suýt chút nữa thì phát điên vì Lục Thừa Tự, gã nén cơn giận, nghiến răng nghiến lợi vặc lại từng chữ: “Đây là lợi nhuận thu được từ tám trăm hoàng trang, năm mươi vạn khoảnh trang điền của nội kho tại Giang Nam. Đây là tư sản của cung đình, liên quan gì đến quốc khố hả? Lục Thừa Tự, hôm nay ngươi quá kiêu ngạo rồi đấy, đợi ta về sẽ nhất định bẩm báo thực tình với Thái hậu và Lão tổ tông… tố cáo ngươi tội gan to bằng trời, làm xằng làm bậy!”

(1 Khoảnh =. 100 mẫu)

Lục Thừa Tự vốn dĩ chẳng hề mảy may dao động trước chiêu bài này, chàng chắp tay sau lưng đứng im như phỗng, chỉ cười hỏi ngược lại: “Tám trăm hoàng trang nào, năm mươi vạn khoảnh trang điền nào cơ?”

Trần Mân thấy chàng cứ cắn chặt không buông, liền đưa ngón tay chỉ thẳng vào mặt chàng đầy căm hận: “Ngươi cứ đợi đấy!”

Gã quay người vẫy tên tiểu thái giám đi theo sau lại, lấy ra một quyển sổ cái rồi ném thẳng về phía chàng: “Tất cả ở đây!”

Thấy thái độ của Trần Mân bỗng dưng cây ngay không sợ chết đứng như vậy, Đỗ Uy bắt đầu cảm thấy lo lắng thay cho Lục Thừa Tự.

Ông ta sở dĩ dám thay Lục Thừa Tự chặn thuyền, là bởi vì Lục Thừa Tự đã khẳng định rành rọt với ông rằng: mấy con thuyền này chở bạc thuế của quốc khố, không thuộc quyền quản lý của Ty Lễ Giám. Bằng không, có cho ông ta thêm tám trăm lá gan, ông ta cũng chẳng dám đối đầu với Ty Lễ Giám và Thái hậu.

Đỗ Uy và vị Lưu đại nhân ở nha môn sông ngòi kia nhìn nhau, mồ hôi lạnh bắt đầu túa ra trên trán.

Thế nhưng Lục Thừa Tự lại vô cùng bình tĩnh, chàng đón lấy quyển sổ cái, chỉ lật qua vài trang rồi dừng lại.

Số bạc thuế này đến từ những hoàng trang và trang điền nào, Lục Thừa Tự sớm đã nắm rõ như lòng bàn tay. Chàng thản nhiên chuyển quyển sổ cái đó sang cho vị Tuần thành Ngự sử kia.

“Trần công công, năm Minh Thống thứ mười tám, xảy ra sự biến Thổ Mộc Bảo, Anh Tông Hoàng đế bị vây khốn tại Ngõa Lạt. Sau đó, Đại Tông vì muốn gom bạc để rước Ngài trở về nên đã đem một ngàn năm trăm hoàng trang cùng hai triệu khoảnh trang điền: bao gồm cả vùng Tùng Giang, Lâm An và phủ Tô Châu, bán lại cho thương gia. Mà các hoàng trang và trang điền trong sổ sách này của ngươi đều nằm trong danh sách đó. Chuyện này Bộ Hộ đều có sổ sách để đối chiếu. Vì vậy, số hàng hóa và bạc thuế này không thuộc về nội kho, mà phải quy về quốc khố!”

Chuyện này đã trôi qua mấy mươi năm, một thái giám tùy tùng nhỏ bé ở Ty Lễ Giám như gã sao mà biết được. Thế nhưng Lục Thừa Tự vốn xuất thân Trạng nguyên, xưa nay học rộng tài cao, kiến thức uyên tâm, đối với những khoản mục và điển tích cũ này đều nắm rõ như lòng bàn tay. Ty Lễ Giám trước chân vừa bán số hoàng trang này đi, chân sau đã vì muốn vơ vét tiền của mà lấy cớ thu thuế, để một lần nữa thu nạp đám thương gia này dưới trướng che chở, khiến số bạc thuế đáng lẽ phải nộp cho triều đình đều chui tọt cả vào túi riêng của nội kho.

Đây chính là nguyên nhân cốt lõi khiến Lục Thừa Tự dám làm loạn một trận này.

Trần Mân nghe xong, sắc mặt trong nháy mắt đã cắt không còn giọt máu.

Gã vốn đã nghe danh Lục Thừa Tự thủ đoạn cao tay, nhưng chỉ ngỡ là hư danh, chẳng ngờ được cái tên này lại lão luyện và cay độc đến mức này.

Chẳng trách chàng dám to gan chặn thuyền, gây ra một phen ầm ĩ đến mức này.

Thế nhưng Trần Mân vẫn chưa dễ dàng nhận thua đến thế, gã bắt đầu giở giọng hồ đồ, nói năng quàng xiên: “Lục Thừa Tự, liệu có đúng như lời ngài nói hay không thì tạp gia còn phải điều tra kỹ lại đã. Nhưng đồ đạc trong này quả thực thuộc về nội kho, tạp gia hôm nay phụng mệnh phải vận chuyển nó vào Tử Cấm Thành!”

“Phụng mệnh ai? Là mệnh lệnh của Thái hậu, hay là mệnh lệnh của Lưu Chưởng ấn, công công nói cho rõ ràng vào!”

Lục Thừa Tự truy hỏi dồn dập, tựa như gã thợ săn ẩn mình trong bóng tối, cuối cùng cũng tuốt ra lưỡi đao sáng loáng: “Chẳng lẽ lại là Thái hậu hạ lệnh cho ngươi chiếm dụng quốc quỹ?”

Cái mũ tội danh cực lớn này chụp xuống, khiến Trần Mân bị ép tới mức phải lảo đảo lùi lại ba bước.

Ngòi bút của sử gia sắc bén như dao, có vị bề trên nào lại cam lòng để bản thân bị lưu danh muôn đời, với cái ác danh tham lạm xương máu của dân chúng cơ chứ?

Huống chi, Thái hậu tuy có hiềm nghi dùng nội kho để kiềm chế ngoại triều, nhưng bà lại cực kỳ trân trọng thanh danh, luôn thể hiện mình là người lấy giang sơn xã tắc làm trọng.

Thế nên dù là Thái hậu hay là Lưu Xuân Kỳ đi chăng nữa, cũng tuyệt đối không thể hạ loại mệnh lệnh như vậy.

Một khi Trần Mân gật đầu, gã chắc chắn chỉ có con đường chết; nhưng nếu không gật đầu, mấy con thuyền này sẽ rơi vào tay Lục Thừa Tự.

Nhìn thấy Trần Mân mồ hôi vã ra như tắm, tâm trí bấn loạn, Lục Thừa Tự không để cho gã lấy một đường lui: “Nếu không phải là ý chỉ của Thái hậu, vậy thì việc Trần công công xuất hiện ở đây thật không đúng lúc chút nào. Người đâu, mời Trần công công xuống dưới dùng trà…”

Mưa tạnh mây tan, một trận thành danh.

Sau ba ngày kiểm kê kỹ lưỡng, tổng cộng thu được ba triệu lượng bạc trắng cùng hai mươi vạn thạch lương thảo. Khi nhận được sổ sách thống kê cuối cùng, Lục Thừa Tự thở phào một hơi nhẹ nhõm: “Cuối cùng cũng có thể cầm cự được một thời gian rồi…”

Quốc khố đã có tiền, đương nhiên phải căn cứ theo mức độ ưu tiên cấp bách mà chi xuất.

Kể từ ngày hôm đó, Lục Thừa Tự bận rộn đến mức suốt năm ngày liền không về nhà. Đến ngày hai mươi lăm tháng Tám, công việc cuối cùng cũng tạm thời xong xuôi. Đồng liêu thấy danh tiếng của chàng nổi như cồn, thủ đoạn lại lão luyện nên vô cùng khâm phục. Buổi chiều hôm ấy, họ nhất quyết kéo bằng được Lục Thừa Tự đi uống rượu để ăn mừng công trạng cho chàng.

Nhị lão gia nhà họ Thôi, cũng con trai của Thủ phụ đương triều đứng ra làm chủ xị. Bảy tám vị đồng liêu vây quanh lấy Lục Thừa Tự. Tuổi đời còn trẻ, chưa đầy hai mươi lăm mà trận đầu đã thắng lớn, chàng khó tránh khỏi có vài phần xuân phong đắc ý.

Rượu quá ba tuần, trên gương mặt Lục Thừa Tự cũng hiếm khi để lộ ý cười.

Lục Thừa Tự là học trò cưng của Thủ phụ Thôi Tuần, Thôi Nhị lão gia vốn dĩ ngày thường qua lại rất thân thiết với chàng, mối giao tình lại càng thêm khác biệt. Ngay trên bàn tiệc, Thôi Nhị lão gia kéo tay chàng nói:

“Chương Minh hiền đệ, hôm nay cha ta vào cung, tâm trạng của Bệ hạ vô cùng tốt, còn khen hiền đệ có tài của bậc tể phụ, xem ra hiền đệ vào Nội các chỉ là chuyện sớm muộn…”

Lục Thừa Tự vội vàng nâng tay áo đáp lễ: “Huynh trưởng nói vậy thật là làm khó đệ quá. Đệ chẳng qua cũng chỉ là không phụ công ơn dạy bảo và tiến cử của ân sư mà thôi!”

“Ha ha ha, lại đây nào, không nói mấy chuyện này nữa, hôm nay chúng ta không say không về…”

“Đúng rồi, Chương Minh hiền đệ, nghe nói phu nhân đã đưa công tử vào kinh rồi à?”

Trong đầu Lục Thừa Tự chợt thoáng qua dáng vẻ Hoa Xuân nhận nhầm phu quân, chàng bật cười tự giễu: “Phải, đã đến kinh thành được vài ngày rồi.”

“Đây đúng là chuyện tốt! Hiền đệ suốt năm năm qua xuôi ngược nam bắc, lao tâm khổ tứ, thực sự là quá vất vả rồi. Nay phu nhân đã vào kinh, đệ cũng nên tận hưởng niềm vui phu thê hòa hợp… Nhân lúc còn trẻ, hãy sinh thêm vài đứa con, tốt nhất là có thêm hai mươi hai cô con gái, để mai này hai phủ chúng ta kết thông gia, chẳng phải sẽ thành một giai thoại đẹp sao?”

Lời này nói ra khiến mọi người trong tiệc đều cười rộ lên. Kẻ thì chúc chàng thăng quan tiến chức, người lại mừng phu thê chàng đoàn tụ, ai nấy đều huyên náo đòi được kết thân với chàng.

Nghĩ đến việc vị ở nhà kia đến cửa còn chẳng cho vào, chàng biết đào đâu ra con gái cơ chứ? Thế nhưng ngoài mặt chàng vẫn cười tươi như gió xuân, bị mọi người trêu chọc nên cũng uống thêm vài chén rượu.

Tiệc tùng thết đãi đến tận giờ Thân chiều tối, Lục Trân mới đỡ chàng lên xe ngựa, rồi cho chàng uống hai bát canh giải rượu. Lục Thừa Tự ngả đầu xuống là ngủ thiếp đi, hai khắc sau xe về đến cổng phủ, chàng tỉnh táo trở lại, chỉnh đốn lại y quan rồi mới tiến vào trong.

Đang định đi về phía thư phòng, chàng đột nhiên dừng bước ở góc rẽ hành lang rồi hỏi Lục Trân: “Phu nhân sao rồi?”

Lục Trân vừa dìu chàng vừa đáp: “Hôm nay tiểu nhân có hỏi qua Thường ma ma, thiếu phu nhân vẫn luôn không ra khỏi cửa, bệnh tình vẫn chưa thấy chuyển biến tốt hơn đâu ạ…”

Lục Thừa Tự hơi nhíu mày, nét mặt nghiêm nghị thêm mấy phần: “Ngươi về thư phòng trước đi, ta đi thăm phu nhân.”

Nói xong, hắn gạt tay Lục Trân ra, tùy ý vén một cành quế vướng đường, rồi thong dong rảo bước về phía hậu viện.

Lúc này trời hãy còn sớm, ban ngày Lục Thừa Tự hiếm khi nào xuất hiện, Hoa Xuân lại càng không ngờ chàng sẽ đến thăm mình, thế nên nàng đang dắt Phái Nhi chơi trốn tìm trong sân.

Phái Nhi đã gần năm tuổi, cứng cáp khỏe mạnh, tay chân cũng chẳng biết nặng nhẹ, thừa lúc Hoa Xuân không để ý, thằng bé lao tới từ phía sau như một con báo nhỏ rồi ôm chầm lấy nàng: “Con bắt được mẹ rồi! Con bắt được mẹ rồi…”

Hoa Xuân nhất thời không phòng bị, bị thằng bé đâm sầm vào khiến bước chân lảo đảo, cả người đổ nhào về phía trước: “Cái thằng nhóc con này!”

May sao có một cánh tay thon dài kịp thời vươn tới, vững vàng đỡ lấy nàng.

Mùi rượu hòa lẫn với một làn hương thanh khiết xộc thẳng vào mũi, Hoa Xuân theo bản năng ngước mắt lên, ánh nhìn vừa vặn chạm thẳng vào mắt chàng.

Đôi mắt ấy sâu thẳm, lạnh lùng và chẳng gợn chút sóng lòng.

Trước kia, nàng cũng từng say đắm vẻ dung mạo đoạt hồn đoạt phách này, dường như chỉ cần nhìn thêm một cái thôi cũng đủ khiến người ta phải thẹn thùng đỏ mặt.

Lục Thừa Tự thấy nàng lùi lại như muốn tránh hiềm nghi, thì giữa chân mày thoáng hiện lên một tia không vui, nhưng chàng cũng không nói gì, mà chỉ xách cậu con trai đang bám trên người Hoa Xuân ra, rồi trách mắng: “Thân thể của mẹ con đang không khỏe, sao con lại không biết nặng nhẹ như thế?”

Trẻ con vốn miệng còn non dại, Phái Nhi theo bản năng phản bác lại: “Mẹ đã khỏi rồi mà…”

Lục Thừa Tự nhìn Hoa Xuân bằng ánh mắt đầy ẩn ý, nhưng nàng vẫn mặt không đổi sắc, tim không đập mạnh, đưa tay mời vào trong: “Mời Thất gia vào nhà dùng trà.”

Hai người một trước một sau bước vào gian nhà chính. Phái Nhi vốn cũng định bám theo, nhưng đã bị Tuệ ma ma vừa kịp lúc đuổi tới kéo lại. Bà ra hiệu “suỵt” một tiếng rồi dỗ dành cậu bé đi chỗ khác chơi.

Lục Thừa Tự vì trên người có hơi men nên không vào gian phòng phụ phía Đông, mà đi thẳng tới ngồi xuống ở đường gian. Hoa Xuân từ phòng trong rót trà bưng ra, lúc này mới phát hiện con trai đã chẳng thấy tăm hơi đâu. Không chỉ con trai, mà ngay cả đám ma ma, nha hoàn cũng như thể biến mất chỉ trong chớp mắt. Hoa Xuân không nói lời nào, đưa chén trà cho Lục Thừa Tự rồi ngồi xuống phía đối diện.

Lục Thừa Tự uống khá nhiều rượu nên hai bên thái dương đau nhức dữ dội, chàng tì tay lên trán, day đi day lại một hồi rồi mới cất tiếng hỏi: “Thân thể của phu nhân đã khỏe hẳn chưa?”

Hoa Xuân đan hai tay vào nhau, mắt nhìn ra phía cửa lớn đang mở toang, giọng nói bình thản: “Đã đỡ nhiều rồi ạ.”

Lục Thừa Tự nghe vậy liền đột ngột mở mắt ra: “Đã là như vậy, thì tối nay, ta sẽ bảo ma ma mang y phục sang hậu viện…”

Đã gọi là phu thê thì phải chung giường chung gối mới là phu thê, cứ mãi giận dỗi với chàng thì còn ra cái thể thống gì chứ.

Ánh mắt thanh tú mà lạnh lùng hơi quét qua, ngưng đọng trên sườn mặt nàng, mang theo một sự uy nghiêm không thốt nên lời.

Đã quá đủ với những màn lừa lọc, đấu đá nơi triều đình, khi trở về phủ, chàng không còn muốn vòng vo tam quốc nữa.

Lục Thừa Tự ung dung chờ đợi câu trả lời từ nàng.

Ánh nắng thu xuyên qua tán hòe già rậm rạp, đổ xuống mặt đất những vệt loang lổ. Những đốm sáng ấy tràn qua mũi chân Hoa Xuân, rồi lại lay động trong đôi mắt nàng.

Hoa Xuân im lặng hồi lâu, rồi mới từ từ xoay người lại, chậm rãi lấy từ trong lòng áo ra tờ thư hòa ly vốn đã nằm lại nơi đó hơn một tháng trời.

Nàng nhìn thẳng vào đôi mắt thâm trầm tĩnh lặng của chàng, một lần nữa đẩy tờ giấy ấy tới trước mặt chàng.

>>

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *