Chương 95
Ánh nến chập chờn, trong phòng tĩnh lặng đến lạ thường.
Phía sau bàn án, lão phu tử đã ngồi ổn định, và bắt đầu đặt tay lên bắt mạch cho Minh Di.
Minh Di dán mắt nhìn ông không chớp lấy một cái.
Lão nhân gia đã hơn bảy mươi tuổi, lông mày và râu tóc đều bạc trắng như cước, đôi gò má chỉ còn lớp da bọc xương, hốc mắt trũng sâu khiến đôi con ngươi trông đặc biệt thâm trầm khó đoán. Minh Di nhìn chằm chằm ông một lúc lâu, không dám chắc y thuật của ông đạt đến cảnh giới nào nên chẳng dám để lộ ra thực trạng. Trong khi đưa tay trái cho ông bắt mạch, tay phải của nàng âm thầm thúc động hơi thở, điều khiển khiến mạch tượng không đến mức quá trầm trệ và nghẽn tắc, cốt là để gia chủ không phải bận lòng.
Bùi Việt cũng nhìn ông chằm chằm, chỉ là vị lão nhân gia này tâm sâu tựa bể, trên nét mặt không lộ ra bất kỳ dấu vết nào.
Sau khi bắt mạch xong tay trái, ông chuyển sang tay phải.
Dường như đoán được Minh Di bận trăm công nghìn việc nên cũng không dám làm chậm trễ, chẳng bao lâu sau lão phu tử đã buông tay nàng ra. Ông gật nhẹ đầu với Bùi Việt, rồi cả hai cùng đứng dậy bước ra gian ngoài.
Minh Di thấy họ có ý tránh mặt mình, liền vội vã bám gót theo sau. Thấy hai người đứng lại nơi ngưỡng cửa, nàng cũng không tiến lại quá gần mà chỉ khoanh tay, dựa người vào bức tường trong gian phòng riêng để nghe ngóng từ xa.
Bùi Việt liếc nhìn nàng một cái, cũng không nói gì mà quay sang hỏi lão phu tử: “Thương thế của nàng ấy thế nào?”
Lão phu tử liếc nhìn Minh Di một cái đầy thâm trầm, sắc mặt hơi nghiêm trọng, nhưng vẫn quyết định nói sự thật: “Mạch tượng của vị cô nương này rít và hơi trầm, cho thấy nội thương chưa lành. Tuy nhiên, xem chừng nàng vẫn thường xuyên uống thuốc; qua mạch tượng, ta thấy vị lang trung chế thuốc cho nàng hẳn là một bậc cao nhân. Vì vậy, lão phu không cần phải kê thêm đơn khác. Thế nhưng, thưa Bùi gia chủ, xin thứ cho lão phu nói thẳng, thân thể của vị cô nương này e là khó có thể có con nối dõi.” Ông vuốt râu thở dài: “Đợi khi vết thương của nàng lành hẳn, lão phu sẽ kê một đơn thuốc khác để điều dưỡng tử tế xem sao.”
Bùi Việt nghe vậy thì ánh mắt hơi ngẩn ra. Với tình cảnh của hai người hiện giờ thì bàn chi đến chuyện con cái. “Đại phu, ta chỉ hỏi ông một câu, liệu nàng ấy có nguy hiểm đến tính mạng không?”
Ánh mắt của Minh Di lặng lẽ đảo qua lại giữa hai người bọn họ.
Lão phu tử trầm ngâm giây lát: “Chắc là chưa đến mức đó đâu.”
Bùi Việt thở phào nhẹ nhõm, trịnh trọng cúi người chào lão phu tử: “Dạo này nàng ấy còn bận rộn, đợi qua một thời gian nữa, mong lão đại phu lại đến xem giúp nàng, cần điều dưỡng thế nào thì cứ điều dưỡng.”
Lão đại phu đáp lễ lại chàng, Bùi Việt cho người tiễn ông rời đi, bấy giờ mới xoay người nhìn về phía Minh Di.
Minh Di ung dung tự tại nhìn chàng cười tủm tỉm, chưa kịp mở lời đã thấy Bùi Việt xoay người muốn bước ra ngoài. Nàng nhanh như cắt lướt tới một bước, giơ tay chặn đứng lối đi của chàng lại.
“Chàng tính bỏ đi như vậy sao!” Nàng trợn tròn mắt nhìn chàng đầy vẻ không cam lòng.
Bùi Việt thấy vậy liền lùi lại một bước, cười nhưng không cười rồi mỉa mai đáp: “Không đi, để lại bị nàng bóp cổ cho phát nữa chắc?”
Minh Di không kìm được mà liếc nhìn xuống cổ chàng. Dưới ánh nến, nàng thấy rõ chỗ bị mình bóp hôm qua đã bắt đầu đóng vảy. Nàng đưa tay phủ lên rồi nhẹ nhàng vuốt ve: “Còn đau không?”
Bùi Việt cười lạnh một tiếng, khuôn mặt tuấn tú vẫn bất động, chẳng mảy may biểu lộ thái độ gì.
Ánh mắt của Minh Di dừng lại trên lồng ngực rộng vững chãi của chàng, cánh tay nàng trượt từ cổ xuống, từ từ lướt qua vòng eo săn chắc, toan ôm chặt lấy chàng. Nào ngờ Bùi Việt cố tình lách người sang bên khiến nàng vồ hụt, rồi chàng lách qua người nàng và sải bước qua ngưỡng cửa. Bóng dáng cao ráo nhanh chóng chui tọt vào cỗ xe ngựa, chàng chẳng thèm ngoảnh đầu lại, ra lệnh cho thị vệ lập tức khởi hành.
“Này này này… Có giỏi thì đừng có tìm thiếp nữa nhé!”
“Có giỏi thì nàng đừng có ăn ngỗng quay nữa.”
“…”
Minh Di thất vọng gọi với theo mấy tiếng, trong lòng thôi thúc muốn đuổi theo chàng ngay lập tức. Nhưng nghĩ đến cảnh chiến hỏa loạn lạc sau lưng, nàng đành phải kìm nén ý định ấy lại.
Ngày trước sớm tối có nhau thì chẳng cảm thấy gì, đến lúc chia xa rồi mới thấu hiểu, thứ rượu này không cai được, mà Bùi gia chủ… nàng cũng chẳng thể nào cai.
Minh Di không lưỡng lự quá lâu, nàng nhanh chóng xoay người bước lên thành lâu, quả nhiên lại có thêm không ít quân báo vừa được gửi tới.
Các văn thư trên thành lâu đã sắp xếp gọn gàng rồi trình lên cho nàng xem xét.
Chu Cù thân hành thống lĩnh tinh nhuệ giao tranh với quân tiên phong của Lương Tấn Trung. Hai bên đánh nhau vô cùng quyết liệt, giằng co từng tấc đất. Quả đúng như Minh Di dự đoán, quân phản loạn hai lộ Đông – Tây vẫn khoanh tay đứng nhìn không hề cứu viện, chính vì thế Chu Cù càng tấn công kiên quyết hơn. Ông càng kiên quyết, Nam quân càng thấy rõ quyết tâm bình định phản loạn của triều đình lớn đến nhường nào, tâm lý vì thế mà tự nhiên dao động.
Chu Cù cũng là một tay lão luyện, trong lúc giáng cho quân phản loạn những đòn đau trực diện, ông liền phái một đội kỵ binh tỏa ra khắp nơi, đồng thanh thét lớn: “Bệ hạ có chỉ: Từ chức Tham tướng trở xuống, lập tức quy thuận triều đình sẽ được miễn tội!”
Mệnh lệnh này vừa ban ra đã làm lung lay dữ dội quân tâm của Hoài Vương. Những kẻ vốn đang do dự không quyết, hay những binh sĩ bị ép buộc tham gia làm loạn, nay liền nghiến răng hạ quyết tâm, dứt khoát chạy sang đầu quân cho Chu Cù.
Cục diện nhờ vậy đã khởi sắc hơn đôi chút. Thế nhưng Lương Tấn Trung cũng chẳng phải tay vừa, hắn đích thân chỉ huy một đội cung nỏ, nhắm thẳng vào những kẻ định bỏ chạy mà bắn loạn xạ để bình định lại tình hình.
Trước trận tiền, mưa tên bay qua lại không ngớt, tiếng đao thương va chạm vang lên đinh tai nhức óc. Đôi bên đều dốc hết bình sinh, quyết liều mạng cắn xé đối phương, trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt.
Nhìn sang phía Đông, phản tướng của Thần Cơ doanh là Tả Khiêm cùng cánh quân tinh nhuệ do Lương Tấn Trung phái đến đang tấn công dồn dập vào Quân Khí giám với ý đồ chiếm đoạt kho vũ khí. Dù lực lượng phòng thủ của Quân Khí giám có năm ngàn người, nhưng trước cuộc phản loạn bất ngờ này cũng đã bắt đầu tỏ ra yếu thế, khó lòng chống đỡ.
May thay, Thanh Hòa đã kịp thời dẫn quân đến nơi. Nàng ấy tay lăm lăm trường mâu, lưng đeo cung tiễn, xông thẳng vào quân trận của kẻ địch từ phía sau với thế mạnh chẻ tre. Giữa những đường mâu tung hoành, hàn quang lóe lên lạnh lẽo, chỉ thấy mũi mâu rung lên tạo thành những đóa hoa thương, khi thì tựa kiêu long xuất hải, lúc lại như linh xà phun độc, những nơi nàng ấy đi qua đều là máu tươi văng tung tóe.
Tia máu không ngừng bắn tung toé quanh thân, nàng ấy chỉ mặc duy nhất một chiếc giáp mềm hộ tâm, ngoài ra không còn gì khác. Giáp mềm đã sớm nhuộm thành một màu đỏ rực, vậy mà nàng ấy càng đánh càng hăng, xông pha như vào chỗ không người. Sau một hồi chém giết, trong vòng trăm bước xung quanh nàng, chim chóc bay sạch, một bóng người cũng không còn.
Cách đánh của nàng ấy quá mức máu me và sắc lạnh, ép Tả Khiêm phải dẫn quân rút lui. Nhờ đó, Quân Khí giám đã giữ vững được thế trận. Thanh Hòa vung ngang trường mâu, điểm chọn một đội kỵ binh để bám sát ngay sau lưng Tả Khiêm, rồi thét lớn: “Kẻ làm loạn phải chết!”
Cùng với tiếng gầm vang dội đó, nàng ấy ném mạnh ngọn trường mâu cho thị vệ bên cạnh, rồi xoay người rút cung lắp tiễn. Nhắm thẳng vào bóng dáng đang hốt hoảng tháo chạy trong đêm tối của Tả Khiêm, nàng ấy buông tay phóng tiễn. Chỉ nghe một tiếng “vút” xé gió, mũi tên xuyên thủng lớp bụi mờ, mang theo kình lực sắc bén và bá đạo đâm xuyên lồng ngực Tả Khiêm. Hắn thét lên một tiếng thảm thiết rồi ngã nhào xuống ngựa, tử vong tại chỗ.
Quân phản loạn thấy cảnh đó đều kinh hồn bạt vía, sợ hãi ghì chặt cương ngựa. Ngay khi chúng đang định xuống ngựa đầu hàng, lại thấy Thanh Hòa một mình một ngựa dẫn đầu, lao vút ra từ giữa trận tiền rồi quát lớn: “Theo ta giết địch, lấy công chuộc tội!”
Đám binh sĩ bừng tỉnh, không chút do dự gia nhập vào quân triều đình, đồng loạt xông thẳng về phía chủ lực của Lương Tấn Trung.
Vừa quá giờ Tý, là lúc màn đêm sâu nhất. Những đốm đuốc thưa thớt chập chờn phía xa, khói đặc cuồn cuộn mang theo mùi máu tanh nồng đậm, từng chút từng chút lan tràn khắp chân trời.
Chiến sự vừa nổ ra, nhiều trấn nhỏ và sơn trang vùng ngoại thành kinh kỳ đều đóng chặt cửa ngõ; kẻ thì mang theo tiền bạc của cải chạy trốn thật xa, người thì âm thầm trốn vào hầm ngầm hay nhà kho củi ngay tại chỗ để lánh nạn trong hoảng loạn. Những thị trấn vốn dĩ náo nhiệt giờ đây chìm trong bóng tối mịt mùng, ngay cả tiếng chó sủa cũng bặt vô âm tín, chỉ còn lại một sự im lặng chết chóc.
Đây chính là một ngôi làng nhỏ nằm ven trấn Đậu Sơn. Từ ngôi làng này đi về hướng Tây Nam, vượt qua một sườn núi chính là nơi đặt sở chỉ huy trung quân của Lương Tấn Trung và Hoài Vương. Một toán người ngựa lặng lẽ tiến đến nơi đây, họ bỏ ngựa đi bộ dưới chân dốc, men theo con đường nhỏ để lên núi.
Người dẫn đầu vẫn còn mặc trên mình bộ quan bào từ buổi lễ đính hôn ngày hôm qua. Chiếc mũ ô sa có chút xộc xệch vì ngựa phi xóc nảy, nhưng điều đó chẳng hề làm giảm đi phong thái thanh tao nhã nhặn của hắn. Một tay của hắn cầm kiếm, gạt mở bụi rậm, từng bước một leo lên phía trước. Theo sát sau hắn là một mãnh tướng trung niên có dán râu giả, chính là Trường Tôn Lăng đã vội vã cải trang dọc đường, ba ngàn quân Hổ Bôn vệ còn lại giáp trụ chỉnh tề, lặng lẽ nối gót theo sau.
Nhà Trường Tôn nắm quyền tuần tra kinh kỳ nên hiểu rõ địa hình núi non nơi đây như lòng bàn tay. Đám thị vệ dẫn theo ba ngàn binh mã này né tránh chiến trường chính, men theo một con đường nhỏ, thần không biết quỷ không hay đâm thẳng vào sườn sau của trấn Đậu Sơn.
Đến lưng chừng núi, hành tung của bọn người Lương Hạc Dữ bị lính canh phát hiện. Viên hiệu úy trực ban giương cung quát hỏi: “Kẻ nào?”
Lương Hạc Dữ lập tức đứng thẳng người dậy giữa đám dây leo bụi rậm, hướng lên phía sườn núi gọi lớn: “Là ta, Lương Hạc Dữ!”
Đối phương vừa nghe thấy giọng của Thế tử gia thì tức khắc mừng rỡ: “Có phải Thế tử gia đó không?”
Đêm tối mịt mùng, hai nhóm người đều đang ẩn nấp trong lùm cây, chẳng ai nhìn rõ mặt ai, Lương Hạc Dữ trầm giọng khẳng định: “Chính là ta.”
Viên hiệu úy lập tức yên tâm, liền sai người thắp đuốc tiến lên nghênh đón. Dưới ánh lửa bập bùng, chỉ thấy người tới có cặp lông mày thanh tú, mắt sáng tuấn lãng, không phải Lương Hạc Dữ thì còn là ai vào đây. “Thế tử gia, cuối cùng ngài cũng tới rồi! Hầu gia đợi ngài mà lòng nóng như lửa đốt.”
Lương Hạc Dữ nén xuống nỗi chua xót trong lòng, gượng cười nói: “Mau đưa ta đi gặp cha ta!”
“Được ạ!”
Ngay khi viên hiệu úy vừa đáp lời, bỗng thấy phía sau Lương Hạc Dữ bóng người chập chờn đông đúc, hắn giật mình kinh hãi, vội lùi lại mấy bước thủ thế đề phòng: “Thế tử gia, sau lưng ngài là những ai mà đông vậy?”
Lương Hạc Dữ liếc nhìn Trường Tôn Lăng và những người phía sau, tông giọng vẫn vô cùng điềm tĩnh: “Năm trăm người, là một bộ phận Hổ Bôn vệ đã được ta thuyết phục làm phản. Những người này trước đây từng phục vụ dưới trướng cha ta, hôm nay ta có thể thoát thân được, công lao của họ không hề nhỏ.”
Viên hiệu úy bấy giờ mới trút bỏ nghi ngại: “Thế tử gia, mau đi theo thuộc hạ tới gặp Hầu gia!”
“Được!”
Năm trăm người này hộ tống Trường Tôn Lăng và Lương Hạc Dữ lên núi trước. Đợi đến lúc họ theo chân viên hiệu úy xuống dốc tiến về phía trại chính của trung quân, số binh mã còn lại lập tức thừa cơ xông lên, lặng lẽ kết liễu toàn bộ lính canh gác trên núi.
Chẳng mấy chốc, bọn người Lương Hạc Dữ đã tiếp cận phía cánh Tây của doanh trại, trong khi hai ngàn năm trăm người còn lại vẫn ẩn nấp bên sườn núi chờ đợi tín hiệu. Phóng tầm mắt nhìn xuống, chỉ thấy vô số đuốc lửa lay động trong trại, tựa như một dải ngân hà đang chảy tràn trên mặt đất.
Khu vực doanh trại đèn đuốc sáng trưng, canh phòng cẩn mật. Một toán quân vừa từ tiền tuyến luân phiên rút về, đang nghỉ ngơi tại vùng trũng phía sau trại, lửa trại bập bùng khắp nơi, tiếng nhóm bếp thổi cơm vang lên rộn rã.
Viên hiệu úy dẫn bọn người Lương Hạc Dữ đến bên hông cổng trại thì bị lính canh ngăn lại.
“Thế tử gia theo thuộc hạ vào trong, những người còn lại đứng đây chờ lệnh!”
Ngay khoảnh khắc cổng trại vừa mở ra, bỗng thấy Lương Hạc Dữ đột ngột rút kiếm. Lưỡi kiếm vung lên một đường sắc lạnh, gọn gàng cắt đứt thủ cấp của viên hiệu úy kia. Ngay sau đó hắn dẫn quân phá cửa xông vào, chỉ kiếm về phía trước hét lớn: “Các huynh đệ, theo ta giết địch!”
Quân phản loạn đang nghỉ ngơi nghe tiếng động liền kinh hãi bật dậy. Thấy một đội cấm quân từ trên dốc lao xuống như hổ dữ sổ lồng, xông thẳng vào giữa trại, chúng kinh hoàng tột độ, vội vàng vác đao lên nghênh chiến.
Hai bên nhanh chóng lao vào cuộc kịch chiến.
Trường Tôn Lăng thừa cơ rút mũi tên tín hiệu bắn lên không trung để ra hiệu cho Thanh Hòa dẫn quân tới tiếp ứng. Ngay sau đó, hắn vung mạnh trường mâu, quét ngang về phía quân địch.
“Có kẻ tập kích doanh trại!”
Theo tiếng hô đó, cả trại lâu bỗng chốc náo loạn như vạc dầu sôi.
Trên người Lương Hạc Dữ không một mảnh giáp, tay cầm trường kiếm giết đến đỏ mắt. Khắp người hắn bao phủ một luồng sát khí ngút trời, thần ngăn sát thần, Phật cản sát Phật. Hắn chẳng thèm phòng thủ, bất chấp đao thương kiếm lướt, chỉ lầm lũi lao thẳng về phía trước. Một tướng địch giơ đao đón đánh, vừa nhận ra hắn liền lộ vẻ do dự: “Thế tử gia!”
Lương Hạc Dữ chẳng tránh cũng không né, mắt không hề chớp, chém mạnh một nhát vào đốc đao của đối phương. Một tiếng ‘keng’ vang dội, đối phương vậy mà bị hắn bức thoái ba bước. Không đợi gã kịp định thần, Lương Hạc Dữ đã áp sát, lấy đà chém mạnh vào vai đối phương, kéo theo một tràng máu bắn tung tóe.
Dưới sự tấn công hung hãn bất chấp tất cả của hắn, quân phòng thủ dần dần tan rã, liên tục bại lui.
Ngặt nỗi thân phận của hắn quá đặc biệt, nên quân thủ vệ căn bản không dám ra tay thật sự với hắn.
Đám người vừa ra sức chống đỡ, vừa khổ sở khuyên can: “Thế tử gia, ngài tỉnh lại đi, đừng làm chuyện dại dột nữa! Mau buông đao xuống, Hầu gia đang ở trong trướng đợi ngài đấy!”
Tiếc thay, Lương Hạc Dữ một chữ cũng chẳng lọt tai. Hắn cướp lấy một ngọn trường mâu rồi tiếp tục lao vào cuộc huyết chiến. Tầm nhìn ngày càng nhòe đi dường như chẳng còn thấy rõ vật gì nữa, chỉ cảm thấy ánh lửa trại chói mắt, bóng người hỗn loạn. Mồ hôi từ trán vã ra đầm đìa, thấm vào hốc mắt kích ra một dòng lệ nóng bỏng. Trong tâm trí hắn, hình ảnh người mẹ dịu dàng hiền thục, người phụ hầu cao lớn vững chãi như núi, và cả khuôn mặt đẹp tựa hoa cỏ của Tạ Như Vận lần lượt hiện về, rồi tất cả, tất cả đều như ảo ảnh đổ nát ngay trước mắt.
Tại sao?
Tại sao lại phải mưu phản!
Công danh lợi lộc chẳng qua cũng chỉ như mây khói thoảng qua, còn điều gì quan trọng hơn cảnh cả gia đình đoàn viên vui vẻ đây?
Hóa ra trên thế gian này, chưa bao giờ tồn tại hai chữ ‘viên mãn’.
Cảnh gác tía lầu son của phủ Tĩnh Tây Hầu, rốt cuộc vẫn trở thành đống gạch vụn ngói tan.
Hận ý như nham thạch phun trào từ đáy lòng: “Giết!”
Trường mâu vung xuống, lại thêm một chiếc đầu người rơi rụng.
Hắn vốn chưa từng giết người, đến con kiến cũng chưa bao giờ nỡ giẫm chết. Hắn từng ngỡ rằng chỉ cần cẩn trọng tích đức hành thiện, đời này sẽ có thể cưới được cô gái mình yêu, cầu một kết cục công đức viên mãn.
Hắn từng nghĩ cả đời này có thể mãi mãi trốn dưới đôi cánh che chở của phụ mẫu, làm một kẻ phong lưu phóng khoáng và tự tại nhất kinh thành.
Hết rồi, tất cả đều tan thành mây khói cả rồi.
Từng gương mặt tươi tỉnh sống động cứ thế lướt qua trước mắt, nhưng hắn lúc này tựa như tên quỷ Vô Thường do Diêm Vương phái tới, gương mặt vặn vẹo hung tợn, chẳng màng đến bất cứ điều gì. Mặc cho đối phương ra sức van nài khóc lóc cầu xin, hắn chỉ lạnh lùng vung mâu chém xuống. Từng dòng máu nóng cứ thế phun trào lên lồng ngực hắn, thấm đẫm cả mảnh bổ tử trên áo. Tà áo bào xanh vốn dĩ thanh tao giờ bị nhuộm đỏ như bộ quan phục đỏ thẫm, mà khuôn mặt hắn lại trắng bệch đến đáng sợ. Hắn nghiến răng cười lạnh, gầm lên với những kẻ đang không ngừng ập tới:
“Nhà họ Lương ta đời đời trung lương, tuyệt không làm kẻ nghịch thần!”
“Kẻ nào quy hàng sẽ không bị giết! Bằng không, kẻ nào cản đường ta thì giết không tha!”
Thấy Lương Hạc Dữ đã giết đến đỏ mắt, hệt như một con báo điên cuồng, đám thị vệ vội vã chạy đến trung quân ở tiền trại bẩm báo với Lương Tấn Trung. Lúc bấy giờ, Lương Tấn Trung đang đứng trước sa bàn cùng các tướng lĩnh thân tín bàn bạc điều chỉnh chiến thuật; vừa nghe tin Lương Hạc Dữ dẫn quân giết tới từ phía sườn, ông sững sờ cả người, chẳng nói chẳng rằng gạt phăng đám đông ra rồi sải bước ra khỏi phòng, men theo hành lang vòng về phía sau trại…..
Tiếng gió cuốn theo những âm thanh sắc lạnh của binh khí va chạm vang lên đầy chói tai trong màn đêm. Phía sau trại xác người nằm la liệt, mấy chục chậu lửa trại soi rọi nơi này sáng rực như ban ngày. Thảm cỏ xanh mướt ban đầu nay đã tụ lại thành một vũng máu đầm đìa, chỉ thấy một người vận y phục đầy máu đang đứng sừng sững giữa trung tâm của sự hỗn độn đó.
Đường nét của lông mày ánh mắt ấy là thứ mà ông không thể quen thuộc hơn, nhưng thần sắc cho đến khí chất toát ra khắp người hắn lúc này lại xa lạ đến mức khiến ông phải kinh tâm động phách.
Trong ấn tượng của ông, Dữ nhi chẳng qua chỉ là một công tử bột bất tài vô tướng chốn kinh kỳ, sách không chịu học hành tử tế, võ công cũng chỉ là hạng ba chân mèo, chẳng thể đem ra so bì với ai. Mỗi khi có người cười nhạo con trai ông không bằng Lý Lận Chiêu, ngoài mặt ông tuy cười trừ cho qua chuyện, nhưng trong lòng sao lại không khỏi tiếc nuối, tự trách mình đã quá nuông chiều, nên mới không nuôi dạy được một nhi tử có tiền đồ rạng rỡ.
Thậm chí mỗi khi đêm muộn, lúc ôm vợ con trong lòng, ông lại chẳng kìm được nỗi lo âu, tự hỏi rằng khi mình già đi, ai sẽ là người đứng ra chống đỡ cả sự nghiệp hiển hách của nhà họ Lương này đây.
Thế nhưng ngày hôm nay, cuối cùng ông cũng đã thấy được một Dữ nhi hoàn toàn khác biệt.
Chỉ thấy từng chiêu từng thức của hắn cực kỳ bài bản. Một tên thị vệ trước mặt vung trường đao dữ tợn lao tới, thằng bé không những không lùi mà còn lấn tới, chân trái dậm mạnh một bước, thắt lưng phát lực, mượn sức mạnh của toàn cơ thể tung một cú quét ngang cực mạnh bằng trường mâu, đánh ngã văng cả ba kẻ phía trước xuống đất.
Chiêu thức đánh ra vô cùng phóng khoáng, đã có dáng dấp của một bậc đại tướng.
Nếu là ngày thường, ông hẳn sẽ cảm thấy an lòng biết bao khi thấy con trai mình cuối cùng cũng đã thành tài.
Thế nhưng ông chưa từng nghĩ tới, con trai mình lại bị ép phải trưởng thành theo cách này.
Càng không thể ngờ rằng, lần đầu tiên thằng bé ra trận giết địch, mũi giáo chỉ thẳng vào lại chính là người cha ruột thịt này đây.
Cổ tay đang vịn vào lan can của Lương Tấn Trung khẽ run rẩy, ông nhắm nghiền mắt lại đầy đau đớn.
Ông chinh chiến nơi sa trường từ thủa thiếu thời, số người ông giết còn nhiều hơn số muối Lương Hạc Dữ từng ăn, đối với việc chém giết vốn đã sớm xem nhẹ. Thế nhưng ngày hôm nay, khi nhìn thấy chính con trai mình đang vung đao đồ sát, trong lòng ông chỉ còn lại nỗi thống khổ khôn cùng.
Đúng lúc này, vài viên tham tướng từ phía sau đuổi tới, sắc mặt lo âu khẩn thiết bẩm báo: “Hầu gia, không xong rồi! Có một toán quân triều đình đang xông tới từ phía cánh sườn. Kẻ dẫn đầu có võ nghệ vô cùng bá đạo, người đó đi tới đâu là ở đó chẳng còn ngọn cỏ nào sống sót.”
“Thế vẫn chưa là gì!” Một người khác mồ hôi đầm đìa tiếp lời: “Ngay vừa nãy, các vị Tả hữu Đô đốc mới được Hoàng đế bổ nhiệm đã tiếp quản Thần Cơ doanh và Tam Thiên doanh. Xem chừng, bọn họ sẽ sớm cùng với Chu Cù hợp quân, bao vây tiêu diệt chúng ta từ mọi phía.”
“Hầu gia, chúng ta phải làm sao đây? Nên rút lui về hướng Thái Nguyên, hay tiếp tục tử chiến đến cùng?”
Tiếc là sau khi họ báo cáo xong, lại nhận ra vị Tĩnh Tây Hầu vốn dĩ đánh đâu thắng đó này chẳng hề mảy may biến sắc. Ánh mắt ông vẫn găm chặt vào khoảng không ngay dưới chân mình. Hai vị tham tướng bất giác cùng nhìn xuống theo, chỉ thấy Lương Hạc Dữ đang đích thân dẫn đầu một toán cấm vệ quân đánh úp vào phía sau doanh trại, đôi bên đang kịch chiến không rời với những binh sĩ đang nghỉ ngơi bên dưới.
Cả hai viên tham tướng nhất thời đều câm nín.
Cùng lúc đó, Lương Hạc Dữ cũng đã phát hiện ra Lương Tấn Trung đang đứng trên tầng hai của doanh trại. Hắn cắm mạnh ngọn trường mâu xuống vũng máu, hướng về phía ông mà gào thét: “Cha!”
Tiếng ‘Cha’ ấy tựa như mũi tên rời cung xé toạc không trung lao đến, suýt chút nữa đã đâm nát tâm can của Lương Tấn Trung.
Lương Hạc Dữ bất chấp đao quang kiếm ảnh xung quanh, dừng bước hét lớn: “Cha, đầu hàng đi! Nhà họ Lương chúng ta không làm kẻ nghịch thần!”
“Mẹ vẫn còn ở kinh thành, nếu cha làm loạn thì bà ấy biết phải làm sao đây?”
Lời còn chưa dứt, đột nhiên một toán sát thủ từ lầu trại phía cánh Tây nhảy vọt ra, lao thẳng về phía hắn. Kẻ dẫn đầu dốc toàn lực đâm tới, một kiếm đâm xuyên qua cánh tay Lương Hạc Dữ. Máu bắn tung tóe lên khuôn mặt vốn đã đẫm mồ hôi và bụi bặm của hắn, nhưng hắn đến mắt cũng chẳng thèm chớp lấy một cái, mang theo tâm thế liều chết một lần nữa xông lên.
Lương Tấn Trung thấy cảnh đó thì lập tức đưa mắt quét tới.
Chỉ thấy Hoài Vương đang dẫn theo vài người từ trong doanh trại tầng một đi ra lầu trại phía Tây. Chứng kiến cảnh tượng này, hắn ta quay đầu quát lên với Lương Tấn Trung đang đứng trên lầu: “Lương Hầu! Kẻ làm đại sự không câu nệ tiểu tiết, mau bắt lấy lệnh lang trước đã, tránh để hắn làm hỏng đại sự của chúng ta!”
Lương Tấn Trung không thốt ra một lời, chỉ liếc nhìn Hoài Vương một cái rồi lại dời tầm mắt về phía con trai mình. Bên dưới, Lương Hạc Dữ đang khóc ròng, gọi ông từng tiếng, từng tiếng một. Ông hiểu rất rõ rằng lúc này mình nên quay trở lại trướng chính của trung quân để tiếp tục điều binh khiển tướng, ông vẫn còn cơ hội chiến thắng. Thế nhưng, nhìn đứa con trai đang liều chết giữa vũng máu, đôi chân ông như đổ chì mà chẳng thể nào nhấc lên nổi.
Nếu như con trai ủng hộ ông, ông vẫn có thể dốc toàn lực đánh một trận quyết tử, nhưng trớ trêu thay, Dữ nhi lại chọn đứng ở phía đối đầu.
Trước mắt ông không ngừng hiện lên gương mặt dịu dàng của thê tử, chồng lấp lên bóng hình đang vung đao chém giết của con trai. Một vị tanh ngọt dâng lên nơi cổ họng Lương Tấn Trung, một ý nghĩ bất chợt nảy ra trong đầu, và cũng chỉ trong chớp mắt ông đã hạ quyết tâm.
Nhà họ Lương không thể sụp đổ.
Nhìn thấy đứa con trai như thế này, ông lẽ ra phải thấy an lòng. Có thằng bé ở đây thì nhà họ Lương sẽ không sụp đổ.
Nếu đã như vậy, kẻ làm cha như ông nhất định phải tiễn thằng bé một đoạn đường.
“Cung đâu!” Ông đột nhiên cất tiếng.
Viên tham tướng thấy đôi mắt ông đang găm chặt vào Lương Hạc Dữ ở bên dưới, chỉ tưởng rằng ông định giết con, sợ đến mức mồ hôi vã ra như tắm: “Hầu gia, xin ngài hãy nghĩ lại!”
Lương Tấn Trung quét một ánh mắt âm hiểu qua, viên tham tướng không còn cách nào khác đành phải vào trong lấy cây cung cứng chạm trổ hoa văn của ông tới. Lương Tấn Trung đón lấy trường cung, lập tức giương cung lắp tiễn. Hoài Vương đang đứng ở góc hành lang bên dưới, thấy ông cuối cùng cũng chịu ra tay trừ khử kẻ cản chân này, bèn nở một nụ cười thâm độc.
Nào ngờ ngay khoảnh khắc hắn vừa quay người đi, sau tai đột nhiên vang lên một tiếng xé gió sắc lẹm. Nỗi sợ hãi cái chết cận kề quét qua toàn thân, gã vừa định ngoảnh đầu lại thì một mũi tên đã đâm xuyên qua cổ họng. Máu tuôn ra như thác đổ, Hoài Vương sững sờ, cả thân hình đổ vật xuống ngay đơ.
Sau khi xác nhận Hoài Vương đã chết, Lương Tấn Trung liền ném ra một thanh trường đao đầy chuẩn xác, lưỡi đao không lệch một ly cắt đứt thủ cấp của Hoài Vương.
Tất cả mọi người đều bị cảnh tượng đột ngột này làm cho chết lặng.
Đất trời như đông cứng lại trong thoáng chốc.
Lương Hạc Dữ há miệng thật lớn, ánh mắt hắn dời từ người cha sang Hoài Vương, rồi dần dần nhìn cái thủ cấp kia lăn từ trên sườn trại xuống dưới, lăn mãi đến tận dưới chân mình. Đôi mắt chết không nhắm mắt của Hoài Vương đang trừng trừng nhìn thẳng vào hắn. Một cơn nôn nao trào dâng trong lồng ngực Lương Hạc Dữ, hắn cố nén sự ghê tởm lại rồi ngước mắt nhìn lên Lương Tấn Trung.
Thế nhưng, hắn lại thấy Lương Tấn Trung đã đưa đao kề sát vào cổ mình.
Đồng tử của Lương Hạc Dữ co rút mạnh, chàng gào lên khản đặc: “Cha! Đừng mà!”
Lương Tấn Trung chẳng chút do dự. Mũi tên bắn chết Hoài Vương vừa rồi chính là ‘tờ công trạng’ mà ông thay con trai gửi tặng cho Thất hoàng tử. Với bản tính bao che khuyết điểm của Hoàng đế, chưa chắc người đã xử tử Hoài Vương, nhưng Thất hoàng tử chắc chắn không muốn thấy Hoài Vương còn sống lay lắt. Một đao kết liễu mạng sống của Hoài Vương, giúp con trai lập nên chiến công, có thế thì tính mạng của con và gốc rễ nhà họ Lương mới giữ được.
Còn nhát đao thứ hai này, chính là để thay con trai chặt đứt mọi can hệ với ông.
Dữ nhi vốn cực kỳ hiếu thảo, làm sao có chuyện con giết cha, nhưng nếu ông không chết thì vợ con ông sẽ chẳng thể nào thoát thân.
“Chăm sóc mẹ con cho tốt!”
Lương Tấn Trung vừa quát ra câu ấy, định vung đao tự vẫn.
Thế nhưng ngay đúng lúc này, một mũi tên thô lớn vô cùng với sức mạnh tựa ngàn cân treo sợi tóc, tàn phá mọi vật cản lao thẳng về phía giữa đôi chân mày của ông. Ông thậm chí còn chưa kịp phản ứng, mũi tên đã găm sâu vào giữa trán, óc văng tung tóe. Nỗi đau và ý thức cùng lúc chấm dứt ngay tức khắc. Thân hình cao lớn lồng lộng ấy lộn nhào khỏi lan can, rơi xuống nặng nề từ đài cao của trại.
Thanh Hòa cưỡi ngựa phi nước đại lao đến, bóng dáng y tựa như chim ưng sải cánh, lướt xuống từ giữa không trung. Nàng ấy rút ra thanh nhuyễn kiếm bên hông, dứt khoát chặt đứt thủ cấp của Lương Tấn Trung, rồi ném thẳng về phía Lương Hạc Dữ đang chết lặng: “Cầm lấy hai cái đầu này, đổi lấy mạng sống của ngươi!”
Lương Hạc Dữ đờ đẫn nhìn thủ cấp của cha mình, tim đập loạn không dứt. Khuôn mặt hắn vì kinh hoàng quá độ mà sắc máu rút sạch, trắng bệch như tờ. Hắn nôn thốc nôn tháo những thứ dơ bẩn đang cuộn trào trong bụng ra ngoài, đầu gối bỗng mềm nhũn, ngã ngồi bệt xuống đất. Hắn ngơ ngẩn nhìn cái đầu quá đỗi quen thuộc kia, nước mắt tuôn rơi, hai cánh tay run rẩy cẩn trọng ôm lấy nó rồi siết chặt vào lòng, trái tim như đã chết lặng.
Hai kẻ chủ mưu vừa bị diệt trừ, những kẻ còn lại cũng tan rã, đồng loạt quy hàng như gió lùa cỏ rạp.
Thanh Hòa dẫn người thu dọn tàn cuộc, chỉnh đốn binh mã, trói chặt tất cả những tướng lĩnh phản nghịch để chuẩn bị giải về kinh thành.
Cuối cùng, dưới sự khuyên nhủ của Trường Tôn Lăng, Lương Hạc Dữ ôm chặt hai thủ cấp trong lòng, rồi thúc ngựa hướng về phía cửa Tây Biện Môn.
Bấy giờ đã là đầu giờ Mão lúc tảng sáng, lớp bụi mù trên đỉnh đầu dần dần tan bớt, nơi chân trời khẽ lộ ra một vệt trắng bụng cá.
Trong màn sương sớm mờ ảo, hình dáng của lầu thành phía trước dần hiện rõ.
Lương Hạc Dữ tê dại cả người, cứ thế ôm chặt hai thủ cấp, mặc cho con ngựa cứ thế sải bước về phía trước. Đội lính gác đã sớm nhận ra đoàn người của Trường Tôn Lăng trở về nên lập tức hạ cầu treo. Hai con tuấn mã xé toạc màn sương sớm, lao nhanh qua cầu treo. Ngay chính lúc này, Lương Hạc Dữ chợt nhận ra dưới vòm cổng thành đang rộng mở, có một bóng người đang đứng lặng ở đó.
Chỉ thấy nàng vẫn đang mặc bộ hỉ phục đỏ rực từ hôm đính hôn trước đó, nơi vạt áo, những sợi chỉ vàng thêu hình đuôi phượng sống động như thật, được gió sớm thổi tung lên, tựa như đang vỗ cánh muốn bay giữa làn sương trắng mênh mông. Trong tay nàng không biết đang nắm giữ vật gì, hai ống tay áo chắp lại trước bụng, dáng đứng thanh tao và ngay ngắn, chẳng hề có chút vẻ yếu đuối của bậc khuê các tiểu thư, trái lại trông như một nhành mai sớm hiên ngang giữa trời, dẫu trước gió vẫn không hề gãy gập.
Là Tạ Như Vận.
Đôi mắt của Lương Hạc Dữ nhói lên vì đau đớn, hắn nhìn nàng đăm đăm không rời. Dưới sự nâng đỡ của Trường Tôn Lăng, hắn ôm chặt hai thủ cấp rồi loạng choạng xuống ngựa, từng bước, từng bước một tiến đến trước mặt nàng. Nhờ ánh lửa từ những ngọn đuốc cháy bừng bừng trên vách đường hầm của cổng thành, hắn nhìn rõ khuôn mặt nàng. Đó vẫn là một gương mặt thanh khiết vô ngần, rạng rỡ như xưa, chỉ có điều nơi khóe mắt dường như vẫn còn vương dấu tích của một trận khóc dài.
Lương Hạc Dữ có lẽ không muốn để nàng nhìn thấy bộ dạng thê thảm này của mình, hắn nén lại nỗi cay đắng đang dâng đầy cổ họng, gượng gạo nặn ra một nụ cười: “Sao nàng lại đến đây? Trời sớm thế này mà chẳng khoác thêm chiếc áo choàng, lỡ như bị nhiễm lạnh thì phải làm sao?”
Tạ Nhu Vận dõi theo hắn bằng ánh mắt trong trẻo nhưng lạnh lùng. Chỉ thấy khuôn mặt tuấn tú ấy nay đã phủ đầy những vệt máu loang lổ, trong đôi mắt chằng chịt những tia máu vằn vện, chẳng còn lại chút mềm yếu nào của ngày xưa nữa, mà thay vào đó là sự cương nghị và quyết đoán đã được tôi luyện qua khói lửa chiến tranh.
Khác thật rồi, chỉ sau một đêm, hắn dường như đã biến thành một con người khác, rạng rỡ đến mức khiến người ta chẳng dám nhận ra.
“Ta đã đến đây từ đêm qua, vẫn luôn đứng trên lầu thành đợi huynh. Đợi huynh trở về để trao trả thứ này lại cho huynh.”
Lương Hạc Dữ nhìn theo tầm mắt của nàng xuống lòng bàn tay, chính là miếng ngọc bội uyên ương mà đêm qua hắn đã trao lại cho Minh Di, nay lại đang nằm yên vị trong tay nàng. Đầu óc của Lương Hạc Dữ lập tức chấn động, đồng tử co rút mạnh, hắn hỏi với vẻ không thể tin nổi: “Nàng có biết mình đang nói gì không?”
“Ta đương nhiên biết rõ.” Tạ Nhu Vận nhìn thẳng vào mắt hắn.
Vành mắt của Lương Hạc Dữ đỏ hoe, cay xè. Một tia sáng bạc xuyên thấu qua lớp bụi mờ của một đêm dài thống khổ và mịt mù, từ sâu trong đồng tử của hắn trào dâng mạnh mẽ. Giọng hắn không kìm được mà run rẩy: “Nàng không chê ta là hậu duệ của nghịch thần sao?”
“Tạ Nhu Vận ta lẽ nào lại là hạng người có tầm nhìn hạn hẹp như thế sao?” Giọng nói của cô nương ấy chưa bao giờ đanh thép đến thế. Nàng ta đưa mắt nhìn hắn từ trên xuống dưới, thấy khắp người hắn là vết máu loang lổ rõ rệt, trong mắt không giấu nổi vẻ xót xa khôn cùng: “Ta làm sao có thể chê huynh cho được, ta thương yêu còn chẳng kịp nữa là. Trong mắt ta, huynh chính là người chiến sĩ anh dũng và kiên cường nhất!”
Lương Hạc Dữ hít một hơi thật sâu: “Nàng… vẫn nguyện ý gả cho ta chứ?”
“Đương nhiên rồi!” Tạ Nhu Vận nén nước mắt, rồi gật đầu thật mạnh.
Mọi cảm xúc bị dồn nén suốt cả đêm dài cuối cùng cũng bùng nổ trong khoảnh khắc này. Lương Hạc Dữ đặt hai thủ cấp sang một bên, rồi ôm ghì lấy nàng vào lòng mà òa khóc nức nở.
Chương 96
Ánh bình minh ló rạng, xuyên thấu qua màn sương sớm. Không khí sực nức mùi đất ẩm, lẫn lộn với mùi khét của cỏ cây bị thiêu rụi và mùi máu tanh nồng nặc bao trùm khắp nơi. Những thi thể không vẹn toàn, cờ xí gãy nát, binh khí bỏ lại nằm rải rác khắp nơi; phía trong thành quách cũng là một mảnh hỗn độn và hoang tàn.
Hóa ra đêm qua Hoài Vương cũng đã kích động gây rối trong thành, lúc này lệnh giới nghiêm vẫn đang được thực thi, Binh mã ty ở trong thành vẫn đang tiếp tục truy quét tàn dư của đảng loạn.
Trường Tôn Lăng dẫn theo Lương Hạc Dữ đi tới trước cửa Thừa Thiên, hai chiếc thủ cấp đã được thị vệ cho vào hộp gỗ. Hai người tháo bỏ vũ khí, bước theo sau nội thị từng bước một tiến về phía điện Phụng Tiên. Ngay khi đến bên ngoài điện, Lương Hạc Dữ quỳ rạp xuống đất rồi cao giọng thỉnh tội: “Tội thần Lương Hạc Dữ dẹp loạn trở về, xin Bệ hạ giáng tội!”
Văn võ đại thần trong điện đồng loạt phóng tầm mắt nhìn ra, chỉ thấy hai tên Vũ Lâm vệ bê hai chiếc hộp gỗ tiến vào điện. Hộp được đặt xuống giữa điện rồi mở ra, hai chiếc thủ cấp đẫm máu nằm tĩnh lặng bên trong. Mọi người liếc nhìn qua, không ai là không dựng tóc gáy, cảm thấy khí lạnh chạy dọc sống lưng, tất cả đồng loạt né tránh ánh nhìn, không ai dám thốt lên lời.
Thất hoàng tử cũng quay đầu nhìn lại, vừa liếc mắt đã thấy đầu của Hoài Vương, tức khắc sững sờ, ngay sau đó lướt nhìn Trường Tôn Lăng và Lương Hạc Dữ đang quỳ bên ngoài điện.
Hoài Vương vốn là dòng máu hoàng tộc, cho dù có tạo phản làm loạn, nếu không có thánh chỉ thì bất cứ ai cũng không được tùy ý chém giết. Thất hoàng tử sở dĩ kinh ngạc chính là vì kinh ngạc trước lá gan của Lương Hạc Dữ, và với sự thông tuệ của mình, cậu đương nhiên hiểu rõ thủ cấp này là để dâng cho ai.
Thất hoàng tử thu hồi tầm mắt, không nói một lời.
Trong điện im phăng phắc như không có người, tất cả đều đang nín thở chờ đợi phản ứng của Hoàng đế.
Hoàng đế trên ngai vàng kim loan cả đêm không ngủ, đầu đau như bị thắt vòng kim cô, lúc này đang giật lên từng cơn. Ông ấy không hề ngẩng mắt, chỉ truyền: “Cho Trường Tôn Lăng vào điện.”
Trường Tôn Lăng lập tức vào điện, quỳ một gối rồi dõng dạc bẩm báo: “Muôn tâu Bệ hạ, thần phụng mệnh dẹp loạn, đã cùng con tin Lương Hạc Dữ giả vờ đầu quân cho quân phản loạn để trà trộn vào hậu phương, nội ứng ngoại hợp đánh tan quân nghịch. Trong đó, Lương Hạc Dữ xông pha đi đầu, chiến đấu dũng mãnh, đã chém chết thủ lĩnh quân phản loạn là Lương Tấn Trung. Còn Hoài Vương điện hạ do không chịu phục tội, cầm đao kháng cự, không may bị quân phản loạn giết nhầm. Tâu Bệ hạ, phản loạn Nam quân đã dẹp xong, xin Bệ hạ yên lòng.”
Hoàng đế vừa nghe tin Hoài Vương bị giết thì đột ngột mở bừng mắt: “Ai đã giết hắn?!”
Không có chỉ thị của Hoàng đế, kẻ nào dám chém chết hoàng tử?
Tiếc thay bên dưới không một ai đáp lời, ngay cả Trường Tôn Lăng cũng bị ánh mắt lạnh lẽo của Hoàng đế áp chế đến mức không dám ngước nhìn. Hoàng đế giận không kìm nén nổi, hướng ra ngoài điện quát lớn: “Lương Hạc Dữ, ngươi lăn vào đây cho trẫm! Nói cho trẫm biết, kẻ nào đã giết Hoài Vương?”
Lương Hạc Dữ cũng không dám ngẩng đầu lên, quỳ gối lết vào trong điện rồi nghẹn ngào thưa: “Là phụ thân của tội thần! Người được tội thần khuyên hàng, vì căm hận Hoài Vương ép buộc mình mưu phản, nên trong lúc phẫn nộ đã bắn chết hắn!”
Sắc mặt của Hoàng đế đột ngột biến đổi. Ông ấy vốn am tường quyền thuật, lẽ nào lại không biết dụng ý trong hành động này của Lương Tấn Trung? Đây chính là đi trước một bước để trung thành với tân quân. Thật là một thủ đoạn cao tay! Ánh mắt của Hoàng đế nảy lên những tia lạnh lẽo, ông ấy tức giận đến mức toàn thân co giật, một ngụm máu tươi phun ra, suýt chút nữa là ngã nhào xuống đất.
“Bệ hạ!”
Lưu Trân vội vàng lao lên đỡ lấy Hoàng đế, hết sức khuyên giải: “Bệ hạ bớt giận, xin Bệ hạ bảo trọng long thể! Lương Tấn Trung tuy đáng hận đáng trách, nhưng Hoài Vương điện hạ quả thực đã phạm vào tội chết, kết cục như thế này chẳng phải cũng giúp Người tránh được cảnh khó xử sao?”
Một câu nói này đã hóa giải được sự kiêng dè mà Hoàng đế có thể đang nhen nhóm đối với Thất hoàng tử, đồng thời cũng tạo cho Hoàng đế một bậc thang để xuống đài.
Hoàng đế vốn đã bị cuộc phản loạn này thiêu đốt tâm can, nay lại chịu thêm cú sốc mất con, cơn uất hận càng thêm chồng chất. Sắc mặt của ông ấy lúc xanh lúc trắng, cổ họng bị ngụm máu ứ đọng làm cho tắc nghẽn, gần như nghẹt thở.
Lưu Trân thấy tình hình bất ổn thì lập tức gọi nội thị đỡ Hoàng đế trở về Ngự thư phòng, đồng thời truyền thái y tới bắt mạch chẩn trị.
Thất hoàng tử im lặng một hồi, sau đó cũng cất bước đi theo vào trong. Văn võ đại thần trong điện âm thầm trao đổi ánh mắt, không thể không thán phục quyết định cuối cùng này của Lương Tấn Trung.
Hai chiếc thủ cấp: một chiếc dành để dâng cho vị minh chủ tương lai là Thất hoàng tử; một chiếc dành để nộp cho Hoàng đế dẹp tan cơn phẫn nộ.
Lương Tấn Trung tuy đã làm hại con trai mình, nhưng cũng chính là đã thành toàn cho con trai.
Khoảng một canh giờ sau, Hoàng đế dần dần tỉnh táo lại. Vừa mở mắt, ông ấy đã thấy Thất hoàng tử ở ngay bên cạnh đang thổi thuốc cho mình, rồi ôn tồn nói: “Phụ hoàng, vừa rồi các quân đều đã báo về, phản loạn đã dẹp xong, triều cục đã ổn định, xin Người ngàn vạn lần phải bảo trọng long thể.”
Hoàng đế nằm trên giường, lặng lẽ nhìn vị đích tử đang được muôn người đặt kỳ vọng này, hồi lâu không nói một lời.
Hai đứa con trai liên tiếp xảy ra chuyện khiến Hoàng đế chịu đả kích nặng nề. Ông ấy vốn liệu trước Hoài Vương là kẻ không an phận, nhưng cũng không ngờ hắn lại có lòng mưu phản từ sớm, chẳng những bí mật thông đồng với Lương Tấn Trung mà ngay cả Thần Cơ doanh và Tam thiên doanh cũng được bố trí quân cờ. Kẻ xảo trá hiểm độc như vậy lại chính là vị Hoàng trưởng tử do ông ấy sinh ra, càng nghĩ lại càng thêm giận.
Lúc này, những thói hư tật xấu vốn có của bậc quân vương bắt đầu lộ rõ. Ông ấy luôn cảm thấy bản thân mình không có lỗi, lỗi là ở mẫu thân của hắn, chắc chắn là do di truyền cái dòng máu tâm thuật bất chính nên mới có cuộc loạn ngày hôm nay.
Thế là, ông ấy liên tiếp hạ ba đạo chiếu chỉ.
“Lưu Trân, soạn chỉ, lập tức xử tử Mân Quý phi.”
“Tru di cửu tộc Mân gia.”
“Tất cả nam đinh trong phủ Hoài Vương đều bị chém đầu, quận chúa bị giáng làm thứ dân, chịu cảnh giam cầm suốt đời, những nữ quyến còn lại thì tống vào Dịch Đình làm nô tì.”
Lưu Trân lập tức đáp lời: “Nô tài lĩnh mệnh.” Sau đó gã lại hỏi: “Vậy còn Lương gia thì sao ạ?”
Hoàng đế khẽ thở dốc, đôi mày nhíu chặt lại chưa thể đưa ra quyết định ngay lập tức. Theo tính cách của ông ấy, lẽ tự nhiên là phải tru di cửu tộc nhà họ Lương. Thế nhưng, nếu đêm qua không có Lương Hạc Dữ giả vờ đầu hàng làm lay chuyển quân tâm của Lương Tấn Trung, thì cuộc phản loạn này chắc chắn không thể dẹp yên dễ dàng như thế. Dẫu sao hắn cũng là người có công, nếu cứ thẳng tay giết sạch thì e rằng sau này sẽ chẳng còn ai dám dốc lòng vì triều đình nữa.
Hoàng đế lúc này cố ý liếc nhìn Thất hoàng tử một cái rồi hỏi: “Tiểu Thất thấy thế nào?”
Chu Thành Dục đương nhiên đoán được đây là sự thử thách của Hoàng đế, nhưng nay đã khác xưa, không còn cần phải giấu mình chờ thời nữa, cậu bèn thẳng thắn nói: “Phụ hoàng, nhi thần thiết nghĩ, Lương phu nhân bị chồng liên lụy, vốn dĩ phải xử tử, nhưng xét thấy bà có công dạy con đúng đắn, có thể miễn tội chết, giáng làm thứ dân. Còn Lương Hạc Dữ đêm qua trung dũng vẹn toàn, chi bằng trước hết hãy bãi chức cho về nhà, sau này tùy tình hình mà phục chức.”
Đây chính là sự đáp lại tốt nhất dành cho hai chiếc thủ cấp kia. Hoàng đế không còn gì để nói, chỉ phán: “Chuẩn tấu.”
Long thể của Hoàng đế bất an, triều đình lại vừa trải qua phen biến động này khiến lòng người dao động, bàng hoàng lo sợ. Để trấn an dân chúng, vào đúng giờ Ngọ ngày hôm đó, Hoàng đế đã ban bố chiếu thư: Lập Trung cung đích tử Thất hoàng tử Chu Thành Dục làm Thái tử, lệnh cho ngài thống lĩnh lục bộ, tham gia quyết định chính sự để củng cố gốc rễ quốc gia.
Thất hoàng tử dẫn đầu văn võ bá quan khấu đầu tạ ơn.
Sau đó, Hoàng đế lệnh cho Thất hoàng tử thay mình đến điện Văn Chiêu xử lý chính sự tồn đọng trong hai ngày qua. Một triều thiên tử thì một triều thần, vô số công khanh vây quanh Thất hoàng tử, có ý muốn nương nhờ, nhưng Thất hoàng tử chỉ đứng trên bậc thềm son, hướng về quần thần mà cúi mình hành lễ.
“Chư vị, Chu Thành Dục ta không phải hạng người như Hoài Vương hay Hằng Vương. Chư vị không cần phí tâm lấy lòng, chỉ cần làm quan cho tốt, xử việc cho đúng. Chúng ta không phải đồng đảng, mà đều là thần tử của Thiên tử.”
Quần thần nghe vậy, ai nấy đều khâm phục cúi mình.
Lời ấy sau đó tự nhiên truyền đến tai Hoàng đế, khiến thánh tâm vô cùng an ủi. Qua một phen biến loạn, Hoàng đế cũng dường như già đi không ít, tâm tính chẳng còn cay nghiệt vô tình như trước kia nữa. Bài học đã bày ra trước mắt, ông không còn lòng muốn nâng đỡ một người khác để kiềm chế Tiểu Thất, trái lại lại có chút lo lắng cho Hằng Vương vẫn đang bị giam giữ, nên dặn dò Lưu Trân rằng: “Ngươi hãy đích thân đến phủ Hằng Vương, thay trẫm nghiêm khắc quở trách hắn, bảo hắn phải an phận thủ thường.” Trải qua biến loạn của Hoài Vương, Hoàng đế cũng đã sinh lòng cảnh giác với Hằng Vương, e rằng tâm cơ gian trá của hắn chưa chết, lại tái phát. Dù sao tuổi tác đã cao, Hoàng đế không thể chịu nổi những đòn liên tiếp hết lần này đến lần khác được nữa.
Lưu Trân vâng lệnh, khẽ rung một chiếc phất trần, rồi dẫn theo vài tiểu nội thị từ điện Phụng Thiên bước ra. Ánh nắng mùa hạ hôm nay rực rỡ vô cùng, trận mưa buổi sớm đã gột sạch khói lửa của đêm qua. Lúc này bầu trời xanh biếc như được rửa sạch, phía trước điện Phụng Thiên hiện ra một khoảng trời xanh thẳm, mênh mông vô tận.
Lão Thủ phụ nếu còn sống, lúc này hẳn là sẽ cảm thấy an ủi.
Lưu Trân chậm rãi dẫn các nghĩa tử bước xuống bậc thềm, xa xa nhìn về khu quan phủ san sát phía trước, rồi kẽ thở dài một tiếng: “Sử sách ngàn năm, chất đầy xương khô, triều đường xưa nay vốn là kẻ này hát xong thì kẻ khác lại bước lên. Tựa như bao nhiêu gió tang mưa máu sau một đêm đều bị bóng tối gột rửa, rốt cuộc cũng chỉ là mây khói thoáng qua mà thôi.” Ông giơ tay chỉ lên vầng thái dương chói lọi giữa trời: “Các ngươi xem, ngày hôm sau mặt trời vẫn chiếu sáng như thường.” Một ngày nào đó, chính ông cũng sẽ trở thành một bộ xương khô dưới hoàng thành này.
“Lưu Trân lắc đầu thở dài, rời khỏi Ngọ Môn rồi lên xe cung đến trước phủ Hằng Vương. Kể từ khi Hằng Vương bị giam lỏng, Cẩm Y Vệ đã thay phiên canh giữ bên ngoài phủ cả ngày lẫn đêm. Thấy Lưu Trân ngồi trong xe, tên Thiên hộ Cẩm Y Vệ cầm đầu lập tức ân cần tiến lại vén rèm, nịnh nọt: “Cơn gió nào đã thổi lão tổ tông ngài đại giá quang lâm đến đây thế này?”
Lưu Trân khom người bước xuống xe, liếc nhìn tên Thiên hộ một cái, cảm thấy hơi quen mặt nên mỉm cười đáp: “Bệ hạ không yên tâm về Hằng Vương, nên sai ta đến đây đốc thúc và răn đe vài câu.”
Tên Thiên hộ Cẩm Y Vệ lập tức hiểu ý ngay, bèn cam đoan: “Ngài cứ yên tâm, thuộc hạ đã phòng thủ nghiêm ngặt khắp mọi phía, đảm bảo đến một con ruồi cũng không bay vào lọt, một con kiến cũng chẳng thể bò ra ngoài.”
Lưu Trân đặt tay lên cổ tay hắn để xuống xe, rồi nhàn nhạt nói: “Tốt nhất là nên như thế.”
Sau đó ông ta đi đến trước cửa phủ Hằng Vương nhưng đứng yên không động đậy, mà quay sang phân phó cho một người con nuôi đi bên cạnh. Người này chính là một Tùy tùng Thái giám của Ty Lễ Giám, tuy chưa được thăng làm Bỉnh bút nhưng đã được phép trình báo và chỉnh lý văn thư, là một trong số ít những người con nuôi được Lưu Trân dày công dạy bảo: “Ta không vào trong nữa, ngươi hãy thay ta truyền tới Hằng Vương điện hạ một lời, nói rằng Bệ hạ bảo ngài ấy hãy an phận thủ thường, có như vậy mới mong được hưởng trọn tuổi già.”
Liệu có thực sự được hưởng trọn tuổi già hay không thì Lưu Trân không dám khẳng định, nhưng ít nhất cũng có thể giữ được mạng sống cho đến khi Hoàng đế băng hà.
Người con nuôi kia lập tức vâng lệnh, cất bước đi vào trong phủ bằng lối cửa nách.
Tên Thiên hộ Cẩm Y Vệ thấy Lưu Trân ôm phất trần đứng im bất động, bèn tò mò hỏi: “Lão tổ tông, sao ngài không vào trong?”
Lưu Trân nhìn đăm đăm vào tấm biển hiệu màu xanh tươi sáng phía trước, không đáp lời.
Nếu như hôm nay ông ta bước chân vào phủ Hằng Vương này, chẳng may tiếng đến tai Chu Thành Dục, người ta sẽ cho rằng ông ta qua lại mật thiết với Hằng Vương. Đến ngày Chu Thành Dục đăng cơ, ông ta chắc chắn sẽ không có kết quả tốt đẹp gì. Leo lên được đến vị trí Chưởng ấn của Ty Lễ Giám, ông ta tất yếu phải là kẻ khôn ngoan bậc nhất, quá am hiểu tâm tư của những kẻ bề trên.
Còn về việc tại sao lại chọn người con nuôi này vào trong, chỉ vì gã này ngày thường tỏ ra quá mức lanh lợi. Lưu Trân không thích kẻ ngu ngốc, nhưng cũng chẳng ưa gì những kẻ dưới trướng quá mức khôn ngoan, nên muốn cho gã một bài học.
Lưu Trân quả nhiên không nhìn lầm, gã Thái giám Tùy tùng tên gọi Lôi Sơn này thực sự ‘lanh lợi’. Tại sao ư? Bởi vì gã chính là tai mắt mà Hằng Vương đã mua chuộc từ trước.
Lôi Sơn vừa bước chân vào Vương phủ đã đi thẳng tới thư phòng của Hằng Vương.
Kể từ khi bị giam lỏng, Vương phủ rộng lớn là thế mà giờ đây chỉ còn lại hai tên nội thị: một kẻ chuyên làm những công việc nặng nhọc tạp dịch, kẻ còn lại hầu hạ ăn ở thường nhật. Mọi chi phí ăn mặc, chi dùng hằng ngày của phủ đều phải tìm đến Nội Đình Ty để thỉnh cầu, bữa có bữa không, cuộc sống trôi qua vô cùng uất ức.
Hằng Vương bị giam lỏng chưa bao lâu mà đã gầy gò đến mức chỉ còn da bọc xương. Hắn không cam tâm cứ thế mà lụi bại, nhưng lại giống như mãnh thú bị nhốt trong lồng, chẳng thể làm gì được, hằng ngày chỉ biết luyện chữ vẽ tranh trong thư phòng để giết thời gian.
Lôi Sơn vừa đẩy cửa phòng ra đã thấy Hằng Vương đang nằm vật trên một chiếc ghế tựa, sắc mặt vẫn u ám và sầu não như cũ.
Gã vội vàng gọi khẽ một tiếng: “Điện hạ!”
Hằng Vương nghe ra giọng nói quen thuộc, đột ngột mở bừng mắt. Vừa chạm phải ánh mắt của Lôi Sơn, hắn liền “xoạt” một tiếng nhỏm dậy, rồi ngồi ngay ngắn lại: “Lôi Sơn, sao lại là ngươi?”
Lôi Sơn thấy Hằng Vương gầy đến mức biến dạng, trong phút chốc suýt không nhận ra, gã xót xa nhào tới quỳ rạp dưới chân hắn: “Điện hạ, nô tài phụng mệnh đến vương phủ để thăm nom ngài.”
“Phụng mệnh ai? Thăm nom cái gì? Chẳng lẽ… Phụ hoàng muốn ban cái chết cho ta?” Hằng Vương vội vàng túm chặt lấy bả vai gã, thần sắc kinh hoàng.
Lôi Sơn rơm rớm nước mắt, lắc đầu đáp: “Không phải vậy, thực chất là Hoài Vương mưu loạn, vừa bị tiêu diệt vào rạng sáng nay. Bệ hạ không yên tâm về ngài, nên đặc biệt phân phó cha nuôi của nô tài đến phủ thăm hỏi.”
Vừa nghe thấy Lưu Trân đã đến ngoài cửa, thần sắc Hằng Vương bỗng sáng bừng lên: “Vậy sao ông ta không vào đây?”
Lời còn chưa dứt, hắn đã lập tức hiểu ra vấn đề. Hằng Vương cười một cách thê lương rồi bất lực lắc đầu: “Chao ôi, quả nhiên là tường đổ mọi người cùng đẩy.”
“Đúng rồi Lôi Sơn, đêm qua ta nghe thấy bên ngoài loạn lạc ồn ào, đã xảy ra chuyện gì, ngươi hãy kể lại tỉ mỉ cho ta nghe.”
Lôi Sơn lập tức kể lại toàn bộ sự việc Hoài Vương tạo phản không sót chi tiết nào. Hằng Vương nghe xong mới biết bên ngoài đã trời xoay đất chuyển, hắn sững sờ hồi lâu rồi lẩm bẩm nói: “Nói vậy là… thiên hạ này cuối cùng vẫn là thiên hạ của lão Thất? Ta vốn đã biết mà, trước đây phụ hoàng sủng ái ta, nói cho cùng cũng chỉ là để ta làm đá mài dao cho đứa con đích tôn bảo bối của Người. Đáng thương cho ta cả đời dốc sức mưu tính, cuối cùng lại rơi vào cảnh vợ con ly tán, tan cửa nát nhà.”
Nói đến đây, hắn đột nhiên nhớ ra điều gì đó, định thần lại rồi chất vấn Lôi Sơn: “Không đúng, Lý Tương chẳng phải đã phản quốc sao? Cháu ngoại của một kẻ phản quốc mà cũng có thể làm Thái tử ư?”
Lôi Sơn cười khổ đáp: “Điện hạ có điều chưa biết, Bắc Định Hầu giờ đây đã không còn là kẻ phản quốc nữa rồi. Ngay từ hôm qua, ái nữ của ông ta là Lý Lận Nghi đã minh oan cho cha mình ngay giữa triều đình. Nếu không có chuyện đó, thì Bệ hạ cũng chẳng thể lập Thất hoàng tử làm Thái tử vào ngày hôm nay được.”
Hằng Vương vừa nghe xong thì sắc mặt lập tức biến đổi dữ dội, hắn vẫn chưa thể tin vào tai mình, liền túm chặt lấy cổ áo Lôi Sơn mà gào lên: “Mau, mau nói cho ta biết rốt cuộc là chuyện như thế nào?”
Lôi Sơn đành phải mang toàn bộ việc Hoài Vương và Lương Tấn Trung hãm hại Lý Tương thuật lại từ đầu chí cuối. Hằng Vương nghe xong, đối với việc Lý Tương bị hãm hại thì chẳng mấy mảy may động lòng, ngược lại, có một tình tiết khác lại khiến hắn sinh nghi: “Ngươi nói Lý Tương lúc lâm chung đã để lại cho Trình Hâm một miếng ngọc bội, mà miếng ngọc đó lại chính là bảo vật bị mất cắp của sứ thần sao?”
“Chính xác ạ, Lý Tương kia còn nói, chỉ cần dâng bảo vật này lên cho Thánh thượng thì Người sẽ không còn oán trách…”
Lôi Sơn còn chưa dứt lời thì trong đầu Hằng Vương bỗng lóe lên một tia sáng. Hắn chẳng nói chẳng rằng mà bật dậy khỏi chỗ ngồi, loạng choạng lao đến phía sau chiếc kệ báu, lục tìm ở tầng thứ ba của kệ và lấy ra một vật.
Hắn đột nhiên nhớ ra, năm xưa khi hắn sai Tiêu Trấn đến sứ quán để chặn giết Lý Tương, dù giết người không thành nhưng tên ám vệ đó đại khái là vì lo sợ không có gì để báo cáo công việc, nên đã tiện tay lấy đi một món cống phẩm mà sứ thần đặt ở trên cùng. Cống phẩm là thứ người thường không thể có được, cho nên ngay cả khi Tiêu Trấn đã cầm trong tay cũng không dám chiếm làm của riêng mà dâng lên cho hắn. Lúc đó hắn cũng chẳng mấy để tâm, chỉ mở ra liếc nhìn một cái, thấy đó là một miếng ngọc yên chi đỏ thắm như máu nên cũng chẳng coi là chuyện gì to tát, nên chỉ tiện tay đặt lại trên kệ báu.
Hôm nay, nhờ có Lôi Sơn nhắc nhở, hắn mới chợt nhớ ra mình còn có một món bảo bối như thế này.
Hằng Vương lập tức lấy chiếc hộp nhỏ bằng gỗ tử đàn xuống, cầm tới bàn rồi mở ra. Hắn lấy vật bên trong ra rồi tỉ mỉ quan sát. Năm xưa chỉ liếc qua không mấy bận tâm, lúc này nhìn kỹ lại mới biết miếng ngọc yên chi này quả thực không phải hạng phàm trần. Toàn thân nó bóng mịn như máu, sắc màu trầm lắng và dầu bóng hơn cả san hô, chạm tay vào cảm thấy ấm áp, là một miếng ‘noãn ngọc’ cực kỳ hiếm thấy. Đến khi lật mặt sau lại, hắn bàng hoàng phát hiện ở góc dưới bên phải có khắc kim ấn hoàng gia, một chữ ‘Ngự’ với những đường nét cứng cáp, uyển chuyển hiện rõ mồn một.
Nhìn rõ dấu ấn này, sắc mặt của Hằng Vương chợt biến đổi thất thường.
Chuyện này là sao?
Tại sao trong tay Lý Tương lại có tín vật của hoàng gia?
Loại bảo vật cấp bậc này, đừng nói là hắn mà ngay cả Chu Thành Dục cũng chưa từng được dùng qua, nó chỉ có thể liên quan đến phụ hoàng mà thôi.
Hằng Vương nhạy bén cảm nhận được chuyện này không hề đơn giản, hắn đưa miếng ngọc yên chi cho Lôi Sơn rồi dặn dò: “Ngươi hãy ghi nhớ thật kỹ hình dáng của vật này, sau khi về cung phải âm thầm điều tra xem lai lịch thực sự của nó là gì. Biết đâu, đây chính là lá bài tẩy để bản vương trở mình đấy, hiểu chưa?”
Lôi Sơn đặt miếng ngọc vào lòng bàn tay, lật đi lật lại xem xét tỉ mỉ, sau khi xác nhận đã ghi nhớ kỹ từng chi tiết nhỏ nhất, gã mới cung kính dâng trả lại cho Hằng Vương.
Ở lại thêm một lát, Lôi Sơn lập tức lui khỏi thư phòng rồi rảo bước về phía phòng trực ở cửa. Sau khi ra khỏi phủ, gã nở nụ cười cung kính với Lưu Trân rồi bẩm báo rằng mọi việc đã hoàn tất. Lưu Trân cũng không hỏi han chi tiết, chỉ lên xe trở về cung.
Khi xe đi đến cửa Ngọ Môn, chợt thấy một người mặc kình bào màu xanh thẫm đang ngồi hiên ngang trên lưng ngựa, ngẩng đầu ngắm nhìn bầu trời bao la. Toàn thân người ấy toát lên phong thái hiên ngang, phóng khoáng lại tự tại vô ngần, không phải Minh Di thì còn là ai vào đây nữa.
Lưu Trân vội vàng tiến lên thỉnh an: “Lý cô nương!”
Ngoại trừ mấy vị chủ tử trong cung thì ông ta chưa bao giờ nói chuyện với ai bằng thái độ thấp hèn, duy chỉ có người này, kể từ khi gặp ở điện Phụng Thiên vào ngày hôm qua, ông ta đã nảy sinh thiện cảm và ý muốn gần gũi một cách lạ thường.
Mà trên đời này, ngoài Hoàng đế ra thì chẳng ai dám ngồi yên nhận lễ của Lưu Trân, ngay cả những người như Thất hoàng tử Chu Thành Dục hay Thất công chúa Chu Thành Khánh cũng phải khách sáo gọi Lưu Trân một tiếng ‘Đại giám’.
Thế nhưng Minh Di lại chẳng hề nhúc nhích, ngay cả tư thế giơ tay che nắng cũng không hề thay đổi, nàng chỉ liếc nhìn ông ta một cái rồi cười một cách thân thuộc: “Lưu chưởng ấn đây là vừa ra khỏi cung làm việc sao?”
“Chính xác là vậy.” Lưu Trân tiến đến sát ngựa của nàng, rồi ngước nhìn lên hỏi: “Sao cô nương lại không vào cung?”
Minh Di lắc đầu cười nhẹ: “Không vào nữa, người nhận lệnh đêm qua là Thanh Hòa, cứ để con bé vào phục mệnh là được rồi.”
Trong khi người khác đối diện với những vị chủ tử trong cung đều nơm nớp lo sợ, vắt óc suy tính để lấy lòng, thì riêng vị này lại tự tại tùy tâm.
Trong đầu Lưu Trân chợt hiện lên một hình bóng: “Tính tình của cô nương quả thực giống công tử Lận Chiêu đến mười phần mười.”
Minh Di không đáp lại lời này, dường như nàng đang chê Thanh Hòa đi quá lâu, chờ đợi có chút mất kiên nhẫn.
Lưu Trân chỉ cảm thấy vị Lý cô nương này bẩm sinh đã có một sức hút khiến người ta phải hướng về. Ông nán lại trò chuyện thêm vài câu, cuối cùng cũng đợi được Thanh Hòa từ Ngọ Môn đi ra. Hai thầy trò vẫy tay chào Lưu Trân rồi thúc ngựa rời đi.
Bấy giờ mặt trời đã xế bóng về tây, đổ xuống dưới chân tường cung cao vút một dải bóng râm thẫm màu. Hai bóng ngựa sóng đôi men theo con đường hẻm dài dằng dặc ra khỏi Trường An Tả Môn, hướng về phía Đông Thị. Cả hai đều không thúc ngựa nhanh, cứ thế thong dong mà rảo bước.
Thanh Hòa đã bắt đầu thấy đói, thấy Minh Di đi quá chậm liền quay sang nhìn nàng một cái. Chỉ thấy đuôi mày khóe mắt của Minh Di đều đang đượm ý cười, sắc trời rạng rỡ tan vào trong đồng tử hóa thành những vệt sáng lấp lánh, lặng lẽ dập dềnh nơi đáy mắt nàng.
Len lỏi trong sự dập dềnh ấy còn có vài phần tâm trạng ‘gần nhà mà lòng thấy e ngại’.
Thanh Hòa lẩm bẩm: “Chẳng lẽ là người… không nhớ đường hay sao?”
Minh Di liếc xéo cô nhóc một cái: “Ý ngươi là sao?”
Thanh Hòa sốt ruột nói: “Em đói lả người rồi đây này, lỡ như về muộn, lão thái thái quên nấu cơm cho chúng ta thì biết làm sao? Em thấy người rời nhà bao nhiêu năm nay, chắc đến cả phủ Bắc Định Hầu nằm ở đâu cũng chẳng nhớ nữa rồi.”
Minh Di há miệng định cãi lại, nhưng rồi cũng chẳng biết phải cãi thế nào, liền giơ tay vỗ một phát vào người Thanh Hòa: “Lý Lận Nghi đã bao giờ tới phủ Bắc Định Hầu đâu, nàng ta mà nhớ đường mới là chuyện lạ đấy!” Nói đoạn, sực nhớ ra Thanh Hòa từng có lần đột nhập thăm dò phủ Hầu trong đêm, nàng liền quất một roi vào mông ngựa của Thanh Hòa rồi quát: “Dẫn đường đi!”
Chỉ thấy Thanh Hòa thúc ngựa lao vút qua trước mặt nàng, một tay vừa ghì dây cương, một tay cũng không quên châm chọc: “Em thấy không phải người không biết đường đâu, mà là đôi mắt người từ sớm đã dán chặt vào Bùi phủ rồi thì có!”
“Ta liếc nhìn Bùi phủ thì đã sao nào? Có giỏi thì ngươi đừng có mà ăn ngỗng quay nữa!” Minh Di thúc mạnh vào bụng ngựa, cấp tốc đuổi theo nàng ấy.
Thanh Hòa cười trên nỗi đau của người khác, nói: “Tại sao em lại không thể ăn ngỗng quay? Em chẳng việc gì mà không ăn cả. Em đâu có như ‘ai kia’, đi bóp cổ người ta rồi ép người ta phải đoạn tuyệt quan hệ với mình. Giao tình của em với cô gia tốt lắm đấy nhé, ngài ấy còn cho phép em ngày nào cũng được về Bùi gia ăn ngỗng quay cơ. Ồ, suýt nữa thì quên chưa nói cho người biết, tối nay em chỉ cần nhào lộn một cái là sang đến nơi rồi.”
Vừa dứt lời, ngựa của Thanh Hòa lại bị ăn thêm mấy roi nữa.
“Này này này, người đừng có lấy ngựa của em ra mà trút giận chứ… Có giỏi thì người đánh em đây này…”
Tiếng cười nói, tiếng mắng chửi, hòa cùng hơi thở ồn ào phố thị của chốn kinh kỳ, vượt qua những lớp mái nhà san sát và ngõ nhỏ dọc ngang, cứ thế vang vọng suốt dọc đường cho đến tận trước cánh cổng Hầu môn hiển hách.
huhu😭😭