Lạc Hoa Xuân – 9 – 10

Chương 9.

Lục Thừa Tự cầm tờ giấy cam kết kia, lập tức chạy đến Đô Sát Viện. Tại chính đường, chàng tìm gặp một trong những vị ân sư năm xưa là Lão Ngự sử Tề Quang Hi:

“Tề đại nhân, Thường Dương quận chúa đe dọa thê tử của hạ quan, ép nàng phải tự xin hoà ly để rời khỏi nhà họ Lục, còn hứa hẹn bằng tờ giấy cam kết này. Kính mong đại nhân đòi lại công bằng cho phu thê nhà hạ quan.”

Tề Quang Hi là bậc nhân sĩ thế nào? Ông chính là Tả Đô ngự sử đương triều, đứng đầu Đô Sát Viện. Chức vị này nếu không phải người đức cao vọng trọng, cương trực liêm khiết thì tuyệt đối không được bổ nhiệm, vốn dĩ xưa nay luôn là người đứng đầu hàng ngũ Thanh lưu.

Trước kia khi Lục Thừa Tự còn giữ chức Tuần án Ngự sử, từng được Lão Ngự sử chỉ dạy, hai người vốn có danh phận thầy trò. Việc Lục Thừa Tự bị Thường Dương quận chúa ép hôn đã gây xôn xao khắp chốn triều đình, ai nấy đều bất bình thay cho chàng. Họ lo sợ Thái hậu thực sự nghe theo lời vị quận chúa kia mà ép Lục Thừa Tự cưới quận chúa, khiến Thánh thượng mất đi một vị lương tướng. Nay nắm được bằng chứng này trong tay, lẽ nào Lão Ngự sử lại không lên tiếng đòi lại công lý cho chàng? Vị quan già ấy không khỏi phẫn nộ, sục sôi khí tiết.

Thánh thượng nghe tin hai vị trọng thần cùng nhau cầu kiến, rất nhanh đã truyền tuyên triệu Tề Quang Hi và Lục Thừa Tự vào cung Càn Thanh.

Hoàng đế đương triều hiện đã ngoài bốn mươi, khoác trên mình bộ long bào màu vàng minh hoàng, đầu đội mũ Dực Thiện, dưới mũi để hai lọn ria mép chữ Bát tỉa tót rất đẹp. Ngài ấy ngồi uy nghiêm trên ngai vàng: “Hai vị ái khanh có việc gì cần khởi tấu, mau mau nói đi.”

Lục Thừa Tự lập tức dâng tờ cam kết lên, trình bày rõ ràng mọi nguyên nhân hậu quả.

Hoàng đế nghe xong cũng thấy đây là chuyện chưa từng nghe tới. Tuy nhiên, tính cách của Thánh thượng xưa nay vốn ôn hòa, khí độ ung dung cao quý, dù trong lòng phẫn nộ nhưng mặt không lộ vẻ gay gắt. Ngài ấy ra hiệu cho thái giám thân cận nhận lấy tờ cam kết, rồi phân phó: “Chuyện này liên quan đến nội quyến, giao cho Hoàng hậu xử lý là thích hợp nhất. Mau đi mời Hoàng hậu tới đây.”

Hoàng hậu vốn đang ở cung Khôn Ninh ngay phía sau cung Càn Thanh, hai điện cách nhau không xa. Chẳng bao lâu sau, Hoàng hậu giá đáo, bọn người Lục Thừa Tự vội vàng quỳ xuống thỉnh an.

Tính cách của Hoàng hậu không giống Thánh thượng, bà là người vô cùng đảm đang và quyết đoán. Bà vịn tay nữ quan, vội vã bước vào điện, người chưa tới mà tiếng đã vang lên trước: “Dưới sự cai trị của Thánh thượng, giữa thanh thiên bạch nhật, lại có kẻ dám coi thường vương pháp, làm chuyện tàn nhẫn thất đức như vậy sao? Bản cung tuyệt đối sẽ không nhẹ tay tha bổng!”

Một mặt bà giơ tay cho phép hai người Lục Thừa Tự đứng dậy, mặt khác tiến đến ngồi xuống cạnh bên Thánh thượng: “Bệ hạ, thần thiếp sẽ lập tức tuyên triệu mẹ con nhà Tương Vương phi vào cung để hỏi cho ra lẽ!”

“Được, chuyện này giao toàn quyền cho Hoàng hậu xử lý.”

Hoàng hậu ra lệnh cho người đi triệu mẹ con nhà Tương Vương phi, đồng thời còn mời thêm cả Ung Vương phi vào cung nữa.

Nhắc đến Ung Vương phi, chuyện này cũng có một đoạn nội tình bên trong.

Sau khi Kim thượng được quá kế cho Tiên đế, tước vị của phụ thân ngài ấy liền do người đệ đệ ruột là Ung Vương kế thừa. Nói ra cũng thật kỳ lạ, Kim thượng kế vị đại thống đã mười mấy năm nay, nhưng đến giờ dưới gối vẫn không có mụn con nào, điều này khiến các triều thần sốt ruột như lửa đốt. Thấy Thánh thượng đã ngoài bốn mươi mà vẫn chưa có con nối dõi, một vài đại thần bắt đầu nảy sinh ý định nhận con nuôi để nối ngôi.

Trùng hợp thay, Tương Vương phủ có một tiểu Vương gia, mà Ung Vương phủ cũng có một vị Vương thế tử. Phe Thái hậu không nghi ngờ gì nữa, đều nghiêng về phía Tương Vương phủ, trong khi phe Hoàng đế lại có xu hướng muốn đưa Thế tử của Ung Vương phủ sang quá kế. Chính vì lẽ đó, hai phủ Vương gia này lâm vào thế xung khắc như nước với lửa.

Ung Vương phi vừa nhận được tin báo, liền hiểu ngay dụng ý của Hoàng hậu. Hoàng hậu vốn là người luôn giữ gìn thân phận, lẽ nào lại đích thân đi tranh cãi với Tương Vương phi? Vậy nên bà chắc chắn muốn để Ung Vương phi nàng đây làm quân tiên phong. Nghĩ vậy, Ung Vương phi lập tức thay vương phục, trang điểm đúng phẩm cấp rồi vội vã khởi hành vào hoàng thành.

Phía Tương Vương phủ cũng nhận được tin tức cùng lúc đó.

Lúc bấy giờ Thường Dương quận chúa còn chưa kịp vào cung, thì đã bị Vương phi ngăn lại. Tại sao ư? Chỉ vì Tiểu vương gia đi Thông Châu vẫn chưa về phủ. Vương phi sau khi nghe xong đầu đuôi câu chuyện, nhất quyết bắt cô ta phải đợi thêm hai ngày, chờ con trai về kinh rồi mới quyết định.

Đừng nhìn Tương Vương phủ quyền cao chức trọng mà lầm, người thực sự nắm quyền quyết định trong phủ không phải Vương gia hay Vương phi, mà chính là Tiểu vương gia Chu Tu Dịch.

Vương gia và Vương phi tổng cộng cũng chỉ có mỗi một mụn con gái này, nên ngày thường yêu chiều đến mức không gì sánh bằng. Ngoại trừ sao trên trời hay trăng dưới nước ra, thì bất cứ thứ gì nàng muốn đều được đáp ứng đủ đầy. Ngay như chuyện cô ta nhắm trúng Lục Thừa Tự, Vương phi không phải là chưa từng nảy ra ý định dùng thủ đoạn. Chỉ là một gã đàn ông thôi mà, bắt hắn cưới con gái bà là phúc phận của hắn, thế nhưng Chu Tu Dịch lại không đồng ý. Vì chuyện này mà Thường Dương quận chúa đã dùng đến chiêu “một khóc, hai nháo, ba thắt cổ”, làm cho Vương phi phải một phen đau đầu nhức óc.

“Không phải là mẹ không cho con vào cung, mà là trước khi đi ca ca con đã dặn dò, bảo con phải yên phận thủ thường, chớ có gây ra chuyện thị phi. Ngay đêm nay nó sẽ về phủ thôi, con cứ đợi thêm một chút, đợi nó về, nếu nó đồng ý thì mẹ tuyệt đối không ngăn cản con nữa.”

Thường Dương quận chúa cứ thế bị giữ lại, đang dựa đầu vào đầu gối của mẹ mà khóc lóc, không ngờ đúng lúc này nội thị của Hoàng hậu giá đáo, tuyên triệu hai mẹ con bọn họ vào cung.

Vương phi ngẩn người, vừa vuốt ve vỗ về con gái vừa hỏi nội thị: “Không biết nương nương vì chuyện gì mà lại tuyên triệu mẹ con ta vào cung vậy?”

Vị nội thị khoanh tay ôm phất trần, liếc nhìn vị Vương phi đang cố giữ vẻ thản nhiên kia, rồi nở nụ cười khinh khỉnh: “Ý muốn của Phượng giá không phải là chuyện có thể tùy tiện suy đoán. Vương phi nương nương, thời gian không còn sớm nữa, mau theo tạp gia vào cung thôi, đừng để nương nương phải mất công chờ đợi.”

Tương Vương phi thấy sắc mặt vị nội thị không mấy thiện cảm, bấy giờ mới sực nhận ra mình đã thất lễ, bà chậm chạp đứng dậy: “Thần phụ tuân mệnh, xin công công chờ cho một lát, thần phụ đi thay trang phục ngay đây…”

“Không cần đâu, Hoàng hậu muốn gặp Vương phi và Quận chúa ngay lúc này.”

Tương Vương phi cảm thấy điềm chẳng lành, liền ra hiệu cho ma ma thân cận đi báo tin cho Tương Vương đang ở trong triều, sau đó mới dẫn theo con gái vào cung. Thường Dương quận chúa hoàn toàn không hay biết nguy hiểm đang cận kề, ngược lại còn xúi giục mẫu phi: “Sau khi gặp Hoàng hậu, chúng ta sẵn tiện ghé qua cung Từ Ninh bái kiến Thái hậu, nhắc qua chuyện này một chút, biết đâu nương nương sẽ đồng ý ngay đấy ạ.”

Tương Vương phủ nằm ngay ngoài Đông Tiện môn, xe ngựa chỉ một loáng là tới nơi. Tuy nhiên, Tương Vương phủ dù sao cũng là nơi tai mắt nhạy bén, sau khi Đô Sát Viện làm rùm beng lên, các quan lại thuộc phe cánh của Tương Vương đã sớm nhận được tin tức. Họ kịp thời báo lại sự tình ngay khi Tương Vương phi chuẩn bị xuống xe. Vương phi nghe xong đương nhiên là giận không kìm được, nhưng bà ta cũng chẳng hề sợ hãi, vẫn ung dung dẫn con gái bước vào cung.

Đầu giờ Thân chiều hôm đó, hai nhóm người đều đã có mặt tại điện Chiêu Nhân nằm phía đông cung Càn Thanh. Điện này chia làm hai gian đông tây, Hoàng đế dẫn theo Lục Thừa Tự ngồi ở gian đông, còn Hoàng hậu thì triệu kiến mọi người tại gian tây, chỉ cách nhau bằng một bức rèm.

Sau khi mọi người hành lễ xong xuôi, Hoàng hậu liền đi thẳng vào vấn đề, bà tra hỏi Thường Dương quận chúa: “Có phải vào ngày hôm qua, ngươi đã sai người gọi Cố thị, cũng là thê tử của Lục đại nhân đến gặp mặt hay không?”

“Bẩm nương nương, đúng là như vậy.”

Thường Dương quận chúa đứng giữa điện với tư thế thẳng tắp, cô ta chắp tay đáp lời.

“Vậy còn tờ cam kết này, có phải do chính tay ngươi viết hay không?” Vị nội thị bên cạnh Hoàng hậu đưa tờ giấy ra, cho hai vị Vương phi và Quận chúa cùng xem.

Quận chúa chẳng hề chút do dự: “Là thần nữ viết ạ.”

“Vì sao ngươi lại viết tờ giấy này?”

Quận chúa đáp lời một cách đầy thản nhiên: “Bẩm nương nương, Cố thị kia tự mình nói rằng, nàng ta và Lục Thừa Tự hoàn toàn không có tình cảm, nguyện ý tự xin hoà ly để rời khỏi nhà họ Lục, nên mới khẩn cầu thần nữ giúp đỡ. Thần nữ thấy vậy mới nhận lấy thư hòa ly của nàng ta, vốn định xin Thái hậu nương nương làm chủ, ban cho bọn họ được phép hòa ly…”

Hoàng hậu nghe xong thì hoàn toàn không tin, bà liền ngắt lời cô ta: “Ngươi giúp nàng ta hòa ly? Đúng là chuyện nực cười! Nếu đã là ngươi giúp nàng ta, tại sao còn phải hứa hẹn cho nàng ta lợi lộc?”

Quận chúa thản nhiên đáp: “Thần nữ thấy nàng ta tội nghiệp mà, vả lại nàng ta cũng bằng lòng nhường Lục lang lại cho con, con hứa cho nàng ta chút lợi lộc thì đã sao chứ!”

Hoàng hậu nghe xong liền đưa tay vuốt lại nếp áo, bà không buồn nói thêm câu nào nữa.

Ung Vương phi thấy tình cảnh đó, liền biết đã đến lúc mình phải ra tay. Bà ấy lập tức đứng dậy, nghiêm giọng quở trách Thường Dương quận chúa: “Ta thấy Quận chúa không cần phải ở đây diễn kịch nữa. Rõ ràng là ngươi thấy nàng ta đơn độc không người che chở, nên mới truyền gọi đến gặp mặt, rồi dùng cả uy quyền lẫn lợi lộc để ép nàng ta phải hòa ly. Sau đó, ngươi lại lấy danh nghĩa tốt đẹp là bồi thường cho nàng ta hai cửa tiệm, nhằm ngụy tạo thành một cuộc giao dịch!”

“Nói bậy! Rõ ràng là nàng ta chủ động xin ta giúp nàng ta hòa ly!”

Ung Vương phi bật cười thành tiếng, rồi thong thả hỏi cô ta: “Quận chúa à, Lục đại nhân kia vốn xuất thân Trạng nguyên, lại là hậu duệ danh môn, tuổi còn trẻ đã thăng đến chức Hộ bộ Thị lang, tiền đồ sau này chắc chắn rộng mở khôn cùng. Một ‘miếng mồi ngon’ như thế, ai mà nỡ buông tay cho được? Chẳng phải chính Quận chúa cũng vì đỏ mắt ghen tị, mà muốn ép người ta giáng thê xuống thành thiếp, hận không thể gả cho hắn ngay đó sao?”

“Trừ phi Cố thị là một kẻ ngốc, bằng không nàng ta tuyệt đối không đời nào tự nguyện xin hoà ly để rời khỏi nhà họ Lục!”

Quận chúa bắt đầu cuống quýt, cô ta gãi gãi sau gáy rồi thốt lên: “Bởi vì tên Lục Thừa Tự kia đã vứt bỏ nàng ta ở quê nhà suốt năm năm trời, trái tim của nàng ta sớm đã nguội lạnh, lại còn có người trong lòng rồi!”

Lời này vừa nói ra, đã làm cho Hoàng đế ngồi ở gian bên cạnh giật mình một phen, ngài ấy hơi liếc mắt nhìn Lục Thừa Tự một cái.

Lục Thừa Tự vẫn đứng thẳng tắp, nghe thấy câu này thì khóe miệng không khỏi giật giật.

Thê tử của chàng đã quán xuyến gia đình suốt mấy năm trời, tiếng tốt đồn xa, lẽ nào lại thay lòng đổi dạ.

Chàng tuyệt đối không tin những lời quỷ quái này!

Hoàng đế cũng sợ chàng suy nghĩ lung tung, bèn trấn an: “Lục khanh, lời của Quận chúa không thể tin được, đây chắc chắn là chuyện vô căn cứ, là lời xảo trá biện minh của Quận chúa thôi, ngươi chớ có về nhà mà làm khó phu nhân của mình.”

Lục Thừa Tự cũng rất đồng tình, chàng chắp tay thưa: “Bệ hạ thánh minh, nội tử của thần vốn dĩ luôn cẩn trọng mực thước, dịu dàng hiền thục, tuyệt đối không phải hạng người ba lòng hai ý đâu ạ.”

Hoàng đế vuốt râu gật đầu tán thành.

Phía bên kia, Hoàng hậu nghe xong lời của Quận chúa thì lại phẫn nộ đến tột cùng: “Láo xược! Ngươi dòm ngó trượng phu nhà người ta đã đành, giờ lại còn bôi nhọ danh tiết của nàng ta, lương tâm của ngươi để đâu hả!”

Quận chúa có trăm miệng cũng không thể bào chữa được, liền kêu lên: “Con không có! Nếu nương nương không tin, thì có thể tuyên nàng ta tới đây để đối chất!”

Tương Vương phi cũng tiếp lời: “Nương nương, chuyện ngày hôm nay nếu không gọi Cố thị đến đối chất, thì cho dù nương nương định tội danh gì, mẹ con thần phụ cũng không phục!”

Hoàng hậu nghe vậy, thì có chút ngần ngại liếc nhìn về phía gian đông.

Trong khi đó, Lục Thừa Tự lại nghe ra có điều gì đó không ổn từ những lời của Thường Dương quận chúa, chàng không dám để Hoa Xuân đến đối chất, bèn thưa: “Bẩm Bệ hạ, bẩm nương nương, nội tử của thần đã bị Quận chúa hù dọa đến mức ăn ngủ không yên, hôm nay đã lâm bệnh nằm liệt giường, nên không thể đến đối chất được.”

Tóm lại, thứ mà Hoàng đế và Hoàng hậu cần, chính là một cái thóp để nắm thắt lưng địch thủ, chứ chẳng cần phải đối chất làm gì.

Hoàng hậu lên giọng đanh thép, nói với mẹ con Tương Vương phi: “Lục Thị lang đang ở ngay gian bên cạnh, cần gì phải tuyên phu nhân của hắn đến đối chất? Tờ cam kết này chính là do đích thân Lục Thị lang giao cho ta, ngươi còn lời nào để bào chữa nữa không?”

Ung Vương phi cũng rất biết chọn thời điểm để “bồi” thêm một đao: “Quận chúa à, giả sử một người phụ nữ thực sự có người khác trong lòng, lẽ nào nàng ta lại đi rêu rao khắp nơi cho thiên hạ đều biết? Đây rõ ràng là lời vu khống của ngươi mà!”

Quận chúa vừa cuống vừa giận, buồn bực nhìn sang mẫu phi của mình.

Tương Vương phi nghe nãy giờ cũng đã hoàn toàn vỡ lẽ. Hoàng hậu và Ung Vương phi chính là đang nắm thóp được chuyện này, nên mới dốc sức hắt nước bẩn lên đầu Tương Vương phủ, nhằm vào trượng phu và con trai bà mà công kích.

Bà chậm rãi lấy từ trong tay áo ra bức thư hòa ly, rồi đứng dậy thưa: “Bẩm nương nương, nếu sự thật đúng như lời Ung Vương phi nói, vậy thì bức thư hòa ly này phải giải thích thế nào đây? Người có thể nhìn xem, vết mực trên này chẳng giống như mới viết gần đây, rõ ràng là nàng ta đã viết từ khi còn ở Ích Châu, hoàn toàn không phải do con gái thần phụ ép buộc mà có đâu ạ!”

Không nhắc đến bức thư hòa ly này thì thôi, vừa nhắc đến nó, Hoàng hậu lại càng có thêm lý lẽ để trách mắng:

“Tương Vương phi, bà hãy tự hỏi lương tâm mình đi. Phu thê nhà người ta khó khăn lắm mới đến ngày khổ tận cam lai, vậy mà con gái bà lại muốn ép người ta phải giáng thê xuống thành thiếp, thử hỏi có ai mà chịu đựng nổi không? Bức thư hòa ly này, kể cả có là do chính tay nàng ta viết đi chăng nữa, thì đó cũng là hành động trong lúc vô cùng phẫn uất, là chút tôn nghiêm cuối cùng mà một người phụ nữ cố giữ lại cho chính mình mà thôi!”

“Trước đó ta đã từng quở trách Thường Dương, lệnh cho nó phải đóng cửa suy ngẫm lỗi lầm, đừng có đánh chủ ý lên phu quân của người khác nữa, vậy mà nó nhất quyết không nghe, cứ định tâm quấy nhiễu khiến nhà cửa người ta không được yên ổn. Hôm nay tờ cam kết này đã ở đây, Đô Sát Viện chắc chắn sẽ không dễ dàng bỏ qua. Hiện tại có hai con đường đặt ra trước mắt, các người tự mình chọn lấy đi.”

“Một là, Bệ hạ và bản cung sẽ đứng ra làm chủ, chỉ hôn cho Thường Dương vào một nhà khác.”

“Hai là, áp giải Thường Dương quận chúa trở về quê cũ, không cho phép vào kinh thêm một bước nào nữa!”

Sự thật vốn dĩ ra sao, Hoàng hậu chẳng hề bận tâm. Thứ bà muốn là chặt đứt hoàn toàn mối liên kết giữa Tương Vương phủ và Lục Thừa Tự, nhằm đảm bảo hắn có thể yên ổn làm việc cho Hoàng đế, mà không bị Thái hậu nhúng tay lôi kéo.

Tương Vương phi đương nhiên không đời nào để mặc cho Hoàng hậu chỉ hôn cho con gái mình, bởi làm vậy chẳng khác nào dồn con bé vào đường chết. Bà ta chọn con đường thứ hai, đành phải nén giận mà đáp:

“Ân đức của nương nương, thần phụ xin ghi tạc trong lòng. Thần phụ nguyện đưa Thường Dương trở về Giang Châu, để con bé đóng cửa suy ngẫm lỗi lầm ạ.”

Hoàng hậu một mặt cho người tiễn hai vị Vương phi ra khỏi cung, mặt khác liền giữ lại bức thư hòa ly kia rồi đi sang gian phòng bên cạnh.

Lục Thừa Tự thấy bóng dáng Hoàng hậu qua khóe mắt, lập tức quỳ xuống hành lễ: “Thần khấu tạ ân đức của nương nương.”

Hoàng hậu cầm bức thư hòa ly kia, liếc nhìn chàng một cái rồi thở dài: “Lục Thị lang bình thân.”

Lục Thừa Tự đứng dậy, rũ mắt cung kính.

Hoàng hậu đưa bức thư hòa ly kia cho chàng, đồng thời ân cần dặn dò: “Lục đại nhân, kỳ thi Điện năm đó, bản cung cũng ngồi ở gian bên cạnh, nghe khanh làm được những bài văn rất hay, lòng tràn đầy tài hoa, chính khí lẫm liệt, xứng đáng là bậc lương tài trị quốc. Những công trạng của ngươi suốt mấy năm qua, bản cung và Bệ hạ đều nhìn thấu và cảm thấy vô cùng hài lòng.”

“Tuy nhiên, khanh giỏi lo việc nước nhưng lại sơ suất việc nhà, ít nhiều cũng đã bạc đãi người thê tử kết tóc này. Bản cung mong rằng Lục đại nhân khi trị quốc cũng đừng quên việc tề gia!”

Lục Thừa Tự nghe xong chỉ cảm thấy hổ thẹn khôn cùng, lập tức quỳ xuống nhận lấy bức thư hòa ly: “Lời giáo huấn tận tình của Bệ hạ và nương nương khiến thần như được khai sáng, tỉnh ngộ hoàn toàn.”

Hoàng hậu cười nói: “Tốt, vừa rồi bản cung đã sai người ban thưởng một ít lễ vật cho phu nhân của ngươi. Hôm nay ngươi không cần tới nha môn nữa, mau về phủ mà trấn an tôn phu nhân đi.”

“Thần lĩnh mệnh!”

Thường Dương quận chúa phải chịu một vố đau như thế, làm sao có thể nhẫn nhịn cho cam. Cô ta đùng đùng nổi giận rời khỏi cung, đoạt lấy một con ngựa của thị vệ rồi phi thẳng về hướng phủ Lục Quốc công. Đám thị vệ của Tương Vương phủ ngăn không kịp, đành phải vội vã đuổi theo sau.

Chẳng mấy chốc, một nhóm người đã hùng hổ kéo đến trước cửa Lục phủ. Quận chúa ngồi cao trên lưng ngựa, vung roi chỉ thẳng vào trong cửa lớn, rồi quát lên: “Người nhà họ Lục đâu cả rồi, mau bảo Cố Hoa Xuân ra đây gặp ta!”

Người gác cổng nhà họ Lục, bị khí thế này của Quận chúa làm cho khiếp vía, một mặt vội mời đại quản gia ra đón người, mặt khác lập tức chạy vào trong thông báo.

Khi tin tức truyền đến Hạ Sảng Trai và chỗ Đại thái thái, Hoa Xuân trái lại đã có sự chuẩn bị từ trước, nàng không chút hoảng hốt, thong thả khoác thêm một chiếc áo ngoài rồi đi ra đón tiếp.

Quận chúa giá đáo, trung môn đã mở sẵn, thế nhưng cô ta đang lúc cơn lôi đình bốc cao nên chẳng thèm vào cửa, mà cứ thế đứng sừng sững dưới bức bình phong trước phủ họ Lục, ánh mắt hằm hằm như hổ đói, chực chờ nhìn chằm chằm vào phía cửa lớn.

Hoa Xuân thấy vậy, lập tức rảo bước từ trong cửa ra, nhanh chóng bước xuống bậc thềm đi về phía trước: “Quận chúa!”

Đang định lên tiếng thì phía bên kia, Đại thái thái cũng nghe tin dữ mà tức tốc chạy đến: “Quận chúa đại giá quang lâm, xin mời vào trong uống trà đàm đạo!” Vì sợ Hoa Xuân phải chịu thiệt thòi, bà liền bám sát theo sau.

Nào ngờ Quận chúa chẳng thèm nể mặt một ai: “Bà tránh ra một bên!” Cô ta quát đuổi Đại thái thái đi, ngay sau đó ánh mắt sắc như dao quét về phía Hoa Xuân, lôi nàng sang một bên bức bình phong rồi lớn tiếng chất vấn: “Cố Hoa Xuân, ngươi dám bỡn cợt ta sao? Tại sao tờ cam kết đó lại rơi vào tay Lục Thừa Tự hả!”

Hoa Xuân đã sớm chuẩn bị sẵn lời đối phó, nàng làm bộ hoảng sợ cuống cuồng hành lễ với Quận chúa, rồi lắp bắp giải thích: “Quận chúa bớt giận, tên Lục Thừa Tự kia thật sự quá đáng, hắn dám phái người theo dõi ta. Biết được ta gặp Quận chúa ở chùa Long Các, sợ ta đưa bức thư hòa ly cho người, nên vừa về đến phủ là hắn sai bà vú lục soát người ta ngay, thế là… thế là tờ cam kết kia bị lục mất rồi!”

Quận chúa nghe xong thì vô cùng chấn động, cô ta ngẩn người nhìn trân trân vào Hoa Xuân, không thể tin nổi mà hỏi lại: “Hắn… hắn dám lục soát người ngươi sao?”

Tuyệt đối không phải hành vi của một bậc quân tử!

“Chẳng phải thế sao?” Hoa Xuân ra vẻ tủi thân: “Hắn còn cấm túc ta trong phủ, không cho phép ta vào cung để làm chứng cho Quận chúa nữa!”

Hóa ra là vậy!

Quận chúa nhất thời không thể chấp nhận nổi, việc người đàn ông từng như tuyết trắng trên đỉnh núi cao lại có khiếm khuyết về đức hạnh: “Sao hắn có thể sỉ nhục ngươi đến mức ấy? Ta cứ ngỡ hắn là bậc quân tử như ngọc, phong thái thanh cao như trăng sáng gió mát, không ngờ sau lưng lại làm ra những chuyện đê tiện như vậy!”

Cũng giống như vò rượu quý đã trân trọng cất giữ bao năm, đến khi đột ngột mở nắp ra, lại phát hiện bên trong có một con muỗi chết chìm, lập tức thấy mất hứng vô cùng.

Quận chúa vừa đau lòng vừa thất vọng: “Tấm chân tình này của ta, cuối cùng cũng đã trao lầm người rồi…”

Hoa Xuân: “…”

Sẵn tiện hỏi thăm tình hình trong cung, Quận chúa thuật lại cho nàng vài câu đại khái. Có lẽ vì chịu đòn kích động từ phía Lục Thừa Tự, nên tinh thần của cô ta có chút uể oải, “Tiếp theo ngươi định tính thế nào?”

Hoa Xuân trả lời chém đinh chặt sắt: “Hòa ly chứ sao, ta không muốn sống cả đời với hạng đàn ông như thế.”

“Hắn coi thường ngươi như vậy, quả thực không thể chung sống tiếp được nữa.” Quận chúa cũng cảm thấy bất bình thay cho Hoa Xuân, “Chuyến này ta đi Giang Châu, ít thì nửa năm, nhiều thì một năm, huynh trưởng ta nhất định sẽ tìm cách cứu ta về kinh. Đến lúc đó nếu ngươi vẫn chưa hòa ly được, ta nhất định sẽ ra tay giúp đỡ ngươi.”

Ai mà thèm dây dưa với chàng tận nửa năm chứ? Sao cô gái này chẳng mong cho nàng được chút tốt đẹp nào vậy không biết.

Hoa Xuân cạn lời: “Chuyện của tôi không phiền Quận chúa phải lo lắng đâu. Quận chúa đi Giang Châu đường xá xa xôi, trên đường hãy bảo trọng.”

Sau khi tiễn được Quận chúa đi, Hoa Xuân quay trở về phòng, chỉ còn đợi Lục Thừa Tự về phủ để lật bài ngửa.

Lục Thừa Tự đã không để nàng phải thất vọng, chỉ chưa đầy hai khắc sau, chàng đã mang theo những lễ vật ban thưởng của Hoàng hậu trở về Hạ Sảng Trai.

Lúc bấy giờ trời đã bắt đầu chập choạng tối, đám nha hoàn đang bắc thang dưới hành lang, chuẩn bị thắp đèn.

Người đàn ông cao lớn vẫn chưa kịp cởi bỏ bộ quan bào màu đỏ thẫm, chàng siết chặt tờ thư hòa ly bước vào phòng, đồng tử đen thẳm lạnh lẽo và trầm mặc, ánh lên chút hàn ý khó lòng nắm bắt.

Hoa Xuân đã sớm cho người hầu kẻ hạ lui hết, nàng không nhanh không chậm thắp một ngọn đèn lưu ly đặt trên bàn, gương mặt thanh tú được ánh đèn ngũ sắc soi rọi, trở nên rực rỡ và lộng lẫy lạ thường: “Thất gia đã về rồi sao?”

Giọng điệu của nàng thong dong, lại mang theo vài phần khiêu khích của kẻ vừa đạt được mục đích.

Lục Thừa Tự trên đường về phủ đã sớm suy nghĩ thông suốt mọi chuyện. Nhìn Hoa Xuân đang có chỗ dựa mà chẳng chút nể sợ, chàng mím chặt đôi môi mỏng, vừa bất lực vừa đau đầu ném tờ thư hòa ly kia qua, rồi ngồi xuống đối diện nàng, cất giọng trầm trầm:

“Ý chỉ của Hoàng hậu nương nương đã ban xuống, đưa Thường Dương quận chúa đi Giang Châu xa xôi, không được phép vào kinh. Chỉ dụ này được dán ngay ngoài cửa Chính Dương cho bàn dân thiên hạ đều biết. Những sóng gió do chuyện của Quận chúa gây ra trước đó, coi như đã bình ổn, nàng chắc cũng đã hả được cơn giận, cả danh dự lẫn lợi ích đều đủ cả rồi. Phu nhân, nương nương dặn ta phải đối xử tốt với nàng, từ nay về sau chúng ta đừng bày ra chuyện gì nữa, hãy cùng nhau lo liệu gia đình cho tốt, nàng thấy sao?”

Đêm qua phải trực đêm cả tối, hôm nay lại lao tâm khổ tứ suốt nửa ngày trời, lúc này thần sắc của Lục Thừa Tự lộ rõ vẻ mệt mỏi.

Hoa Xuân thấy vậy, liền ân cần rót cho chàng một chén trà, giọng nói vẫn bình thản như không: “Thất gia, những lời Quận chúa nói, chắc hẳn chàng đều đã nghe thấy cả rồi chứ?”

Lục Thừa Tự gác tay lên bàn, không đón lấy chén trà của nàng, đôi mắt sắc sảo nhìn nàng chằm chằm mà không hề lên tiếng.

Ngay từ khoảnh khắc Tương Vương phi rút bức thư hòa ly kia ra, Lục Thừa Tự đã khẳng định chắc chắn chuyện này là do một tay Hoa Xuân đạo diễn.

Hoa Xuân khẽ mỉm cười: “Những lời Quận chúa nói câu nào cũng là thật cả. Sở dĩ ta muốn hòa ly với chàng, quả thực là vì trong lòng đã có người khác. Người này dĩ nhiên không phải bát đệ của chàng, người ấy họ Vương, tên chỉ có một chữ Lang. Huynh ấy sống ngay cạnh phủ chúng ta, là hàng xóm mới chuyển đến sau khi chàng rời đi được nửa năm. Đó là một cử nhân thi trượt, hiện đang dạy học để mưu sinh.”

“Suốt năm năm chàng vắng nhà, huynh ấy thường xuyên giúp ta trông nom và chơi đùa cùng Phái nhi, thi thoảng cũng dạy thằng bé đọc sách. Có một năm mẫu thân chàng phát bệnh, cũng chính huynh ấy đã đội mưa giúp ta đi mời thầy thuốc.”

“Lễ hội Hoa Triều ở thành Ích Châu là náo nhiệt nhất, những nữ tử khác đều có người tặng đèn, ta không có, huynh ấy liền lặng lẽ mua một chiếc rồi bảo Phái nhi mang về cho ta.”

Hoa Xuân cúi người, nhìn trân trân vào gương mặt đang dần trở nên âm trầm của chàng, đẩy bức thư hòa ly đến trước mặt chàng. Đôi môi đỏ mọng ghé sát vào vành tai chàng, ánh mắt nàng lúc sáng lúc tối, giọng điệu cũng trở nên dịu dàng lạ thường: “Thành thân năm năm, Thất gia lúc nào cũng mở miệng ra là một tiếng Cố thị, hai tiếng Cố thị, e rằng chàng cũng chẳng biết khuê danh của ta là hai chữ nào đâu nhỉ?”

“Thế nhưng huynh ấy biết, ta tên là Hoa Xuân.”

Chương 10.

Những đốt ngón tay rõ rệt gác trên mặt bàn từ từ siết chặt lại, gân xanh nổi lên hằn rõ từng đường nét.

Hơi thở ấm nóng của nàng khẽ phả lên vành tai chàng, khiến từng sợi kinh mạch nhỏ nhặt nhất ở đó cũng không tự chủ được mà co thắt lại.

Lần cuối cùng hai người ở gần nhau thế này là khi nào? Là lần chàng về nhà hai năm trước, sau khi cuộc mây mưa dứt hẳn, nàng đã yếu mềm tựa vào bên người chàng, thỏa mãn mà gọi một tiếng “phu quân”. Còn hôm nay, nàng lại dùng chính giọng điệu ấy để nói với chàng rằng, trong lòng nàng đã có người khác, một người đã cùng nàng trải qua sớm tối mưa nắng trong suốt năm năm chàng vắng mặt.

Cơn đau nhói buốt, lạnh lẽo đột ngột dâng lên trong lòng, kéo theo đó là sự giận dữ, đau đớn, hối hận không thể kìm nén, hay thậm chí là một tia nhục nhã, ép cho gương mặt vốn dĩ luôn trắng nhợt điềm tĩnh kia cũng phải đỏ ngầu lên.

Đồng tử của chàng co rụt lại, đôi lông mày anh tuấn mang theo nhuệ khí lạnh lùng, hắn chàng chốc đứng phắt dậy: “Nàng nghe xem, nàng đang nói cái loại lời lẽ gì thế hả!”

“Tất nhiên đó là lời nói thật lòng! Là lời từ tận đáy lòng đấy!” Hoa Xuân lười biếng vươn thẳng người dậy, khoanh tay cười nhạt, tư thế vẫn vẻ ung dung tự tại: “Sao nào, chỉ cho phép quan lại đốt lửa, không cho dân chúng thắp đèn ư? Chỉ cho phép chàng giao thiệp chốn quan trường, trêu hoa ghẹo nguyệt, nạp thiếp đón thê, mà không cho phép ta tơ tưởng đến những người đàn ông khác sao?”

Sắc mặt của Lục Thừa Tự lạnh lùng như sắt, hai nắm tay buông thõng không tự chủ được mà siết chặt lại. Sự giáo dục và thân phận bẩm sinh khiến chàng phải cố kìm nén cơn giận, đôi môi mỏng mím lại, chàng nghiến răng giải thích: “Bên cạnh ta làm gì có người đàn bà nào?”

“Ai mà biết được, trên giường chàng không có người, thì dưới sông cũng chẳng có nước…”

Mấy bận gặp lại, có đêm nào mà hắn chẳng đói khát như sói đòi hỏi nàng tới vài lần, những năm ở bên ngoài kia, liệu có nhịn nổi không?

Lục Thừa Tự chỉ sợ nàng hiểu lầm, nên vội vàng thanh minh: “Nàng sang thư phòng mà xem thử có ai không, hoặc gọi Lục Trân đến đây mà hỏi, xem những năm qua ta có ở ngoài hoa nguyệt lăng nhăng gì không? Vì để nàng yên tâm, đến cả nha hoàn ta cũng không dùng tới một người!”

“Thế thì chàng cứ dùng đi chứ.”

Lục Thừa Tự nghẹn lời.

“Ta không quan tâm, mà điều đó cũng chẳng còn quan trọng nữa rồi…” Thần sắc của Hoa Xuân rất lạnh nhạt, cầm tờ thư hòa ly kia dí sát vào mắt chàng: “Tóm lại, ta đã có dự tính khác cho mình, không muốn tiếp tục chung sống với chàng thêm một ngày nào nữa…”

Lục Thừa Tự đứng sừng sững như một ngọn núi băng, bất động thanh sắc. Khóe mắt hẹp dài của chàng lộ rõ vẻ hung bạo, ánh mắt nhìn nàng giống như nhìn một bức tường dày đặc không kẽ hở, khiến chàng nảy sinh vài phần cảm giác khó nhằn và lúng túng: “Cố…”

Chàng định đổi miệng gọi “Hoa Xuân”, nhưng vừa nhớ lại những lời nàng nói khi nãy, chỉ thấy trong lòng nghẹn ứ, giọng điệu trở nên cứng nhắc: “Trước kia nàng không như vậy…”

“Chính chàng cũng nói đó là chuyện trước kia rồi.” Đáy mắt Hoa Xuân lại hiện lên ý cười, đôi mắt đẹp đẽ như lưu ly trong vắt, không hận, cũng chẳng oán, nàng nhìn thẳng vào chàng, chỉ bình thản nói: “Lần cuối chúng ta gặp nhau là hai năm trước, hai năm là quá đủ để thay đổi nhiều thứ, cũng đủ để một người phụ nữ thay lòng đổi dạ. Lục Thừa Tự, không giấu gì chàng, đôi lúc nhìn Phái nhi, ta còn hoài nghi không biết thằng bé đến từ đâu nữa. Nếu ta là chàng, bỏ mặc thê tử ở quê cũ lâu như thế, ta cũng phải nghi ngờ xem đứa con trai này có phải của mình hay không đấy?”

Một câu nói của nàng suýt chút nữa đã khiến Lục Thừa Tự nổ đốm đốm mắt vì giận, hàn quang trong đáy mắt chàng bắn ra bốn phía. Chàng bóp chặt lấy khuỷu tay nàng, rồi kéo mạnh nàng vào lòng mình: “Nàng muốn làm ta tức chết thì mới cam lòng có phải không?”

Hoa Xuân bị ép phải đập thẳng vào lồng ngực chàng, hơi thở của hai người giao hòa vào một chỗ. Nàng đối diện với ánh mắt lạnh lùng và cứng nhắc của chàng, dứt khoát nhét tờ thư hòa ly vào tay chàng rồi thốt ra đầy hả hê: “Không muốn bị chọc tức thì chàng ký tên đi, thành toàn cho ta và Vương Lang!”

Sắc mặt của Lục Thừa Tự tối sầm lại, chàng nhìn nàng chằm chằm, không nói một lời mà rút tờ thư hòa ly kia ra, ngay trước mặt nàng, chàng xé nó thành từng mảnh vụn.

Không một nam nhân nào có thể chịu đựng được việc, nữ nhân của mình lại mang hình bóng kẻ khác trong lòng. Chàng sợ nếu còn nán lại lâu hơn nữa, bản thân sẽ bị nàng kích động đến mức thực sự đáp ứng lời nàng nói. Lục Thừa Tự rời khỏi Hạ Sảng Trai, đi một mạch về lại thư phòng.

Trong chính phòng, đèn nến sáng trưng.

Trên bàn án, các văn thư và tấu triết từ các cơ quan vẫn được sắp xếp ngăn nắp theo từng loại như mọi khi.

Lục Thừa Tự chậm rãi tiến đến ngồi xuống phía sau bàn, thân hình cao lớn lún sâu vào chiếc ghế bành, chàng đưa tay day nhẹ tâm mi, đã lâu mà vẫn chưa thể nguôi ngoai cơn giận.

Chưa bao giờ chàng bị chọc tức đến mức này, đây là lần đầu tiên chàng ngồi trước bàn án, mà chẳng có lấy một chút hứng thú để lật xem chồng tấu triết cao ngất kia.

Lý trí ép buộc chàng phải bình tĩnh lại, không được tin vào lời của Hoa Xuân, nàng chỉ là đang cố ý khích tướng để ép chàng phải hòa ly mà thôi.

Làm sao chàng có thể hòa ly cho được?

Nàng vừa mới phải chịu khổ cực suốt năm năm trời, chàng còn chưa kịp để nàng được hưởng những ngày tháng tốt đẹp, sao có thể nỡ lòng để nàng rời đi?

Từng câu, từng chữ của nàng tựa như dao nhọn, chẳng chút lưu tình mà đâm thẳng vào tim chàng, đâm đến mức gan bàn đứt đoạn, ngũ tạng thiêu đốt.

Suốt năm năm qua, đây là lần đầu tiên trong lòng chàng trào dâng một nỗi hối hận muộn màng khôn xiết, hối hận vì đã không nên sơ suất mà bỏ mặc nàng.

Năm năm ròng rã, cuối cùng chàng cũng tranh đấu được một vùng trời riêng nơi triều đường, chính vào lúc có thể tung hoành ngang dọc, lại chẳng ngờ cái giá phải trả chính là việc thê tử đối với chàng đã nguội lạnh tâm can, tuyệt vọng đến nhường này.

Chẳng rõ đã ngồi đó bao lâu, dường như chỉ trong chớp mắt, mà cũng tựa như đã mấy khắc trôi qua.

Lục Thừa Tự ngước mắt lên, chàng uống cạn một ngụm trà lạnh, để đè nén nỗi phiền muộn đang dâng đầy trong lồng ngực.

Trong cái phủ trạch này, một lớn một nhỏ, người lớn thì đã quyết tâm sắt đá đòi rời đi.

Còn đứa nhỏ thì vẫn cần phải chăm sóc.

Nghĩ đến hài tử, Lục Thừa Tự cảm thấy không yên tâm, chàng lại đứng dậy bước ra khỏi chính phòng, rồi tiến về phía đông sương phòng.

Thường ma ma đang nghỉ ngơi trong gian trà nước, nghe thấy tiếng bước chân của Lục Thừa Tự, liền lập tức từ trong phòng chạy ra đón, khom người hành lễ: “Thất gia.”

Lục Thừa Tự chắp tay đứng dưới hành lang, ánh mắt vượt qua khung cửa sổ, nhìn vào gian sương phòng trống trải mà hỏi: “Phái nhi đâu rồi?”

“Bẩm gia, ca nhi đã được đại ca nhi đưa sang trường phòng rồi ạ, nói là muốn viết một phong thư thiếp cho tiểu thiếu gia.”

Đại ca nhi chính là trưởng tử của Đại thiếu phu nhân Thôi thị, năm nay vừa tròn mười hai tuổi.

Lục Thừa Tự gật đầu, cũng không nói gì thêm, đang định xoay người quay gót, thì lúc này từ phía xuyên đường truyền đến tiếng cười giòn giã như chuông bạc của Phái nhi.

“Cha ơi!”

Hai tay của Phái nhi nâng hai tờ thư thiếp, đầy hứng khởi chạy băng băng về phía Lục Thừa Tự.

Nhìn thấy con trai, tâm tình của Lục Thừa Tự mới tạm thời bình lặng lại được đôi chút.

Thể chất của trẻ nhỏ thường là hoả khí, dù đang giữa tiết cuối thu thế này, chạy nhảy một hồi cũng đã vã mồ hôi đầy đầu.

Lục Thừa Tự dắt tay con vào trong phòng, phân phó ma ma rửa tay lau mặt, thay cho cậu bé một bộ y phục khô ráo.

Chẳng bao lâu sau, Phái nhi trở ra, thấy cha đang ngồi bên bàn học của mình thì vô cùng hiếu kỳ: “Hôm nay cha không bận việc sao ạ?”

Bình thường cha phải tranh thủ giữa muôn vàn công việc, mới có chút thời gian rảnh dạy cậu bé học chữ, làm gì có lúc nào nhàn hạ ngồi đây chờ đợi thế này.

Lục Thừa Tự không giải thích gì thêm, ánh mắt lướt qua hai tờ thư thiếp, rồi vẫy tay ra hiệu cho con lại gần.

Phái nhi nép sát vào lòng cha.

Trên bàn án bày ra hai tờ thư thiếp, một tờ là chữ tiểu khải do đại ca nhi viết, ngay ngắn chỉnh tề, đã bắt đầu lộ rõ nét tài hoa; tờ còn lại là do Phái nhi viết, hài nhi chưa đầy năm tuổi, cầm bút còn chưa vững, đương nhiên là viết chẳng thể bằng đại ca nhi, nhưng nét chữ vuông vức, rõ ràng từng góc cạnh, nét mực sáng sủa, có thể thấy là đã được người khác chỉ dạy bài bản.

“Phái nhi viết rất tốt, là vị phu tử nào đã dạy vỡ lòng cho con vậy?”

Nhà cũ ở Ích Châu không chỉ có tộc học mà còn mời cả thầy đồ về dạy. Năm con trai lên hai tuổi, chàng có dịp về quê nên đã định sẵn hai vị tiên sinh để hàng ngày dạy Phái nhi đọc sách.

Phái nhi đáp: “Là mẫu thân ạ!”

Lục Thừa Tự nghe thấy câu trả lời này, trong lòng khẽ thở phào nhẹ nhõm, nhưng đồng thời cũng không khỏi hiếu kỳ: “Mẫu thân bận rộn như vậy, mà vẫn đích thân dạy con luyện chữ sao?”

Câu hỏi này khiến Phái nhi có chút ngượng ngùng, nhóc con gãi gãi đầu rồi lí nhí đáp: “Phu tử không quản nổi con, cứ phải để mẫu thân ra mặt thì con mới chịu ngoan ngoãn luyện chữ ạ.”

Sau một tháng sớm tối ở cạnh nhau, Lục Thừa Tự đã được chứng kiến sự nghịch ngợm của con trai, Hoa Xuân nuôi dưỡng nó chắc hẳn là điều cực kỳ chẳng dễ dàng gì.

Đang mải suy nghĩ như vậy, khuôn miệng nhỏ của Phái nhi lại tuôn ra một tràng: “Còn có Vương thúc nữa, Vương thúc cực kỳ kiên nhẫn, kể chuyện cũng rất hay, dạy giỏi hơn hẳn phu tử trong phủ, con thích cùng Vương thúc học sách lắm ạ.”

Khóe miệng Lục Thừa Tự hơi khựng lại, chàng nhìn con trai chằm chằm một lúc lâu, tay xoa gáy đưa nó lại gần mình hơn chút nữa, rồi hỏi tiếp: “Ngoài viết chữ, đọc sách và đá cầu ra, thúc ấy còn dạy con những gì?”

Câu hỏi này chẳng khác nào mở đúng mạch chuyện, Phái nhi bắt đầu thao thao bất tuyệt, vừa nói vừa bẻ ngón tay đếm: “Nhiều lắm ạ! Nào là xếp chuồn chuồn tre, làm hoa đăng, Vương thúc còn dạy con câu cá nữa cơ…”

Lục Thừa Tự lặng lẽ lắng nghe, cơn đau nhói vừa rồi lại một lần nữa dâng lên: “Con thích thúc ấy lắm sao?”

“Thích ạ!” Phái nhi không chút do dự.

“Con cũng nhớ Vương thúc nữa, nhưng mà không sao đâu ạ, Vương thúc bảo rồi, qua một thời gian nữa thúc ấy sẽ vào kinh thăm chúng con…”

“Xùy” một tiếng, Lục Thừa Tự bật cười thành tiếng, chẳng rõ là đang tự giễu, hay là cười lạnh vì kẻ kia không tự lượng sức mình, hoặc giả là một nụ cười đắng chát, không ai hay biết.

Chàng đương nhiên sẽ không hỏi về chuyện của Hoa Xuân và Vương Lang.

Chàng không cho phép bản thân có lấy nửa phần hoài nghi đối với thê tử của mình.

Nhưng cuối cùng, khi nhìn ngắm khuôn mặt nhỏ nhắn giống hệt bản thân mình kia, chàng vẫn không kìm lòng được mà hỏi: “Những năm qua không có cha bên cạnh, con có nhớ cha không?”

Phái nhi lộ rõ vẻ ngơ ngác.

Năm hai tuổi thì còn quá nhỏ, chẳng có chút ký ức gì, nên trước khi vào kinh, trong tâm trí cậu bé vốn không hề có hình bóng của cha.

Phái nhi nhăn tít mặt lại, đầy vẻ khổ sở.

Lục Thừa Tự thu hết thần sắc của con vào tầm mắt, cái cảm giác đau nhói xen lẫn nỗi hối hận kia lại càng thêm mãnh liệt, mãnh liệt đến mức lấp đầy cả lồng ngực chàng.

Chàng đưa tay lên, nhẹ nhàng ôm lấy con trai vào lòng: “Phái nhi, từ nay về sau cha sẽ không bao giờ rời xa con nữa.”

Cũng sẽ không rời xa mẫu thân của con.

Sau khi đêm xuống, trời lại bắt đầu đổ mưa.

Đúng lúc đang chuẩn bị bày biện thiện sai, hạ nhân trong phủ Tương Vương lại đồng loạt quỳ gối ngoài hành lang, không một ai dám động đậy.

Kể từ khi Tiểu vương gia Chu Tu Dịch hồi phủ, Vương phi đã trở về phòng nghỉ ngơi, giờ đây trong chính đường chỉ còn lại huynh muội Trường Dương quận chúa ngồi đó.

Trường Dương quận chúa lắp bắp kể rõ đầu đuôi ngọn ngành, rồi nhìn về phía đối diện: “Ca ca, sự tình chính là như vậy. Tên Lục Thừa Tự kia thật quá đáng hận, hắn dám tính kế cả muội và thê tử của hắn!”

“Khiến bọn muội một người gả không xong, một người đi chẳng đặng!”

Người nam tử đối diện, khoác trên mình bộ vương bào bằng gấm dệt màu ngọc bích, trong lòng ôm một con mèo tuyết cực kỳ xinh đẹp, tư thái lười nhác mà tôn quý ngồi trên ghế bành. Rõ ràng sở hữu một gương mặt tuấn tú có phần bạc tình bạc nghĩa, nhưng ông trời lại ban cho hắn đôi mắt đào hoa đa tình. Lúc này, hắn đang nửa cười nửa không mà quét mắt nhìn đám nô tài đang quỳ mọp dưới đất:

“Cho nên, ta chỉ mới rời đi mười ngày, các ngươi đã gây ra cái tổ kiến lớn như thế này, hại ta và phụ vương bị Đô Sát Viện đàn hạch, còn quận chúa thì bị đưa đi Giang Châu xa xôi?”

Hạ nhân trong vương phủ đều biết, Tiểu vương gia là người thiếu kiên nhẫn nhất với việc cầu tình, từng kẻ một quỳ rạp giữa sảnh, đầu chạm đất, chỉ biết miệng lẩm bẩm nhận tội chết.

Quận chúa lại không thể đứng nhìn đám hạ nhân bị mình liên lụy, liền vội vàng đứng dậy chắn trước mặt mọi người: “Kìa kìa, Chu Tu Dịch, muội tự làm tự chịu, huynh đừng đổ lỗi cho bọn họ mà!”

“Muội cũng nghĩa khí gớm nhỉ!” Chu Tu Dịch bị chọc cho tức cười.

Nhìn đứa muội muội ngốc nghếch này, hắn nhất thời chẳng biết phải mắng từ đâu cho xuể.

Bị người ta bán đi rồi mà vẫn còn hăm hở giúp kẻ đó đếm tiền.

Thế nhưng Chu Tu Dịch không hề vạch trần sự thật, cốt để đề phòng nha đầu này cứ tiếp tục nhìn chằm chằm vào Lục phủ không buông, rồi lại vì một gã đàn ông mà sống dở chết dở.

Hắn cũng chẳng thèm liếc nhìn tiểu muội của mình, chỉ lơ đãng vuốt ve con mèo trong lòng, giọng điệu bình thản: “Người đâu, lôi tên tiểu nội thị đã xúi giục kia ra ngoài, đánh chết cho ta!”

“Khoan đã!” Quận chúa tức thì quýnh quáng, từ trong ống tay áo trượt ra một con dao nhỏ kê ngay cổ mình, rồi lớn tiếng uy hiếp: “Này, Tiểu Ngũ từ nhỏ đã bầu bạn lớn lên cùng muội, huynh mà dám giết hắn thì muội chết cho huynh xem!”

Tên tiểu nội thị gọi là Tiểu Ngũ kia, cũng đã sợ đến mức toàn thân run bần bật, thút thít gọi tên Quận chúa.

Chu Tu Dịch ngước mắt nhìn cô ta, ngũ quan trong nháy mắt đã rũ sạch vẻ ôn hòa, trở nên sắc lẹm khôn cùng: “Muội thấy ta nghe người khác cầu xin bao giờ chưa?”

“Muội không quan tâm, người của muội, huynh không có tư cách đụng vào!” Lưỡi dao của Quận chúa lại tiến gần thêm một tấc vào làn da tuyết trắng, ánh mắt tràn đầy sự quyết liệt.

Chu Tu Dịch thu hết vào tầm mắt, hắn khẽ cười một tiếng: “Muốn cứu hắn?”

“Phải!”

“Cũng được thôi, nhưng muội phải hứa với ta vài chuyện!”

“Huynh nói đi!”

Chu Tu Dịch nếu thật sự muốn giết người, thì tuyệt đối sẽ không ra tay ngay trước mặt muội muội, chẳng qua hắn chỉ mượn cớ này để chỉnh lại tính nết của muội muội mà thôi:

“Thứ nhất, không được phép tơ tưởng đến bất kỳ nam nhân nào nữa.”

“Thứ hai, không được phép lui tới sòng bạc nữa!”

“Thứ ba, không được phép lập thêm bất kỳ văn tự cam kết nào nữa!”

Quận chúa hừ lạnh một tiếng: “Huynh muốn cùng muội lập “ước pháp tam chương” sao?”

“Chứ sao nữa?” Hắn thong dong hỏi lại.

Quận chúa hạ đoản đao xuống: “Vậy thì huynh cũng phải đáp ứng muội một điều kiện!”

“Nói thử ta nghe.”

“Muội thấy nương tử của Lục Thừa Tự kia thật đáng thương, nàng ta một lòng muốn hòa ly mà chẳng thành. Huynh bản lĩnh như vậy, hãy giúp nàng ta một tay đi.”

“…”

Chu Tu Dịch ngay đến mí mắt cũng chẳng buồn nâng lên, chỉ phân phó cho quản gia đứng bên cạnh: “Sắp xếp hành trang, lập tức đưa Quận chúa đi Giang Châu.”

Nha đầu này ngốc nghếch đến thế, đưa tới Giang Châu chịu chút khổ cực cũng tốt.

Quận chúa thấy vậy thì dở khóc dở cười: “Ca ca, dù gì cũng phải để muội ăn một bữa no rồi mới đi chứ.”

“Ăn trên xe.”

“Vậy nửa năm sau muội có thể về không?”

“…”

Tiếng của Quận chúa cứ thế nhỏ dần rồi xa xăm.

Đợi nha đầu kia đi khỏi, Chu Tu Dịch buông lỏng tay, con mèo tuyết trong lòng lập tức nhảy xuống đất, kêu “meo meo” rồi chạy đuổi theo hướng Quận chúa vừa đi. Hắn đưa tay cầm lấy chiếc kẹp trên chiếc bàn cao bên cạnh, tự mình khêu đi phần bấc của chiếc cung đăng.

Ngũ quan tuấn tú cương nghị bị ánh đèn soi rọi lúc tỏ lúc mờ, vóc dáng cao ráo toát lên vẻ ung dung quý phái vô cùng, ngay cả khi làm những việc lặt vặt này trông cũng vẫn vô cùng cuốn hút.

Tùy tùng đứng bên cạnh nhìn hắn đang chăm chú làm việc, không một ai dám thở mạnh.

Mãi một lúc lâu sau, hắn mới chuyển ánh mắt qua rồi u uẩn hỏi: “Người đó là ai?”

Nếu là bất kỳ ai khác đối diện với một câu hỏi không đầu không đuôi như vậy, chắc chắn sẽ chẳng thể nào trả lời được.

Nhưng vị nội thị đã hầu hạ hắn hơn mười năm lại nhạy bén nắm bắt được tâm tư ấy, lập tức khom người đáp:

“Bẩm Tiểu vương gia, vị Lục phu nhân kia họ Cố, vốn là người Kim Lăng. Thân phụ nàng là Cố Chí Thành, nguyên là một hoàng thương dưới trướng Chức Tạo Cục, sau nhờ có duyên kết giao với Thủ bị Lý Lưu thủ ở Nam Kinh, mà được quyên quan, hiện nay đang đảm nhiệm chức Lang trung tại Bộ Hộ ở bồi đô Nam Kinh ạ.”

Năm đó sau khi Thánh Tổ dời đô về phương Bắc, lục bộ ở Nam Kinh vẫn được giữ lại. Các quan chức nơi đó đa phần dùng để sắp xếp cho những bậc sĩ lâm mẫu mực có danh tiếng, hoặc những con em quý tộc được hưởng ấm phong, hay thậm chí là nơi để đày quan bị giáng chức, vốn chẳng có mấy thực quyền.

Chu Tu Dịch quẳng chiếc kẹp xuống, cầm khăn tay lau sạch từng chút bụi bẩn bám trên tay, rồi hờ hững nói: “Dám tính kế lên đầu Vương phủ, cũng có gan đấy.”

“Để ngày mai, bản vương sẽ đi gặp nàng ta một chuyến xem sao.”

>>

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *