Chương 11.
Trong những ngày kế tiếp, Lục Thừa Tự vẫn đi sớm về muộn như thường lệ, song cứ mỗi độ hoàng hôn, chàng luôn hồi phủ đúng giờ để dùng bữa cùng mẹ con Hoa Xuân.
Hoa Xuân đã lật đến quân bài cuối cùng, mà Lục Thừa Tự vẫn nhất quyết không chịu buông tay. Nàng có phần rơi vào cảnh lực bất tòng tâm, tâm trạng phiền muộn, lẽ hiển nhiên cũng chẳng buồn dành cho chàng sắc mặt tốt. Mỗi ngày nàng đều lười nhác, dậy muộn ngủ sớm, cũng chẳng buồn đến thượng phòng thưa gửi hầu hạ. Chẳng ngờ như vậy lại nuôi dưỡng được thần thái hồng nhuận, khắp người toát lên vẻ diễm lệ, rạng rỡ động lòng người.
Lục Thừa Tự dĩ nhiên chẳng đòi hỏi gì ở nàng, nhưng cũng chẳng biết nói lời ngon ngọt nào để dỗ dành, bởi chàng thừa hiểu vào lúc này, dù chàng có nói bất cứ điều gì, nàng cũng sẽ có lời lẽ chặn họng mà thôi. Thấy Hoa Xuân cầm đôi đũa gẩy qua gẩy lại, lười biếng dùng bữa, chàng bèn cho gọi quản gia trong phủ tới, hạ lệnh cho nhà bếp mỗi ngày phải đổi món, làm đủ mọi mỹ vị để bồi bổ cho nàng.
Hoa Xuân chỉ đáp lại bằng một tiếng cười lạnh, rồi thong dong vén rèm bước vào trong phòng. Nàng tiếp tục dặm phấn tô hồng, điểm thêm chút son môi cùng móng tay đỏ thắm, ngày ngày trang điểm lộng lẫy như hoa, rồi cứ thế lượn lờ trước mắt chàng.
Lục Thừa Tự cũng đành bất lực với nàng.
Trong lòng mỗi người đều đang căng ra một sợi dây, chẳng ai chịu cúi đầu nhận sai, cũng chẳng ai chịu buông lời nhún nhường.
Mồng năm hôm ấy tiết trời tạnh ráo, Lục Thừa Tự hồi phủ sớm hơn thường lệ một khắc, nên bữa tối cũng được khai tiệc sớm hơn. Dùng bữa xong xuôi, sắc trời vẫn chưa tối hẳn, Phái Nhi đã hăm hở nhảy cẫng ra khỏi phòng để tiêu thực. Chẳng là Tam lão gia quản lý tạp vụ trong phủ vừa về tới kinh thành, có mang theo không ít món đồ chơi lạ mắt cho bọn trẻ; Phái Nhi được chia cho một vốc pháo hoa, bấy giờ đang cùng Tùng Đào nô đùa giữa viện.
Tùng Đào có dáng người cao ráo, cánh tay lại có lực, vừa đốt pháo hoa vừa cùng Phái Nhi chạy khắp sân. Những tia lửa bắn ra tứ phía, soi tỏ hai gương mặt đang rạng rỡ nụ cười vô tư lự ấy.
Hoa Xuân tựa mình vào cột hành lang, lặng yên ngắm nhìn bọn trẻ đùa nghịch. Lục Thừa Tự cũng không về thư phòng như mọi khi, mà đứng lại cách nàng chừng hai bước chân. Chàng vận một bộ trực đoan màu xanh thẫm, vóc dáng cao lớn, khí chất thanh cao và phiêu dật.
Hoa Xuân chê chàng đứng đây vướng mắt, liền lên tiếng thúc giục: “Lục đại nhân còn chưa về phòng xử lý công vụ sao?”
Nàng bây giờ đã vô cùng sành sỏi chiêu trò chọc giận chàng, đối diện với chàng thì cứ một câu “Lục đại nhân”, hai câu “Lục đại nhân”, nhưng với kẻ ở tận Ích Châu xa xôi như Vương Lang thì lại gọi “Vương lang, Vương lang” đầy tình tứ, khiến Lục Thừa Tự không khỏi uất ức đến mức muốn hộc máu.
“Có một việc muốn thương nghị với phu nhân.” Lục Thừa Tự chắp tay sau lưng, hơi nghiêng mắt nhìn sang phía nàng: “Ngày mai là thọ yến của Thủ phụ phu nhân, mong phu nhân cùng ta tham dự yến tiệc.”
Chuyện này Hoa Xuân cũng đã nghe loáng thoáng từ trước.
“Dựa vào cái gì chứ?” Hoa Xuân chẳng thèm suy nghĩ mà từ chối ngay tức khắc: “Ta không muốn đi, chàng đi một mình đi!”
Hôm nay tiết trời bỗng nhiên hửng ấm, Hoa Xuân không khoác áo bông dày, chỉ vận một chiếc áo bối đáp dệt chỉ vàng màu trăng sáng, bên dưới mặc chiếc váy mã diện đang thịnh hành bấy giờ. Mặt váy thêu hoa văn rực rỡ sắc màu, nàng tựa mình bên cột hành lang, vóc người cao ráo, chiếc cổ trắng ngần hơi nghiêng về phía trước. Thần thái của nàng không lạnh không nóng, tựa như cánh bướm dập dìu trong ánh hoàng hôn mờ ảo.
Nàng buông lời giễu cợt: “Năm năm qua, Lục đại nhân chẳng có thê tử bên cạnh mà vẫn ứng phó đâu ra đấy, như cá gặp nước, cũng đâu có làm lỡ dở con đường thăng quan của chàng đâu.”
“Chàng ở bên ngoài, danh tiếng Tân khoa Trạng nguyên chấn động thiên hạ, lại lẻ bóng một mình, tiêu sái tự tại, đoán chừng đã khiến không biết bao nhiêu tiểu thư khuê các chốn quan trường phải thầm thương trộm nhớ, cứ ngỡ chàng vẫn là thân chưa thê nhi. Chẳng bù cho ta, rõ ràng mang danh là hạng nữ nhân có phu quân, mà sống chẳng khác gì kẻ góa bụa. Ôi chao, nếu không có Vương lang, đời này chẳng biết chán chường đến nhường nào.”
Lục Thừa Tự không chịu buông tha nàng, thì nàng cũng quyết chẳng để chàng được yên thân.
Thế nhưng Lục Thừa Tự cũng chẳng phải hạng người dễ bề trêu chọc!
“Đừng có nhắc đến kẻ đó trước mặt ta!” Khí thế của chàng đột ngột trở nên lạnh lẽo, chàng xoay người đối diện với nàng, thần sắc tuy vẫn bình thản nhưng ngữ khí lại vô cùng lạnh lùng: “Phu nhân chớ nên thử thách lòng kiên nhẫn của ta. Loại người như hắn… ta chỉ cần phẩy tay một cái là có thể bóp chết dễ dàng. Nếu nàng thực lòng nghĩ cho hắn, thì đừng dùng hắn để đâm chọc ta nữa.”
Hoa Xuân buông thõng cánh tay rồi đứng thẳng người dậy, nàng liếc nhìn chàng một cái rồi cười lạnh đáp trả: “Vậy nếu chàng có bản lĩnh thì bóp chết luôn cả ta đi!”
Kể từ sau khi bức hòa ly thư kia bị xé nát, nàng lại viết thêm một bức mới, mà lần này phần bồi thường bên trong lại càng hậu hĩnh hơn. Chàng xé một lần thì nàng lại tăng thêm một nấc. Chàng muốn tiêu hao tâm trí nàng, thì nàng liền khiến chàng phải trầy da tróc vẩy mới thôi.
Lục Thừa Tự không muốn dây dưa thêm về chuyện này, vì thấy chẳng đáng, chàng lại hạ giọng mềm mỏng, cùng nàng bàn bạc chuyện chính.
“Ta và Thôi Thủ phụ vốn có danh phận thầy trò, lão phu nhân đối đãi với ta cũng vô cùng thân thiết. Từ khi nghe tin nàng hồi kinh, bà đã mấy bận nhắc nhở, muốn mời nàng và Phái Nhi qua phủ chơi. Nàng không nghĩ cho ta, không nghĩ cho bản thân mình, thì cũng phải nghĩ cho Phái Nhi chứ. Nàng suốt ngày treo hai chữ ‘hòa ly’ bên cửa miệng, lẽ nào chưa từng nghĩ đến việc lót đường cho tương lai của Phái Nhi sao?”
Lục Thừa Tự quả thực vô cùng thông tuệ, chàng thừa hiểu phải làm thế nào mới nắm thóp được tử huyệt của Hoa Xuân.
Hoa Xuân quả thực đã bị những lời ấy thuyết phục. Nếu Phái Nhi có thể nhận được sự yêu thương, che chở của Thủ phụ phu nhân, thì đó không chỉ là chuyện vô cùng vẻ vang trong Lục phủ, mà còn là cả kinh thành này nữa. Đợi đến lúc nàng rời đi, tương lai sau này cũng sẽ có người đứng ra nói giúp Phái Nhi một lời.
Hoa Xuân hằn học lườm chàng một cái cháy mặt, rồi xách tà váy xoay người đi thẳng về phòng.
Ánh mắt của nàng sắc lạnh như dao, trông chẳng khác gì một con công kiêu kỳ vừa bại trận: “Chàng cứ đợi đấy cho ta!”
Dáng vẻ ấy rơi vào mắt Lục Thừa Tự, không hiểu sao lại thấy có phần đáng yêu.
Chàng khẽ bật ra một tiếng cười thấp.
Đến cả Ti Viện Giám chàng còn đấu lại được, lẽ nào lại chẳng trị nổi một tiểu nữ tử như Cố Hoa Xuân hay sao?
Sắc trời đã tối hẳn, vầng trăng khuyết hờ hững treo nơi chân trời ở phương xa. Chàng chậm rãi sải bước vào giữa đình viện, tùy ý bế thốc nhi tử lên, đưa về thư phòng để kèm cặp bài vở.
Sáng sớm hôm sau, các phòng trong Lục phủ đã lục tục kéo tới viện của Lão thái thái để thỉnh an. Hôm nay là đại thọ của Thủ phụ phu nhân, Lão thái thái muốn đích thân tới cửa chúc mừng. Đại thái thái đứng một bên đôn đốc Đại thiếu phu nhân Thôi thị và Bát thiếu phu nhân Tô thị, hầu hạ Lão thái thái thay y phục; Nhị thái thái cùng Tam thái thái lo liệu hầu hạ bữa sáng.
Hoa Xuân cùng với Ngũ thiếu phu nhân Giang thị và Tam thiếu phu nhân Đào thị: những người vốn bị xem là hạng “dâu con vụng về”, đứng nép một bên chờ đợi.
Chuyện là lần trước, Giang thị và Tô thị lời qua tiếng lại ngay giữa viện, bị Lão thái thái nghe được nên mỗi người đều bị phạt tới từ đường chép kinh suốt nửa ngày trời. Bởi thế mà dạo gần đây, đám con dâu trong phủ đều biết ý mà cẩn thận lời ăn tiếng nói, hành xử có phần khép nép hơn. Về phần Bát thiếu phu nhân Tô thị, kể từ sau lần bị Hoa Xuân dạy cho một bài học, cũng chẳng còn dám tự tìm đến chuốc lấy xui xẻo nữa; nàng ta chỉ đành đóng cửa bảo nhau với trượng phu, nghiêm lệnh cấm hắn không được bén mảng lộ diện trước mặt Hoa Xuân nữa.
Hôm nay Lão thái thái ban cho bữa sáng, đợi các vị Thái thái hầu hạ bà dùng bữa xong xuôi, bà cũng dặn dò đám cháu dâu bày bàn tại gian chính. Sau khi xong việc, tất cả mọi người cùng nhau vây quanh, hộ tống Lão thái thái ra ngoài.
Vừa bước qua khỏi hành lang xuyên đường, Lão thái thái bỗng dưng buông tay Tô thị ra, bà quay đầu nhìn quanh đám đông một lượt, rồi dừng ánh mắt trên người Hoa Xuân, bà khẽ gật đầu nói: “Thê tử của Tự ca nhi, con lại đây.”
Hoa Xuân lập tức lách qua đám đông tiến lên phía trước, nghiêng mình hành lễ với lão nhân gia: “Tổ mẫu.”
Lão thái thái đưa mắt ngắm nhìn nàng một lượt, thấy nàng búi tóc kiểu bách hợp, trên đầu cài một đôi trâm điền mẫu đơn điểm thúy, cùng đôi thoa vàng khảm ngọc chế tác tinh xảo. Vóc dáng thanh mảnh của nàng khoác lên mình chiếc áo bối tử đối khâm dệt chỉ vàng màu đỏ hải đường, bên ngoài khoác thêm áo choàng gấm Thục màu bạc thêu hoa văn nhẫn đông. Đôi chân mày của nàng thanh tú như dáng núi xa, rèm mi dày rậm, vốn dĩ đã sở hữu một gương mặt kinh diễm động lòng người, nay có lẽ do phong thuỷ kinh thành hợp tính hợp nết, Lão thái thái thấy nàng sau một thời gian không gặp, khí sắc lại càng thêm phần rạng rỡ, cuốn hút.
Thấy nàng ăn vận vô cùng thỏa đáng, Lão thái thái tỏ vẻ hài lòng, bà đặt tay lên cánh tay nàng rồi bảo: “Dìu ta đi chúc thọ.”
Hành động này của bà, mọi người có mặt ở đó đương nhiên đều nhìn thấy rõ, trong lòng ai nấy đều tự hiểu rõ mười mươi.
Đừng nhìn Lão thái thái ngày thường sủng ái cháu gái bên ngoại là Tô thị, một khi đã bước ra những nơi đại diện cho thể diện gia tộc, bà lão vốn chẳng hề hồ đồ chút nào về việc nên đề bạt, cất nhắc ai.
Bà đặt một tay lên người cháu dâu đích tôn là Thôi thị, tay kia lại nắm lấy Hoa Xuân. Hai người này, một người là tông phụ tương lai của Lục gia, người kia có trượng phu đang là trụ cột của triều đình; cả hai chính là những người cùng gánh vác sự hưng thịnh và thanh danh của thế hệ sau tại Lục phủ này.
Tô thị trông thấy cảnh tượng ấy, uất ức đến đỏ cả vành mắt, chỉ đành nghiến răng lùi lại phía sau.
Đầu tháng Chín, cây chu sa già dưới chân bài vị ở đường Lạc Hoa, bỗng nở hoa sớm như để góp vui với cảnh đời. Những chùm hoa đỏ thắm, rực rỡ đan xen, thế mà lại lấn át cả những khóm nguyệt quế vàng rực hai bên đường.
Bách tính trên phố Lạc Hoa đều xuýt xoa, cho rằng đây là điềm lành, minh chứng cho việc Thủ phụ phu nhân phúc thọ miên trường, hưởng lộc trời ban.
Lục Quốc công phủ cách Thôi gia vốn chẳng hề xa, ngược lại, cả hai phủ đều cùng tọa lạc trên con phố Lạc Hoa sầm uất này.
Chẳng riêng gì hai nhà Lục – Thôi, mà phần lớn các bậc quyền quý hiển hách trong triều cũng đều cư ngụ tại nơi này.
Những năm trước, phố Lạc Hoa liên tiếp có hai người đỗ đầu khoa bảng, nên còn được dân gian gọi là phố Trạng Nguyên. Thêm vào đó, vùng này có địa thế bằng phẳng, lưng tựa núi mặt hướng sông, được coi là nơi có phong thủy bảo địa bậc nhất kinh thành, chỉ sau Tử Cấm Thành. Bởi thế, các gia tộc danh gia vọng tộc cứ lần lượt dời phủ đệ về đây. Đến nay, nơi này đã quy tụ những môn đệ lừng lẫy như: Hứa gia của Thủ phụ trước, Thôi gia của đương triều Thủ phụ, Viên gia của Thứ phụ, Tiêu gia của Binh bộ Thượng thư, Tưởng gia của Diêm chính Ty sứ, Lục gia của Lục Quốc công phủ và Tạ gia của Hình bộ Thượng thư. Người đương thời vì thế mà gọi họ bằng danh xưng “Chu môn Thất quý”.
Khi đi tới tiền viện, các nam đinh của Lục phủ đều đã tề tựu chờ sẵn. Dẫu cho hai phủ nằm cách nhau chẳng bao xa, nhưng tính ra cũng độ mấy dặm đường, mà thân thể Lão thái thái cũng vừa mới bình phục không lâu, nên gia đinh Lục phủ đã chuẩn bị một cỗ kiệu mềm, đưa bà đến tận cửa Thôi phủ.
Lục Thừa Tự cùng Đại lão gia đã lên triều từ sáng sớm, lúc này Hoa Xuân dắt tay Phái ca nhi, cùng đám quyến thuộc đi vào phủ theo lối cửa nách.
Qua khỏi Thùy Hoa môn, đi về phía Bắc chính là chính viện của Lão phu nhân. Nơi đây vốn dĩ không phải là nơi mà những kẻ tạp nham được bước chân vào, tất cả đều được Nhị phu nhân nhà họ Thôi dẫn tới hoa sảnh phía Tây để an lạc. Song, Lục gia vốn chẳng phải hạng tầm thường, vừa là đồng liêu trên triều, lại là láng giềng sát vách, Lục Lão thái thái và Thôi Lão phu nhân vốn có giao tình thâm hậu, nên đích thân Nhị phu nhân đã dẫn đoàn người tiến thẳng vào chính đường.
Vừa bước qua ngưỡng cửa, thấy bên trong đã ngồi chật kín người, Lão thái thái liền bật cười một tiếng: “Náo nhiệt chưa kìa, hóa ra ta lại là người đến muộn sao?”
Hứa Đại thái thái, nhà tiền Thủ phụ nhanh nhảu đỡ lời: “Lão nhân gia ngài ngồi kiệu, đương nhiên là chẳng thể so với đôi chân trần của chúng con được rồi.”
Thôi Lão thái thái, cũng là vị thọ tinh đang ngồi ở vị trí chủ toạ, nghe vậy liền lập tức đưa tay về phía Lục Lão thái thái, rồi cười bảo: “Thôi, đừng có chấp cái miệng lanh chanh ấy nữa. Lão An nhân vừa mới khỏi bệnh, có thể bớt chút thời gian đến chúc thọ lão bà bà ta đây, đã là nể mặt ta vạn phần rồi.”
Đều là bậc láng giềng thâm giao, lời lẽ giữa bọn họ dường như chẳng mấy kiêng dè. Hứa gia Đại thái thái tự nhiên cũng chẳng để bụng, lập tức cười hớn hở tiến lên phía trước, thay chỗ cho Thôi thị để dìu Lão thái thái vào chỗ ngồi: “Trong gian phòng này có đến mấy tầng dâu con, thế mà Thím cứ chỉ thích trêu chọc mỗi mình con thôi!”
Thôi Lão thái thái lườm nàng ta một cái đầy trách yêu, rồi nắm lấy tay Lục Lão thái thái, thân tình hỏi han sức khỏe.
Sau khi hàn huyên đôi câu, Thôi Lão thái thái liền đưa mắt lướt qua một lượt đám dâu con mà Lục gia mang tới, rồi cất tiếng: “Thê tử của Tự ca nhi đâu rồi? Mau lại đây cho ta ngắm nghía một chút nào.”
Lão thái thái nghe vậy liền đưa mắt ra hiệu cho Hoa Xuân.
Hoa Xuân lập tức dắt Phái Nhi tiến lên phía trước, quỳ xuống dập đầu hành lễ trước lão nhân gia: “Cháu dâu họ Cố thỉnh an lão thái thái. Kính chúc lão thái thái hồng phúc tề thiên, phúc thọ song toàn.”
Nàng vừa dứt lời, chẳng ngờ lại khiến vị Đại thái thái nhà họ Hứa kia bật cười. Nàng ta đích thân tiến lại gần dắt tay nàng dậy, nói: “Cô nương ngoan, con xưng hô như vậy là sai thứ bậc rồi đó.” Không chỉ mình bà, mà mọi người trong sảnh đường cũng đều để lộ ý cười.
Hoa Xuân ngơ ngác đưa mắt nhìn về phía Lục Lão thái thái.
Đại thái thái nhà họ Hứa trước tiên quan sát Hoa Xuân một lượt, thấy gương mặt của nàng tựa đóa phù dung, sở hữu dung mạo cực kỳ xuất chúng thì trong lòng vô cùng yêu thích, bấy giờ mới lên tiếng giải thích: “Khắp kinh thành này có ai mà không biết, năm xưa Thôi Lão thái thái vốn coi phu quân của con như con út trong nhà, Lục Thất nhà con ở Thôi phủ này cũng có tên có vế hẳn hoi. Bởi thế, con không nên tự xưng là ‘cháu dâu’, mà phải gọi là ‘cháu dâu họ’ mới đúng đạo.”
Hoa Xuân chẳng rõ trong những lời này mấy phần là đùa giỡn, mấy phần là chân thực, bèn đưa mắt nhìn Lão thái thái như muốn hỏi ý. Thấy Lão thái thái khẽ gật đầu, bấy giờ nàng mới một lần nữa hành lễ. Ngay cả Phái Nhi cũng dập đầu một cái thật kêu, khiến Thôi Lão phu nhân yêu thương không xiết, liền kéo cả hai mẫu tử vào ngồi cạnh bên mình.
Trước tiên, bà hỏi tên của Hoa Xuân, sau đó lại ngắm nghía kỹ lưỡng một hồi. Quan sát đến mức khiến Hoa Xuân có chút thẹn thùng, bà lão mới quay sang nói với Lục Lão thái thái: “Dung mạo xinh đẹp, rạng rỡ hệt như tân nương tử vậy, Lục gia thật là có phúc khí.”
Hoa Xuân có xuất thân bần hàn, vốn dĩ luôn là tâm bệnh của Lục Lão thái thái. Nay lời này của Thủ phụ phu nhân nói ra, cũng coi như một sự cất nhắc và nâng đỡ vị thế cho nàng. Lão thái thái hiểu rõ trong lòng, bèn khẽ gật đầu, xem như đã thừa nhận sự tình này.
Thôi Lão phu nhân sau đó buông tay Hoa Xuân ra, rồi lại nâng khuôn mặt nhỏ nhắn của Phái Nhi lên, thốt lên mấy tiếng xuýt xoa: “Đứa nhỏ này, nhìn qua thật chẳng khác gì phụ thân nó thuở thiếu thời, cứ như từ một khuôn đúc ra vậy.”
Hoa Xuân đúng lúc đứng dậy, nép mình lui sang một bên. Phái Nhi bị Lão thái thái nựng đến mức khuôn mặt nhỏ nhắn nhăn nhúm cả lại, liền cất giọng lanh lảnh hỏi: “Phụ thân lúc nhỏ cũng nghịch ngợm như con sao?”
Lời ấy lại một lần nữa chọc cười mọi người. Hứa gia Đại thái thái đứng cạnh bên liền đỡ lời: “Phụ thân con lúc nhỏ có nghịch ngợm như thế này không thì ta không rõ, nhưng cái gan này của con thì quả thực là lớn hơn bất kỳ ai đấy!”
Thôi Lão phu nhân năm nay đã 67 tuổi, tuổi tác còn lớn hơn Lục Lão thái thái vài tuổi. Lục Lão thái thái e ngại tằng tôn nghịch ngợm sẽ khiến lão nhân gia mệt mỏi, bèn ra hiệu cho Hoa Xuân dắt Phái Nhi ra chỗ khác.
Thôi Lão phu nhân năm xưa vốn dĩ yêu quý nhất là Lục Thừa Tự, nay trông thấy Phái Nhi thì có lẽ nào lại không thương cho được? Lúc buông tay, bà lão còn đặc biệt dặn dò một câu: “Lát nữa hãy để Hoa Xuân cùng Phái Nhi ngồi cạnh bên ta.”
Đây quả thực là đã hợp mắt Lão phu nhân rồi, mọi người xung quanh đều lộ vẻ ngưỡng mộ xen lẫn ghen tị.
Sau đó, đám trẻ nhỏ được dẫn ra ngoài chơi đùa, các nàng dâu trẻ sau khi hành lễ bái thọ xong, cũng đều lui sang hoa sảnh ngồi trò chuyện. Hoa Xuân hết lời dặn dò Phái Nhi ra ngoài phải biết nghe lời một chút. Thôi thị nhận thấy nàng không yên lòng, bèn giao Phái Nhi vào tay nhi tử của mình là Cẩn ca nhi, rồi lại căn dặn: “Con hãy dắt theo đệ đệ đi chơi cho cẩn thận, tuyệt đối không được nghịch ngợm đâu đấy.”
Hoa Xuân mỉm cười với nàng ấy: “Đa tạ Đại tẩu.”
“Người một nhà cả, hà tất phải nói lời khách sáo làm chi.”
Nhị thiếu phu nhân Dư thị đang ngồi ở một góc đằng xa, trông thấy cảnh ấy liền khẽ hích vào khuỷu tay của Tô thị bên cạnh, rồi thì thầm: “Nhìn thấy chưa? Đại tẩu trước đây cũng chẳng mấy mặn mà với Hoa Xuân, nay thấy Thôi Lão thái thái ra mặt đề bạt nàng ta, thế mà cũng đã vội vàng lôi kéo làm thân rồi kìa.”
Trượng phu của Nhị thiếu phu nhân Dư thị, vốn là huynh đệ đồng bào với trượng phu của Đại thiếu phu nhân Thôi thị. Dư thị xưa nay luôn oán hận Đại thái thái thiên vị trưởng tử, chẳng màng đến sống chết của Nhị phòng bọn họ, nên từ lâu đã cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt với Đại thiếu phu nhân Thôi thị.
Tô thị cũng nhờ được Lão thái thái chuẩn y, cho phép phụ giúp trông nom việc quán xuyến trong phủ, nên giữa nàng ta và Thôi thị vốn đã có chút hiềm khích, bằng mặt mà chẳng bằng lòng.
Trông thấy Hoa Xuân phong quang vô hạn, trong lòng Tô thị vô cùng khó chịu, bèn uể oải đáp lại một câu cho có lệ rồi chẳng buồn lên tiếng nữa. Dư thị thấy vậy cũng tự cảm thấy mất hứng, bèn gạt chuyện này sang một bên.
Đến giờ Ngọ, Thủ phụ Thôi Tuần từ trong triều trở về, theo sau là các vị trọng thần cũng nối gót mà tới, lũ lượt tiến vào hậu viện để bái thọ Lão phu nhân. Lục Thừa Tự dĩ nhiên cũng ở trong số đó.
Lúc bước vào chính đường, chàng cố ý đưa mắt lướt qua một lượt, nhưng lại chẳng thấy bóng dáng Hoa Xuân đâu cả.
Thôi Lão thái thái thu hết thần sắc của chàng vào tầm mắt, bà lão khẽ kéo chàng lại gần rồi thì thầm bên tai: “Những gì con dặn dò, ta đều đã làm theo cả rồi, con cứ việc yên tâm đi.”
Lục Thừa Tự khẽ mỉm cười, cúi mình khom lưng tạ ơn.
Hoa Xuân cứ dăm lần bảy lượt đòi hòa ly, có lẽ phần nhiều cũng bởi nỗi lo mình xuất thân bần hàn, khó lòng dung nhập vào vòng giao du của giới quan quyến chốn kinh thành. Chàng dĩ nhiên phải vì nàng mà quét sạch chướng ngại, thế nên đã sớm tới thông tri, bàn bạc trước với Thôi Lão thái thái rồi.
Chỉ cần nàng ở nơi này có được cuộc sống như cá gặp nước, ung dung tự tại, thử hỏi làm sao còn muốn rời đi cho được?
Cứ thong thả thôi, Lục Thừa Tự thầm nghĩ như vậy.
Sau yến tiệc, các nữ quyến ở lại trong viện cùng nhau chơi bài, xem kịch. Còn Lục Thừa Tự thì được Thôi Tuần mời tới thư phòng.
Lúc tiến vào, trong thư phòng còn có sự hiện diện của Binh bộ Thượng thư Tiêu Cừ và Lễ bộ Thượng thư Hứa Khoáng. Hai vị này cũng giống như Thôi Tuần, đều là bậc Các lão đương triều, thuộc phe Đế đảng nhất mực trung trinh.
Đợi chàng bước vào, Thôi Tuần bước ra từ sau án thư, rồi đưa cho chàng một phong thư: “Chương Minh, ngươi xem đi, phía Túc Châu lại có tấu chương gửi tới thúc giục quân nhu. Túc Châu này vốn là trấn trọng yếu nơi biên thùy, cách kinh thành hàng nghìn dặm, lương thảo vận chuyển tới đó dọc đường luôn bị hao hụt quá nhiều. Ngặt nỗi quốc khố đang lúc eo hẹp, chẳng thể lấy đâu ra ngân lượng để tiếp tế, mùa đông lại sắp cận kề, thật là khổ cho tướng sĩ nơi biên ải mà.”
Binh bộ Thượng thư Tiêu Cừ ngồi một bên, vừa lộ vẻ phẫn nộ, vừa không giấu nổi vẻ sầu muộn trên mặt: “Thừa Tự à, đợt trước quân Du Lâm xâm phạm, chúng ta đã phải ép Thái hậu mở nội khố một lần rồi, ta thấy lúc này mà lại đi cầu xin lão nhân gia ngài ấy nữa, e là chẳng dễ dàng gì đâu.”
Lục Thừa Tự đón lấy bản tấu chương, đưa mắt đọc nhanh như gió, sắc mặt vẫn giữ được sự bình tĩnh: “Trước khi điều chuyển về kinh thành, vãn bối vốn đang làm nhiệm vụ thanh tra ruộng đất tại vùng Túc Châu, tình hình nơi đó vãn bối nắm rất rõ. Vốn dĩ đã lường trước mùa đông năm nay sẽ khó khăn, nên vãn bối đã sớm phân phó vùng Hán Trung mở kho vận lương đến Túc Châu. Công văn đã gửi đi Hán Trung vài ngày trước, e là phải mất thêm ít thời gian nữa, phiền Tiêu Các lão gửi thư đến Túc Châu, bảo họ hãy kiên nhẫn đợi thêm một chút.”
Tiêu Cừ nghe vậy thì đôi chân mày đang nhíu chặt liền giãn ra: “Tốt lắm! Ngươi có sự chuẩn bị trước như vậy, thì lòng ta cũng nhẹ đi đôi phần. Thế nhưng…” Ngay sau đó, giọng điệu của ông lại trầm xuống: “Thừa Tự hẳn đã tính qua sổ sách của Hộ bộ, biên ải Đại Tấn ta phía Bắc có quân Mông Ngột xâm phạm, Đông Nam có cướp biển nhiễu dân, Tây Nam lại có Thổ ty gây loạn. Quân nhu thiếu hụt tích tụ bấy lâu nay đã lên tới con số tám triệu lạng bạc, mỗi khi nghĩ tới là ta lại sầu muộn đến mất ăn mất ngủ!”
Tiêu Các lão vốn có tính tình cấp bách, xưa nay vẫn luôn nóng nảy. Cơn sầu này vừa dâng lên, ông liền đập mạnh tay xuống bàn án, lực đạo mạnh tới mức làm nước trong chén trà sóng sánh cả ra ngoài.
Lục Thừa Tự thấy vậy liền tiến lên phía trước, giúp ông kê lại chén trà cho ngay ngắn, sau đó mỉm cười nói: “Ngài đừng vội, việc lớn của quốc gia hệ trọng ở lễ tế và binh đao. Ngài lo âu thì Lục Thừa Tự ta cũng sốt ruột, chẳng phải sao, hôm kia ta đã cùng Thôi Các lão bàn bạc ra một cách rồi đây.”
“Kế sách gì?” Tiêu Các lão liền ngồi thẳng người dậy hỏi.
Lục Thừa Tự lấy từ trong tay áo ra một bản tấu chiết đệ lên cho ông, rồi thưa rằng: “Vẫn xin lão nhân gia cùng Hứa Các lão đọc qua một lượt, xem xét liệu kế này có khả thi không?”
Hứa Các lão ngồi bên cạnh lập tức ghé sát lại, cùng Tiêu Các lão hai người cẩn thận lật xem. Đợi đến khi xem xong, đôi bên nhìn nhau một lượt, những lão hồ ly này thảy đều lộ ra tia sáng khác lạ trong mắt.
“Kế này hay, đúng là diệu kế! Ta lập tức tiến cung ngay bây giờ, đích thân gửi bản tấu này tới Tư Lễ giám, bắt tên Lưu Xuân Kỳ kia phải phê dấu đỏ.” Tiêu Các lão đứng bật dậy, đội lại mũ ô sa cho ngay ngắn, nắm chặt bản tấu chiết định bước ra cửa.
Nào ngờ, Hứa Các lão đã vội vàng kéo ông lại: “Tiêu Các lão chớ nên nóng vội! Việc cải cách binh mã chính sự tuyệt đối không phải chuyện nhỏ. Thái hậu cách đây không lâu vừa phải chịu thiệt, bị Thừa Tự chặn mất lô thuế ngân kia, cơn lôi đình còn đang không có chỗ phát tiết đâu. Chúng ta hãy mau ngồi xuống, bàn bạc kỹ lưỡng đối sách, xem làm cách nào mới có thể ép Thái hậu phải cúi đầu mà phê chuẩn đạo tấu chiết này!”
Hai người bọn họ vừa ngồi xuống phía bên này, thì phía bên kia, Thủ phụ Thôi Tuần đang đứng dưới song cửa liền vẫy tay gọi Lục Thừa Tự lại gần, rồi hỏi khẽ: “Sắp đến cuối năm rồi, bổng lộc của quan viên kinh thành liệu có thể bù đắp được phần nào không?”
Chẳng là vị Hộ bộ Tả thị lang tiền nhiệm, cũng chính vì bị đám quan lại vây kín cửa đòi bổng lộc, mà phải tự vẫn giải thoát cho bản thân.
Năm nay tới dịp cuối năm, có thể tưởng tượng được áp lực trên vai Lục Thừa Tự nặng nề đến nhường nào.
Lục Thừa Tự hướng về phía ông thi lễ một vái, phong thái của vị Thị lang trẻ tuổi ấy vẫn vô cùng ung dung, giọng điệu đầy vẻ quyết đoán: “Thầy cứ việc yên tâm, trước mắt hãy để việc cải cách binh mã chính sự được thực thi ổn thỏa, sau đó con sẽ lập tức xử lý chuyện nợ bổng lộc của quan viên kinh thành.”
Vừa định nói chi tiết hơn, thì ngoài hành lang vang lên tiếng bước chân vội vã của quản gia: “Lão gia! Tiểu vương gia phủ Tương Vương và Thế tử gia phủ Ung Vương giá lâm, tới chúc thọ Lão phu nhân ạ!”
Thôi Tuần nghe báo, chân mày khẽ biến sắc trong chốc lát, song cũng không quá lấy làm kinh ngạc. Ông hướng về phía mọi người phất tay áo, rồi lên tiếng: “Các sự vụ ở đây hãy tạm gác sang một bên, mời chư vị cùng lão phu ra ngoài nghênh đón hai vị Điện hạ.”
Tiêu Các lão lộ ra vẻ mặt chẳng mấy tình nguyện, đành gạt tấu chiết sang một bên rồi đứng dậy. Hứa Các lão trái lại vẫn ngồi im bất động, từ từ cầm bản tấu lên xem kỹ lại lần nữa, đến đầu cũng chẳng buồn ngẩng: “Thủ phụ cứ dẫn hai vị kia đi đi, lão phu không đi đâu.”
Nguyên do là bởi phụ thân của Hứa Các lão, là cựu Thủ phụ Hứa Hiếu Đình, vốn có thâm thù đại hận với phủ Tương Vương. Hứa gia và phủ Tương Vương xưa nay vốn nước sông không phạm nước giếng, tuyệt đường qua lại. Nay Tiểu vương gia giá lâm, ông dĩ nhiên chẳng đời nào chịu ra nghênh đón.
Thôi Các lão quá hiểu tính khí của ông nên cũng chẳng nói thêm gì.
Duy có Tiêu Các lão là lên tiếng nhắc nhở một câu: “Nhưng mà, Vương Thế tử cũng có mặt ở đó đấy.”
Ý ông là đang nhắc tới Thế tử phủ Ung Vương.
Bởi lẽ khắp dân gian đang truyền tai nhau rằng, Kim thượng có ý định chọn một người cháu trong tông thất để quá kế. Nếu sự việc thành toàn, không chừng vị Vương Thế tử kia chính là bậc quân vương kế nhiệm của thiên hạ.
Hứa Các lão vẫn chăm chú vào tấu chương, phất tay áo liên tiếp ba cái: “Không đi là không đi! Có chút thời gian ấy để đi bợ đỡ, lấy lòng bọn họ, chẳng thà lão phu ở đây xem thêm mấy bản tấu chiết còn hơn.”
Mọi người thấy vậy thì cũng không khuyên can thêm nữa, khẽ chỉnh đốn lại y quán cho ngay ngắn, rồi mới cất bước ra ngoài nghênh đón.
Kể từ khi hai vị Tiểu vương gia giá lâm, hoa sảnh của Thôi phủ thoắt cái đã vắng bóng người.
Hai vị điện hạ mới ngoài đôi mươi, chưa lập gia thất, lại là dòng dõi thiên hoàng quý tộc, phong thái uy nghi, dung mạo xuất chúng. Các nữ quyến người thì muốn chiêm ngưỡng phong thái của họ, người lại nảy sinh lòng ngưỡng mộ luyến ái, không hẹn mà cùng đổ xô về phía Phúc Hưng Các, nơi dừng chân của hai vị điện hạ.
Hoa Xuân chẳng có lấy chút hứng thú ấy, định bụng cùng Tam tẩu Đào thị hồi phủ trước.
Hai người từ hoa sảnh bước ra, men theo một lối mòn lát đá xuyên tới bên hồ, sau đó đi vòng qua nửa vòng hồ, dự tính sẽ rời đi theo cửa nách.
Mới đi được nửa đường, Đào thị vô tình đưa tay chạm lên vành tai, chợt nhận ra mình đã đánh rơi một bên hoa tai từ lúc nào. Nàng ấy nhất thời hoảng hốt, cuống quýt kêu lên: “Chao ôi! Chiếc hoa tai trân châu của ta mất một bên rồi, ta phải quay lại tìm mới được!”
Xưa này Đào thị làm việc vô cùng cẩn thận, chẳng mấy khi để rơi rớt đồ đạc ở bên ngoài, cốt là để tránh rước phải những lời đàm tiếu không hay.
Hoa Xuân chẳng chút do dự, liền xoay người đi cùng nàng ấy: “Muội đi cùng tẩu!”
Đào thị lại đẩy nhẹ cổ tay nàng ra, bảo rằng: “Muội thôi đi, Phái nhi đã hồi phủ rồi, chớ có bỏ mặc tiểu tử ấy một mình, mau về mà trông nom nó đi.”
Hoa Xuân thực sự lo lắng cho con trai, sợ thằng bé lại mải mê chơi bời ở phương nào rồi: “Vậy thì muội không đi cùng tẩu nữa, tẩu cẩn thân nhé.”
Đào thị vừa lên tiếng đáp lời, vừa vội vã quay bước trở về đường cũ.
Hoa Xuân đưa mắt nhìn theo, cho đến khi bóng dáng tẩu tẩu khuất sau bụi hoa nhài thì mới xoay người định rời đi. Nào ngờ vừa mới dời gót, nàng đã bất thình lình nhìn thấy một bóng người đang đứng sừng sững phía trước, khiến nàng không khỏi giật mình kinh hãi.
Chỉ thấy người nọ khoác trên mình chiếc áo choàng thêu vân mây chìm bằng chỉ bạc, thân hình cực kỳ cao ráo. Chưa bàn đến diện mạo, chỉ riêng khí độ đã toát ra vẻ tôn quý bức người. Ánh mắt Hoa Xuân trước tiên rơi vào con mèo tuyết trong tay người đó, nàng khựng lại trong giây lát, rồi mới dời mắt nhìn lên, vừa vặn đối diện với một đôi mắt đào hoa cười như không cười.
Tùng Đào thấy có nam nhân lạ mặt xuất hiện, lập tức tiến lên một bước che chắn phía trước Hoa Xuân, hướng về phía người tới mà quát lớn: “Hộ bộ Thị lang Lục phu nhân ở đây, các hạ là người phương nào, cớ sao lại cản đường phu nhân nhà ta?”
Tiếc thay, nam nhân nọ chỉ khẽ vuốt ve con mèo tuyết trong lòng, đôi mắt phượng dài hẹp lạnh lùng đánh giá Hoa Xuân, tuyệt nhiên không thèm liếc nhìn Tùng Đào lấy một cái.
Đúng lúc này, gã nội thị bên cạnh Tiểu vương gia cũng kịp thời từ dưới gốc cây đi ra, quát lui Tùng Đào: “Hỗn xược! Tương Vương phủ Tiểu vương gia đang ở đây, còn không mau hành lễ!”
Tùng Đào giật mình kinh hãi, lén lút liếc nhìn Hoa Xuân một cái, nhưng chân vẫn không hề dời bước.
Hoa Xuân nghe đối phương tự báo gia môn xong thì đã rõ tâm ý, nàng khẽ gạt tay Tùng Đào ra, hướng về phía người tới mà nhún mình hành lễ: “Thỉnh Tiểu vương gia thánh an.”
Chu Tu Dịch thấy thần sắc nàng ung dung bình tĩnh, chẳng chút hoảng loạn, lại càng thêm khẳng định chính nàng đã bày mưu tính kế muội muội mình. Hắn gằn giọng: “Lục phu nhân thật có bản lĩnh, xoay muội muội ta như chong chóng. Hiện tại người đã bị cô bán đi rồi mà còn giúp cô đếm bạc kia kìa.”
Hoa Xuân dĩ nhiên không ngu xuẩn đến mức đi đối đầu trực diện với Tiểu vương gia đương triều. Nàng lộ vẻ hoàng sợ, khẽ đáp: “Xin Tiểu vương gia thứ tội, lời ngài nói thần phụ quả thật nghe không hiểu. Thần phụ và Quận chúa chẳng qua cũng chỉ là chỗ quen biết sơ sơ, thần phụ kính trọng người còn không kịp, sao dám có ý gì khác.”
“Bản lĩnh mở mắt nói lời gian dối của ngươi cũng thật không tầm thường.” Chu Tu Dịch chẳng chút khách khí mà đâm thủng lớp ngụy tạo của nàng: “Nó đã công khai đòi cướp phu quân của ngươi, vậy mà ngươi vẫn còn kính trọng nó sao?”
Hoa Xuân rũ mắt nhìn xuống phía trước mũi giày, tuyệt nhiên không nhìn thẳng vào hắn, nàng nhẹ nhàng đáp lại: “Tiểu vương gia cũng đã nói rồi đó thôi, là Quận chúa muốn cướp phu quân của thần phụ, vậy xem như Quận chúa là người có lỗi trước. Chẳng hay hôm nay Tiểu vương gia lấy tư cách gì để trách cứ thần phụ đây?”
“Thật là khéo mồm khéo miệng.” Chu Tu Dịch chẳng buồn phí lời tranh luận với nàng, liền buông lời cảnh cáo: “Nếu không phải muội muội của ta có lỗi trước, thì ngươi tưởng rằng mình có thể yên ổn mà đứng ở đây…”
“Tiểu vương gia!”
Đúng lúc này, từ phía bờ nước bên cạnh, một bóng người đang thong dong tiến lại gần, thanh âm không nhanh không chậm cắt ngang lời hắn.
Chu Tu Dịch dời mắt nhìn sang, chỉ thấy Lục Thừa Tự đang chậm rãi rảo bước tiến lại gần. Chiếc mũ quan có vành dài đen tuyền, cùng tấm bổ tử thêu chim khổng tước trên lớp quan bào màu đỏ tía hàng tam phẩm, càng tôn lên những đường nét sâu hoắm, lãnh đạm trên gương mặt trắng như tuyết. Hai sắc đen đỏ cực hạn ấy giao thoa, khiến nam nhân trước mắt toát ra vẻ rạng rỡ, tuấn tú vô cùng.
Thân hình cao lớn của Lục Thừa Tự đứng lại bên cạnh Hoa Xuân, âm thầm chắn phía trước bảo vệ nàng. Chàng trước tiên nâng tay áo hướng về phía Chu Tu Dịch vái chào một cái, sau đó mỉm cười nói: “Tiểu vương gia từ khi nào lại học được cách làm khó một phận nữ nhi thường tình thế này? Phu nhân nhà hạ quan vốn dĩ được nuôi trong khuê các, tính tình yếu đuối, hành sự lại có phần ngây ngô mông muội, đâu có am hiểu những chuyện lắt léo nơi quan trường. Vốn là ta dạy nàng làm gì thì nàng làm nấy, chuyện của Quận chúa là do một tay Lục mỗ này làm ra, Tiểu vương gia có điều gì bất mãn, thì cứ nhắm vào ta đây là được rồi!”
Hoa Xuân chẳng rõ chốn Kinh thành nước sâu hiểm độc ra sao, nhưng Lục Thừa Tự thì lại quá tường tận. Chàng biết rõ mọi việc trong phủ Tương Vương, xưa nay đều do một tay vị Tiểu vương gia trước mắt này định đoạt; đối phương vừa hồi kinh đã có thể nhìn thấu chân tướng sự việc. Lo sợ hắn sẽ ôm hận trong lòng mà gây hấn với Hoa Xuân, chàng đã ngầm sai người theo sát bảo vệ nàng, có biến cố gì phải báo ngay lập tức. Chẳng thể ngờ được, hôm nay chàng lại thực sự bắt gặp cảnh này.
Nam nhân trẻ tuổi kia có cặp lông mày thanh tú, ánh mắt khôi ngô, nhưng ẩn sâu bên trong lại là sự sắc sảo, lộ rõ phong thái của kẻ nắm quyền.
Chu Tu Dịch nhìn chằm chằm vào chàng một lúc lâu, đôi môi mỏng khẽ nhếch lên một nụ cười lạnh: “Nói như vậy, tất cả đều là thủ đoạn của Lục đại nhân sao? Thế gian thường ca tụng Lục đại nhân có phẩm hạnh như ngọc, nay xem ra cũng chẳng phải vậy. Thừa dịp bản vương không có mặt tại Kinh thành, mà lôi muội muội ta ra làm bia đỡ đạn, e rằng đây chẳng phải hành vi của bậc quân tử đâu nhỉ.”
Lục Thừa Tự khẽ cười, nét thanh cao rạng rỡ nơi đáy mắt dường như đã trở nên chân thực hơn bao giờ hết: “Giao thiệp với bậc quân tử thì đối đãi bằng sự chân thành, còn đối phó với kẻ tiểu nhân thì phải chỉ rõ cho hắn thấy cái lợi cái hại của sự việc.”
Chu Tu Dịch hừ lạnh một tiếng, cơn thịnh nộ ẩn hiện nơi đầu mày nhưng không để lộ ra quá rõ ràng: “Lục đại nhân quả không hổ danh tài tử Trạng nguyên, năng lực khua môi múa mép cũng chẳng kém cạnh gì tài năng múa bút là bao.”
“Đã khiến Tiểu vương gia chê cười rồi.”
“Vậy thì xin Lục đại nhân hãy cẩn thận cho. Bản vương nhất định phải đòi lại một công đạo cho phủ Tương Vương này.”
“Minh huấn của Hoàng tổ đã dạy, thiên tử chi tử không can dự việc nhà, phải sùng lễ tu đức, không hỏi chuyện chính sự. Lục mỗ ta dù bất tài, nhưng cũng đang giữ chức Đường quan của Lục bộ, nhất định phải nhắc nhở Tiểu vương gia nên cẩn trọng lời nói và hành động, đừng để ta nắm được thóp.”
Chu Tu Dịch chẳng chút mảy may lay động trước lời đe dọa kia, trái lại nụ cười càng thêm thâm sâu: “Vậy chúng ta cứ chống mắt mà chờ xem!”
“Cáo lui!”
Lục Thừa Tự lãnh đạm quét mắt nhìn hắn một lượt, rồi nắm lấy tay Hoa Xuân xoay người rời đi.
Khi Hoa Xuân nghiêng mình rời đi, ánh mắt nàng vô tình lướt qua phía lòng bàn tay đang ôm con mèo tuyết của Chu Tu Dịch.
Trong khi đó, Chu Tu Dịch lại giống như bị đóng đinh tại chỗ, đôi mắt ghim chặt vào bóng lưng Hoa Xuân mà chẳng hề dời bước.
Gã nội thị cảm thấy vô cùng quái dị, bèn thấp giọng hỏi: “Chủ tử, nếu ngài nhìn vị Lục phu nhân kia không thuận mắt, hay là để nô tài phân phó thuộc hạ xuống dưới, cho nàng ta một bài học?”
Chu Tu Dịch vẫn đang chìm đắm trong suy nghĩ riêng, không đáp lời gã, trái lại khẽ ngả người ra sau rồi lẩm bẩm: “Ngươi có thấy ánh mắt của vị Lục phu nhân lúc nãy nhìn bản vương, có chút cổ quái hay không?”
“Có sao ạ?” Gã nội thị gãi gãi đầu: “Lục phu nhân khi nãy luôn rũ mắt cung kính, nô tài quả thực không phát hiện ra điều gì khác lạ.”
Trực giác của Chu Tu Dịch xưa nay vốn rất chuẩn xác: “Bản vương cứ cảm thấy dường như đã từng gặp nàng ta ở đâu rồi. Ngươi theo hầu bản vương cũng đã hơn mười năm, liệu có chút ấn tượng nào không?”
Gã nội thị hồi tưởng cẩn thận lại một lượt, rồi nhíu mày đáp: “Chủ tử, trí nhớ của nô tài xưa nay vốn khá tốt, nhưng lần này quả thực không có ấn tượng đã từng gặp qua nàng ta. Nàng ta xuất thân từ Kim Lăng, lại đến Ích Châu suốt năm năm ròng, chưa từng đặt chân tới Kinh thành.”
Chu Tu Dịch khẽ nhíu đôi lông mày nhạt, rồi thong thả xoay người, đi theo hướng khác để ra khỏi phủ: “Cũng có lẽ là bản vương nhớ lầm rồi…”
Chương 12.
Lục Thừa Tự đưa Hoa Xuân hồi phủ xong, lại bị mấy vị Các lão triệu vào Nội các để thâu đêm hoàn thiện tấu chiết. Sáng sớm hôm sau, hơn mười vị trọng thần thuộc phe Đế đảng đồng loạt dâng sớ, đưa bản tấu trình về việc cải cách binh mã chính sự này đến Ty Lễ giám, thỉnh Thái hậu phê chuẩn. Không chỉ có thế, bọn họ còn ngầm truyền phương án này tới Quốc Tử Giám, khơi dậy sự bàn tán sôi nổi trong hàng ngũ thư sinh, gây nên tiếng vang lớn trong triều dã, nhằm gây sức ép buộc Thái hậu phải phê dấu hồng.
Thế nhưng ba ngày trôi qua, dù là Ty Lễ giám hay phía Thái hậu đều chẳng có chút phản ứng nào, bản tấu chiết kia tựa như đá chìm đáy bể, biệt vô âm tín.
Các vị Các lão sao có thể nhẫn nhịn thêm được nữa, họ liên tục gửi công văn thúc giục. Cuối cùng, vào giờ Ngọ ngày mồng mười tháng Chín, Thái hậu sai người gửi một vế đối đến Nội các. Lúc bấy giờ Lục Thừa Tự đang trong kỳ nghỉ phép, đang lúc rảnh rỗi cùng con trai chơi mã cầu trong viện, không ngờ người của Nội các lại tới mời: “Lục đại nhân, Thánh thượng cấp báo triệu ngài vào cung!”
Lục Thừa Tự chẳng còn cách nào khác, bèn sai ma ma đưa Phái nhi trở về hậu viện, còn mình thì lập tức thay triều phục để tiến về cung Càn Thanh.
Ngoài Thánh thượng, thì ba vị Các lão là Thôi, Tiêu, Hứa cũng đều tề tựu đông đủ tại Đông Noãn các trong cung Càn Thanh. Thánh thượng khoác trên mình bộ thường phục màu vàng minh hoàng, đang ngồi xếp bằng trên sập gụ cạnh cửa sổ phía Nam, tay vân vê chuỗi hạt trầm hương, thần sắc có phần không được vui.
Trong các đặt một chiếc án dài bằng gỗ tử đàn, trên án đặt một bức đối liên. Thôi Các lão vừa vuốt râu vừa ngồi trên ghế tròn dưới tường phía Đông, ngưng thần không nói; hai vị Các lão còn lại thì đi đi lại lại trước án, vắt óc suy nghĩ vì hai vế đối này. Thấy Lục Thừa Tự tiến vào điện, Tiêu Các lão lập tức chỉ tay vào bức đối: “Thừa Tự, xưa nay ngươi vốn có tài văn chương thâm hậu, mau lại đây giải giải xem, bức đối này của Thái hậu rốt cuộc là có ý gì?”
Lục Thừa Tự ung dung bước vào nội điện, trước tiên nhìn qua Thánh thượng, định khom người hành lễ, nhưng Thánh thượng chỉ phẩy tay, ra hiệu cho chàng mau đi xem bức đối. Lúc bấy giờ Lục Thừa Tự mới vòng ra sau án dài.
Chỉ thấy vế thượng liên viết rằng: “Chúc hạ văn di sơ lạc bút, nhất phương thừa ấn định thiên thành”. Lục Thừa Tự chậm rãi ngâm khẽ câu chữ, cũng đi đi lại lại trước án. Tầm mắt của mọi người đều dời theo bước chân chàng, thấy đôi mày anh tuấn ấy lúc thì khẽ nhíu lại, lúc lại giãn ra. Cuối cùng, chỉ sau một hơi thở, Lục Thừa Tự đã có câu trả lời.
“Bệ hạ, chư vị Các lão, hạ quan đã nghĩ ra rồi. Câu ‘Chúc hạ văn di sơ lạc bút’ vốn xuất từ cuốn Kim Quỹ Thập Di thời tiền Hán, là lời thế gian dùng để ca ngợi Thái Sử Công, tán dương ông cầm bút định nghìn thu. Như vậy câu này có thể giải theo chữ ‘Sử’. Còn như câu sau ‘Nhất phương thừa ấn định thiên thành’, trên chữ ‘Sử’ thêm một nét ngang chính là chữ ‘Lại’. ‘Lại’ ấy là quan, quan giữ lấy ấn, định đoạt nghìn thành. Vế thượng liên này của Nương nương quả thực mang khí thế nuốt cả non sông.”
Thế nhưng, sau khi Lục Thừa Tự giải được vế thượng liên này, thần sắc của chàng lại trở nên vô cùng căng thẳng.
Tiêu Các lão nghe xong thì không tiếc lời tán thưởng: “Thừa Tự quả không hổ danh là tài tử Trạng nguyên, năm xưa Cao Thực bảy bước thành thơ, nay ngươi chỉ mất nửa hơi thở đã giải được mật ngữ… Ha ha ha…”
Lão vừa cười xong ba tiếng, lại chợt nhận ra trong điện chẳng có lấy một ai phụ họa theo. Không những không có người hưởng ứng, mà sắc mặt ai nấy đều trầm trọng, tiếng thở ngắn than dài liên tiếp vang lên. Đang lúc kinh ngạc, lão bỗng chốc tỉnh ngộ, lập tức kêu lên một tiếng “không xong rồi”.
“Đại sự bất ổn rồi Bệ hạ! Chúng ta dâng bản tấu chương cải cách binh mã chính sự này lên, vốn mục đích là để giải quyết cái khó của quân nhu, làm sống lại quốc khố, xoay chuyển tình thế suy yếu của Hộ bộ và Binh bộ. Thế nhưng Thái hậu Nương nương, đây là muốn chúng ta mang Lại bộ ra để đổi lấy đấy!”
Trong Nội các, Hộ bộ Thượng thư Viên Nguyệt Sanh vốn có chỗ dựa là Tương Vương, chính là trung thần cốt cán của phe cánh Thái hậu. Trước khi Lục Thừa Tự nhậm chức, phe Đế đảng hầu như chẳng thể nhúng tay vào việc của Hộ bộ. Song đồng thời, chức vị Lại bộ Thượng thư lại do đương triều Thủ phụ Thôi Tuần kiêm nhiệm, nên phe cánh Thái hậu cũng không cách nào can dự vào được.
Theo lệ triều đình, các đại thần từ hàng tam phẩm trở lên sẽ do các trọng thần bàn bạc tại đình nghị mà định đoạt, còn quan lại từ hàng tam phẩm trở xuống đều do Lại bộ khảo hạch và bổ nhiệm.
Thái hậu nắm giữ tài quyền trong tay, song bấy lâu nay vẫn chẳng thể nhúng tay vào việc bổ nhiệm hay bãi miễn tại Lại bộ. Hôm nay Hoàng đế muốn mượn bản tấu chương cải cách binh mã chính sự này của Lục Thừa Tự, để chấn hưng Hộ bộ, nhằm làm suy yếu thế lực của Thái hậu tại nơi đây; vậy nên Thái hậu liền ép Hoàng đế phải lấy Lại bộ ra làm vật trao đổi.
Thôi Tuần đang giữ chức Lại bộ Thượng thư, Thái hậu nhất thời không thể lay chuyển được vị trí của ông ấy, xem chừng mũi kiếm của Người lần này là đang nhắm thẳng vào chức Lại bộ Tả Thị lang, kẻ nắm giữ trọng trách khảo hạch và bổ nhiệm quan viên vậy.
Quân nhu vốn là yếu vụ của triều đình, can hệ trực tiếp đến quốc kế dân sinh và giang sơn xã tắc. Thái hậu phen này chính là đang “chiếu tướng” Hoàng đế, nhằm thử lòng Người, xem liệu có cam tâm tình nguyện mang chức Lại bộ Tả Thị lang ra, để đổi lấy sự yên ổn của xã tắc hay không.
Nếu không đổi, danh tiếng của Hoàng đế tất sẽ tổn hao.
Còn nếu như đồng ý đổi, thì ưu thế bấy lâu nay cũng chẳng còn lại chút gì.
Bậc quân vương ngồi phía trên cao, tay không ngừng vê chuỗi hạt trầm hương, thở dài rồi nói: “Trẫm xem chừng chẳng còn con đường nào để lựa chọn nữa rồi.”
Người là minh chủ của một phương, đương nhiên phải lấy xã tắc làm trọng. Nếu nơi biên thùy chẳng yên ổn, thì tranh đi đoạt lại có ích gì đây?
Thôi Tuần lại lắc đầu, lên tiếng can ngăn: “Bệ hạ chớ vội lo âu, xin hãy để thần đẳng tìm thêm đối sách.”
Lúc bấy giờ, Hứa Các lão chỉ tay vào vế hạ liên, nhìn về phía Lục Thừa Tự rồi hỏi: “Chương Minh, ngươi xem thử xem, vế hạ liên này nên giải thế nào cho phải?”
Lục Thừa Tự trở lại trước án dài, chăm chú nhìn vào vế hạ liên: “Tả trận như sơn an nhược Đại, quân tiền hiệu lệnh đệ nhất thanh”.
Tạm gác lại những đấu đá quyền lực, thì phải thừa nhận rằng bức đối này của Thái hậu có khí thế không hề tầm thường, thể hiện rõ nét khí phách hùng hồn của một vị Thái hậu đương quyền chấp chính.
Lục Thừa Tự thầm than trong lòng một tiếng, ánh mắt dừng lại ở chữ “Trận”: “Tả trận, chính là bộ ‘Phụ’ bên trái chữ Trận. ‘Quân tiền hiệu lệnh đệ nhất thanh’ cốt chỉ việc đánh trống (Kích. Bộ ‘Phụ’ mà thêm chữ ‘Kích’ thì chính là một chữ ‘Lục’…”
Lời vừa dứt, ánh mắt của những người còn lại đồng loạt “soạt” một cái, đổ dồn về phía chàng.
Lục Thừa Tự bỗng chốc cảm thấy tim mình thắt lại, một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng.
Hứa Khoáng nheo mắt thật sâu, rồi trầm giọng hỏi: “Chữ ‘Lục’ này, chẳng lẽ là đang ám chỉ ngươi sao, Chương Minh?”
Tiêu Cừ vốn chán ghét nhất cái thói chữ nghĩa văn vẻ này, lòng vừa mịt mờ vừa nôn nóng: “Lời này của Thái hậu rốt cuộc là có ý gì?”
Lục Thừa Tự lúc này cũng có chút phân vân, chưa thể nắm bắt được thâm ý phía sau đó.
Hứa Khoáng lại nghiền ngẫm giây lát, rồi trầm ngâm nói: “Khua trống, bày trận, ấy là có ý nghênh địch. Xem ra Thái hậu e là muốn gặp Lục Thị lang một phen rồi.”
Hoàng đế quẳng chuỗi hạt trong tay sang một bên, nở nụ cười khổ: “Theo ý Trẫm, có lẽ cũng chính là nghĩa này. Lục ái khanh, việc cải cách binh mã chính sự này vốn do khanh khởi xướng, đã vậy, khanh hãy đích thân đi diện kiến Thái hậu, nhất định phải thay Trẫm mang bằng được dấu phê hồng về đây!”
“Thần lĩnh chỉ!”
Lúc bấy giờ Thôi Tuần mới đứng dậy, bước đến bên cạnh Lục Thừa Tự, ngữ khí thâm trầm đầy ý vị: “Chương Minh, ngươi lần đầu diện kiến Thái hậu, nhất định phải cẩn trọng lời ăn tiếng nói. Thái hậu Nương nương vốn là con nhà tướng, thuở thiếu thời từng cầm quân ra trận, xưa nay vốn là người nói một không hai, tuyệt không dung thứ cho kẻ nào dám nghịch ý. Lát nữa bất luận Nương nương có vấn tội ngươi ra sao, ngươi cũng phải đối đáp cho thật cẩn mật, nghìn vạn lần chớ để sa vào cạm bẫy của Người.”
Nói đến cuối cùng, vị lão Thủ phụ ấy nắm chặt lấy cổ tay Lục Thừa Tự, ánh mắt đầy thâm ý.
Lục Thừa Tự đối diện với ánh mắt đầy vẻ lo âu của ân sư, cũng đoán được lần diện kiến này e là chẳng hề đơn giản. Chàng lùi lại ba bước, hướng về phía mọi người mà vái một lạy: “Xin Bệ hạ cùng chư vị Các lão yên tâm, Thừa Tự nhất định sẽ không làm nhục mệnh lệnh!”
Lục Thừa Tự đi về phía Tây, ra khỏi cửa Nguyệt Hoa, băng qua cửa Nội Hữu, lại tiếp tục hành trình hướng Tây đến cửa Vĩnh Khang Tả. Chỉ thấy dưới hành lang lộng lẫy ánh vàng, mấy tên tiểu nội thị đã đứng chờ sẵn từ bao giờ. Nơi đây chính là địa giới của cung Từ Ninh, Lục Thừa Tự cất cao giọng nói: “Làm phiền Công công vào thông báo, thần Lục Thừa Tự phụng ý chỉ của Thái hậu Nương nương tới đây khấu kiến.”
Tiểu nội thị hẳn là đã nhận được chỉ thị từ trước, liền cười cười rồi đưa tay dẫn lối: “Nương nương đã có lời dặn dò từ sớm, mời Lục đại nhân đi theo nô tài.”
Lục Thừa Tự theo người đó đi qua Từ Ninh Môn, bước chân vào Từ Ninh Cung. Men theo những bậc thềm bằng đá bạch ngọc tiến đến trước chính điện, đã thấy một nữ quan trẻ tuổi trong trang phục màu tím đợi sẵn ở cửa điện. Nàng ta có khuôn mặt đầy đặn như trăng rằm, đôi mắt sáng tựa đá cẩm thạch, mỉm cười cúi mình hành lễ với Lục Thừa Tự, ra hiệu mời chàng vào trong.
Lục Thừa Tự giữ đúng lễ tiết, không nhìn nàng ta mà chỉ chắp tay đáp lễ, sau đó sải bước vào trong điện. Bảy cánh cửa gỗ dạng lưới đều được mở rộng, một mùi hương trầm đàn nồng nàn phả ngay vào mặt. Chính điện có không gian cực kỳ rộng lớn, trần nhà được chạm trổ phù điêu cầu kỳ và sâu rộng, khí phái huy hoàng. Trong điện tuy rộng lớn nhưng bày biện không hề xa hoa rườm rà, thậm chí đến cả một chiếc kệ đồ cổ cũng không có. Phía chính Bắc đặt một tòa bảo tọa khảm rồng cuộn mạ vàng, hai bên cửa sổ mỗi bên đặt một giá sách, trên đó bày biện đủ loại cổ tịch, ngoài ra, trong điện chỉ có duy nhất một chiếc bàn thư án bằng gỗ tử đàn, hình dáng tựa như khối đá khổng lồ lơ lửng giữa không trung.
Phía sau án thư có một người đang đứng.
Người đó mặc chiếc áo dài đối khâm bằng lụa kháp ti màu xanh lam, mái tóc đen dày được búi thành kiểu linh vân, trên búi tóc ngoại trừ một chiếc trâm gỗ mun, thì không còn bất kỳ món trang sức nào khác. Dáng người của người đó không quá cao, thanh mảnh cân đối, nhưng tư thế cầm bút lang hào vung mực lại mang khí thế như đang điều khiển thiên quân vạn mã.
Người đó cúi thấp hàng mi nên nhìn không rõ mặt mày. Lục Thừa Tự chỉ khẽ liếc qua, không dám nhìn kỹ, lập tức cụp mắt xuống, khom người tiến lên phía trước, thực hiện đại lễ khấu bái: “Thần Lục Thừa Tự, bái kiến Thái hậu, nương nương thiên tuế, thiên tuế, thiên thiên tuế!”
“Lục Thừa Tự, gan của ngươi cũng lớn thật đấy! Người trong thiên hạ ai mà chẳng biết, Ai gia ghét nhất kẻ khác gọi mình là ‘Thiên tuế’.”
Bởi lẽ Người muốn là “Vạn tuế”, Người muốn được vạn thọ vô cương!
Tiếng quát này khí thế không quá hung dữ, nhưng lại vô cùng đanh thép và sung mãn.
Lục Thừa Tự đưa ống tay áo dài lên ngang mày, ung dung đáp lời: “Nương nương chấp chính mười lăm năm nay, lao khổ công cao, bách tính nghìn năm vạn đời sau sẽ mãi luôn khắc ghi ân đức của Người.”
“Xảo quyệt!” Thái hậu nghe xong khẽ hừ lạnh một tiếng: “Sao nào, Thôi Tuần không dạy ngươi rằng, tuyệt đối chẳng được nghịch ý Ai gia hay sao?”
Lục Thừa Tự nghe vậy thì trong lòng khẽ lay động. Vừa rồi ở Đông Các trong Càn Thanh Cung không hề có cung nhân hầu hạ, lẽ ra không có ai mật báo mới phải, chẳng lẽ Thái hậu lại có thể liệu sự như thần về Thôi Tuần đến mức này sao?
Quả không hổ danh là bậc đương triều Thái hậu, đã nắm quyền chấp chính suốt mười lăm năm trời, ra uy phủ đầu khiến người ta không khỏi nảy sinh lòng kính sợ.
Chẳng đợi Lục Thừa Tự kịp đáp lời, Thái hậu đã gác bút, rồi vẫy tay ra hiệu về phía chàng: “Ngươi lại đây, xem thử bức chữ này của Ai gia thế nào?”
Lục Thừa Tự nghe lời đứng dậy, bước đến bên án thư rồi dời mắt nhìn sang. Chỉ thấy Thái hậu lại một lần nữa viết xuống cặp câu đối kia, có điều so với bức chữ vừa gửi tới Nội các ban nãy, bức này dùng bút lông cừu mà viết, khí thế càng thêm bức người. Lục Thừa Tự nhìn qua một lượt, liền chắp tay cung kính đáp: “Chữ của Nương nương, giữa các hàng lối đều thấy rõ cái thế của thiên quân vạn mã!”
Thái hậu cười khẽ, giơ tay đón lấy chiếc khăn từ vị nữ quan ban nãy dâng lên để lau tay, rồi mỉm cười nhìn chàng: “Đã giải ra rồi chứ?”
Lục Thừa Tự thừa nhận: “Bẩm Thái hậu, đúng ạ.”
“Vậy ý kiến của ngươi thế nào?”
Lục Thừa Tự hơi nhíu mày, nhất thời vẫn chưa thể nắm bắt được thâm ý của Thái hậu.
Thái hậu liếc nhìn hắn một cái, phất tay ra hiệu cho nữ quan lui xuống. Người cầm lấy bản tấu chương về binh mã quân chính trên bàn, nhìn nam tử trẻ tuổi phong thái thanh tao như chi lan ngọc thụ trước mặt, ánh mắt lộ vẻ thâm trầm: “Lục Thừa Tự, bản tấu này của ngươi Ai gia đã xem qua rồi, rất hài lòng, cũng rất kinh ngạc.”
Người thành thật nói, rồi chắp tay sau lưng thong thả bước đến bên cạnh Lục Thừa Tự, ánh mắt dừng lại trên góc nghiêng cương nghị của chàng, bắt đầu ung dung đàm luận: “Thái bộc tự lệ thuộc Binh bộ, dưới quyền cai quản sáu mươi tám vạn mã hộ, mười sáu vạn khoảnh điền địa, gần bốn vạn khoảnh mã trường, vốn dùng để cung ứng ngựa cho quân nhu. Song, từ khi Đại Tấn lập quốc đến nay đã lâu, những nguồn dự trữ này đã trở nên dư thừa. Mã hộ chẳng những ngày càng kiệt quệ, mà ngựa cũng đã cung vượt quá cầu, lãng phí biết bao nhiêu tài lực của mã chính.”
“Ngươi quả là kẻ thông tuệ. Miễn bỏ lao dịch cho đám mã hộ này, đổi thành bạc trắng nộp về cho triều đình, lại lấy điền địa cùng mã trường chia nhỏ cho thuê; tính ra một năm cũng thu về được mấy mươi vạn lạng. Số tiền mua quân mã vốn chẳng dùng hết ngần ấy, phần dư lại có thể sung vào quân nhu. Ai gia đã tính toán thay ngươi rồi, chẳng quá năm năm, Binh bộ sẽ tiết kiệm được hàng triệu lạng bạc; gặp lúc thái bình thịnh trị, còn có thể trích ra mà bù đắp cho Hộ bộ của ngươi nữa.”
“Chiêu bài này của ngươi, đúng là khiến cho thế bế tắc lại hóa ra đường sống, xoay chuyển cục diện vô cùng ngoạn mục.”
“Quả thực là bậc tài năng của hàng Tể phụ!” Thái hậu chân thành tán thưởng.
Sắc mặt của Lục Thừa Tự vẫn điềm nhiên như không, chàng cung kính cúi mình: “Nương nương đã quá khen rồi.”
Thái hậu nở nụ cười, trong ánh mắt chẳng giấu nổi vẻ thưởng thức: “Ngươi có biết vì sao hôm nay Ai gia lại triệu kiến ngươi không?”
Lục Thừa Tự chung thực đáp: “Thần không rõ ạ.”
“Ngươi cứ việc can đảm mà nghĩ, bạo dạn mà nói.”
Thái hậu bỏ lại câu ấy, rồi xoay người đi về phía bàn trà.
Lục Thừa Tự ngoài mặt thì cung kính nhưng trong lòng thầm kêu khổ. Trong thâm tâm chàng ẩn hiện một dự cảm chẳng lành, song chẳng dám nói rõ ra, đành cố ý giả ngốc: “Thần ngu muội, xin Nương nương ban lời chỉ thị.”
Thái hậu nhấp vài ngụm trà, nghe lời ấy liền xoay người lại, ngữ khí chẳng còn vẻ ôn hòa như lúc nãy nữa: “Hủ lậu!”
“Kẻ thông tuệ như ngươi, rõ ràng đã nhìn thấu dụng ý của Ai gia rồi, hà tất phải che che đậy đậy như vậy!” Thái hậu đặt mạnh chén trà xuống, một lần nữa bước tới gần, nhìn chằm chằm vị Thị lang trẻ tuổi với chân mày thanh tú cao sang, khí chất lẫm liệt trước mặt, rồi nghiêm giọng nói: “Lục Thừa Tự, điều ngươi cầu chẳng qua là lưu danh sử sách, làm một vị đại thần văn võ song toàn. Vậy thì Ai gia nói cho ngươi hay, đi theo Hoàng đế có thể làm Tể phụ, mà đi theo Ai gia cũng có thể!”
“Ngươi chớ có học theo hạng hủ lậu, bảo thủ như đám người Thôi Tuần, Tiêu Cừ, đừng có đi theo chúng mà kéo bè kết đảng. Ngươi là tài năng của xã tắc, năm năm lăn lộn dãi dầu, đông bạt tây thiệp, từ Hàn lâm biên tu đến Tuần án Ngự sử, rồi làm Huyện lệnh, sau tới Bố chính sứ, Án sát sứ; về bản lĩnh trị quốc, trong hàng quan lại chẳng ai có thể vượt qua được ngươi. Ai gia rất mực kỳ vọng vào ngươi, ngươi phải mang chí lớn bao trùm thiên hạ, một lòng một dạ vì dân.”
Lục Thừa Tự nghe lời ấy thì lồng ngực không khỏi thắt lại. Thái hậu hiển nhiên là đang muốn lôi kéo, thu phục chàng về dưới trướng mình.
Chẳng trách trước lúc khởi hành, ân sư lại năm lần bảy lượt dặn dò kỹ lưỡng đến thế, hóa ra dụng ý sâu xa chính là nằm ở chỗ này.
Miệng thì nói không cho phép chàng can dự vào tranh chấp đảng phái, nhưng hành động này rõ ràng chẳng phải là lôi kéo đảng phái thì còn là gì nữa!
Bóng mặt trời đã chếch về hướng Tây, một dải nắng thu xuyên qua khung cửa sổ, vắt ngang hàng mi đậm nét của chàng, khiến những biến chuyển ở sâu thẳm con ngươi hiện lên rõ mồn một. Thái hậu nhìn thấu tâm tư của chàng, ngữ điệu cũng dần chậm lại: “Lục Thừa Tự, đoạn thời gian trước, chuyện giữa ngươi và Thường Dương Quận chúa gây huyên náo khắp chốn, người trong triều ai nấy đều ngỡ rằng Ai gia muốn mượn việc này để ép hôn, hòng thu nạp ngươi về dưới trướng. Ngươi có biết vì sao khi ấy Ai gia lại chẳng hề ra mặt không?”
Lục Thừa Tự bấy giờ mới nâng mắt lên nhìn Người một lượt, rồi đáp: “Thần không rõ ạ.”
Thái hậu tay vịn vào chiếc án lớn bằng gỗ tử đàn, cười bảo: “Ngươi đường đường là thân phận Trạng nguyên, danh tiếng lẫy lừng khắp triều dã, xưa nay vốn tự coi mình là bậc quân tử, lập tín với đời. Nếu Ai gia thực sự dùng thủ đoạn hèn hạ để ban hôn, ép ngươi phải giáng thê làm thiếp, ấy chính là xem nhẹ thanh danh của ngươi, tự cắt đứt quan hệ với các triều thần vậy. Loại việc đó, Ai gia chẳng thèm làm.”
Lời này nói ra tựa như vàng ngọc chạm xuống đất, khiến một người có tâm tính kiên định như Lục Thừa Tự cũng không khỏi khẽ dao động. Chàng thầm nghĩ: Thái hậu này quả nhiên cực kỳ cao tay trong việc thu phục lòng người!
Chàng không kiêu ngạo cũng không tự ti, dõng dạc thưa rằng: “Nương nương anh minh sáng suốt. Nội tử của thần ở nhà trên phụng dưỡng song thân, dưới vỗ về con trẻ, ngày đêm tận tụy, chẳng quản nhọc nhằn. Không có nàng, ắt chẳng có địa vị của thần ngày hôm nay. Thần thề đời này quyết không phụ bạc nàng.”
Thái hậu lộ vẻ rất mực hài lòng.
Người cầm lấy hai bản tấu chương trên án thư trao cho chàng, rồi nói: “Ý đồ của Ai gia thế nào, chẳng cần phải nhiều lời thêm nữa. Hai bản tấu này, ngươi hãy cầm tới Ty lễ giám xin phê hồng, cứ bảo rằng Ai gia đã chuẩn tấu rồi.”
Chân mày của Lục Thừa Tự khẽ giật một cái, rõ ràng chỉ có một bản tấu chương, sao giờ lại dôi ra thêm một bản thế này?
Thế nhưng chàng cũng chẳng dám chậm trễ, lập tức cung kính đón lấy.
Thái hậu nhìn chàng rồi nở nụ cười đầy thâm ý: “Lục Thừa Tự, nếu là kẻ khác mang tới, bản tấu này Ai gia tuyệt đối không phê. Duy chỉ có ngươi, Ai gia chuẩn tấu. Lui ra đi, tới Ty lễ giám làm việc đi.”
Hai tay của Lục Thừa Tự bưng lấy tấu chương: “Thần tạ ơn thái hậu long ân!”
Dứt lời, chàng thực hiện nghi lễ một bước lùi ba bước, cung kính rời khỏi chính điện.
Vị nữ quan kia sau khi thấy chàng ra khỏi điện, liền từ sau cột hành lang trở lại bên cạnh Thái hậu. Nàng ta cùng Người dõi mắt nhìn theo bóng lưng Lục Thừa Tự đang xa dần, trong lòng không khỏi có chút lo âu: “Thái hậu nương nương, Người thật sự định trọng dụng Lục Thừa Tự sao?”
Đôi mắt vốn sâu thẳm của Thái hậu hiện lên một nụ cười huyền bí: “Tất nhiên! Kẻ nào có được Lục Thừa Tự, thì kẻ đó có được thiên hạ!”
Lời này vừa thốt ra khiến vị nữ quan không khỏi bàng hoàng, sửng sốt: “Hắn thật sự có sức nặng đến nhường ấy sao? Trạng nguyên cứ ba năm lại có một người, hà tất cứ phải là Lục Thừa Tự kia mới được!”
Thái hậu quay đầu nhìn nàng ta, thần sắc đột ngột trở nên lạnh lẽo và uy nghiêm tột độ: “A Đàn, Ai gia hỏi ngươi, hiện nay Lục Thừa Tự đối với Hoàng đế mà nói, được tính là gì?”
Ánh mắt của A Đàn nheo lại đầy sâu xa: “Là một thanh kiếm sắc bén nhất!”
“Không sai!” Đôi mắt của Thái hậu hiện lên vẻ lão luyện, sắc sảo: “Ngươi nói xem, nếu Ai gia chiêu mộ được Lục Thừa Tự về dưới trướng, thì triều dã này sẽ ra sao?”
A Đàn lập tức hiểu ra vấn đề: “Ngay cả Lục Thừa Tự cũng đầu quân dưới trướng của Người, thì trong triều ngoài nội, còn kẻ nào không bị uy thế của Thái hậu nương nương thu phục? Chắc chắn bọn họ sẽ như hình với bóng, nhất loạt khuất phục mà thôi.”
“Ha ha!” Thái hậu cười lớn một tiếng, sau đó vỗ nhẹ lên vai nàng ta: “A Đàn, ngươi cần phải theo sát Lưu Xuân Kỳ để quen thuộc hơn với chính sự triều đình. Chẳng bao lâu nữa, Ai gia sẽ để ngươi trở thành nữ Bỉnh bút đầu tiên của Đại Tấn ta!”
Đôi mắt của A Đàn bừng sáng, nàng ta vội vã hành lễ: “A Đàn tạ ơn nương nương long ân, A Đàn nhất định sẽ không làm nương nương thất vọng.”
Thấy Thái hậu đang chậm rãi bước về phía nội điện, A Đàn lập tức tiến tới đỡ lấy tay Người, vẫn hỏi ra thắc mắc trong lòng: “Thế nhưng nương nương, khi nãy Lục Thừa Tự vẫn chưa hề hứa hẹn điều gì với Người cả, lỡ như hắn không đồng thuận thì sao?”
“Ồ, vậy sao? Đáng tiếc, việc này e là không phải do hắn quyết định đâu…”
Thái hậu chắp tay sau lưng, nở nụ cười thâm trầm huyền bí, rồi ung dung vòng ra sau bảo tọa.
Chính ngọ, nắng thu đương nồng, bầu trời xanh trong như vừa được gột rửa.
Ty lễ giám nằm ngay trước Cung Từ Ninh. Từ cửa Cung Từ Ninh đi ra, tiến thẳng qua Cửa Trường Tín, sẽ thấy một con đường cung sâu thẳm dẫn thẳng tới Ty lễ giám. Lúc này, trên con đường ấy, các nội thị đang qua lại tấp nập.
Phía bên này, Lục Thừa Tự vừa vượt qua cửa Cung Từ Ninh thì bước chân dần chậm lại. Chàng liếc nhìn hai bản tấu chương trong tay; một bản có lớp bìa do chính tay chàng chép, không nghi ngờ gì chính là bản tấu về binh mã chính sự kia. Thế nhưng bản còn lại thực khiến chàng không khỏi hiếu kỳ, bèn tùy ý rút ra xem.
Một tờ thư tín màu cam vàng lộ ra, đây là loại chuyên dùng trong cung đình.
Mở ra xem lần nữa, một hàng chữ viết phóng khoáng bay bổng đập ngay vào mắt.
“Thăng chức Lục Thừa Tự từ Hộ bộ Tả thị lang sang giữ chức Lại bộ Tả thị lang.”
Lục Thừa Tự nhìn rõ phong thủ thư này, trước mắt bỗng chốc tối sầm lại.
Một chữ “Lại”, một chữ “Lục”, đây mới chính là dụng ý thực sự của vế đối kia.
Đến giờ phút này, chàng mới thực sự được chứng kiến sự lão luyện và thâm sâu khó lường của vị Thái hậu nhiếp chính kia.
Bản thủ thư bổ nhiệm này chính là do đích thân Thái hậu chắp bút.
Việc ban hành văn thư tại trung khu Đại Tấn vốn có quy củ minh bạch: Phàm là chiếu mệnh bổ nhiệm, trước hết phải do Bộ Lại khởi xướng, Nội các soạn thảo tờ phiếu nghĩ, sau cùng mới chuyển đến Ty lễ giám để phê hồng. Có như thế mới danh chính ngôn thuận, có thể thông báo khắp bốn bể.
Thế nhưng, nếu văn thư chỉ đóng ấn tín của Nội các và Lục bộ, mà thiếu đi ngọc tỷ của Ty lễ giám, thì chẳng khác nào một tờ giấy lộn vô giá trị.
Tương tự như vậy, nếu thủ thư của Thái hậu hay Hoàng đế chỉ đóng ngọc tỷ mà thiếu đi con dấu của Nội các, thì sẽ bị gọi là Trung chỉ. Trung chỉ tuy vẫn có hiệu lực thi hành, song lại danh không chính, ngôn không thuận, chỉ chuốc lấy sự chê cười của cả triều dã mà thôi. Hộ bộ Thượng thư đương triều là Viên Nguyệt Sanh, chính là người được Thái hậu bổ nhiệm bằng Trung chỉ năm xưa; ông ta đã phải chịu sự mỉa mai của thiên hạ suốt ba năm ròng rã, mới có được tờ phiếu nghĩ của Nội các để hợp thức hóa. Cho đến tận bây giờ, danh tiếng của Viên Nguyệt Sanh vẫn không mấy tốt đẹp, chẳng được giới sĩ lâm trọng vọng.
Mà ngày hôm nay, Thái hậu cũng trao cho chàng một phong thủ thư y hệt như thế.
Dẫu cho Nội các có đóng dấu, thì việc Lục Thừa Tự chàng từ bỏ Thánh thượng để chuyển sang đầu quân dưới trướng Thái hậu, chẳng khác nào hạng tiểu nhân hai lòng, khiến cả triều dã khinh bỉ.
Nếu như Nội các không đóng dấu, chàng cầm tờ Trung chỉ ấy đi nhậm chức, lại càng bị thiên hạ cười chê, thanh danh gây dựng bấy lâu ắt sẽ tan thành mây khói trong phút chốc.
Chàng đương nhiên có thể mặc kệ tất cả, cầm hai bản tấu chương này quay trở lại Nội các.
Thế nhưng, nếu làm vậy, quốc sách về binh mã sẽ chẳng thể thực thi, tướng sĩ nơi biên thùy khốn khổ vì thiếu lương thảo ắt sẽ liên tiếp bại lui, tới lúc đó quốc gia chẳng còn ra thể thống quốc gia nữa.
Thiết nghĩ, Ty lễ giám Chưởng ấn Lưu Xuân Kỳ sớm đã nhận được chiếu lệnh, hẳn là đang đợi chàng ở đó. Chỉ cần lúc này chàng rẽ bước vào cửa của Ty lễ giám, trao bản tấu cho họ Lưu, thì ngay cuối năm nay, quốc sách binh mã có thể ban hành khắp toàn quốc, đại thế năm sau ắt sẽ định đoạt.
Thái hậu ra chiêu này, quả thực đã chiếu tướng chàng một ván!
Gừng càng già càng cay.
Ánh thu sáng rực từng đợt, từng đợt hắt thẳng vào mặt, thế nhưng sống lưng của Lục Thừa Tự lại râm ran một luồng hàn khí lạnh lẽo chưa từng có.
Phía trước, tấm biển hiệu của Ty lễ giám đã hiện ra trong tầm mắt.
Bên cạnh chàng, hai tên tiểu nội thị đang chực chờ giám sát, ép buộc chàng phải tiến về phía phòng trực của Ty lễ giám.
Thái hậu không trao cho chàng bản tấu đã phê sẵn, mà lại hạ lệnh bắt chàng đích thân đến Ty lễ giám để làm thủ tục ký áp. Mục đích của Người chính là muốn ép chàng phải phản bội Hoàng đế, làm một tấm gương “quay lưng” cho thiên hạ nhìn vào.
Một khi chàng cúi đầu quy thuận, có thể tưởng tượng được sĩ khí của Đế đảng ắt sẽ tan rã, chẳng thể gượng dậy nổi.
Lục Thừa Tự nắm chặt hai bản tấu chương gai góc trong tay, ánh mắt dần trở nên u ám.