Hầu Môn – Chương 39 – 40

Chương 39

“Hiện giờ Tứ Phương Quán đã bị Cẩm Y Vệ phong tỏa, trước khi tìm được Song Thương Liên Hoa thì không cho phép bất kỳ sứ thần nào ra ngoài. Ta không dám hành động khinh suất, dự định chờ hoãn lại hai ngày. Ta đoán rằng A Nhĩ Nạp nhất định sẽ nghĩ cách phá giải phong tỏa, đến lúc đó ta sẽ liên lạc với hắn để chốt hẳn việc này.”

Hằng vương thấy Tiêu Trấn tỏ ra rất tự tin thì không bàn luận gì thêm nữa, chỉ nói: “Làm nhạc phụ vất vả rồi.”

Thấy thời gian không còn sớm, Hằng vương không dám ở lại lâu. Sau khi trò chuyện thêm vài câu chuyện gia đình, hắn liền đứng dậy cáo từ. Tiêu Trấn tiễn hắn ra đến trước cửa. Đợi khi xe ngựa của Hằng vương đi xa, ông ta ngẩng đầu nhìn lên bầu trời, tuyết rơi lả tả bao trùm khắp đất trời tựa như một tấm lưới giăng kín, nhốt tất cả mọi người ở bên trong. Quả là một trận tuyết đẹp để làm nền cảnh. Ông ta cười lớn một tiếng, đến cả chiếc ô do hạ nhân đưa tới cũng không nhận, sải bước vào trong tuyết rồi quay về phòng.

Trận tuyết này đến rất nhanh, chẳng bao lâu sau bậc thềm trước điện đã phủ lên một lớp mỏng long lanh.

Minh Di đã bị cơn ho đánh thức đến ba lần.

Cứ đến ngày đầu kỳ kinh nguyệt, thân thể của nàng lại không được dễ chịu cho lắm.

Thanh Hòa túc trực bên giường, nhìn dáng vẻ suy nhược của nàng mà lòng đau như cắt. Nàng ấy đã cho Minh Di uống thuốc, lại đích thân dùng tay xoa bóp để đẩy gân thông mạch, phải một lúc lâu người mới dần hồi lại.

Minh Di nép trong chăn, tựa vào gối ôm, thấy vành mắt Thanh Hòa đỏ hoe thì không nhịn được bật cười, nàng nói: “Khóc cái gì vậy?”

Thanh Hòa quay mặt đi rồi kéo chăn đắp lại cho nàng, nàng ấy đáp: “Em không khóc. Người vẫn nên tĩnh dưỡng thân thể cho tốt đi, rượu đó có thể không uống thì đừng uống nữa.”

Minh Di ngạc nhiên: “Ngươi biết ta đang uống rượu sao?”

Thanh Hòa tức tối nói: “Đừng tưởng em không biết người lén trốn trong phòng cô gia uống rượu. Cô gia cũng thật là, một người nghiêm chỉnh đàng hoàng như vậy, ngày thường coi trọng quy củ nhất, thế mà lại dung túng cho người làm càn.”

Minh Di bật cười thành tiếng, nụ cười ấy khiến tâm trạng của nàng ấy cũng thoáng đãng hơn nhiều: “Mỗi tháng uống năm lần, không nhiều không ít.”

Thanh Hòa chẳng buồn để ý đến câu ấy của nàng, chỉ hậm hực nói: “Em đã đến Tứ Phương Quán rồi. Lần này Hoàng đế thực sự đã hạ quyết tâm, ba tầng trong ba tầng ngoài vây Tứ Phương Quán kín không một kẽ hở, đến một con muỗi cũng không bay lọt. Người cứ yên tâm đi, Tiêu Trấn tạm thời chưa dám ra tay đâu.”

Minh Di nghe vậy thì mí mắt mới dần dần sụp xuống, nàng tựa vào gối ôm rồi thiếp đi.

Không biết đã ngủ bao lâu, nửa đêm nàng mơ mơ màng màng cảm thấy lạnh, liền với tay tìm Thanh Hòa: “Thanh Hòa, qua đây cho ta ôm…”

Trong bóng tối, thân ảnh kia khựng lại một thoáng, sau đó đưa hai tay ra kéo cả người nàng vào lòng.

Minh Di nhận ra có gì đó không ổn, nàng mơ hồ mở mắt ra, còn chưa kịp nhìn rõ thì đã bị chàng giữ chặt trong ngực.

“Sao người nàng lại lạnh thế này?”

Hôm nay Bùi Việt vốn không có thời gian về phủ, nhưng nghe trong phủ sai người truyền tin nói Minh Di không khỏe, nên nửa đêm chàng vội vã quay về. Vừa về đến nơi đã thấy nàng lẩm bẩm trong miệng đòi Thanh Hòa ôm.

Thật là không ra thể thống gì.

Bùi Việt ôm người vào lòng, tiện tay kéo cả đôi chân nhỏ lạnh buốt của nàng qua, kẹp giữa bắp chân mình.

Minh Di không nói gì, chỉ lặng lẽ tựa vào người hắn để sưởi ấm.

Bùi Việt nằm cùng nàng cho yên ổn, xác nhận thân thể nàng dần dần có hơi ấm rồi mới hỏi với giọng chất vấn: “Lúc ta không ở trong phủ, nàng liền ngủ cùng Thanh Hòa sao?”

Minh Di nghe ra trong giọng chàng có chút không vui, nhưng không hiểu vì sao chàng lại không vui: “Có lúc sẽ như vậy.”

“Vì sao?”

“Gia chủ không ở nhà, thiếp cần một thân thể để sưởi ấm.”

Bùi Việt trầm mặc một thoáng, giọng nhạt đi: “Ta không thích trên giường tân hôn có mùi của người khác.” Chàng đặc biệt nhạy cảm với mùi hương.

Sợ Minh Di không vui, chàng lại nói thêm: “Sau này ta sẽ cố gắng về phủ ở cùng nàng.”

Minh Di chỉ cho rằng chàng mắc chứng ưa sạch sẽ nên không thích người khác chạm vào giường của mình, liền nói: “Được, thiếp biết rồi. Chỉ là trước khi vào kinh, thiếp và Thanh Hòa vẫn luôn ngủ như vậy nên thành thói quen thôi.” Những ngày đầu mới từ Túc Châu lui về, ban đêm nàng dễ phát bệnh nên cần Thanh Hòa ở bên chăm sóc.

Lần này đến lượt Bùi Việt cạn lời: “Nàng lớn từng này rồi mà còn cần người bầu bạn ngủ sao?”

Minh Di không biết giải thích với chàng thế nào, dứt khoát vòng tay ôm lấy cổ chàng rồi rúc vào trong ngực chàng. Cọ tới cọ lui, lại vô tình khơi lên một tầng lửa khác nơi Bùi Việt.

“Đừng…” Chàng chống trán vào trán nàng.

Không rúc được vào ngực chàng, nàng lại cọ cọ vào lòng bàn tay chàng.

Không ngờ rằng, khi Minh Di làm nũng lại đáng yêu đến vậy.

Thần sắc của Bùi Việt dịu xuống, chàng ghé sát vào tai nàng rồi thấp giọng nói: “Làm nũng cũng vô ích, ta sẽ không cho phép nàng ngủ cùng người khác, Thanh Hòa cũng không được.”

Minh Di thật sự bó tay với chàng.

Hai chữ “làm nũng” khiến vành tai nàng hơi nóng lên, nàng làm nũng khi nào chứ?

Chàng đúng là tự tô đẹp cho bản thân mình mà.

Nhưng nói đi cũng phải nói lại, có một cái “lò sưởi hình người” như chàng ở bên cạnh nên ban đêm nàng ngủ dễ chịu hơn hẳn. Chuyện ngủ riêng hay không, chi bằng cứ tạm hoãn thêm chút nữa, đợi qua mùa đông, sang xuân năm sau rồi hãy tính.

Sáng hôm sau tỉnh dậy, bên ngoài tuyết lớn phủ kín, tường viện và ngọn cây đều kết một lớp băng cát dày, khiến trời trông cũng sáng sủa hơn mấy phần. Bùi Việt dậy muộn hơn thường lệ vài khắc, Minh Di vẫn còn ngủ, chàng nhẹ nhàng thu dọn đâu ra đấy mà không gây ra bất kỳ tiếng động nào.

Đi đến dưới hành lang, chàng liếc thấy Thanh Hòa đang chơi tuyết trong sân.

Trông dáng vẻ như đang đắp người tuyết.

Đúng là trẻ con.

Quả nhiên, chủ nhân thế nào thì nha hoàn theo hầu cũng thế ấy.

Bùi Việt khép chặt áo choàng, men theo hành lang có tay vịn đi ra ngoài, dừng lại ở chỗ gần nàng ấy nhất rồi gọi một tiếng: “Thanh Hòa.”

Tuyết đã ngừng rơi, bốn phía không khí trong trẻo, ngay cả gương mặt của Thanh Hòa cũng như được ánh lên trắng hơn mấy phần. Trời còn chưa hửng sáng, kỳ thực cũng chẳng nhìn rõ nhau lắm. Thanh Hòa nghe tiếng gọi thì xoay người bước mấy bước tới dưới bậc thềm, chắp tay cúi chào người đứng trên hành lang là Bùi Việt: “Cô gia.”

“Lúc ta không ở nhà, ban đêm ngươi ở lại trông nom rồi ngủ cùng cô nương nhà ngươi à?”

“Đương nhiên là vậy.”

Bùi Việt nghe giọng điệu đương nhiên ấy, thì hơi thở khẽ chùng xuống: “Thanh Hòa, tuy các ngươi tình như tỷ muội, nhưng những quy củ cần giữ vẫn phải giữ. Ban đêm đừng lên giường của nàng nữa.”

Thanh Hòa trừng mắt.

Giường của cô nương nàng ấy đã leo lên không biết bao nhiêu lần rồi, cô gia không ở nhà, nàng ấy ngủ cùng cô nương thì có gì mà không được?

Thanh Hòa cũng chẳng mấy muốn tranh luận chuyện này với ngài ấy, trái lại còn hỏi vặn lại: “Cô gia, ngài bảo ta giữ quy củ, thế còn bản thân ngài thì sao?”

Sắc mặt Bùi Việt hơi cứng lại, có lẽ cả đời này chàng chưa từng bị ai nói với mình như vậy, nhất thời còn chưa quen: “Ý ngươi là gì?”

Từ lục bộ trên triều cho đến đám gia nhân nhà họ Bùi, không một ai dám cãi lại chàng.

Không ai cả.

Thanh Hòa bực bội nói: “Cô gia lén lút dung túng cho cô nương uống rượu.”

Nàng cố ý nhấn thật nặng hai chữ lén lút.

Bùi Việt không nói nữa. Sự xấu hổ khi bị một nha hoàn chất vấn cùng với nỗi hối hận vì bao lâu nay vẫn nhượng bộ để Minh Di uống rượu đan xen trong lồng ngực chàng.

Không nên như vậy, lẽ ra chàng phải cùng Thanh Hòa đồng lòng mới đúng.

Nhưng sự thật là, chàng lại chọn cách biện bạch cho mình: “Nếu ta không cho nàng uống rượu, nàng sẽ lén ra ngoài uống cùng người khác, chẳng phải sao?”

Thanh Hòa không còn lời nào để nói.

Tính nết của sư phụ nàng ấy vốn là như vậy.

Năm đó ngay cả Hầu gia cũng chẳng quản nổi nàng, nay Bùi Việt muốn quản, e rằng cũng không dễ gì.

Bùi Việt thấy Thanh Hòa đã yếu thế, lập tức phản công: “Ngươi chẳng phải cũng không làm gì được nàng sao?”

Thanh Hòa dù sao cũng còn trẻ, sao đấu lại được lão hồ ly, khí thế lập tức giảm đi hơn phân nửa, nàng ấy tức tối nói: “Cô nương đúng là quỷ rượu đầu đầu thai, chẳng chịu để ai quản cả.”

Bùi Việt thong thả nói: “Còn phải xem quản thế nào. Ví dụ với người như nàng ấy thì chặn không bằng dẫn.”

Chàng tìm được lý do để biện hộ cho việc mình dung túng Minh Di uống rượu.

“Chặn không bằng dẫn?”

“Ít nhất là uống dưới mí mắt ta, uống bao nhiêu, uống loại rượu gì ta đều quản được, còn hơn để nàng ấy ra ngoài uống bừa.”

Thanh Hòa gãi gãi đầu, nghe ra hình như cũng có đôi chút đạo lý.

Chỉ là: “Ta quản cô nương thì cả năm người không uống giọt nào, vào phủ này rồi, mỗi tháng lại có thể uống đến năm lần. Này, này, cô gia, ngài đừng đi chứ…”

Ngày hôm đó tỉnh dậy, Minh Di đã khá hơn nhiều, chỉ là vì bên ngoài quá lạnh nên ma ma không cho nàng ra khỏi phòng. Nàng liền nằm trên giường sưởi, cách song cửa nhìn tuyết rơi. Thanh Hòa dẫn theo hai tiểu nha hoàn ở ngoài sân đắp người tuyết, cảnh tượng ấy khiến nàng nhớ đến Túc Châu.

Khi ấy, có những binh sĩ không thể về nhà, liền nặn người tuyết thành dáng vẻ của con cái trong nhà để vơi bớt nỗi nhớ.

Dĩ nhiên, trong lòng nhiều người lại nhớ đến thê tử hơn, chỉ là ngượng ngùng nên không tiện đắp ra thôi.

Siêu ca nhi hỏi nàng: “Vậy sao ngươi không đắp? Ở kinh thành này không có người mà ngươi nhớ sao?”

Nàng khoanh tay cười một tiếng. Cha ở ngay bên cạnh nên không cần phải nhớ mong, mối vướng bận duy nhất nơi kinh thành chỉ có tổ mẫu. Thế là nàng đắp giữa một đôi trẻ con một người tuyết hình tổ mẫu. Đáng tiếc tay nghề không tốt nên nặn ra một hình thù chẳng ra sao, cuối cùng bị cha cầm chổi đuổi đánh cho chạy vòng vòng.

Phía sau, đám tướng sĩ đều ồn ào hò reo: “Lý Hầu, trong quân doanh chỉ có vài cây chổi thôi, đừng đánh hỏng chổi! Ta có cây thương này, ngài cầm thương mà đánh!”

“Ngươi đừng có xúi dại, ta sợ Lý Hầu thật sự cầm trường thương, đến lúc đó người bị đánh lại là chính lão nhân gia ngươi ấy…”

“Ngươi đúng là…”

Tiếng cười rộ lên vang dội cả một khoảng trời, Minh Di nghĩ lại, đến bản thân nàng cũng bật cười theo.

Phó ma ma bước vào, thấy nàng một mình ngồi cười ngây ngô, ánh mắt của bà ấy lập tức đong đầy thương yêu: “Thiếu phu nhân cười gì thế? Nào, mau uống bát sâm thang bổ khí huyết này đi…”

Ở nhà họ Bùi quả thực tốt hơn ở Đàm Châu rất nhiều. Mẹ chồng cứ dăm ba bữa lại bồi bổ cho nàng, khiến thân thể cũng rắn rỏi hơn hẳn.

Tối đến, Bùi Việt về sớm hơn hôm qua, cam chịu làm nhiệm vụ sưởi ấm giường cho nàng.

Chỉ là rạng sáng chàng cũng dậy rất sớm, trời còn chưa sáng hẳn mà đã rời đi. Hôm qua Minh Di ngủ sớm, lúc chàng xuống giường thì nàng cũng tỉnh theo. Thấy trời vẫn hơi tối, nàng liền nằm nấn ná thêm một lát. Chưa đến thời gian một chung trà, Phó ma ma đã vội vã từ bên ngoài chạy vào: “Thiếu phu nhân, đại cô nương đã trở về, nói là muốn gặp người.”

Minh Di giật mình, ngồi bật dậy: “Sao về sớm vậy?”

Phó ma ma cũng nhận ra có điều chẳng lành, vội giúp nàng treo rèm giường: “Đúng vậy, lão nô cũng thấy rất kỳ lạ. Đại cô nương đi vào từ cửa góc, bị đệ đệ của Thẩm Kỳ là Thẩm Hoan trông thấy. Đại cô nương nói muốn gặp người, dặn không được nói cho bất kỳ ai biết. Thẩm Hoan dẫn người vào báo cho lão nô hay, lão nô đã sắp xếp cho đại cô nương nghỉ tạm ở gian nhà phía tây. Không chỉ có đại cô nương tự mình quay về, mà còn mang theo cả tiểu thư nữa. Sắc mặt của nàng ấy trông rất không ổn, tay thì cứ run mãi không ngừng.”

Sắc mặt Minh Di trở nên vô cùng khó coi, nàng chỉ cho rằng nhà họ Trần lại làm chuyện gì đó ức hiếp đến tỷ ấy, liền không nói hai lời mà lập tức xuống giường rửa mặt chải đầu: “Nhanh, mau mời người vào đây.”

Một lát sau Minh Di ăn mặc chỉnh tề bước ra, liền thấy Bùi Y Lam được dẫn vào gian phòng phía Đông, ngồi gò bó trên chiếc ghế tựa tròn. Thần sắc nàng ấy nửa thì uể oải, nửa thì hoảng sợ. Vừa trông thấy Minh Di từ sau bình phong đi ra, nàng ấy như vớ được cọng rơm cứu mạng, vội bước lên túm chặt lấy nàng: “Minh Di, mau cứu… cứu ta và con ta…”

Minh Di lại hỏi: “Đứa trẻ đâu?”

Nàng không thấy nàng ấy dắt theo đứa trẻ vào.

Bùi Y Lam hất cằm ra ngoài: “Ma ma đã đưa con bé sang gian phòng phía Tây dùng bữa sáng rồi.”

Minh Di yên tâm gật đầu, trước tiên mời nàng ấy ngồi xuống rồi rót cho nàng ấy một chén trà: “Tỷ đừng vội, có gì cứ từ từ nói.”

Bùi Y Lam cầm chén trà mà chẳng kịp uống, bàn tay vì lạnh mà cứng đờ trắng bệch, vẫn đang run lên dữ dội: “Minh Di, xảy ra chuyện rồi…”

“Xảy ra chuyện gì?” Minh Di bình tĩnh hỏi.

“Khuya hôm qua, đứa bé bị đau bụng quấy khóc, ta bất đắc dĩ định đi tìm Trần Khang Đình, nhờ hắn mời đại phu đến. Ai ngờ lại biết được hắn đã uống say nên ngủ lại trong thư phòng. Ta liền vòng sang thư phòng, nào ngờ lại bắt gặp mẫu thân hắn đang nói chuyện với hắn. Khi đó ngoài hành lang không có lấy một hạ nhân, ta thấy kỳ lạ nên ghé lại gần nghe thử…”

Bùi Y Lam run giọng kể ra chuyện Trần Tuyền lén bán quân khí: “Minh Di, ta đã nói rồi mà, sao nhà họ Trần đột nhiên có thể lấy ra nhiều bạc như vậy để chu cấp cho ta, hóa ra là đã đi vào con đường tà đạo. Ông ta làm sao có thể to gan đến mức này, lại dám làm ra chuyện đại nghịch bất đạo như thế. Vụ án đảo Quỳnh Hoa, cả thành đều biết, lần này chúng ta e là không thoát được rồi phải không? Minh Di, ta và con ta còn có đường sống không?”

Minh Di tính đi tính lại, cũng không ngờ Tiêu Trấn lại lôi cả Trần Tuyền vào trong ván cờ này.

Bùi Y Lam tuyệt vọng nhắm mắt lại, nước mắt tuôn rơi lã chã: “Ta sợ đến mức cả đêm không chợp mắt nổi, lại lo bị người nhà họ Trần phát hiện nên đành nén lại, rồi lặng lẽ quay về phòng khóc suốt một đêm. Đến rạng sáng giờ Mão, ta mới lén ôm đứa bé ra cửa góc, chỉ nói là con bị bệnh phải đi khám, rồi vội vã chạy thẳng đến Bùi phủ. Chuyện này ta không dám nói với bất kỳ ai. Minh Di, muội giúp ta nghĩ cách đi, ta phải làm sao bây giờ?”

Minh Di hiểu quá rõ những mối liên quan trong đó. Một khi chuyện này bị phanh phui, nhà họ Trần chắc chắn sẽ rơi vào kết cục bị tịch thu gia sản, tru di cả nhà, còn Bùi Y Lam và đứa trẻ, kết cục tốt nhất cũng chỉ là bị sung vào cung làm nô tỳ.

Minh Di nắm chặt lấy tay nàng ấy, nhìn thẳng vào mắt nàng ấy rồi nói: “Tỷ có muốn liều mình giành lấy một con đường sống không?”

“Đương nhiên là muốn. Minh Di, muội nói cho ta biết phải làm thế nào?” Nàng ấy đặt chén trà xuống, rồi xoay tay lại nắm chặt lấy tay của Minh Di.

Minh Di nghiêm giọng nói: “Ngay bây giờ, lập tức, tỷ đến dưới Chính Dương môn, đánh trống Đăng Văn, tố cáo cha chồng của tỷ tội lén bán quân khí biển thủ tiền tài. Tỷ là người đầu tiên đứng ra tố giác, có công tố cáo, biết đâu còn có thể được miễn trừ liên lụy.”

Bùi Y Lam nghe xong suýt nữa thì ngất xỉu, lập tức lắc đầu: “Sao có thể được? Chuyện như vậy sao ta có thể phơi bày ra ngoài? Dù gì đó cũng là cha chồng của ta, là tổ phụ của con ta. Nói ra rồi, sau này ta sẽ bị người đời chỉ trỏ và bàn tán sau lưng mất thôi.”

Minh Di cười lạnh: “Đợi đến lúc tỷ và con gái bị ông ta liên lụy, bị tống vào ngục làm nô lệ, tỷ còn coi ông ta là cha chồng sao? Tỷ còn bận tâm đến chuyện người đời chỉ trò và bàn tán sau lưng sao? Huống chi, việc này gọi là vì đại nghĩa diệt thân, đây chính là con đường sống duy nhất của tỷ đấy.”

Bùi Y Lam ngây người nhìn nàng, rất lâu không thốt ra lời.

Chỉ có nước mắt từng đợt từng đợt rơi xuống, tuyệt vọng đến cùng cực.

Những cô nương trong khuê phòng không thể sánh với nữ tử giang hồ, cả đời bị tam cương ngũ thường trói buộc, trong chốc lát khó mà xoay chuyển được suy nghĩ.

Thấy vậy, Minh Di lại nói: “Người tự giúp mình thì trời sẽ giúp; người tự đứng vững, người đời mới nâng đỡ. Con đường ở dưới chân tỷ, lựa chọn thế nào là do chính tỷ.”

Nói xong, nàng buông tay nàng ấy ra mà không nói thêm lời nào nữa.

Bùi Y Lam theo bản năng nắm lại, nhưng chỉ nắm vào khoảng không, trong lòng cũng theo đó mà trở nên trống rỗng và mờ mịt.

Đúng vậy, đây là con đường sống duy nhất rồi, dù thế nào cũng phải liều một phen.

Nàng ấy siết chặt nắm tay lại như tự cổ vũ chính mình: “Ta đi, ta đi ngay bây giờ.”

Minh Di thấy nàng ấy đã hạ quyết tâm, liền mỉm cười: “Tốt lắm. Đứa nhỏ cứ để lại ở Bùi phủ đi, tỷ cứ yên tâm mà tiến về phía trước. Ta biết bước chân này không dễ dàng, nhưng một khi đã vượt qua rồi thì phía trước sẽ là cả một con đường bằng phẳng…”

Bùi Y Lam nhìn nàng không chớp mắt, rưng rưng nước mắt gật đầu, nhưng chợt nhớ tới lời Minh Di dặn dò nên vội vàng đưa tay lau nước mắt: “Ta không khóc, ta không khóc.”

Minh Di bật cười rồi lau vết lệ giúp nàng ấy: “Ngày thường thì không nên khóc, nhưng lát nữa đến trước cửa Chính Dương thì phải khóc, không những phải khóc mà còn phải khóc cho long trời lở đất.”

“Vì sao?”

Minh Di lại đưa chén trà cho nàng ấy: “Chuyện đời không thể cứ cứng nhắc một mực. Lúc cần mạnh mẽ thì phải mạnh mẽ, nhưng có những lúc cũng phải học cách tỏ ra yếu mềm. Tỷ phải khiến đám quan viên kia hiểu được rằng, tỷ đã ôm trong lòng nỗi giày vò và đau đớn thế nào mới dám đánh trống Đăng Văn này.”

“À phải rồi, tỷ có mang trên mình cáo mệnh không?”

Luật pháp Đại Tấn có quy định rõ ràng, không được vượt cấp tố tụng, nếu không sẽ bị đánh trượng.

Với tình huống như của Bùi Y Lam, theo lẽ thường phải đến nha môn Kinh Triệu phủ báo án trước, sau đó lên Hình bộ, cuối cùng mới tới Tam Pháp Ty, thậm chí là ngự tiền.

Còn việc đánh trống Đăng Văn để cáo ngự trạng thì nhất định sẽ bị đánh đòn.

Nhưng nếu mặc cáo mệnh thì có thể được miễn hình phạt.

“Ta có, chỉ là y phục để ở trong phủ, không mang theo ra đây. Lúc này quay về lấy, lỡ bị phát hiện thì phải làm sao?”

“Tỷ chỉ cần nói cho ta biết đặt ở chỗ nào, ta sẽ bảo Thanh Hòa đi lấy, cam đoan thần không hay quỷ không biết.”

Nghe vậy, trong lòng Bùi Y Lam sáng tỏ hơn hẳn. Nàng ấy biết ngay rằng tìm đến Minh Di thì lúc nào cũng có cách. Nàng ấy lập tức đưa chìa khóa cho Minh Di rồi nói rõ vị trí cất đồ. Thanh Hòa giẫm lên ánh sớm mờ nhạt, nhanh như chớp chạy thẳng về Trần phủ.

Bên này, Bùi Y Lam lại rửa mặt một lần nữa, chỉnh trang lại dung nhan, trước tiên sang gian phòng phía Tây thăm con gái, dỗ dành đứa trẻ năm tuổi nghe lời ma ma. Sau đó nàng ấy mới dứt khoát quay đầu rời đi.

Phó ma ma tiễn nàng ấy ra đến cửa, vẫn chưa yên tâm liền hỏi: “Có cần sai người theo cùng không?”

Minh Di nói: “Không cần. Không thể để nhà họ Bùi dính líu vào chuyện này, chỉ có thể để một mình tỷ ấy đứng ra cáo trạng.”

Nói xong, Minh Di quay trở lại phòng rồi dặn Phó ma ma lặng lẽ đưa đứa trẻ sang chỗ Tuân thị. Nàng ăn một chút điểm tâm sáng sau đó cũng ra ngoài.

Lúc này đã là mùng bảy tháng Chạp, ngày mai chính là tiết Lạp Bát. Người xưa có câu: qua Lạp Bát là sang năm mới. Trời vừa hửng sáng, trên phố đã đông đúc tấp nập, xe ngựa qua lại không ngớt, khắp nơi đều là dân chúng đi sắm sửa hàng Tết.

Đường phố đã được binh lính của Binh Mã Ty quét dọn sạch sẽ từ hai ngày trước. Bây giờ tuy trên mái hiên vẫn còn phủ một lớp tuyết trắng xóa chưa tan, nhưng mặt đất thì đã khô ráo, sạch sẽ.

Minh Di cưỡi ngựa đến gần Chính Dương Môn.

Thanh Hòa trộm mang y phục đến thẳng đây, ở trong xe ngựa giúp Bùi Y Lam thay vào. Sau đó, cô nương gầy gò ấy đội trên đầu bộ trang sức nặng trĩu, từng bước từng bước tiến về phía trống Đăng Văn dưới chân tường cung.

Bên kia con đường đối diện, dưới chân tường cung đã đỗ đầy những cỗ xe ngựa hoa lệ. Các vị đại nhân mặc đủ loại quan phục lần lượt xuống xe, ai nấy cũng đang dụi mắt như còn chưa tỉnh ngủ rồi uể oải bước vào trong cổng cung. Cho đến khi bên cạnh đột nhiên vang lên một tiếng đùng thật lớn của trống, đánh tan cơn buồn ngủ của họ, khiến tất cả đều quay đầu nhìn sang phía bên này.

Chỉ thấy một phụ nhân mặc triều phục cáo mệnh ngũ phẩm, vung cao dùi trống nặng trịch, hết lần này đến lần khác nện mạnh xuống mặt trống.

“Thần phụ Bùi Y Lam… tố cáo Phó giám Quân Khí Giám Trần Tuyền lén bán quân khí, thu lợi vào túi riêng, làm trái pháp luật…”

Mỗi khi thốt ra một chữ, nước mắt nàng lại lăn dài thành dòng. Dáng người nàng mong manh yếu ớt như lá mùa thu, gió khẽ thổi qua cũng có thể cuốn đi mất. Đến khi tiếng trống cuối cùng dứt hẳn, người cũng khóc đến mức ngất lịm trên sàn, nằm đó không dậy nổi.

Dưới chân trống Đăng Văn có đặt một nha môn nhỏ trực ban, nằm sát bên tường thành dưới chân lầu Chính Dương Môn, được xây thành hai gian phòng. Mỗi ngày đều có một Tuần án Ngự sử thất phẩm của Đô Sát Viện trực tại đây để lắng nghe và tiếp nhận các đơn từ kiện tụng oan khiên.

Hôm nay vị ngự sử này vừa mới từ Đô Sát Viện điểm danh xong đi ra, mũ quan còn chưa đội cho ngay ngắn, vừa nghe thấy tiếng trống vang lên lập tức giật mình kinh hãi.

Bởi trống Đăng Văn không phải chỗ tầm thường, một hai năm cũng hiếm khi vang lên một lần, nhưng một khi đã vang thì thiên hạ đều hay biết.

Minh Di nhìn vị ngự sử dìu Bùi Y Lam vào trong, nàng lập tức xoay người rồi vội vã rẽ sang một hướng khác.

Hôm nay Trần Tuyền ra khỏi nhà từ rất sớm. Đêm qua thê tử khóc suốt một đêm khiến lòng dạ của ông ta bất an. Thêm vào đó, mấy ngày nay phía Đại Lý Tự vẫn chưa có tin tức gì, trên đầu như treo lơ lửng một lưỡi đao sắc bén khiến ông ta ngủ không yên. Trời còn chưa sáng đã tỉnh dậy. Nghĩ đi nghĩ lại, thay vì ngồi chờ chết ở nhà, chi bằng đến nha môn dò hỏi động tĩnh còn hơn, biết đâu những lưỡi đao trong vụ đảo Quỳnh Hoa kia không phải xuất phát từ tay ông ta, mà là từ nơi khác thì sao.

Ông ta không đến nỗi xui xẻo như vậy đâu, không đến nỗi xui xẻo như thế.

Ông ta chắp tay lẩm nhẩm niệm “A Di Đà Phật”, tùy tiện bái mấy cái, trong lòng cảm thấy yên tâm hơn đôi chút, tinh thần cũng phấn chấn lên phần nào.

Ra lệnh cho phu xe dừng lại, rồi sai tiểu tư đi ra tiệm bánh bao ở cổng thành mua chút đồ ăn lót dạ.

Quân Khí Giám không giống những nha môn khác, không nằm trong thành mà tọa lạc ở phía tây ngoài Tây Biện Môn, vùng ngoại ô phía tây cách thành ba mươi dặm.

Nơi đó dựa núi kề sông, triều đình khoanh riêng một vùng đất, xây dựng thành một tòa thành lũy. Rất nhiều loại vũ khí kiểu mới của Đại Tấn đều được sinh ra từ đó.

Vì vậy, mỗi ngày Trần Tuyền đi làm đều phải đi ngang qua Tây Tiện Môn. Tiệm bánh bao này là từ Thái Nguyên đến, chuyên làm bánh bao nước, rất có tiếng trong khắp kinh thành, đôi khi còn đợi rất lâu mới mua được.

Thấy thời gian còn sớm, Trần Tuyền dứt khoát tựa vào thùng xe nhắm mắt dưỡng thần. Bỗng chốc một luồng gió mạnh quét qua, đến khi ông mở mắt ra thì thấy một kẻ che mặt đã ngồi ngay bên cạnh mình, một lưỡi đoản đao kề sát ngực. Ông ta sợ đến toàn thân run rẩy, miệng lắp bắp nói: “Đại… đại hiệp, có gì từ từ nói…”

Minh Di giơ tay ra hiệu “suỵt” với ông ta, rồi lại chỉ ra bên ngoài ý bảo ông ta giữ im lặng.

Trần Tuyền lập tức nín thở, hai chân run lẩy bẩy, thân người cố sức dựa lùi về sau, tận lực cách xa lưỡi dao kia thêm chút nữa. Ánh mắt ông liếc về phía Minh Di với đầy vẻ kinh hãi: “Đại hiệp có chuyện gì xin cứ…”

Mũi dao của Minh Di chậm rãi nhích lên, ép sát cổ ông ta: “Trần đại nhân, đại họa sắp ập xuống đầu rồi, ngài có biết không?”

Nghe vậy tim Trần Tuyền đập thình thịch, nghi ngờ đối phương vì lô binh khí kia mà đến: “Ngươi là ai…”

Minh Di không đáp, chỉ nói tiếp: “Đại nhân đã rơi vào bẫy của kẻ khác. Có người muốn cấu kết với sứ thần Bắc Yên mưu toan cướp đoạt bảo vật. Đáng tiếc binh khí của quân trú đóng khắp kinh thành đều có sổ sách thống kê, không thể tùy tiện điều ra nhiều vũ khí như vậy. Thế nên bọn họ mới tìm đến ngài, đào sẵn một cái hố rồi đẩy ngài xuống!”

Tim Trần Tuyền chợt thót lên, tinh thần lập tức tỉnh táo hơn phân nửa, ông ta tức giận quát: “Là ai? Là kẻ nào muốn hại ta?!”

“Viễn Sơn hầu Tiêu Trấn.”

Trần Tuyền sững người, hơi thở vừa gắng gượng nhấc lên trong nháy mắt lại tụt xuống. Nghĩ đến Tiêu Trấn quyền thế ngập trời, bóp chết ông ta còn dễ như bóp chết một con kiến, thì trong lòng ông ta càng không có chút hy vọng nào: “Lại là hắn ư? Không đúng, vì sao hắn phải hại ta chứ? Ta với hắn không oán không thù…”

“Ngài quả thật không oán không thù với hắn, nhưng ngài lại thiếu bạc. Chẳng phải vừa hay đụng trúng họng súng của hắn đó sao!”

Trần Tuyền tuyệt vọng nhắm mắt lại. Con người là thế, từ khoảnh khắc nảy sinh ác niệm thì đã định sẵn không còn đường quay đầu rồi.

Thấy mặt mày của ông ta xám như tro tàn, Minh Di lại đổi giọng: “Trần đại nhân, một khắc trước, con dâu của ngài đã đánh trống Đăng Văn, tố cáo ngài tội trộm bán vũ khí…”

Trần Tuyền nghe vậy, một ngụm máu tanh xộc lên cổ họng, lập tức giận đến phát điên: “… Khốn… cái thứ ăn cháo đá bát này…”

Minh Di không muốn nghe ông ta nói nhảm, mũi dao đẩy thẳng về phía trước, hoàn toàn kề sát yết hầu của ông ta, ép ông ta nuốt ngược nửa câu còn lại xuống.

“Ta chỉ hỏi ngài một câu — có muốn sống không?”

Trần Tuyền không dám tin nhìn Minh Di, trong đáy mắt lóe lên tia sáng cầu sinh: “Thế nào? Đại hiệp chịu cứu ta sao?”

“Chẳng bao lâu nữa, binh lính của Đô Sát Viện sẽ đến bắt ngài.”

“Nghe cho kỹ đây. Ngài cứ cắn chặt một mực nói rằng mình không hề hay biết chuyện ở đảo Quỳnh Hoa, là Tiêu Trấn ép buộc ngài trộm quân khí, ngài vì khiếp sợ quyền thế của hắn nên bất đắc dĩ mới làm. Đã hiểu chưa?”

Trần Tuyền nghe vậy suýt nữa thì òa khóc: “Ta còn chưa từng gặp mặt hắn bao giờ thì lấy đâu ra chuyện bị uy hiếp? Ta mà vào Đô Sát Viện, người ta nói chuyện là phải có chứng cứ! Hắn là người có địa vị cao quý, Đô Sát Viện sao có thể chỉ vì ta vu vạ đôi câu mà làm gì được hắn chứ…”

Minh Di mỉm cười hỏi: “Ngài có tin ta không?”

Cổ họng của Trần Tuyền nghẹn lại, ông ta vội vàng đáp: “Tin, tin chứ…”

“Đã tin ta thì cứ làm theo lời ta nói. Ngài chỉ cần cắn chặt một mực rằng Tiêu Trấn có liên quan đến vụ ám sát ở đảo Quỳnh Hoa, rằng ngài bị hắn tính kế. Những chuyện còn lại giao cho ta.”

“Còn về chứng cứ — ngay bây giờ ta sẽ đưa cho ngài…”

Tiếng vó ngựa phía sau dồn dập áp sát, Minh Di đoán được thị vệ của Đô Sát Viện đã đuổi tới bắt Trần Tuyền. Nàng tung một quyền đánh thẳng vào ngực ông ta, sau đó lao vút ra khỏi cửa sổ xe, men theo mái hiên mà bỏ chạy.

Vị ngự sử của Đô Sát Viện tới bắt người trông thấy cảnh ấy, lập tức kinh hãi thốt lên: “Là kẻ bịt mặt!”

Ông ta lập tức giơ tay ra hiệu, đám thị vệ ào lên phía trước vây kín chiếc xe ngựa, sợ có kẻ giết Trần Tuyền để diệt khẩu. Vén rèm lên xem, chỉ thấy Trần Tuyền phun ra một ngụm máu, may mà vẫn còn hơi thở. Ngự sử vội vàng sắp xếp nhân thủ để áp giải ông ta về Đô Sát Viện.

Minh Di mấy lần tung người như chim ưng đen lướt gió, rồi đáp xuống một khu viện bỏ hoang nào đó ở Nam thành. Nàng cởi bỏ bộ hắc y trên người và giao cho Thanh Hà, rồi nhận lấy áo choàng trùm lên mình, tay ôm bụng khẽ rên: “Đau chết ta rồi.”

“Đã bảo để em đi thay, người lại không chịu?” Thanh Hoà vừa nói vừa chỉnh lại hắc y rồi nhét gọn vào túi.

Minh Di không đáp, chỉ ngẩng đầu nhìn về phía chân trời.

Gia chủ, con đường đã trải đến đây rồi, phần còn lại… xin giao lại cho người.

Chương 40

Tiếng trống Đăng Văn vừa vang lên, theo luật lệ, Đô Sát Viện phải tiếp nhận vụ án, đồng thời cùng lúc đó phải bẩm báo lên Thánh thượng.

Ngay lúc này, Hoàng đế đang ngự tại điện Văn Chiêu để xem xét triều chính. Các Các lão trong Nội các cùng vài vị thái giám Bỉnh bút của Tư Lễ Ty ngồi hầu bên cạnh. Những tấu chương quan trọng của các bộ đều được xử lý tại đây. Nếu nghị bàn thống nhất, Nội các và Tư Lễ Ty sẽ lần lượt đóng dấu, tấu chương ngay lập tức được chuyển đến Lục bộ để thi hành, nhờ đó mà hiệu suất xử lý chính vụ cũng rất cao.

Dưới triều tiên đế, việc thị triều gần như bị bãi bỏ, nhiều khi các đại thần chẳng thể diện kiến hoàng đế. Đến thời nay, mỗi tháng bệ hạ cùng lắm chỉ vắng mặt vài ngày, phần lớn thời gian ông ấy đều đích thân tới xem xét, có thể coi là bậc quân vương cần mẫn.

Tranh thủ lúc Hoàng đế đang uống trà, một tiểu nội thị đi vào bẩm báo lại sự việc về tiếng trống Đăng Văn.

Trong điện Văn Chiêu lập tức yên lặng hẳn.

Mấy vị các lão đều biến sắc.

“Là thiếu phu nhân nhà họ Trần ở cạnh phủ Diễn Thánh Công ư?” Vương các lão hỏi.

Tiểu nội thị gật đầu, lén liếc sang phía Bùi Việt một cái rồi bổ sung: “Chính là vị đại cô nương của phủ Bùi các lão…”

Mọi người đều giật mình kinh hãi.

Hoàng đế tựa người trên ghế khoanh, nheo mắt lại hỏi: “Là tố cáo cha chồng nàng ta, Trần Tuyền, lén bán binh khí?”

“Dạ đúng.” Tiểu nội thị đáp: “Nói là năm nghìn lượng ngân phiếu, đổi lấy ba mươi bộ trường đao kèm nỏ.”

Ba mươi bộ?

Con số này chẳng phải vừa khớp với số binh khí mà thích khách trong vụ án đảo Quỳnh Hoa mang theo hay sao?

Sắc mặt Vương Hiển cùng mấy vị các lão khác đều tái xanh, đồng loạt khép những bản tấu trong tay lại, nhất thời không bàn tiếp được nữa.

Chỉ riêng Bùi Việt vẫn bình thản. Chàng chậm rãi đứng dậy tiến ra giữa điện, rồi bái lạy Hoàng đế ngồi phía trên: “Bệ hạ, Trần Tuyền là thông gia với phủ của thần. Theo luật, thần nên tránh đi để đảm bảo tính khách quan. Nếu sự việc lần này thực sự có liên quan đến vụ án đảo Quỳnh Hoa, kính xin bệ hạ lựa chọn người khác chủ trì thẩm lý vụ án này.”

Hoàng đế nghe xong những lời ấy, gương mặt không còn vẻ bình thản nữa. Ông ấy từ từ ngồi thẳng dậy, ném xấp tấu chương trong tay vào lòng Lưu Trân đang đứng bên cạnh, rồi hừ lạnh một tiếng: “Thật là thú vị! Thấy trẫm chọn khanh làm chủ thẩm, ngay lập tức kẻ đó liền đưa tới một vụ án thế này để gạt khanh ra ngoài. Xem ra kẻ này cực kỳ am tường luật pháp triều đình đấy chứ!”

Đây rõ ràng là đang nghi ngờ có người âm thầm giở trò.

Vương Hiển cùng ba vị các lão còn lại cũng lần lượt đứng dậy, cúi đầu không nói một lời.

Trong điện yên tĩnh đến đáng sợ.

Lưu Trân thấy trà đã nguội bớt thì cẩn thận bưng lên dâng trước. Hoàng đế “bốp” một tiếng hất văng chén trà, liếc xéo sang Vương Hiển: “Vương ái khanh, quy củ là như vậy sao?”

Vương Hiển vuốt chòm râu, suy nghĩ giây lát rồi đáp: “Tâu bệ hạ, luật pháp quả thực quy định như thế. Chỉ là người đứng ra tố cáo hôm nay chính là trưởng tỷ của Đông Đình, hành vi này gọi là đại nghĩa diệt thân, vậy thì không tồn tại chuyện bao che hay cần phải tránh hiềm nghi.”

“Lời này có lý.”

Hoàng đế cười lạnh một tiếng rồi nhìn khắp quần thần: “Trẫm ghét nhất là những kẻ lợi dụng kẽ hở của luật pháp, tự cho rằng có thể dắt mũi trẫm. Hắn coi trẫm là thứ gì chứ?” Vốn dĩ hoàng đế không phải người giỏi chiều theo ý người khác.

“Bùi ái khanh, khanh cứ yên tâm, trẫm sẽ ban cho Đô Sát viện một đạo thánh chỉ đặc biệt, để khanh danh chính ngôn thuận thẩm tra vụ án này.”

“Thần tuân chỉ.”

Rời khỏi Văn Chiêu điện, Bùi Việt lập tức đến thẳng Đô Sát viện.

Nghe nói vụ án này rất có khả năng liên quan đến án ở đảo Quỳnh Hoa, Đô Sát viện thủ tọa Tạ Lễ đích thân tiếp kiến Bùi Y Lam, hỏi rõ đầu đuôi sự việc, đồng thời sai người đi bắt Trần Tuyền.

Công đường chủ thẩm của Tam ty hội thẩm được đặt tại Đông sảnh của Đô Sát viện. Khi Tạ Lễ tiến hành thẩm vấn, Bùi Việt ngồi ở phòng văn thư bên cạnh và lặng lẽ lắng nghe.

Bên này, Thiếu khanh Đại Lý Tự dẫn theo mấy vị văn quan đang tra cứu hồ sơ.

Bùi Việt hỏi hắn: “Không phải ngươi đã lấy sổ sách từ Quân Khí Giám về rồi sao? Việc đối chiếu sổ sách của Quân Khí Giám với sổ lĩnh nhận của các nha môn tiến hành đến đâu rồi?”

Thiếu khanh Đại Lý Tự vội vàng ngẩng đầu khỏi chồng văn thư, đáp: “Đang đối chiếu, quả thực đã phát hiện mấy chỗ sai lệch. Ví dụ như Quân Khí Giám báo cáo là ba mươi lăm bộ nỏ, nhưng bên nha môn Binh Mã Ty Đông Thành chỉ ghi vào sổ có ba mươi ba bộ, thiếu mất hai bộ. Hiện giờ vẫn chưa rõ là khâu nào xảy ra vấn đề, chỉ có điều, nếu đã gióng lên trống Đăng Văn, e rằng khả năng sai sót từ phía Quân Khí Giám là lớn hơn.”

Giọng Bùi Việt lạnh nhạt: “Ta không cần suy đoán, ta cần chứng cứ xác thực.”

“Được được được, hạ quan sẽ tiếp tục đối chiếu ngay, nhất định trước giờ Ngọ sẽ hoàn tất.”

Bùi Việt thực sự là một người bận rộn trăm công nghìn việc, trên mình kiêm giữ nhiều chức vụ. Khi chàng vừa đến Đô Sát Viện, các thuộc quan bên Nội các đã đuổi theo tới nơi rồi dâng lên một xấp tấu chương, bên Hộ bộ cũng có vô số văn thư cần ký phát. Đã vào dịp cuối năm, nơi nơi đều cần dùng đến bạc, không thể vì vụ án này mà làm lỡ dở chính sự của thiên hạ, thế nên chàng đành ngồi sang một bên để xử lý công vụ.

Chỉ vẻn vẹn hai khắc sau, Trần Tuyền đã bị giải về Đô Sát Viện.

Bùi Việt tuy có khẩu dụ của Hoàng đế, song vẫn còn đôi phần kiêng dè, nên không trực tiếp đảm nhiệm chức chủ thẩm, mà nhường vị trí đó cho Thiêm Đô Ngự Sử Sào Ngộ, còn bản thân chàng cùng Thiếu khanh Đại Lý Tự ngồi kèm hai bên.

Trần Tuyền vừa được thái y chẩn trị xong, được cho uống vài viên Hộ Tâm Đan nên lúc này ngực đã bớt đau hơn. Thấy Bùi Việt có mặt tại đó, ông ta mấy lần há miệng định nói, vừa ú ớ vừa rơi lệ cầu khẩn. Thế nhưng Bùi Việt chẳng hề đoái hoài, vẫn tiếp tục lật xem tấu chương trong tay, chỉ chuyên tâm ngồi bên cạnh lắng nghe.

Mãi cho đến khi Trần Tuyền khai ra cái tên Tiêu Trấn thì chàng mới ngước mắt nhìn ông ta một cái.

Sào Ngộ không dám tin, lập tức hỏi dồn: “Ông nói cái gì? Là Tiêu Trấn ép ông trộm lấy binh khí?”

Trần Tuyền gật đầu: “… Ngài ấy sai khiến một gã thương nhân người Sơn Tây tên là Chu Tấn đến liên lạc với ta, nhất quyết bắt ta phải tuồn ra cho hắn ba mươi bộ trường đao cùng ba mươi bộ nỏ máy. Ta nhất quyết không chịu, đây chẳng phải trọng tội sao, nên ta đã không đồng ý. Sau đó, tên Chu Tấn kia liền lấy ấn tín của Tiêu Hầu ra cho ta xem, nói rằng nếu ta không đồng ý thì cả nhà sẽ mất mạng. Ta nghĩ bụng, Tiêu Hầu đó là nhạc phụ của Hằng Vương, mà Hằng Vương hiện nay lại đang được Bệ hạ sủng ái vô cùng, ta đâu có gan đắc tội với ngài ấy chứ…”

Ông ta khóc lóc thảm thiết, kêu trời gọi đất: “Ta chỉ đành nghe theo ngài ấy, tìm đủ mọi cách, không để lộ dấu vết mà chia bớt binh khí ra ngoài…”

“Ngươi chia ra bằng cách nào?”

“Bắt đầu từ ngày hai mươi lăm tháng mười một âm lịch, mỗi một bản ghi xuất kho, ta đều khai dư ra một ít. Có người không để ý kỹ liền ký tên và điểm chỉ, có người thì moi ra từ hạn ngạch đồ báo hỏng. Gom góp đủ kiểu, đến đêm mùng Một thì đã xoay ra được ba mươi bộ trường đao và nỏ.”

Sào Ngộ vừa thẩm vấn vừa hỏi tiếp, hai bên có hai viên thư lại ghi chép: “Giao cho ai? Khi nào? Ở đâu? Ai tiếp nhận?”

“Quân Khí Giám mỗi ngày đều có một ít phế sắt đồ báo hỏng chở ra ngoài, trong thành có vài tiệm rèn tới thu mua. Đêm mùng Một, khoảng đầu giờ Hợi, người của Chu Tấn giả làm thợ rèn của tiệm sắt, kéo một chiếc xe ván chờ ở ngoài Quân Khí Giám. Đêm đó chính ta đích thân dẫn người xử lý việc này, giấu ba mươi bộ binh khí vào trong, rồi giao cho bọn họ.”

Lúc này, Thiếu khanh Đại Lý Tự xen vào một câu: “Nếu là bị ép buộc, vì sao bọn họ còn đưa cho ngươi năm nghìn lượng ngân phiếu? Như vậy trông chẳng khác nào tiền trao cháo múc, đâu thấy có ý ép buộc?”

Trần Tuyền ngược lại chẳng hề hoảng loạn, ông ta vẫn bình tĩnh giải thích: “Họ nói đó là tiền trả cho sự vật vả của ta, sau này có khi còn phải tìm đến ta nữa. Ta nào dám nhận, liền đẩy ra từ chối, nhưng đối phương lại nói: đã nhận bạc rồi thì sau này chính là người chung một con thuyền, khỏi lo ta bán đứng bọn họ, còn nếu không nhận thì phải tự cân nhắc cho kỹ…”

Lời này quả thực rất có lý.

Hai vị chủ thẩm đều không thể bác bỏ.

“Ngân phiếu đâu?”

“Ba nghìn lượng dùng để bù lại của hồi môn cho con dâu ta, phần còn lại đưa cho phu nhân ta… bản thân chỉ giữ lại năm trăm lượng…”

Lúc này, Sào Ngộ nghiêng người nói khẽ với Bùi Việt: “Ba ngàn lượng ngân phiếu kia vừa rồi người đứng đơn tố cáo là Bùi đại tiểu thư đã giao ra, hạ quan đã xem qua, là ngân phiếu của tiền trang Tấn Tây. Hạ quan đã sai người đến tiền trang Tấn Tây để tra tìm cuống phiếu… Ngoài ra cũng đã sắp xếp người đi truy bắt Chu Tấn, nhưng theo tin tức vừa truyền về thì tình hình không mấy khả quan, có lẽ hắn đã rời khỏi kinh thành rồi…”

Lại hỏi thêm vài chi tiết, đối chiếu với sổ sách đều khớp, đủ thấy việc Bùi Ý Lam tố cáo là đúng sự thật.

Sào Ngộ ra lệnh cho thị vệ áp giải Trần Tuyền đi, rồi nhường lại ghế chủ thẩm cho Bùi Việt. Hai người cùng nhìn về phía chàng rồi hỏi: “Bùi đại nhân, tiếp theo vụ án này nên xét xử thế nào?”

Bùi Việt thờ ơ lật xem tấu chương trong tay, hỏi ngược lại: “Vừa rồi Trần Tuyền đã vu cáo và cắn sang Tiêu Trấn, theo luật thì nên xử thế nào?”

Sắc mặt của Sào Ngộ trở nên trầm trọng, nói: “Phải truyền gọi Tiêu Trấn!”

“Không được!” Đại lý tự thiếu khanh Liễu Như Minh giật mình thốt lên: “Trần Tuyền trực tiếp tiếp xúc với Chu Tấn, không có thực chứng chứng minh Tiêu hầu có tham dự trong đó, khả năng ông ta cắn bậy là rất lớn, chúng ta phải xử lý thận trọng.”

Sào Ngộ từng trải qua vụ án hành cung bị trộm, đối với việc nhà họ Tiêu có dính líu hay không vốn đã có phần nghi ngờ.

“Ta lại thấy khả năng này rất lớn, nếu không thì cho Trần Tuyền mười cái gan ông ta cũng không dám vu cáo Tiêu Trấn.”

Một vị ngự sử ngồi bồi thẩm bên cạnh xen vào một câu: “Ba vị đại nhân, chính hạ quan là người dẫn quân chặn bắt Trần Tuyền tại Tây Biện Môn. Khi chúng ta đuổi tới, tận mắt thấy một kẻ áo đen bịt mặt từ trong xe của Trần Tuyền thoát thân, trông như có ý định giết người diệt khẩu, may mà chúng ta đến kịp, khiến hắn không thể ra tay.”

“Còn có chuyện này nữa sao?” Sào Ngộ xoè tay nói: “Ắt hẳn là kẻ đứng sau thấy Bùi đại tiểu thư gióng trống Đăng Văn, lo sợ thân phận mình bị bại lộ, nên vội vàng giết người diệt khẩu.”

Đại lý tự thiếu khanh chắp tay sau lưng nói: “Dù vậy, cũng không thể chứng minh là do Tiêu hầu gây ra.”

Ông ấy lo lắng tiếp lời: “Sào đại nhân, không phải hạ quan nhiều lời, nhưng trước khi có chứng cứ xác thực thì tốt nhất đừng động tới Tiêu hầu. Mấy hôm trước hạ quan có đến doanh trại cấm vệ tra hỏi vụ án, đại nhân đoán xem thế nào? Từng người từng người đều như đại gia, cứ như hạ quan hỏi han là nghi ngờ họ vậy, mở miệng ra là không biết, thậm chí còn lấy cớ cản trở quân vụ mà đuổi hạ quan ra ngoài. Mà vị Tiêu hầu này lại là nhân vật đứng đầu trong giới võ tướng, trong tình huống không có chứng cứ xác thực, sao có thể tùy tiện kinh động đến ông ta? Sau lưng ông ta không chỉ có Hằng Vương, mà còn có mấy vạn binh mã của Tam Thiên Doanh nữa.”

Đúng lúc này, Bùi Việt đang ngồi ở vị trí chủ tọa bỗng ngẩng mặt lên, khẽ mỉm cười với ông ta: “Liễu đại nhân, bản phủ có bảo ngươi đi bắt ông ta sao?”

“Không.”

“Đã không phải là đi bắt, thì không có bằng chứng thì đã làm sao?”

Đại Lý Tự Thiếu khanh Liễu Như Minh kinh ngạc nói: “Chẳng phải chính ngài đã dạy ta sao? Làm án phải thận trọng, chớ có đánh rắn động cỏ, nhất định phải nắm chắc bằng chứng, đánh cho đối phương một đòn bất ngờ không kịp trở tay, khiến chúng không cách nào chối cãi được.”

Bùi Việt tay cầm xấp tấu chương gõ lên mặt bàn, chàng nhìn Liễu Như Minh, đôi lông mày thanh tú thoáng hiện lên tia sáng sắc bén như lưỡi kiếm: “Nhưng ta cũng từng dạy ngươi, làm việc không được mặc định theo khuôn mẫu, không thể vơ đũa cả nắm. Nếu đối phương là kẻ già đời khó đối phó, thì đôi khi phải dùng chiêu ‘rung cây doạ khỉ’, đánh động cho chúng khiếp sợ!”

Nói đoạn, thần sắc của chàng đanh lại, ném một chiếc lệnh tiễn trên bàn ra ngoài, giọng nói đanh thép quyết đoán: “Liễu đại nhân, ngươi hãy đích thân cầm lệnh bắt giữ của Tam Pháp Ty đến Tiêu gia áp giải người. Bản phủ muốn đích thân thẩm vấn Tiêu Trấn.”

Liễu Như Minh lùi lại một bước, suýt chút nữa đâm sầm vào chân tường. Ông ta hiểu rằng chuyến đi này đồng nghĩa với việc đắc tội hoàn toàn với Tiêu gia, kéo theo đó là Hằng Vương chắc chắn cũng sẽ không để ông ta yên ổn. Trong lòng ông ta thầm nghĩ, Bùi Việt hành sự vốn luôn cầu toàn vững chãi, sao hôm nay lại nôn nóng đến vậy? Nhưng tiếc thay chức trách hiện tại không cho phép ông ta thoái thác. Ông ta hít một hơi thật sâu, nhặt chiếc lệnh tiễn dưới đất lên rồi cúi đầu vái chào Bùi Việt: “Hạ quan tuân mệnh.”

Một lát sau, văn thư đã soạn xong lệnh bắt giữ, Bùi Việt ký tên đóng dấu rồi giao cho Liễu Như Minh. Liễu Như Minh nhìn tờ lệnh bắt giữ đó mà cứ như nhìn thấy lá bùa đòi mạng, lòng đầy đắng chát rời khỏi công đường.

Bùi Việt vẫn tiếp tục phê duyệt tấu chương.

Lúc này Sào Ngộ tiến lại gần rồi chủ động rót cho chàng một chén trà rồi nói: “Đại nhân, tuy nói theo luật là có thể triệu tập Tiêu Trấn, nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức triệu tập để đối chất xem khẩu cung của Trần Tuyền có đúng sự thật hay không mà thôi. Theo hạ quan đoán, Tiêu Trấn chắc chắn sẽ không nhận, chẳng những không nhận mà không chừng ngày mai lão ta còn dâng tấu sớ tố lại ngài, đến trước mặt Bệ hạ kêu oan. Đến lúc đó Hằng Vương nhúng tay vào, việc tra án của chúng ta sẽ càng thêm muôn vàn khó khăn.”

Bùi Việt vẫn đang chăm chú xem tấu chương, gương mặt tựa như ngọc lạnh không một chút gợn sóng: “Vậy thì phải xem là ai thẩm vấn!”

Sào Ngộ nghe vậy thì sững người, hắn nhìn vị Các lão trẻ tuổi vốn luôn đánh đâu thắng đó này, chợt nhớ lại những chiến tích lẫy lừng của chàng tại Giang Nam, tấm lưng của hắn dần dần đứng thẳng lên.

Cũng đúng, quan trọng là xem ai thẩm vấn.

>>

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *