Ngoại Thất – Chương 61 – 62

Chương 61

Đêm ấy, Tần Thư ngủ rất ngon, một mạch không mộng mị gì cho đến tận lúc bình minh. Trong phòng có đốt hệ thống sưởi ngầm, nên dù Tần Thư có đi chân trần trên sàn thì vẫn cảm thấy vô cùng ấm áp. Nàng rót một chén trà, thấy trong phòng yên tĩnh đến lạ thường, chẳng có lấy một bóng dáng nha hoàn nào cả.

Nàng đẩy cánh cửa sổ ở góc nghiêng ra, thì thấy một hàng nha hoàn đều đang đứng đợi sẵn dưới hiên. Ngoài sân, dưới gốc cây mai, Lục Trạch mặc một bộ y phục màu trắng đang luyện kiếm, kiếm khí như cầu vồng, làm rung rinh rơi rụng những cánh hoa mai xào xạc.

Tần Thư thấy đám nha hoàn đứng dưới cửa sổ đều lộ rõ vẻ mặt đầy ngưỡng mộ, nàng bĩu môi khinh bỉ: “Có đến mức ấy không?”

Lục Trạch ở phía bên kia cũng đã thu kiếm, tùy tay ném cho nha hoàn đứng bên cạnh. Thấy Tần Thư đang đứng chân trần ngay chỗ cửa sổ lộng gió, hắn bước tới rồi nhíu mày nói: “Đại phu đã dặn rồi, không được để nhiễm lạnh, xem ra nàng chẳng hề tuân theo lời dặn của đại phu chút nào.”

Tần Thư chẳng hề phản bác, nàng lấy chiếc khăn tay ra, kiễng chân lau mồ hôi trên trán cho Lục Trạch: “Ngài cũng mau vào trong thay y phục đi, đừng để ta chưa bị nhiễm lạnh mà ngài đã đổ bệnh trước đấy.”

Lục Trạch cúi đầu quan sát Tần Thư, như muốn từ thần sắc của nàng nhìn thấu xem đây là chân tình hay chỉ là giả ý. Hắn sững sờ trong thoáng chốc, rồi vươn tay qua khung cửa sổ nắm chặt lấy tay nàng, hỏi: “Là lời thật lòng hay là lời đãi bôi?”

Tần Thư bật cười, nửa thật nửa đùa hỏi vặn lại: “Ngài nói xem?”

Lục Trạch lắc đầu cười khẽ, hắn đưa tay vuốt lại lọn tóc mai rối xõa trên vành tai nàng: “Dùng bữa sáng xong, ta sẽ đưa nàng đi nghe lão phu tử Ôn Lăng kia giảng học.”

Tần Thư nghe xong, chẳng rõ vì sao hắn lại thay đổi ý định, đôi mắt nàng bỗng chốc sáng bừng lên: “Thật sao?”

Thấy sắc mặt Lục Trạch không có vẻ gì là nói đùa, nàng liền vội vàng xoay người định đi chuẩn bị: “Vậy ta đi rửa mặt đây, dùng bữa sáng xong là chúng ta đi ngay nhé. Nghe nói mỗi lần Ôn Lăng tiên sinh giảng học đều đông như trẩy hội, nếu đến muộn thì e là đến cổng học viện cũng chẳng vào nổi đâu.”

Nàng định đi lấy y phục thì lại bị Lục Trạch một tay nắm chặt lấy cổ tay, hắn hỏi: “Nàng định tạ ơn ta thế nào đây?”

Tần Thư quay đầu lại, thấy trên mặt hắn đang mang theo ý cười: “Ta mà gặp loại người rời kinh phản đạo như Ôn Lăng thì chẳng khác nào thấy kẻ ác, nghe tiếng xấu. Nàng định bù đắp cho ta thế nào đây?”

Tần Thư tiến lên một bước, hai người cách nhau qua khung cửa sổ trong gang tấc, đến mức có thể nghe rõ từng nhịp thở của đối phương. Nàng khẽ mỉm cười nói: “Gia trước đây từng bảo sẽ đối đãi tốt với ta, ta đều ghi nhớ cả mà.”

Lục Trạch nghe xong câu này, trong lòng không khỏi hừ lạnh một tiếng. Cho nàng cổ phần, cho nàng danh phận, lại còn muốn cho nàng cả con cái, nhưng chẳng thấy nàng nhắc gì đến việc hắn đối đãi tốt với nàng. Thế mà giờ đây, chỉ vì đưa nàng đi nghe lão già gàn dở Ôn Lăng kia giảng học, nàng lại đột nhiên nhớ ra chuyện này.

Tần Thư liếc nhìn một cái, thấy dưới hành lang toàn là các nha hoàn đang đứng. Vì tâm nguyện đã đạt được, nàng nghĩ có dỗ dành hắn một chút cũng chẳng sao, bèn vẫy vẫy tay ra hiệu cho Lục Trạch cúi đầu xuống. Nàng nhẹ nhàng nhón gót chân, hôn phớt qua khóe môi hắn như chuồn chuồn đạp nước.

Đám nha hoàn xung quanh trông thấy cảnh ấy, người nào người nấy đều thẹn đỏ cả mặt, như thủy triều tản ra bốn phía, đứng từ xa bắt đầu xì xào bàn tán với nhau.

Lục Trạch vốn là một sĩ đại phu chính thống, luôn cho rằng chuyện giường chiếu không được ra khỏi nội thất, huống hồ là có những hành động thân mật như thế này giữa thanh thiên bạch nhật. Nếu là kẻ khác, hắn sẽ chỉ cảm thấy người đó thật phóng túng vô lễ, nhưng khi Tần Thư làm vậy, hắn lại thấy cũng ổn. Nhìn khóe mắt chân mày của nàng đều rạng rỡ ý cười, hắn cũng chẳng rõ niềm vui ấy là dành cho mình, hay là dành cho lão già gàn dở Ôn Lăng kia nữa.

Lục Trạch ngẩn ngơ mất một lúc mới bước vào trong phòng, quả nhiên thấy Tần Thư đã ăn vận chỉnh tề. Nàng chỉ mặc một bộ y phục nhạt màu, trên đầu cũng chẳng cài trâm cài tóc cầu kỳ. Lại thấy nàng vội vã gọi nha hoàn vào: “Tiểu Hồi Hương, mau bưng bữa sáng lên đi.”

Lục Trạch trong lòng thấy chua chát, thầm nghĩ: “Cũng chẳng biết lão già gàn dở Ôn Lăng kia có điểm nào tốt? Đợi đến khi nàng gặp được lão, thấy lão là một lão già hơn năm mươi tuổi đầu hói lơ thơ, để xem lúc đó nàng còn vui vẻ nổi nữa hay không.”

Hai người qua loa dùng xong bữa sáng, Lục Trạch đã bị Tần Thư thúc giục lên xe ngựa ngay. Khi xe đi đến dưới chân núi của thư viện Vạn Tùng, quả nhiên nơi này đã bị xe ngựa kiệu hoa vây kín đến mức nước chảy không lọt. Chờ thêm một lát, những xe ngựa và kiệu phía sau lại tiếp tục dồn tới, trong chốc lát cả đoàn lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan, bị kẹt cứng ngay tại chỗ.

Tần Thư còn chưa biết tính sao, thì thấy Lục Trạch đang tựa người vào vách xe ngựa, thản nhiên dùng cán quạt vén rèm xe lên. Những người bị kẹt ở phía xa đều lần lượt xuống xe, bắt đầu đi bộ, ai nấy đều chen vai sát cánh, trông thật sự chẳng khác nào đang đi hội chùa.

Lục Trạch im lặng quan sát một hồi lâu, rồi mới lên tiếng mỉa mai: “Kẻ dám cổ xúy những đạo lý loạn lạc, loại người mê hoặc thế gian, lừa dối dân chúng như thế này, thật sự đáng tội chết.

Tần Thư nhìn dáng vẻ của Lục Trạch, cứ như thể đã có người dâng sớ đàn hạch Ôn Lăng tiên sinh rồi vậy, nàng mở lời: “Tiên sinh giảng học cũng đã nhiều năm rồi, e là Bệ hạ cũng đã sớm biết chuyện này từ lâu…”

Lục Trạch nhìn ra ngoài cửa sổ, rồi khẽ thở dài một tiếng: “Nàng đã muốn tới thì cứ nghe một chút cũng không sao.” Dẫu sao thì, chẳng còn bao nhiêu ngày nữa đâu, chậm nhất là tháng Ba, văn thư truy nã từ kinh thành sẽ gửi tới nơi thôi.

Đoạn đường này tắc nghẽn khá nghiêm trọng, Tần Thư vốn cũng định xuống xe đi bộ cho xong, nhưng nhìn dáng vẻ của Lục Trạch, nàng biết chắc hắn sẽ không đời nào chịu chen chúc cùng đám dân thường áo vải kia, vì sợ mất thân phận, nên cũng đành phải kiên nhẫn nén lòng lại.

Đến khi hai người tới được cổng thư viện Vạn Tùng, thì cũng đã là giờ Ngọ rồi.

Đó là một quảng trường rất rộng lớn, nhưng đáng tiếc là Tần Thư đến muộn, nàng đứng ở tận phía sau nên chẳng nhìn thấy gì cả, chỉ nghe được từ phía xa xăm kia vọng lại một giọng nói vang vọng mơ hồ: “Nói ‘chết đói là chuyện nhỏ, thất tiết mới là chuyện lớn’ thật sự là một điều vô cùng hoang đường. Lại nói về quan hệ phu thê, nếu chỉ luận theo tam cương ngũ thường thì thật quá sai lầm, nào biết rằng giữa vợ chồng, cái tình cái nghĩa mới là điều quan trọng nhất.”

Những lời này vừa dứt, đã lập tức dấy lên một làn sóng bàn tán xôn xao từ phía dưới. Tần Thư chỉ còn nghe được những tiếng giảng giải đứt quãng, nàng đang định lách người tiến về phía trước, thì bỗng thấy đám đông dân chúng đang vây kín dày đặc ở phía trước, đột ngột dạt ra hai bên.

Từng tốp ba năm người đang cùng nhau bàn luận về buổi giảng học của Ôn Lăng tiên sinh. Những người đến nghe ở đây đa số là giới trẻ, mấy vị môn sinh trẻ tuổi vừa đi vừa nói: “Tiên sinh nói thực sự rất có lý, nếu giữa vợ chồng mà vẫn cứ lôi cái Tam cương Ngũ thường ra để đối đãi với nhau, thì chẳng phải mấy chục năm cuộc đời sẽ vô vị lắm sao?”

Một người khác tiếp lời: “Nếu gặp được hạng kỳ nữ như Trác Văn Quân, thì dù không nạp thiếp cũng có sao? Hiện nay chẳng nói đâu xa, ngay như Thủ phụ Nội các Thôi Giai, cả đời cũng chỉ có một người vợ tào khang đó thôi.”

Tần Thư nghe họ trò chuyện, tức thì hiểu ra ngay. Nơi này giống như một buổi hội thảo tiên phong của một nhóm thiểu số vậy, chỉ tiếc là nàng hoàn toàn chưa nghe được gì, mà buổi giảng đã sắp kết thúc, nàng không nhịn được mà oán trách: “Đã bảo là xuống xe đi bộ rồi, thế mà ngài cứ nhất quyết không chịu.”

Lục Trạch lườm nàng một cái, dùng quạt gõ nhẹ lên đầu nàng: “Lát nữa tự khắc sẽ được gặp thôi.”

Quả nhiên, khi đám đông đã tản đi gần hết, có một tiểu đạo đồng tiến lên phía trước: “Lục đại nhân, tiên sinh nhà tôi có lời mời.”

Hai người đi theo tiểu đạo đồng, vòng ra phía sau chừng trăm bước thì thấy một ngôi đình bằng đồng, vừa bước vào trong đã cảm nhận được hơi ấm bốc lên vô cùng dễ chịu.

Một ông già tầm hơn năm mươi tuổi, cạo trọc đầu, mình mặc đạo bào, trông chẳng giống nhà sư cũng chẳng giống đạo sĩ, nhưng cốt cách thanh cao lạnh lùng. Trước mặt ông ấy bày một bàn cờ với những quân cờ Vân tử đen trắng rõ rệt. Thấy Lục Trạch đến, ông ấy phẩy tay áo rồi cười nói: “Tuyên Viễn huynh, năm sáu năm không gặp, trông ngài đã khác xưa nhiều quá.”

Ông ấy lại chỉ vào tấm bồ đoàn trước mặt, hỏi: “Đánh một ván chứ? Năm đó Tuyên Viễn huynh có kỳ nghệ đứng đầu cả kinh thành, chẳng rõ bao năm qua lao lực vì giấy tờ nơi quan trường, tay nghề có suy giảm đi phần nào không?”

Lục Trạch cởi áo choàng đưa cho Tần Thư, vén vạt bào rồi xếp chân ngồi xuống. Hắn tùy ý hạ một quân cờ, cười nói: ” ‘Trời không sinh Trọng Ni, muôn đời như đêm dài’, lẽ nào trước khi Khổng Tử ra đời, người ta ban ngày cũng phải thắp nến mà đi sao? Bệ hạ hồi tháng Sáu năm ngoái nghe được lời này, chẳng qua cũng chỉ khẽ mỉm cười mà bảo rằng: Đúng là một kẻ ngông cuồng.”

Ôn Lăng tiên sinh cũng hạ xuống một quân cờ: “Kề đầu vào lưỡi kiếm sắc, tựa như chém gió xuân. Lão phu đã năm mươi tám tuổi rồi, còn có gì phải sợ hãi nữa đâu?”

Lục Trạch khẽ thở dài: “Học trò ông thu nhận ngày càng nhiều, môn đồ tín hữu cũng ngày một đông. Ngay cả khi Bệ hạ không tính toán, thì đám đệ tử Nho gia trên triều đình cũng sẽ chẳng buông tha cho ông đâu. Tuy có người của Tâm học đứng ra chu toàn cho ông, bảo vệ ông mười năm yên ổn, nhưng ai có thể bảo vệ ông được cả đời đây?”

Ôn Lăng chỉ cười nhạt chứ không đáp lời, ngược lại, ông liếc nhìn Tần Thư đang đứng sau lưng Lục Trạch rồi nói: “Vị cô nương này xem ra cũng là người giỏi cờ vây.”

Nói xong, ông ấy đặt quân cờ xuống, nhìn Tần Thư rồi cười hỏi: “Ván cờ này ta đã thua rồi, có phải không?”

Tần Thư khẽ mỉm cười, nàng lấy một quân cờ trắng từ trong hộp ra rồi hạ xuống: “Tiên sinh tuy đang ở thế hạ phong, nhưng vẫn còn chỗ để xoay xở. Chỉ là tự trong thâm tâm tiên sinh đã nhận thua rồi, nên ván cờ này dù có đánh tiếp thế nào đi nữa thì cũng vẫn sẽ thua thôi.”

Ôn Lăng còn chưa kịp phản ứng gì, nhưng Lục Trạch thì đã thực sự kinh ngạc. Ngày thường thấy nàng cầm cuốn kỳ phổ, hắn cứ ngỡ nàng chỉ xem để giết thời gian mà thôi, chẳng ngờ hiện tại chỉ với một quân cờ, nàng đã khiến bàn cờ từ chỗ chết trở nên sống động hẳn lên. Ánh mắt sâu thẳm của hắn lúc này tràn đầy vẻ dò xét.

Ôn Lăng tiên sinh vuốt râu cười lớn: “Không hổ danh là tì nữ của Tuyên Viễn huynh, cũng học được một hai phần bản lĩnh thấu hiểu lòng người của ngài rồi.”

Lục Trạch ném quân cờ xuống, gõ vào bàn cờ phát ra những tiếng “đing đông” giòn tan. Hắn đứng phắt dậy, sự kiên nhẫn đã hoàn toàn cạn sạch: “Khi còn làm quan, ông vẫn được coi là một vị quan mẫu mực và cần mẫn. Nghĩ đến chút tình nghĩa đó, nên mỗi khi có ai dâng sớ tham tấu ông, Bệ hạ đều niệm tình: ‘Đây vốn là lão thần’. Thế nhưng, chuyện gì cũng có thể có lần một lần hai, chứ không thể có lần thứ ba. Sự nhẫn nại của Bệ hạ đối với ông là có giới hạn, mà sự nhẫn nại của Nội các đối với ông cũng có giới hạn.” Nói xong, hắn phẩy tay áo quay người bỏ đi.

Tần Thư thấy hắn bỏ đi thì cũng không vội đuổi theo. Nàng quỳ trên tấm bồ đoàn, chắp tay hành lễ một cách đoan trang và chính trực: “Tiên sinh, trước đây tôi đã từng đọc sách của người và có vài điều chưa rõ, chẳng hay có thể xin người chỉ giáo hay không?”

Ôn Lăng bị Lục Trạch trút giận một phen nhưng cũng chẳng hề nảy sinh ý giận, thái độ vẫn tựa như một luồng gió xuân lướt qua, ông cười nói: “Thánh nhân có câu ‘Dạy học không phân biệt đối xử’, đương nhiên là được rồi.”

Tần Thư lấy từ trong tay áo ra một tờ giấy, đưa cho Ôn Lăng tiên sinh: “Chữ viết của tì nữ xấu xí, mong tiên sinh đừng chê cười. Tôi chỉ muốn hỏi, tiên sinh đã bao giờ nhìn thấy câu thơ này chưa?”

Đó là thứ mà Tần Thư đã viết sẵn từ trước, là một câu thơ của vị Lãnh tụ, nếu Ôn Lăng tiên sinh này thực sự là người đồng hương từ tương lai xuyên không về giống mình, thì chắc chắn sẽ nhận ra.

Chẳng ngờ, Ôn Lăng tiên sinh đón lấy tờ giấy rồi khẽ ngâm một câu: “Bắc quốc phong quang, thiên lý băng phong, vạn lý tuyết phiêu… Câu hay, quả là câu hay! Người viết ra câu này thực sự có khí phách nghìn thu vô cùng rộng lớn.”

Tần Thư vẫn chưa cam lòng, nàng cân nhắc rồi ướm hỏi: “Tiên sinh có bao giờ cảm thấy, trong đầu mình thường xuyên xuất hiện linh hồn của một người khác không? Hay nói cách khác, dường như người không phải là chính mình vậy?”

Ôn Lăng tiên sinh nghe xong câu hỏi này, cũng không hề tỏ ra kinh ngạc, ông cười nói: “Cô nương cảm thấy ta quá mức kinh thế hãi tục, nên mới nảy sinh những nghi hoặc mang màu sắc thần quỷ này sao?”

Tần Thư lắc đầu, trong mắt tràn đầy sự kỳ vọng: “Mạo phạm tiên sinh vốn không phải bản ý của tôi, chỉ là câu trả lời của người thực sự vô cùng quan trọng đối với tôi.”

Ôn Lăng tiên sinh cười nói: “Lão phu đã gần sáu mươi rồi, đâu có dễ bị mạo phạm chỉ bởi một câu nói thường tình chứ? Câu hỏi này của cô nương, mười mấy năm trước cũng từng có một người hỏi ta y như vậy. Người đó hỏi ta đã bao giờ cưỡi ‘phi kê’ chưa, cứ như thể xem ta là hạng người điên khùng vậy. Người xưa có chuyện cưỡi hạc mà đi, cô ta lại hỏi ta có phải cưỡi ‘phi kê’ mà đi không.” Thực ra là phi cơ (máy bay), chứ không phải “phi kê” (gà bay).

Tần Thư đứng hình tại chỗ, một câu hỏi đã chực chờ bên môi nhưng nàng lại sợ rằng khi thốt ra, câu trả lời sẽ không như những gì mình mong đợi: “Tiên sinh, người đã hỏi người câu đó… có phải là Hạ Cửu Sanh, Hạ học sĩ không?”

Trái tim của Tần Thư đập liên hồi, một giây trôi qua mà ngỡ dài tựa vạn năm. Chẳng biết đã bao lâu sau, nàng mới nghe thấy giọng điệu kinh ngạc của Ôn Lăng tiên sinh: “Chuyện này quả là kỳ lạ, sao cô nương lại biết được?”

Tần Thư khẽ mỉm cười: “Tiên sinh, tôi biết người và Hạ học sĩ là chỗ có giao tình thân thiết. Câu thơ mà tôi vừa viết đó, chẳng hay người có thể chép lại trong thư và gửi xin Hạ học sĩ chỉ giáo giúp được không? Bài từ ấy là do một người bạn của tôi sáng tác, người đó cả đời ngưỡng mộ nhất chính là Hạ học sĩ.”

Ôn Lăng tiên sinh vuốt râu cười: “Chuyện này thì có gì mà không được chứ? Một bài từ hay thế này, dù cô nương không nói thì ta cũng sẽ gửi cho Hạ đại nhân thôi. Được thưởng thức một khúc từ hay, có khi cả năm chẳng cần ăn thịt cũng thấy ngon rồi.”

Tần Thư thở phào một hơi nhẹ nhõm, trái tim nàng dường như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Nàng cúi đầu sát đất hành lễ: “Đa tạ tiên sinh. Tì nữ hiện đang ở căn nhà đầu tiên tại con phố phía sau phủ Tổng đốc, tên gọi là Đổng Bằng Nhi, xin hẹn ngày khác sẽ lại đến bái phỏng tiên sinh.”

Tần Thư bước ra khỏi đình, đôi chân nàng bỗng mềm nhũn đi. Nàng phải vịn vào cây hòe cao bên lề đường, đứng nghỉ một lát thì mới định thần lại được. Nàng thầm nghĩ, vị Hạ Cửu Sanh này chắc chắn là người đồng hương với mình, không sai vào đâu được, thế nhưng sau khi nhìn thấy những câu thơ ấy, liệu người đó có tìm đến mình hay không thì vẫn là một ẩn số. Dẫu vậy, ít nhất thì cuối cùng cũng đã có hy vọng rồi.

Chương 62

Lục Trạch đứng trước lan can đá, thấy Tần Thư mãi lâu sau mới tới, bèn nói bằng giọng chua loét: “Nàng với lão già đó xem ra cũng có nhiều chuyện để nói nhỉ?”

Lúc này mặt trời đã lên cao, chỉ là lớp sương mỏng trên núi vẫn chưa tan hết, chiếc áo choàng của Lục Trạch vẫn đang được Tần Thư ôm gọn trong lòng.

Thấy hắn lại bắt đầu nói lời mỉa mai, Tần Thư vội vàng bước tới vài bước, khoác chiếc áo choàng trong tay lên người hắn, lại còn kiễng chân lên thắt lại dây buộc cho thật ngay ngắn, rồi cười nói: “Được rồi, chúng ta về thôi, trên núi lạnh lắm.”

Nàng nắm lấy tay Lục Trạch, quả nhiên đã lạnh ngắt như băng. Tần Thư nãy giờ ở trong đình nên không thấy lạnh, đôi bàn tay vẫn cực kỳ ấm áp: “Sao ngài không tìm chỗ nào khuất gió mà đứng, cứ nhất thiết phải đứng đây hứng gió làm gì?”

Chẳng ngờ, Lục Trạch xoay tay bóp chặt lấy cổ tay Tần Thư, rồi gặng hỏi: “Vừa rồi nàng đã nói gì với lão già đó?”

Tần Thư khẽ mỉm cười, nàng thản nhiên đáp: “Cũng chẳng nói gì nhiều đâu, chỉ là biểu đạt một chút lòng ngưỡng mộ và kính trọng của ta dành cho Ôn Lăng tiên sinh mà thôi.”

Lục Trạch siết mạnh tay hơn, tức đến mức nghiến răng nghiến lợi: “Nàng… rốt cuộc nàng có biết thế nào gọi là tiết hạnh của nữ nhi không hả?”

Tần Thư mím chặt khóe môi, lập tức phản bác: “Ta chưa gả nhưng đã thất tiết, đó chẳng phải cũng là công lao của ngài sao? Loại người như ta, chẳng qua cũng chỉ là một món đồ chơi hầu hạ đàn ông mà thôi, người ngoài làm sao coi ta là người tử tế cho được. Dù sao thì bây giờ ta cũng ‘cái bình đã nứt thì đập cho vỡ luôn’, chẳng còn gì để mất nữa rồi…”

Lục Trạch bị nghẹn họng, nhất thời không biết phản bác ra sao, hắn cố nén giận nói: “Với thân phận của nàng, được đưa vào phủ làm quý thiếp, nàng còn gì mà không hài lòng nữa? Chẳng lẽ nàng còn muốn làm đích thê, làm chính thất phu nhân hay sao?”

Tần Thư cười lạnh, nàng bẻ từng ngón tay của Lục Trạch ra khỏi người mình: “Ta đã nói rồi, ta không làm thiếp. Ngài ruồng rẫy ta, tự khắc sẽ có người không ruồng rẫy ta. Nói lùi một vạn bước, cho dù ngài không chê ta, thì ta đây còn chê ngài đấy.”

Nói xong, nàng cũng chẳng thèm quan tâm sắc mặt của Lục Trạch ra sao, cứ thế xách váy rảo bước xuống những bậc thang đá trên núi.

Tiểu Hồi Hương đứng chờ cùng xe ngựa ở cổng núi, thấy chỉ có mình Tần Thư đi xuống thì liền hỏi: “Cô nương, sao chỉ có mình người vậy, đại nhân đâu rồi ạ?”

Tần Thư giẫm lên ghế bước lên xe ngựa, bên trong vô cùng ấm áp, trên tủ còn có cả trà nóng mới pha. Nàng nhấp một ngụm trà rồi vén rèm xe lên, nhìn thấy từ xa Lục Trạch vẫn còn đứng sừng sững ở chỗ cũ, bèn cười nhạt một tiếng: “Đại nhân nhà em lên cơn thần kinh rồi, không sao đâu, ngài ấy đã thích hóng gió thì cứ để ngài ấy đứng đó mà hóng thêm lúc nữa đi.”

Tần Thư cứ thế ngồi trong xe ngựa nhâm nhi trà nóng, ăn điểm tâm, cũng chẳng rõ là đã chờ bao lâu, mới nghe thấy tiếng của Tiểu Hồi Hương vọng vào từ bên ngoài: “Đại nhân, chúng ta khởi hành về tiểu trạch chứ ạ?”

Dứt lời, đã thấy Lục Trạch vén rèm xe, sầm mặt mày bước lên ngựa xe rồi phân phó: “Vào thành.”

Tần Thư thấy bộ dạng kia của hắn thì chỉ coi như không thấy, nàng bưng chén trà lại gần: “Gia, đứng hóng gió lâu như vậy rồi, ngài uống hớp trà nóng đi, kẻo sẽ bị nhiễm phong hàn đấy. Thân thể của ngài thể tráng, tự mình nhiễm bệnh thì cũng chẳng sao, chỉ sợ lây bệnh sang cho ta, thế thì không tốt chút nào đâu.”

Chén trà kia rót hơi đầy, xe ngựa lại rung lắc nên Tần Thư bưng không vững, nàng hơi run tay một chút, khiến mấy lá trà sóng ra, vương trên vạt áo của Lục Trạch.

Lục Trạch thấy Tần Thư hôm nay gặp lão già Ôn Lăng kia xong thì niềm vui sướng hiện rõ mồn một trên mặt, khác hẳn với bộ dạng gượng cười, gắng gượng đối phó với hắn như mấy ngày trước. Trong lòng hắn cảm thấy vô cùng khó chịu, dù thấy Tần Thư cầm khăn tay định lau nước trà trên vạt áo cho mình, nhưng hắn cũng chẳng buồn nói lấy một câu.

Tần Thư ngồi bên cạnh chống cằm quan sát hắn một lúc lâu, rồi khẽ cười bảo: “Ngài việc gì phải tính toán với một tiểu nữ tử như ta chứ, cứ như thể ta mà vui thì ngài sẽ không vui vậy. Vả lại, chính ngài là người chủ động đồng ý dẫn ta theo mà, đã đến rồi sao lại phải rước bực vào thân? Dù ta có nói với Ôn Lăng tiên sinh vài câu, thì đó cũng là vì ta kính trọng ông ấy, chẳng liên quan gì đến chuyện phong nguyệt…”

Nàng còn đang nói đến đoạn phấn khích thì đã thấy Lục Trạch cúi người hôn xuống, môi lưỡi triền miên.

Đến khi hai người tách nhau ra, tuy chưa thực sự làm gì quá giới hạn, nhưng tóc mai của Tần Thư đều đã rối tung cả lên. Nàng cười gượng gạo bảo: “Ta không nói nữa là được chứ gì?” Đồng thời, trong lòng nàng lại thầm mỉa mai một câu: kỹ thuật cực kỳ kém.

Đợi đến khi nàng chỉnh đốn xong tóc tai và vén rèm xe lên, thì thấy đã vào đến khu phố chợ. Nàng không rõ đây là nơi nào của Hàng Châu, chỉ thấy xung quanh toàn là những căn nhà dân cũ nát, lụp xụp; trên phố xá đi lại vật vờ cũng toàn là người già, trẻ nhỏ và phụ nữ, thi thoảng mới thấy bóng dáng vài thiếu niên mới lớn.

Tần Thư quay đầu lại hỏi Lục Trạch: “Đây là nơi nào vậy? Những người già yếu và phụ nữ này là ai thế?”

Lục Trạch nhắm mắt lại, ròi thốt ra ba chữ: “Dân tị nạn!”

Tần Thư từ khi xuyên không đến cổ đại, từ nhỏ đã dựa vào phủ Quốc công mà sống, sau này vào viện tử, nàng nào đã thấy qua những người ăn không đủ no, mặc không đủ ấm bao giờ. Thi thoảng trong phủ có mua tì nữ từ bên ngoài vào, những người được chọn cũng không đến nỗi quá tệ, lúc được dẫn vào thì trên người đã được thay đồ mới tươm tất cả rồi.

Đây là lần đầu tiên, Tần Thư được tận mắt chứng kiến cảnh, những người dân dưới đáy xã hội ở thời cổ đại đông đúc đến thế, ai nấy đều áo chẳng đủ che thân, ăn chẳng đủ no bụng.

Trên phố, một người mẹ đang vặn tai một cô bé mà mắng nhiếc: “Con ranh chết tiệt này, vốn chỉ còn lại đúng một cái màn thầu, thế cha với ca ca mày về thì lấy cái gì mà ăn?” Cô bé kia dù bị mắng chửi một trận tơi bời, nhưng đôi bàn tay vẫn nắm chặt lấy nửa mẩu màn thầu nhỏ xíu, nhất quyết không buông.

Tần Thư nhìn một lúc, trong lòng cảm thấy khá khó chịu, bèn quay đầu hỏi Lục Trạch: “Nha môn không có lương thực cứu trợ thiên tai sao?”

Lục Trạch vẫn nhắm mắt dưỡng thần như cũ: “Đây là dân tị nạn từ phương Bắc tới, lương thực cứu trợ trong phủ nha là thuế khóa mà phủ này nộp lên, nếu dùng quá nhiều, chẳng riêng gì quan địa phương, ngay cả những tiểu dân nghèo khổ bên dưới cũng sẽ có lời oán thán. Chỉ có thể dùng hình thức lấy công làm cứu trợ, miễn cưỡng cầm cự qua mùa đông này, đợi đến lúc vào vụ xuân, phát cho họ hạt giống lương thực rồi bảo họ trở về quê quán.”

Tần Thư nói: “Sẽ có người chết đói, phải không?”

Lục Trạch mở mắt ra: “Bình dân bách tính vốn dĩ là khổ như vậy, sinh ra đã là để chịu khổ rồi. Nếu Giang Nam không có chiến sự, thì vẫn còn dư năng lực để cứu trợ họ đôi chút. Thế nhưng các tỉnh ven biển hiện nay đều đang khốn đốn vì nạn giặc Oa, tự lo cho mình còn chẳng xong thì nói gì đến cứu trợ.”

Từ khi Tần Thư đến đây, nơi ở lâu nhất chính là phủ Quốc công, kế đến là Dương Châu, vốn dĩ là kiểu phụ nữ “cửa đóng then cài”, chỉ nghe nói về nạn giặc Oa quấy nhiễu chứ chưa từng được tận mắt chứng kiến.

Nàng vén rèm xe nhìn hồi lâu, cuối cùng lặng lẽ hỏi: “Ta nghe nói giặc Oa ở Giang Nam đã hoành hành suốt mười năm rồi, liệu trận chiến này có đánh thắng được không?”

Lục Trạch nghe vậy thì kéo Tần Thư ôm vào lòng. Mùi hương lan thoang thoảng vờn quanh chóp mũi, đôi hoa tai trên thùy tai nàng khẽ đung đưa như chơi đánh đu, hắn đưa tay ra vuốt lại cho thẳng, không trả lời mà hỏi ngược lại: “Nàng thấy thế nào? Nàng có hy vọng ta đánh thắng không?”

Tần Thư tựa cằm lên vai hắn, cảm thấy Lục Trạch cũng chỉ vào những lúc thế này mới có vẻ bớt đáng ghét đi một chút. Nàng “vâng” khẽ hai tiếng, đầy vẻ chân thành nói: “Ta hy vọng ngài có thể đánh thắng. Đánh xong trận rồi, bá tánh mới có thể nghỉ ngơi dưỡng sức, ai nấy đều có cơm ăn áo mặc.”

Vừa nói xong, chính Tần Thư cũng thấy thật phi lý. Trung Quốc năm 2020 vẫn còn đang trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, thì cái xã hội phong kiến với kinh tế tiểu nông này, làm sao có chuyện ai nấy đều được ăn no mặc ấm cho được?

Có lẽ cảm thấy lời này thật nực cười, Lục Trạch khẽ cười rồi lại thở dài một tiếng: “Thực ra, hôm nay câu nói kia của lão già Ôn Lăng vẫn có phần đúng đắn. Quan hệ phu thê, ân tình là trọng nhất, nếu chỉ mang Tam cương Ngũ thường ra mà luận bàn, thì thật là bi thương.”

Tần Thư thấy hắn vậy mà lại nói ra được những lời này, quả thực còn khiến người ta kinh ngạc hơn cả “cây sắt nở hoa”. Nàng lập tức tán dương: “Gia có thể hiểu thấu đạo lý này, sau này định sẵn sẽ cùng Vương tiểu thư phu thê hoà thuận, cuộc sống hạnh phúc.” Trong lòng nàng thầm nhủ: Chỉ cầu mong phu thê các người hòa thuận, rồi mau mau thả con tôm nhỏ là ta đây đi cho rồi.

Lục Trạch nghe vậy thì khựng lại một chút, hắn quan sát sắc mặt của Tần Thư, thấy nàng nửa phần kinh ngạc xen lẫn nửa phần vui mừng, khi nhắc đến Vương tiểu thư cũng chẳng hề có lấy một chút khúc mắc hay khó chịu nào. Hắn chậm rãi nói tiếp: “Vương tiểu thư xuất thân danh môn, tổ phụ là Thủ phụ đã về hưu, ngoại tổ phụ cũng là danh thần triều tiên đế, gia giáo từ nhỏ đã nghiêm ngặt, nổi tiếng là người hiếu thảo và hiểu lễ nghĩa. Năm nàng ấy tròn mười sáu, người tới cầu thân tấp nập không ngớt. Nếu không phải vì bậc trưởng bối trong nhà không nỡ xa con cháu, thì cũng chẳng kéo dài đến năm mười tám tuổi mà vẫn chưa xuất giá.”

Vương tiểu thư như thế nào thì liên quan gì đến nàng cơ chứ? Tần Thư chỉ coi như chuyện phiếm lúc rảnh rỗi mà thôi, liền gật đầu phụ họa: “Cũng đúng, thời này mà mười tám tuổi vẫn chưa gả đi thì quả thực có hơi muộn rồi. Nếu không phải vì lão thái thái muốn giữ ta ở lại thêm hai năm, thì ta cũng đã sớm gả cho người khác rồi.”

Lục Trạch nghe xong, liền thốt ra một câu: “Nữ tử gả chồng sớm như vậy làm gì?”

Tần Thư lập tức gật đầu, liên thanh tán đồng: “Cũng đúng, Vương tiểu thư nếu mà gả đi sớm, thì đâu có cơ hội gặp được người phu quân tốt như Đại thiếu gia đây.”

Lục Trạch bị nàng chọc cho tức nghẹn, hắn vươn tay nhéo vào vùng thịt mềm bên eo nàng, nghe thấy nàng hít hà một hơi vì đau thì mới chịu buông ra, rồi hừ lạnh hai tiếng: “Đổng Bình Nhi, nàng cứ tiếp tục giả ngu đi!”

Tần Thư chỉ mỉm cười: “Nô tì có câu nào nói không phải sự thật đâu ạ? Đại thiếu gia là Tổng đốc Mân Chiết, nắm quyền sinh sát ở Giang Nam, chẳng lẽ bây giờ nghe lời nói thật cũng thấy chướng tai sao?”

Lục Trạch nhìn Tần Thư rồi cười lạnh một tiếng, hắn cũng chẳng buồn để ý đến nàng nữa. Hắn cho dừng xe ngựa, đoạt lấy một con ngựa từ tay hộ vệ rồi vung roi thúc ngựa rời đi.

Tần Thư bám vào cửa sổ xe, nhìn theo bóng dáng hiên ngang, tà áo xanh tung bay phóng khoáng của hắn trên lưng ngựa, liền lạnh lùng cười nhạo: “Cứ nhìn mà xem, lớp vỏ bọc có tốt đến mấy cũng vô dụng, nhân cách vốn có cao thấp, nhân phẩm ắt có kẻ hèn người sang.”

Tiểu Hồi Hương thấy Lục Trạch đã đi khuất, thì mới dám rón rén trèo lên xe ngựa. Cô ấy bất thình lình thò đầu vào hỏi: “Cô nương, người lại cố ý chọc giận đại nhân đấy à?”

Tần Thư đánh mắt nhìn Tiểu Hồi Hương, cảm thấy vô cùng kỳ quặc. Sao cái con bé này lại cứ mang tâm thế của một “bà mẹ chồng” thế nhỉ, cứ như thể Lục Trạch làm gì cũng đúng, làm gì cũng là tốt cho nàng không bằng. Nàng bĩu môi, lộ rõ vẻ giận dỗi: “Tiểu Hồi Hương, rốt cuộc em là nha hoàn của ai hả? Sao lần nào em cũng hướng về phía đại nhân nhà em thế? Chẳng phải lúc nãy em đứng ngay cạnh xe ngựa sao, câu nào ta cũng thuận theo ý hắn, chẳng lẽ vẫn là ta sai à?”

Tiểu Hồi Hương khẽ hừ một tiếng. Cô ấy đã quá quen thân với Tần Thư, lại biết nàng từ trước đến nay, đối với đám nha hoàn bọn họ, chẳng mấy khi để tâm đến chuyện phân biệt trên dưới sang hèn, nên có gì là nói nấy: “Cô nương, người rõ ràng biết đại nhân muốn nghe người nói gì, và không muốn nghe người nói gì mà. Vậy mà người cứ nhất quyết phải nói những lời chướng tai, để làm tổn thương lòng đại nhân thì mới chịu.”

Tần Thư cạn lời nhìn cô ấy một hồi, thấy cô ấy đang ngồi xổm trong góc, tay cầm một miếng bánh quế hoa, liền đưa ngón tay cái ra tán thưởng, rồi cười một cách bất lực: “Cô nương Tiểu Hồi Hương à, bà cụ non như em đúng là cao thủ đấy.”

Tiểu Hồi Hương vừa vặn ăn xong miếng bánh quế hoa, đang nhặt những mẩu vụn rơi vãi, nghe vậy liền ngơ ngác hỏi: “Cô nương, em là cao thủ gì cơ ạ?”

Tần Thư bị cô ấy chọc cho bật cười, liền túm một tấm da báo trùm lên đầu cô ấy: “Là cao thủ chọc giận người khác đấy.”

Nghỉ ngơi thêm chừng một tuần trà, xe ngựa đã đến căn nhà nhỏ phía sau phủ Tổng đốc. Cửa vừa mở ra, từ xa đã thấy những chậu thù du đỏ rực rỡ, Tần Thư thấy vậy liền cười hỏi: “Ai mang những thứ này tới vậy? Là từ trang viên suối nước nóng gửi đến sao?”

Đợi đến khi nàng lại gần, mới phát hiện ra những chùm đỏ rực rỡ kia không phải là từng hạt từng hạt một như thù du. Tần Thư sững sờ ngay tại chỗ, nàng kinh ngạc thốt lên: “Ớt? Là ớt sao? Ai đã gửi đến đây vậy?”

Bà tử đang chăm sóc cây cối tiến lên phía trước, khom lưng thưa chuyện: “Bẩm cô nương, thứ này gọi là phiên tiêu, là người bên ngoài gửi tới, chỉ nói là để hiếu kính cô nương ạ.”

Tần Thư ngồi xổm xuống, đưa tay hái một quả rồi bẻ ra, quả nhiên ngửi thấy một mùi cay nồng vô cùng chính tông.

Triều đại này không biết có phải do lệnh cấm biển hay không mà vẫn chưa thấy ớt từ bên kia đại dương truyền tới. Thứ này e là rất quý hiếm, lại còn được nuôi trồng thành công ngay giữa tiết trời giữa đông thế này. Nàng phủi phủi tay, đứng dậy hỏi: “Là người phương nào ở bên ngoài hiếu kính vậy?”

Nào ngờ bà tử kia lại đáp: “Người đó nói, chỉ cần cô nương thích là được rồi, nhất quyết không cho nói ra danh tính, tránh để mang tiếng là có ý đồ bám víu.”

Bà tử vừa nói thế, Tần Thư liền nảy sinh hứng thú: “Không hỏi cho rõ ràng, sao ta dám nhận đồ của người ta chứ?”

Bà tử bèn quỳ xuống: “Cô nương, không phải lão nô tùy tiện dẫn người tới đâu, thực sự là thấy vị cô nương kia đáng thương quá, nên mới thay cô ấy chuyển lời tới trước mặt người.”

Tần Thư vừa bước vào trong phòng, vừa mỉm cười nói: “Đã là một vị cô nương, vậy thì mời vào đây gặp mặt đi.”

Tiểu Hồi Hương bưng nước đến giúp Tần Thư rửa mặt chải đầu, vừa làm vừa tò mò hỏi: “Tiểu thư, cái ‘phiên tiêu’ đó là thứ gì vậy ạ? Trông đỏ rực rỡ, chắc là trồng để làm cảnh như hoa nhỉ? Nhìn bộ dạng của người, hình như nó là thứ hiếm lạ lắm.”

Tần Thư lấy một ít cao xoa tay để rửa sạch, nàng đáp: “Hiếm thì đúng là hiếm thật, nhưng tâm ý này mới là thứ đáng quý nhất. Cũng chẳng biết người ta nghe ngóng từ đâu, lại còn tốn công sức tìm bằng được về đây.”

Tần Thư bảo Tiểu Hồi Hương thay cho mình bộ y phục mặc ở nhà, vừa ngồi xuống nhấp một ngụm trà thì đã thấy có người ở ngoài thềm nhà dập đầu hành lễ. Đó là một giọng nữ trong trẻo: “Lư gia Tam Nương xin thỉnh an phu nhân.”

>>

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *