Lạc Hoa Xuân – 1-2

Chương 1.

Tết Trung thu vừa qua, một trận mưa rào đột ngột ập đến. Những hạt mưa dày đặc cuốn theo làn gió, thổi rụng những đóa hoa quế dọc hai bờ kênh Tào rơi đầy mặt đất.

Đúng lúc mấy con thuyền lớn của Cục Dệt may Kim Lăng đưa hàng đến kinh đô, đang neo đậu tại thủy quan Đông Tiện Môn, làm nghẽn cả đoạn kênh Tào không lối thoát. Hôm nay Hoa Xuân phải vào kinh, thuyền khách bị kẹt ở giữa, chẳng biết khi nào mới có thể cập bến.

May nhờ có Tuệ ma ma tháo vát, bà sai quản sự đi cùng chèo thuyền nhỏ mang lệnh bài của Lục phủ đến thương lượng. Người của nha môn đường sông nghe danh phu nhân của Lục Thị lang thuộc phủ Lục Quốc công đang ở đây, liền vội vàng mở đường cho thuyền lên bờ.

Gia đinh và bà tử của Lục phủ đã sớm chuẩn bị xe ngựa chờ sẵn ở bến tàu. Mười mấy rương hòm xiêm y, sính lễ đều được khiêng lên, rồi mọi người lại vây quanh đưa Hoa Xuân lên cỗ xe ngựa đầu tiên. Cả đoàn người rầm rộ tiến về phía phủ Lục Quốc công.

Nơi bến tàu người xe tấp nập, tiếng bánh xe ngựa lăn đều trên mặt đường.

Sau khi Tuệ ma ma sắp xếp xong xuôi với các bà tử đến đón, bà lại chui vào trong xe. Thấy Hoa Xuân đang tựa lưng vào thành xe nhắm mắt dưỡng thần, bà bèn xích lại gần ngồi dưới chân nàng: “Đi thuyền suốt nửa tháng trời, cuối cùng cũng được lên bờ, giờ thì ai nấy đều tỉnh táo cả rồi. Nô tì đã dặn Tùng Trúc mua cho phu nhân ít bánh ngọt để lót dạ, không biết phu nhân đã dùng chút nào chưa?”

Hoa Xuân day day thái dương đang đau nhức, mở mắt ra rồi nhàn nhạt đáp: “Ta dùng một ít rồi, cũng không thấy đói.”

Tuệ ma ma thấy thần sắc của nàng điềm nhiên, chẳng chút vui vẻ gì khi được vào kinh, không nhịn được mà lên tiếng khuyên giải: “Đã năm năm rồi, phu nhân cuối cùng cũng đợi được đến ngày khổ tận cam lai. Sau này người đã là Thị lang phu nhân, đi đến đâu mà chẳng có kẻ nể người trọng?”

“Sắp được đoàn tụ với cô gia và tiểu công tử rồi, phu nhân nên vui vẻ lên một chút, cười lấy một cái đi ạ.”

Cười sao?

Vậy thì nàng thật sự cười không nổi.

Chuyến vào kinh lần này của Hoa Xuân, nói không quá thì chính là một sự uất ức.

Nàng vốn là người Kim Lăng, vì phụ thân có mối quan hệ tốt với Tứ lão gia nhà họ Lục, nên đã hứa gả nàng cho đích trưởng tử của ông ấy, cũng chính là Thất công tử danh tiếng lẫy lừng nhất Lục gia: Lục Thừa Tự. Thế là nàng phải rời bỏ quê hương, gả vào danh gia vọng tộc bậc nhất Ích Châu là Lục gia.

Thời gian đầu, tuy tình cảm phu thê chưa đến mức nồng đượm thắm thiết ,nhưng cũng coi như kính trọng lẫn nhau. Kết hôn được hai tháng, nàng đã mang thai. Lục Thừa Tự để nàng ở lại quê nhà phụng dưỡng cha mẹ chồng, còn bản thân một mình lên kinh ứng thí, gây dựng công danh.

Nam nhi lập thân kiến công lập nghiệp, chí tại bốn phương cũng là lẽ thường tình. Hoa Xuân dù lòng không nỡ nhưng vẫn dốc sức ủng hộ. Sau khi chàng đi, nàng thay chàng tận tâm chăm sóc người mẹ ốm đau, một mình vượt qua kỳ thai nghén gian khổ để hạ sinh đích trưởng tử. Những lúc nhớ nhung, nàng lại viết thư gửi đi, dặn dò khuyên chàng cứ yên tâm ứng thí.

Phu quân quả thực không làm nàng thất vọng, chàng đỗ Trạng nguyên, vào giữ chức Biên tu ở Viện Hàn lâm. Nàng mừng cho chàng, khóc vì chàng, ngay cả khi chàng gửi thư nói năm nay không thể về thăm quê, thì nàng cũng chẳng một lời oán thán.

Về sau, phu quân với thân phận Ngự sử đã xuôi xuống phía Nam dẹp trừ tham quan, trị tội cường hào. Tuổi còn trẻ mà thủ đoạn đã lão luyện, danh tiếng lẫy lừng khắp kinh đô. Nàng lại càng lấy đó làm tự hào, ngày đêm mong ngóng, nhớ nhung.

Thế rồi… danh tiếng của phu quân ngày càng lớn, số lần hồi âm lại ngày một ít đi, lời lẽ trong thư cũng thưa thớt dần. Suốt năm năm ròng rã, số lần họ gặp mặt chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Nàng không chỉ quên mất mùi vị của nam nhân là thế nào, mà ngay cả khuôn mặt ấy cũng trở nên mờ mịt, chẳng còn nhớ rõ đường nét.

Một mình nàng nuôi con khôn lớn đến bốn tuổi, giúp chàng lo liệu việc tộc, chăm sóc cha mẹ… Ngày qua ngày, năm nối năm, chẳng biết mong đợi điều gì phía trước.

Cho đến cách đây không lâu, từ kinh thành truyền tới tin dữ: Quận chúa của phủ Tương Vương đã nhắm trúng phu quân của nàng, muốn chàng phải giáng thê thành thiếp để rước Quận chúa vào cửa.

Khoảnh khắc nghe thấy tin đó, Hoa Xuân một mình ngồi thẫn thờ suốt nửa ngày trong căn phòng cưới trống trải.

Trượng phu, trượng phu… Trong vòng một trượng mới là chồng, cách xa nghìn dặm thì chẳng biết là chồng của ai nữa rồi.

Cũng chẳng cần phải rắc rối như thế, càng không cần tốn sức đến vậy.

Nàng thành toàn cho bọn họ.

Nàng không cản đường chàng đi trên con đường thênh thang sự nghiệp, và chàng cũng đừng hòng chặn lối nàng tìm kiếm tiền đồ riêng.

Những ngày tháng ở Lục gia này, nàng sống quá đủ rồi.

Thế là, nàng chẳng hề do dự gửi một phong thư đến kinh thành, yêu cầu Lục Thừa Tự kia ký đơn hòa ly.

Nhưng chẳng hiểu vì sao, một tháng sau thư hòa ly bị gửi trả lại. Một quản sự tìm đến, tuyên bố rằng muốn đón nàng và con trai vào kinh.

Không định buông tha cho nàng đúng không?

Hoa Xuân thu dọn hành lý suốt đêm, dặn dò ma ma đưa con trai theo quản sự vào kinh trước, còn bản thân mình sau khi kiểm kê lại toàn bộ hồi môn thì nửa tháng sau mới khởi hành, cuối cùng hôm nay cũng đã đến kinh thành.

Dọc đường đi, nàng nghe không ít giai thoại về phu quân mình và Quận chúa. Người còn chưa vào đến kinh mà nàng đã trở thành trò cười cho cả kinh thành rồi.

Hỏi xem có ai mà không nói một câu là nhu nhược cơ chứ?

Nhưng nàng không chịu được cái thứ nhục nhã này!

Đời người ngắn ngủi, có được mấy lần năm năm để lãng phí.

Năm năm ly biệt đã mài mòn sạch sẽ mọi kỳ vọng của nàng rồi.

Nàng chẳng buồn khóc, mà cũng chẳng việc gì phải cười.

Hoa Xuân vô cảm trả lời ma ma: “Đi đường xa vất vả suốt cả chặng rồi, ma ma cũng mệt rồi, mau nghỉ ngơi một lát đi. Đợi lát nữa tới Lục phủ là còn khối việc phải bận rộn đấy.”

Tuệ ma ma nghe đến câu cuối, đôi mắt chợt lóe lên tia sáng rạng rỡ: “Chẳng phải sao, phu nhân là con dâu trưởng của Tứ phòng, phu quân lại là tân quan của Bộ Hộ, môn đệ của Lục phủ đều trông cậy cả vào cô gia nhà ta chống đỡ. Người vào phủ rồi chính là thiếu phu nhân kim tôn ngọc quý của phủ Quốc công, quyền quản lý quán xuyến việc nhà của Tứ phòng đương nhiên phải giao vào tay người, lúc đó chẳng phải sẽ bận rộn lắm sao?”

Hoa Xuân nghe vậy, chỉ lặng lẽ liếc nhìn bà ấy một cái mà không đáp lời.

Cỗ xe ngựa băng qua những khu phố chợ náo nhiệt, cuối cùng cũng đến được Lục phủ vào giờ Mùi buổi chiều.

Cổng phủ Quốc công rộng lớn thênh thang, ba gian cửa chính sơn đỏ rực rỡ thường xuyên đóng kín. Cửa góc phía Đông dành cho các bậc chủ tử xuống kiệu, cửa góc phía Tây để kẻ hầu người hạ ra vào. Xe ngựa dừng lại ngoài cửa góc phía Đông, một bà tử ăn vận sang trọng dẫn theo một nhóm nô tỳ và sai vặt tiến lên thỉnh an.”

Đích chi của Lục phủ tổng cộng có năm phòng, vì lão thái thái vẫn còn tại thế nên các con trai không chia gia sản sống riêng. Ngoại trừ cha mẹ chồng của Hoa Xuân, tức lão gia và phu nhân Tứ phòng còn ở lại quê cũ Ích Châu, thì người của các phòng khác đều tề tựu đông đủ tại kinh thành. Chính vì thế, nơi đây cửa son cao ngất, phủ đệ uy nghiêm.

Nói về Tứ phòng, tổng cộng có ba người con trai và một người con gái: Thất gia Lục Thừa Tự, Bát gia Lục Thừa Đức, Cửu gia Lục Thừa Gia, và một cô em chồng. Trước đây, chỉ có mỗi Hoa Xuân cùng cô em chồng ở lại quê cũ để phụng dưỡng cha mẹ, còn những người con khác đều theo lão thái thái sống tại kinh thành.

Trong số đó, vợ của Bát gia, tức là Bát thiếu phu nhân là người được lão thái thái sủng ái nhất, hiện đang nắm quyền quản lý nội vụ của Tứ phòng.

Dù sao đây cũng là lần đầu tiên Hoa Xuân vào kinh, bên Trưởng phòng Đại thái thái cũng nể mặt, đích thân dẫn theo hai vị con dâu đứng đợi ở chính sảnh.

“Lão thái thái bị nhiễm lạnh, em dâu cháu đang hầu hạ thuốc thang nên không tiện ra đón. Ta bảo thê tử của Huy ca nhi đưa cháu về hậu viện nhé?” Đại thái thái đã nói như vậy.

Hoa Xuân nói không cần phiền phức như vậy: “Đã là lão thái thái không khỏe, Hoa Xuân nên đến thỉnh an trước mới phải.”

Đại thái thái cười bảo: “Ta đã hỏi giúp cháu rồi, cháu đi đường hết ngồi thuyền lại đến xe ngựa, chắc hẳn là mệt mỏi lắm, cứ nghỉ ngơi cho lại sức đã, một hai ngày nữa đến dập đầu thỉnh an cũng không muộn.”

Hoa Xuân thực hiện lễ nghĩa đầy đủ, cũng không khăng khăng đòi đi tiếp. Sau đó, nàng bái biệt Đại thái thái, được đám bà tử vây quanh đưa vào hậu viện.

Sống ở kinh thành vốn dĩ chẳng dễ dàng gì, phủ Lục Quốc công tuy chiếm diện tích không nhỏ, nhưng vì con cháu quá đông đúc, nên viện tử chia cho Tứ phòng cũng chẳng thể gọi là rộng rãi.

Đó là một viện tử hai tiến, gian nhà chính chia làm ba căn, bên trái và bên phải mỗi bên đều có một căn phòng nhỏ áp mái. Phía đông có một cây hòe lớn tán lá rậm rạp che khuất ánh sáng, khiến cả sân viện vừa oi bức vừa chật hẹp, chẳng khác gì những viện phụ của các gia đình bình thường. Đám hạ nhân đồng loạt ùa vào, khiến cái sân nhỏ nhất thời không còn chỗ chen chân.

Cơn mưa cuối cùng cũng tạnh, không khí tràn ngập hương quế ướt đẫm. Tuệ ma ma nhìn đống rương hòm chất đầy cả dãy hành lang, vừa thấy đau đầu, lại vừa có phần bất mãn: “Thiếu phu nhân, cô gia nhà chúng ta dù sao cũng là Thị lang tam phẩm, vậy mà chỗ ở này xem ra quá sức chật hẹp rồi…”

Đây rõ ràng là chọn lại những gì còn sót lại để đưa cho Hoa Xuân.

Ngày đầu tiên Hoa Xuân vào kinh, lão thái thái lấy cớ không gặp, ngay cả người em dâu thân thiết cũng chẳng đích thân ra đón.

Các vị thái thái và con dâu khác lại càng chẳng mấy mặn mà.

Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ thấy nước ở phủ Quốc công sâu đến nhường nào.

Tuệ ma ma vốn dĩ còn đang bừng bừng ý chí chiến đấu, nào ngờ vừa mới vào phủ đã bị dội ngay một gáo nước lạnh, lòng dạ tức khắc nguội ngắt một nửa.

Hoa Xuân lại chẳng buồn để tâm đến những chuyện này, nàng thản nhiên bước vào trong phòng trước.

Tuệ ma ma thấy vậy, liền phân phó hai đại nha hoàn: “Mau khiêng sính lễ của thiếu phu nhân sang sương phòng phía đông, mở ra sắp xếp từng thứ một, rồi kê khai lại vào sổ sách…”

“Khoan đã!” Hoa Xuân nghe vậy liền quay người lại, ngăn cản: “Cứ khiêng đồ đạc vào sương phòng đặt ở đó là được, nếu không có sự cho phép của ta thì không ai được mở ra. Còn hai rương hòm dùng hằng ngày thì đặt vào nhà chính đi.”

Nha hoàn vâng dạ.

Tuệ ma ma nghe vậy, lập tức từ ngoài hành lang theo vào trong: “Thiếu phu nhân, mấy cái rương hòm mang theo bên người chỉ có vài bộ đồ cũ mặc thường ngày thôi, còn đồ trang sức quý giá và y phục lộng lẫy đều đang khóa kỹ trong các hòm sính lễ cả. Người không cho mở ra, rốt cuộc là có ý gì ạ?”

Trong lòng ma ma bỗng dâng lên một nỗi bất an.

Hoa Xuân khẽ mỉm cười trấn an bà: “Ma ma không cần lo lắng, ta tự có chừng mực. Bà trước tiên hãy đi hỏi xem Thường ma ma đang ở đâu, mau chóng đưa Phái Nhi đến gặp ta.”

Vừa nhắc đến tiểu công tử, Tuệ ma ma lập tức phấn chấn hẳn lên: “Lão nô đi dặn người dẫn tiểu công tử đến ngay đây ạ.”

Nha hoàn bận rộn ra ra vào vào dọn dẹp phòng ốc, Hoa Xuân cũng chẳng để tâm, chỉ một mình ngồi bên chiếc bàn vuông ở gian chính, đưa mắt nhìn ra phía cửa đang mở rộng để đợi con trai.

Chẳng bao lâu sau, ngoài hành lang vang lên một tiếng khóc nức nở giòn tan, ngay sau đó là một bóng dáng nhỏ bé lao qua ngưỡng cửa, không đợi được mà nhào thẳng vào lòng nàng.

“Mẹ ơi, mẹ để Phái Nhi phải đợi lâu quá, một tháng không được gặp mẹ, Phái Nhi nhớ mẹ vô cùng!”

Hoa Xuân ôm đứa trẻ đã lớn chừng nửa người vào lòng, hết hôn lại ôm chặt lấy cậu bé, sau đó mới khẽ tách khuôn mặt nhỏ nhắn kia ra khỏi ngực mình: “Để mẹ nhìn con xem nào.”

Đứa trẻ bốn tuổi như mầm măng non mùa xuân, vóc dáng cao hơn hẳn bạn bè cùng trang lứa. Cậu bé mặc một bộ trường bào nhỏ màu ngọc bích, tóc buộc bằng dây lụa, khi đứng ngay ngắn trông chẳng khác nào một “ông cụ non”. Chỉ có khuôn mặt nhỏ là khóc đến lem nhem, nhưng lại đang nỗ lực kìm nén tiếng nức nở, rơi vào mắt Hoa Xuân trông vừa ngây ngô vừa đáng yêu.

Hoa Xuân nén lại giọt nước mắt chực trào, nắm lấy tay con hỏi han kỹ lưỡng tình hình trong nửa tháng qua: “Có phải cha con đích thân dạy bảo con không?”

Phái Nhi đứng trước mặt nàng, nghiêm túc gật đầu: “Theo lời mẹ dặn, ban ngày con ở thư phòng của cha đọc sách, ban đêm ngủ cùng với cha…”

“Cha có dữ với con không?”

“Dạ không…”

“Có sợ cha không?”

Phái Nhi im lặng không đáp.

Hoa Xuân khẽ mỉm cười, cũng không hỏi thêm gì nữa. Nàng quay người lấy ra một hộp điểm tâm mua dọc đường, rồi đút cho con trai ăn.

Sau một canh giờ dọn dẹp, phòng ốc cuối cùng cũng được sắp xếp ổn thỏa. Phái Nhi khóc đến mệt lả, Hoa Xuân bế cậu bé vào gian phòng bên phía Đông, đặt lên giường La Hán, dỗ dành cho đến khi cậu bé ngủ say, rồi cứ thế nhìn chằm chằm vào gương mặt con mà thẫn thờ xuất thần.

Trời dần dần tối hẳn, đã là giờ Dậu. Bữa trưa Hoa Xuân chẳng dùng được bao nhiêu, đang định ra ngoài gọi truyền thức ăn thì thấy Tuệ ma ma băng qua sảnh trung gian, rảo bước dọc theo hành lang đi về phía này. Bà hớn hở ra mặt, giục giã nàng: “Thiếu phu nhân, vừa rồi phòng gác cổng truyền lời, cô gia nhà ta đã đến chính sảnh rồi, người mau mau ra đón đi thôi!”

Lục Thừa Tự đã về rồi sao?

Hoa Xuân nhất thời ngẩn người.

Đã hai năm trôi qua kể từ lần cuối họ gặp mặt. Suốt những năm qua, một mình nàng gánh vác cả gia đình, trên có mẹ chồng bệnh nặng cần phụng dưỡng, dưới có việc gia tộc bộn bề phải lo liệu, lại thêm đứa trẻ đang tuổi lớn nghịch ngợm suốt ngày. Thậm chí, nàng còn phải đứng ra cáng đáng các mối quan hệ giao thiệp của Lục phủ tại Ích Châu; gặp chuyện không người bàn bạc, gặp khó tự mình gánh chịu.

Nàng là người vợ hiền thục, là nàng dâu hiếu thảo, là người mẹ từ ái.

Một mình nàng sống mà mạnh mẽ, tựa như có cả thiên quân vạn mã chống đỡ sau lưng.

Ba chữ “Lục Thừa Tự” đối với nàng mà nói, giờ đây chỉ còn là một cái danh xưng trống rỗng.

Hoa Xuân im lặng trong chốc lát, rồi dặn dò Tuệ ma ma ở lại trông nom con trai, còn mình dẫn theo một nha hoàn vội vã đi về phía Thùy Hoa môn.

Lúc này thời gian chẳng sớm cũng chẳng muộn, bóng hoàng hôn đã bao phủ khắp nơi, trong phủ đệ bắt đầu lần lượt thắp lên những ngọn đèn hoa rực rỡ.

Dưới sự dẫn đường của nha hoàn, Hoa Xuân đi dọc theo hành lang dài để đến hoa sảnh. Vừa dừng bước, nàng đã trông thấy ba người đang băng qua xuyên đường đi tới.

Một người có vóc dáng cao gầy, giọng nói dường như vẫn còn vương chút non nớt của thiếu niên, chính là cửu đệ mà nàng đã gặp một năm trước. Hai người còn lại một trước một sau bước qua ngưỡng cửa, tuy tầm vóc có chút khác biệt nhưng diện mạo thoạt nhìn qua lại giống hệt nhau, chỉ có thể phân biệt được một người trông trẻ trung tuấn tú hơn, còn người kia thì phong trần mệt mỏi, gương mặt hằn rõ dấu vết gió sương.

Thất gia Lục Thừa Tự và Bát gia Lục Thừa Đức là huynh đệ sinh đôi. Hoa Xuân chưa từng gặp Lục Thừa Đức, còn về phần Lục Thừa Tự, cũng vì xa cách quá lâu, mà ngũ quan của chàng trong tâm trí nàng đã sớm nhạt nhòa như làn khói chiều mờ ảo trước mắt. Rốt cuộc ai mới là phu quân của mình, Hoa Xuân quả thực không nhận ra, mà cũng chẳng buồn nhìn kỹ. Nghĩ bụng phu quân bấy lâu nay nam chinh bắc chiến, hẳn là phải lao tâm khổ tứ, chẳng quản nhọc nhằn, nên diện mạo có đôi chút phong trần cũng là lẽ thường tình. Thế là, nàng hướng về phía người đàn ông cao lớn đang bước tới trước, mà khẽ cúi người hành lễ.

“Thiếp thân bái kiến phu quân.”

Lục Thừa Đức đang định hành lễ với nàng, vừa nghe thấy hai chữ “phu quân” này thì không khỏi ngẩn người kinh ngạc. Giọng nói trong trẻo lại mang theo vài phần thục hạnh dịu dàng, khiến tâm trí hắn thoáng chốc dao động; phu nhân của hắn chưa bao giờ dịu dàng thắm thiết đến nhường này… Đến khi nhận ra Hoa Xuân đã nhận nhầm người, hắn mới lộ ra vài phần lúng túng vì sự chậm hiểu của mình.

“Tẩu tẩu nhận nhầm người rồi, huynh trưởng ở đằng này cơ…” Hắn vội vàng né sang một bên, nhấc tay áo chỉ về phía sau lưng mình.

Hoa Xuân hơi khựng lại, nhưng tuyệt nhiên không lộ ra một chút lúng túng nào khi nhận nhầm phu quân. Nàng thản nhiên xoay người theo hướng ngón tay hắn chỉ, một lần nữa thi lễ với người đàn ông kia:

“Thiếp thân bái kiến phu quân.” Giọng điệu của nàng không khác gì lúc nãy, cũng chẳng có lấy một chút gợn sóng.

Lục Thừa Tự: “………”

Chương 2.

Trong màn đêm chập choạng, bóng hình ấy chậm rãi sải bước về phía trước. Khi bước vào vùng ánh sáng dưới hành lang, dung mạo của người ấy hiện rõ: vừa có cái thanh tao, ung dung của một văn quan, lại vừa có nét anh dũng, uy nghiêm của một võ tướng, khiến người ta chỉ nhìn một lần là khó lòng quên được.

Cửu gia Lục Thừa Gia không hề che giấu sự kinh ngạc, vẻ ngỡ ngàng hiện rõ mồn một trên khuôn mặt.

Đừng thấy Thất ca và Bát ca là một cặp song sinh mà lầm, thực chất diện mạo và khí chất của hai người khác biệt một trời một vực. Cùng là những đường nét ngũ quan ấy, nhưng trên gương mặt Thất ca lại hài hòa đến độ không thừa không thiếu một nét nào, tựa như kiệt tác của tạo hóa; còn ở phía Bát ca thì lại thiếu đi vài phần thần thái. Khắp kinh thành ai nấy đều tán tụng Thất ca là bậc mỹ nam tử, Bát ca đứng cạnh huynh ấy chỉ làm nền mà thôi. Hai người có sự chênh lệch rõ rệt đến thế, không hiểu vị Thất tẩu tẩu này làm sao mà nhận nhầm cho được?

Huống hồ họ còn là phu thê từng đầu ấp tay gối!

Thất tẩu tẩu chẳng lẽ lại cố ý chọc tức người khác hay sao!

Hãi thật!

Cậu ấy chẳng dám nhìn sắc mặt của Thất ca, nhưng lại không kìm được mà lén liếc nhìn một cái.

Lục Thừa Tự ung dung tiến về phía trước hai bước, thần sắc không hề thay đổi rõ rệt, đương nhiên cũng chẳng để ai nhìn ra chút manh mối gì. Ngay lúc vừa bước chân qua xuyên đường, chàng đã nhận ra ngay người thê tử đang đi vòng qua hành lang ra đón mình. Hai năm không gặp, Cố thị xem chừng cũng chẳng có gì thay đổi, vẫn ra đón rước như lệ thường, vẫn thay chàng quán xuyến gia đình một cách ôn hòa dịu dàng.

Còn về sự cố vừa rồi, Lục Thừa Tự lại càng không để tâm. Nàng chưa từng gặp qua Bát đệ, nhận nhầm cũng là chuyện thường tình, mặc dù nàng là người duy nhất từ trước đến nay nhận nhầm giữa hai huynh đệ chàng.

Hôm nay kho bạc Kim Lăng chuyển một lô vật tư vào kinh, Lục Thừa Tự với tư cách là quan sảnh của Bộ Hộ dĩ nhiên nắm rõ mồn một. Người của nha môn Hà đạo có lẽ vì muốn lấy lòng chàng nên đã đặc biệt nhắc qua một câu, báo rằng phu nhân đã đến kinh thành vào buổi trưa nay, giữa lúc mưa gió mịt mùng, chắc hẳn là rất mệt mỏi và vất vả.

Lục Thừa Tự nâng ống tay áo hướng về phía nàng cúi người đáp lễ, giọng nói vô cùng điềm tĩnh và vững vàng: “Phu nhân đi đường vất vả rồi.”

Hai huynh đệ Lục Thừa Đức và Lục Thừa Gia thấy chàng bình thản bỏ qua chuyện vừa rồi, thì lập tức hoàn hồn, cũng đồng loạt chắp tay hành lễ: “Bái kiến tẩu tẩu!”

Hoa Xuân khẽ gật đầu chào hai người, sau đó mới nói với Lục Thừa Tự: “Thời gian không còn sớm nữa, ma ma đã bày sẵn cơm tối rồi, phu quân có muốn cùng thiếp về hậu viện dùng bữa không?”

“Đó là lẽ đương nhiên…”

“Vậy còn Bát đệ, Cửu đệ…”

“Ồ, chúng đệ không đi đâu, tẩu tẩu và ca ca cứ tự nhiên cho…” Hai người họ là phu thê đoàn tụ, bọn hắn đến đó làm gì cho chướng mắt.

Hoa Xuân không nói thêm lời nào nữa, cùng Lục Thừa Tự đi về phía Hạ Sảng Trai.

Hai người giữ khoảng cách chừng ba bước chân, im lặng không nói câu nào.

Đợi đến khi hai người đã đi xa, Lục Thừa Đức mới thẳng người lên, không nhịn được mà đưa mắt đánh giá Hoa Xuân thêm lần nữa.

Vị tẩu tẩu mới đến này mặc một chiếc áo bối tử màu xanh non, dáng đi thong thả, thần sắc điềm đạm. Vóc dáng của nàng tuy thanh mảnh nhưng không hề yếu đuối, tựa như nhành trúc non đầu xuân, mang theo nét dẻo dai tiềm ẩn ngay trong xương tủy.

“Thường nghe đệ khen ngợi tẩu tẩu, hôm nay được gặp, quả nhiên là người bất phàm.” Lục Thừa Đức không phải chưa từng về quê cũ, chỉ là hai lần hắn đến Ích Châu thì lại vừa khéo trùng vào lúc Hoa Xuân về Kim Lăng thăm thân, thành ra chưa có cơ hội gặp mặt.

Lục Thừa Gia nghe ra sự tán thưởng trong lời nói của ca ca, liền cảm thấy vinh dự lây mà tiếp lời: “Đệ đã nói từ lâu rồi, Thất tẩu tẩu của chúng ta là một nhân vật đáng nể đấy. Những bà cô, bà bác hay các vị thái gia ở lão trạch, chẳng có một ai là không khen ngợi tẩu ấy cả.”

Lục Thừa Gia từng có hai năm phụng dưỡng ở Ích Châu, nên có thể coi là khá thân thiết với Hoa Xuân.

Nói xong, cậu ấy nở một nụ cười đầy hóm hỉnh.

Lục Thừa Đức phản ứng lại ngay là cậu ấy đang cười cái gì, liền vung khuỷu tay thúc mạnh vào ngực cậu hai cái: “Ta cảnh cáo đệ, cái miệng phải giữ cho kín vào, chuyện ngày hôm nay phải để nó thối rữa trong bụng, tuyệt đối đừng để Bát tẩu của đệ biết được!”

Nếu để thê tử biết được hắn bị người ta gọi là “phu quân”, về nhà chẳng phải nàng ấy sẽ lột da hắn ra sao?

Lục Thừa Gia cười trên nỗi đau của người khác, chắp tay sau tay áo, rồi sải bước đi về phía hậu viện: “Tiểu đệ tuyệt đối sẽ giữ kín như bưng, tuyệt đối, tuyệt đối!”

Tiếc thay, đời vốn chẳng như mơ.

Bát thiếu phu nhân Tô Vận Hương, cuối cùng vẫn nghe được chuyện này từ miệng các nha hoàn.

“Ngươi nói cái gì? Vừa rồi Cố thị kia nhìn Lục Thừa Đức mà gọi phu quân, còn nhận nhầm người sao?”

“Chẳng phải sao?” Nha hoàn thân tín vốn được Tô thị sai bảo đi nghe ngóng động tĩnh của Hoa Xuân, vừa rồi đã nấp sau một góc ở Thùy Hoa môn, tận mắt chứng kiến toàn bộ quá trình: “Thất thiếu phu nhân kia vừa mới lên tiếng đã nhìn chằm chằm vào cô gia nhà mình mà gọi ‘phu quân’, tiếng gọi ấy khiến cô gia nhà ta tâm thần bấn loạn cả lên…”

Bát thiếu phu nhân Tô thị tức đến mức mặt mày xanh mét: “Cố thị kia bị mù hay sao? Lục Thừa Tự và Lục Thừa Đức dáng vẻ khác nhau một trời một vực, cô ta làm kiểu gì mà nhận nhầm cho được?”

Nha hoàn bĩu môi, đầy ý xấu mà nói: “Chắc là thấy phu nhân hôm nay không đi đón cô ta, nên mới cố ý làm vậy để chọc tức phu nhân đấy ạ.”

Sắc mặt Tô thị trầm xuống, những ngón tay trắng muốt như búp hành đặt trên bàn, chậm rãi co lại thành nắm đấm.

Nàng ta không ưa gì Hoa Xuân, dĩ nhiên là có nguyên do của nó.

Nàng ta vốn là cháu họ bên ngoại của lão thái thái. Lão thái thái có ý muốn “thân càng thêm thân”, định gả cô ta vào Lục gia. Với con mắt tinh đời, bà đã sớm nhắm trúng người xuất sắc nhất trong hàng con cháu là Lục Thừa Tự. Chuyện vốn đã chắc như đinh đóng cột, chỉ chờ Tứ lão gia trở về quyết định, nào ngờ Tứ lão gia đi một chuyến đến Kim Lăng, lại hứa hôn Lục Thừa Tự cho nhà họ Cố.

Nhà họ Cố đó vốn xuất thân là hoàng thương, chỉ nhờ đi cửa sau với thái giám Thủ bị Kim Lăng, quyên tiền mua một chức quan mà có được thân phận quan gia. Loại gia đình như thế, đến xách giày cho Lục gia cũng không xứng. Lão thái thái sau khi biết tin thì giận đến mức lâm bệnh, nhất quyết bắt Tứ lão gia phải thoái hôn. Thế nhưng Tứ lão gia lại là người có tính khí bướng bỉnh nhất, khẳng định rằng nhà họ Cố đã cứu mạng mình, nên nhất định phải lấy Hoa Xuân cho bằng được. Lão thái thái không xoay chuyển được ông, bèn đuổi cả Tứ lão gia và Tứ thái thái về Ích Châu, không cho phép vào kinh.

Sau đó, lão thái thái nhắm trúng Lục Thừa Đức trong hàng con cháu, đứng ra làm chủ gả nàng ta cho hắn.

Nhìn Lục Thừa Tự thăng quan tiến chức đều đều, tuổi còn trẻ đã giữ chức Thị lang Bộ Hộ, việc vào nội các làm tể tướng chỉ là chuyện sớm muộn, trong lòng nàng ta dĩ nhiên chẳng hề dễ chịu. Đôi khi đối diện với Lục Thừa Đức, nàng ta cũng nảy sinh chút oán trách. Nhưng tất nhiên đó chưa phải nguyên nhân chính, điều quan trọng nhất là: Hoa Xuân là cháu dâu trưởng của tứ phòng, phu quân của cô ta lại đang là cột trụ của Lục gia, cô ta vừa vào kinh thế này, chẳng phải sẽ đoạt lấy quyền quản lý việc nhà từ tay nàng ta hay sao?

Nha hoàn cũng có cùng suy nghĩ với nàng ta, liền tiến lại gần, cẩn thận từng li từng tí nói: “Thiếu nhân, vị Thất thiếu phu nhân này đúng là có ý đồ không tốt, nô tỳ lo rằng cô ta đang nhắm vào đại quyền quản gia trong tay người đấy ạ!”

“Hừ!” Tô thị ngoài mặt lộ vẻ không thèm để tâm: “Cô ta không có bản lĩnh đó đâu. Cái nhà này vẫn là do lão thái thái làm chủ, lão thái thái vốn không thích cô ta thì sẽ không để cô ta nắm quyền quản gia. Thứ hai nữa là…” Tô thị thong dong vân vê chiếc vòng ngọc bích xanh mướt trên cổ tay, lạnh lùng cười nói: “Vị quận chúa của phủ Tương Vương kia, vẫn đang nhìn chằm chằm vào Lục Thừa Tự đấy thôi. Lục Thừa Tự bỏ mặc cô ta ở quê cũ suốt năm năm trời, đủ thấy trong lòng không hề có cô ta. Cái ghế Thất thiếu phu nhân này của cô ta, liệu có ngồi vững được không!”

Trời đã tối hẳn, đèn đuốc trong viện đều đã được thắp lên. Thấy một bóng người cao lớn lướt ngang qua cửa sổ, biết là Lục Thừa Đức đã về, Tô thị liền ngừng câu chuyện, phẩy tay cho nha hoàn lui xuống rồi ngồi ngay ngắn với vẻ ung dung, chờ phu quân bước vào phòng.

Lục Thừa Đức trong lòng có chút chột dạ, đã đi đến bên ngoài rèm nhưng phải đứng sắp xếp ý tứ trong bụng nửa ngày, mới dám vén rèm châu lên nhìn vào trong. Thấy Tô thị đang ngồi vững vàng trên ghế bành, dùng ánh mắt chẳng mấy thiện cảm nhìn chằm chằm mình, tim hắn lập tức “thịch” một cái, nhưng vẫn cố nở nụ cười tươi rói bước vào phòng.

“Phu nhân hôm nay hầu hạ tổ mẫu chắc là mệt rồi phải không? Lại đây, để vi phu bóp vai xoa bóp gân cốt cho phu nhân nào…” Nói xong, hắn liền tiến tới, vén ống tay áo định làm hành động xoa bóp cho Tô thị. Tô thị nhìn cái bộ dạng chột dạ này của hắn là lại thấy bực mình, giơ tay gạt phắt bàn tay hắn ra, rồi phẫn nộ nói:

“Chà, một tiếng ‘phu quân’ kia không phải đã khiến hồn vía chàng bay bổng lên mây rồi đấy chứ?”

Lục Thừa Đức kêu khổ thấu trời, quả nhiên là vẫn bị nàng ta biết được. Hắn vội vàng vòng sang phía đối diện ngồi xuống, khổ sở hết lời giải thích: “Vị tẩu tẩu kia cái gì cũng tốt, mỗi tội mắt kém, trời lại tối mù mịt, tẩu ấy nhất thời không để ý mới nhận nhầm người thôi. Nàng mà thấy cái mặt Thất ca lúc đó, tức đến mức sắp bốc khói rồi kìa. Mà ta cảnh cáo nàng đấy, Tô Vận Hương!”

Hắn giả bộ nghiêm mặt, bày ra cái dáng vẻ không chịu nhường nhịn: “Nếu nàng mà ở bên ngoài nhận nhầm người khác, ta nhất định sẽ lột da mặt gã đàn ông đó ra, rồi trói nàng lại, ném lên giường không cho ra ngoài gặp ai nữa!”

“Đời này, rồi cả đời đời kiếp kiếp sau nữa, nàng chỉ được phép gọi một mình ta là phu quân thôi!” Nói xong, hắn liền vươn tay định ôm chầm lấy người đang ngồi trên ghế bành.

Tiếc thay, chiêu trò tếu táo hôm nay của hắn không thể đánh lừa được Tô thị. Nàng ta vẫn gạt tay hắn ra như cũ, ngón tay búp hành thon dài vươn tới, trong nháy mắt đã véo chặt lấy vành tai hắn, rồi nhại lại giọng điệu của hắn: “Tẩu tẩu ngoại trừ mắt kém thì cái gì cũng tốt… Vậy chàng giỏi thì nói cho ta nghe xem, cô ta còn tốt ở chỗ nào nữa hử? Có phải là sắc nước hương trời, có phải là dịu dàng hiền thục lắm không…?”

Lục Thừa Đức trong lòng thì đồng ý cả hai tay, nhưng ngoài miệng lại chối bay chối biến.

Giá như có ngày nào đó Tô Vận Hương có thể gọi hắn một tiếng “phu quân” đầy tình tứ ngọt ngào, thì hắn quả là được hưởng phúc lớn rồi.

Trong khi ở viện Sướng Xuân của bát phòng đang náo loạn như gà bay chó nhảy, thì tại Hạ Sảng Trai của thất phòng, không gian lại tĩnh lặng đến lạ kỳ.

Phái Nhi vẫn chưa tỉnh ngủ, cả Hoa Xuân và Lục Thừa Tự đều không ai nỡ đánh thức thằng bé. Phu thê hai người ngồi đối diện nhau qua một chiếc bàn vuông, không ai nói với ai lời nào.

Kết hôn đã năm năm, ngay cả khi tính cả hai tháng tân hôn và vài lần gặp mặt ít ỏi sau đó, số ngày thực sự chung sống của hai vợ chồng cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay.

Trước khi cưới, tâm trí của Lục Thừa Tự đều dồn vào học hành; sau khi cưới, tâm trí lại dồn hết vào công danh sự nghiệp. Cứ thế, chàng đi sớm về khuya suốt bao ngày tháng.

Hồi mới thành thân, nàng có chuyện cũng chẳng dám làm phiền đến chàng. Sau này, khó khăn lắm chàng mới từ kinh thành về thăm nhà được một chuyến, nàng lại càng không nỡ khiến chàng bận lòng, lúc nào cũng chỉ cơm ngon trà ngọt tiếp đãi, xót xa cho nỗi vất vả của trượng phu.

Còn Lục Thừa Tự thì sao? Ban ngày chàng bận rộn thưa gửi với họ hàng thân tộc và quan lại ở Ích Châu, lấy đâu ra thời gian mà nghe Hoa Xuân giãi bày tâm sự. Cứ mỗi khi Hoa Xuân thức giấc thì chàng cũng đã dậy để tới thư phòng, đến lúc nàng đi ngủ, thì nửa đêm chàng mới trở về.

Sự giao tiếp duy nhất giữa hai vợ chồng, ngoài đứa con ra, có lẽ cũng chỉ còn lại chuyện giường chiếu ấy mà thôi.

Trong cảnh tối đèn lửa tắt, chẳng ai nhìn rõ mặt ai, đối phương là ai không quan trọng, miễn là thê tử của chàng là được.

Chính vì thế, khách sáo và xa lạ, trái lại mới là màu sắc chủ đạo của cuộc hôn nhân này.

Họ chính là những người lạ thân thuộc nhất của nhau.

Năm năm sống xa cách, đây là lần đầu tiên họ ngồi lại một chỗ yên tĩnh như thế này, cả hai đều không mấy thích nghi.

Ánh đèn lồng ngoài hành lang dịu nhẹ, lay động theo gió, hắt vào trong phòng một vệt sáng lung linh.

Lục Thừa Tự tựa người vào ghế bành, bóng dáng tuấn tú, cao gầy nhưng lộ rõ vẻ mệt mỏi. Ở chốn triều đường, lục bộ đâu đâu cũng là phường “đầu trâu mặt ngựa”. Chàng tuổi đời còn trẻ, vừa mới bước chân vào trung khu quyền lực, chẳng khác nào đang lăn lộn trong lò luyện vàng, ứng phó vô cùng chật vật. Bởi vậy khi trở về phủ, chàng chẳng còn tâm trí đâu mà nói năng tâm sự với nàng.

Hoa Xuân không biết tình cảnh của chàng ở bên ngoài ra sao, nàng chỉ biết khi ở bên cạnh mình, chàng luôn luôn trầm mặc ít lời, mà trước đây người chủ động phá vỡ sự im lặng đó luôn là nàng.

Còn bây giờ… không cần thiết nữa.

Trà đã rót sẵn từ lâu, đặt đó cũng phải đến nửa khắc đồng hồ.

Hoa Xuân bưng chén lên nhấp một ngụm, cái lạnh lẽo thấm thẳng vào tận đáy lòng, khiến nàng không kìm được mà khẽ ho một tiếng.

Lục Thừa Tự vẫn còn đang mải mê suy tính chuyện triều chính, nghe thấy tiếng ho này mới ngước mắt nhìn nàng. Ánh đèn vừa vặn chiếu lên vạt áo Hoa Xuân, để lộ dáng người nàng dưới ánh sáng, nhưng gương mặt ấy lại ẩn hiện trong bóng tối, khiến chàng nhìn không rõ cảm xúc thật sự của nàng.

Thê tử, đối với chàng mà nói, chính là người phụng dưỡng cha mẹ, duy trì nòi giống và lo liệu việc nhà mà thôi. Chàng vốn hài lòng với Cố thị, nay nàng lặn lội đường xa tới đây, chàng nghĩ mình cũng nên dành cho nàng chút sự quan tâm.

Người đàn ông cực kỳ hiếm hoi mới chủ động phá vỡ bầu không khí tĩnh lặng: “Nghe nói hôm nay ở thủy quan, nàng đã phải đợi rất lâu?”

Hoa Xuân mỉm cười, giọng nói dịu dàng: “Vâng, hình như đã xảy ra chuyện gì đó nên họ cứ giữ lại, không cho bốc dỡ hàng xuống.”

Lục Thừa Tự nhàn nhạt đáp lại một tiếng. Chàng không nói cho nàng biết rằng, mấy thuyền hàng đó chính là do chàng ra lệnh giữ lại. Đó vốn là tiền thuế và hàng hóa của hai tỉnh Giang Nam, vậy mà chúng lại định mượn thuyền của Cục Dệt May để đưa thẳng vào nội kho của hoàng cung. Chuyện này sao có thể thành được? Đây là tiền thuế của triều đình, phải được nhập vào quốc khố.

Một khi tiền đã vào đến cung, muốn lấy lại thì còn khó hơn lên trời.

Chuyện triều chính chàng chưa bao giờ bàn luận với Hoa Xuân, trước kia là không có cơ hội nói, sau này cũng thấy không cần thiết phải nói, sợ sẽ làm nàng kinh động.

Đàn ông lo việc bên ngoài, phụ nữ quán xuyến bên trong, cứ như hiện tại là tốt nhất.

“Nàng đến phủ lúc nào?”

“Dạ, lúc giờ Mùi.”

“Trong phòng đã dọn dẹp ổn thỏa cả chưa?”

“Đều đã thu xếp xong rồi ạ.”

Mấy hòm của hồi môn đều chưa động tới, chỉ lấy ra vài bộ y phục để thay giặt cùng một bộ chăn nệm, cũng không có gì nhiều để thu dọn.

Nghe nàng nói vậy, Lục Thừa Tự cũng thuận mắt đảo nhìn một lượt quanh căn phòng.

Hạ Sảng Trai chỉ có ba gian phòng chính, gian giữa là phòng khách, gian phụ phía đông được dùng làm phòng ngủ, ngăn cách bằng một bức bình phong. Bên trong đặt một chiếc giường bát bộ không mới cũng không cũ; phía ngoài, sát tường đông là một chiếc giường La Hán; bên cửa sổ phía nam có dựng một chiếc giường sưởi; còn lại là một chiếc bàn vuông cùng hai chiếc ghế bành, phía sau ghế là một chiếc kệ bách bảo cũng chẳng còn mới mẻ gì.

Thực ra Lục Thừa Tự cũng vừa mới được điều động về kinh thành không lâu. Trước đây khi dừng chân tại kinh thành, chàng đều ngủ tại thư phòng, đây cũng là ngày đầu tiên chàng đặt chân tới Hạ Sảng Trai này.

Căn phòng này trông có vẻ hơi chật chội, nhưng ngoại trừ viện của tổ mẫu ra, thì Lục Thừa Tự chưa từng đặt chân đến hậu viện của các phòng khác, nên chàng cũng không rõ để mà so sánh.

Thế nhưng, điều khiến chàng cảm thấy kỳ lạ lúc này không phải là sự chật chội của căn phòng, mà là việc Hoa Xuân khẳng định đã thu xếp xong xuôi, vậy mà trong phòng này, ngoại trừ trên chiếc giường La Hán có thêm một người đang nằm, trên bàn bày thêm một bộ ấm chén, thì chẳng hề thấy thêm thắt bất cứ vật dụng mới nào cả.

Người của nha môn Hà đạo rõ ràng đã báo với chàng rằng, thê tử mang theo hơn mười hòm xiểng tùy hành, không lý nào đồ đạc bày biện lại chỉ có bấy nhiêu.

Thế nhưng, Lục Thừa Tự cũng không hỏi gì thêm.

Hẳn là do nàng mới chân ướt chân ráo đến nơi, nhất thời chưa kịp dọn dẹp xong xuôi cũng là chuyện thường tình.

Chút câu chuyện phiếm vừa khơi lên lại một lần nữa bị cắt đứt.

Cũng may đúng lúc này, Bảo Nhi đang nằm trên giường La Hán khẽ cựa mình, mơ màng vươn vai một cái: “Ưm…”

Đứa trẻ bốn tuổi đang tuổi ăn tuổi lớn nên cái vươn vai này rõ là dài thượt. Thằng bé mơ màng mở mắt, có lẽ đây là lần đầu tiên thấy cả cha lẫn mẹ mình cùng có mặt một lúc, nên đôi mắt Phái Nhi trợn tròn, ngơ ngác nhìn chằm chằm vào hai người, vẻ mặt đầy vẻ ngẩn ngơ xen lẫn chút hờn dỗi trẻ con.

Hoa Xuân bị bộ dạng của con trai làm cho vui lây, giọng nói nàng trở nên tươi tắn hẳn lên: “Phái Nhi ngốc nghếch, còn không mau lại đây thỉnh an cha đi.”

Lục Thừa Tự nhìn con trai, trong ánh mắt cũng lộ ra vẻ dịu dàng.

Khi con trai chào đời, chàng không có mặt ở Ích Châu. Thằng bé lớn lên đến năm bốn tuổi, chàng cũng chỉ mới được gặp con vỏn vẹn hai lần. Lần gặp trước là từ hai năm về trước, khi đó con trai mới lên hai, chẳng hề nhận ra chàng. Chàng dành thời gian cho con quá ít ỏi, nên tình cảm cha con chẳng mấy thân thiết; thế nhưng máu mủ tình thâm, nửa tháng trước khi quản gia dẫn Phái Nhi đến bên cạnh, chàng đã yêu thương thằng bé vô cùng.

Trong nửa tháng sớm tối bên nhau này, hai cha con cuối cùng cũng đã trở nên thân thiết hơn nhiều.

Thằng bé được thê tử của chàng giáo dục cực kỳ tốt, đã biết đọc sách, cũng biết nhận mặt chữ rồi.

Dù vậy, Phái Nhi vẫn theo bản năng mà làm nũng với mẫu thân, thằng bé cất tiếng gọi “Mẹ” rõ là giòn giã trước, sau đó mới bước xuống giường, bắt chước dáng vẻ người lớn mà chắp tay hành lễ với Lục Thừa Tự: “Nhi tử bái kiến phụ thân.”

Quy củ, ngoan ngoãn.

Lục Thừa Tự rất hài lòng, chàng vẫy tay ra hiệu với thằng bé: “Lại đây với cha nào.”

Phái Nhi đưa mắt nhìn Hoa Xuân trước, thấy nàng vội vã nháy mắt ra hiệu, thằng bé mới dám tiến đến trước mặt Lục Thừa Tự.

Lục Thừa Tự dắt tay con trai đi về phía gian phụ phía Tây.

Gian phụ phía Tây vốn có thể dùng làm thư phòng, nhưng hiện tại bên trong chỉ kê một chiếc bàn bát tiên để dùng làm nơi dùng bữa.

Có đứa trẻ, bầu không khí ngột ngạt trong căn phòng liền được phá bỏ.

Ma ma vừa bày biện xong thức ăn, Phái Nhi đã nhìn chằm chằm vào từng món một, miệng không ngừng líu lo đòi ăn.

Phu thê hai người ngồi đối diện nhau, Phái Nhi ngồi chen ở giữa. Lục Thừa Tự vốn là người đọc sách nên cực kỳ coi trọng quy củ, lúc ăn không nói, lúc ngủ không lời.

Hoa Xuân không quá khắt khe mấy chuyện này, nàng hỏi con trai thích ăn gì rồi gắp cho thằng bé.

Trước đây, Hoa Xuân không chỉ gắp cho con mà còn chủ động gắp thức ăn cho cả Lục Thừa Tự, nhưng hôm nay thì không.

Lục Thừa Tự dĩ nhiên chẳng bận tâm đến những điều nhỏ nhặt này, mà chàng cũng không có thời gian để tâm.

Ngược lại là Phái Nhi, thằng bé trước tiên gắp một miếng cà tím kẹp ngó sen mà mẹ yêu thích cho nàng, sau đó mới chọn một miếng thịt ở gần mình nhất bỏ vào bát của Lục Thừa Tự, rồi dùng giọng nói trẻ con nũng nịu bảo: “Cha cũng ăn đi ạ…”

Lục Thừa Tự mỉm cười.

Có thể thấy, quan hệ giữa hai cha con họ đang tiến triển khá hòa hợp.

Hoa Xuân thấy vậy cũng yên lòng.

Dùng bữa xong, Lục Thừa Tự theo thói quen quay về thư phòng để xử lý công vụ. Chàng thong thả bước qua ngưỡng cửa, chỉ để lại một câu: “Ta đi thư phòng trước.”

Hoa Xuân đang lau mặt cho Phái Nhi, nàng chỉ khẽ vâng một tiếng thật khẽ.

Đợi chàng rời đi, Tuệ Ma ma liền bước vào phòng, sai bảo nha hoàn Tùng Trúc dắt Phái Nhi đi dạo cho xuôi bụng, rồi bà tiến lại gần hầu hạ Hoa Xuân dùng trà: “Thiếu phu nhân, lúc nãy nô tỳ đã tìm nhũ mẫu để hỏi thăm một lượt, mới biết nửa tháng nay Đại ca nhi toàn ở cùng Thất gia trong thư phòng. Người xem có nên sai người đến đó, chuyển hết y phục của hai cha con họ về hậu viện không ạ?”

Tuệ Ma ma tận mắt chứng kiến, cô nương nhà mình phải chịu cảnh phòng không chiếc bóng suốt mấy năm trời, mà lòng đau như cắt. Nay khó khăn lắm phu thê mới được đoàn tụ, bà đương nhiên là mong mỏi hai người sẽ thuận hòa, êm ấm.

Đã là phu thê, thì phải chung chăn chung gối mới thực là phu thê đúng nghĩa.

Thế nhưng, thứ bà nhận được lại là lời chỉ thị: “Không cần đâu.”

Tại thư phòng, Lục Thừa Tự vẫn như mọi khi, vùi mình vào đống án văn thư tịch nặng nề. Mỗi đêm chàng thường làm việc đến gần giờ Tý mới ngủ. Lục Trân là tuỳ tùng hầu hạ bên cạnh, cứ cách hai khắc lại thêm trà một lần, tuyệt đối không dám làm phiền nửa câu. Nhưng hôm nay thì khác, hôm nay phu nhân đã vào kinh rồi.

Trong phủ có tới tám chín vị gia, vị nào mà chẳng thê thiếp đầy đàn, có người đẹp hầu quạt thêm hương? Chỉ riêng chủ tử nhà y là quanh năm suốt tháng sống cảnh thanh đạm cô độc. Y nhìn mà còn sốt ruột thay cho chủ tử. Chờ đợi ròng rã suốt năm năm, cuối cùng cũng đợi được ngày phu nhân vào kinh, Lục Trân còn vui mừng hơn cả chính chủ là Lục Thừa Tự. Y đã sớm thu dọn hết thảy y phục, trà cụ của chủ tử vào hòm xiểng, chỉ còn chờ người ở hậu viện sang tiếp nhận mà thôi.

Thế nhưng, y cứ đứng chờ mãi, chờ mãi mà phía hậu viện chẳng thấy bóng dáng một ai sang cả.

Thấy giờ Hợi đã sắp trôi qua, Lục Trân cuống cả lên. Y rón rén đẩy cửa bước vào phòng, vẻ mặt ủ rũ tiến đến trước mặt Lục Thừa Tự rồi quỳ xuống: “Thưa gia, tiểu nhân có chuyện muốn xin chỉ thị.”

Lục Thừa Tự đang tập trung đối chiếu sổ sách của Diêm Vận ty, bất thình lình bị tên tùy tùng cắt ngang, chàng hơi lộ vẻ không vui: “Chuyện gì?”

Lục Trân lén lút liếc nhìn chủ tử một cái, rồi ấp a ấp úng nói: “Thưa gia, thời gian cũng chẳng còn sớm nữa, ngài xem… đêm nay có phải nên sang hậu viện nghỉ ngơi rồi không ạ?”

Hỏi xong, người ngồi phía trên vẫn không hề đưa ra phản hồi ngay lập tức.

Đầu ngón tay trắng trẻo thon dài thuận theo các dòng sổ sách mà rà soát xuống dưới, Lục Thừa Tự cẩn thận chắt lọc thông tin vì sợ sai sót dù chỉ một chỗ, chàng thậm chí còn chẳng buồn ngẩng đầu lên: “Phu nhân có sai người tới lấy hành trang không?”

Theo quy cũ của Lục gia, tiểu sai đã trưởng thành, nếu không được phép thì không được bước chân vào thùy hoa môn. Vì vậy, lẽ tự nhiên là Hoa Xuân phải sai các bà tử đến tiền viện, để nhận y phục và đồ dùng của Lục Thừa Tự.

Mỗi lần chàng trở về Ích Châu, phu thê hai người chưa bao giờ ngủ riêng giường, thê tử luôn chu đáo thu xếp ổn thỏa mọi việc, chính vì thế mà Lục Thừa Tự cũng chẳng mảy may nghi ngờ hay nghĩ ngợi gì thêm.

Lục Trân há miệng, nặn ra một nụ cười khổ còn khó coi hơn cả khóc: “Dạ chưa ạ… Không những không có ai đến, mà phu nhân còn sai người đưa tiểu thiếu gia sang đây nữa.”

Lục Thừa Tự khựng lại, cuối cùng cũng chịu rời mắt khỏi đống án văn trên bàn để ngẩng đầu lên.

>>

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *