Chương 47
Cơn gió đêm lén lút lướt qua lư trầm rồi len lỏi vào trong màn trướng, mang theo một làn hương hoa lê thanh khiết. Bên trong màn yên tĩnh không một tiếng động, Minh Di và chàng nhìn nhau đắm đuối, đáy mắt nàng không giấu nổi vẻ ngạc nhiên.
Muốn thêm một lần nữa?
Đây là chuyện chưa từng xảy ra trước đây.
Chỉ là những lời chàng nói cũng chẳng phải không có lý, dường như nàng chẳng còn đường nào để từ chối.
Minh Di đưa tay ra, chậm rãi leo lên bám lấy xương vai của chàng, đôi mắt sáng rực: “Vậy gia chủ định một ngày sẽ làm mấy hiệp đây?”
Lần này Bùi Việt không lên tiếng, chàng không ngốc đến mức lại tự đào hố chôn mình thêm lần nữa.
Thấy thần sắc của nàng phóng khoáng tự nhiên, không có vẻ gì là từ chối, chàng liền coi như nàng đã mặc định đồng ý. Bùi Việt đột ngột cúi đầu, mãnh liệt chiếm trọn lấy bờ môi ngọt ngào của nàng. Những ngón tay thon dài di chuyển xuống dưới vạt áo, vén mở một góc rồi luồn vào trong, chậm rãi tìm đến một điểm mà vân vê, nghiền nát với sức lực không nặng không nhẹ. Hai đầu gối của chàng khống chế chặt chẽ nửa thân dưới của nàng, rồi rất nhanh sau đó đã quỳ phủ phục trước người nàng.
Từng chút một, chàng đẩy nàng lui sâu vào trong, đến tận góc giường nơi không còn đường nào để thối lui.
Minh Di có chút không chịu đựng nổi, mấy lần toan dứt ra để hít thở dồn dập, nhưng mỗi khi nàng vừa định vùng vẫy thì chàng đã lập tức áp tới, bắt trọn và nuốt chửng lấy hơi thở của nàng.
Cơn sóng cuộn trào, dập dìu mãi không dứt.
Minh Di cũng chẳng rõ mình đã lịm đi từ lúc nào. Chỉ biết khi tỉnh dậy giữa cơn mơ màng của buổi sớm mai, nàng mới cảm nhận được tấm lưng mỏi nhừ và đôi chân tê dại. Mọi chuyện xảy ra đêm qua tựa như một giấc mộng huyền ảo, nàng không còn tâm trí đâu để nghĩ về việc Bùi Việt đã đòi hỏi thêm bao nhiêu lần, trái tim nàng lúc này chỉ đang treo ngược vì Thanh Hòa.
Nàng gượng dậy vén bức rèm giường, rồi đưa mắt nhìn ra bên ngoài. Ánh sáng ban mai cực kỳ rạng rỡ nhưng lại không thấy tia nắng nào, có lẽ là do tuyết đang rơi dày.
Thanh Hòa đã đứng đợi ở bên ngoài từ sớm, vừa nghe thấy động tĩnh liền lập tức vòng vào trong phòng ngủ.
“Cô nương…”
Nàng ấy tiến lại gần rồi đưa áo khoác ngoài cho Minh Di. Minh Di khoác vội lên người và chờ đợi đối phương báo cáo công việc.
Thanh Hòa gật đầu: “Người yên tâm, đều đã ổn thỏa cả rồi. Tên thợ rèn kia nói sau đó lại có kẻ tìm đến hắn để mô phỏng lại đôi vòng bạc, hắn làm xong rồi nhưng mãi chẳng thấy ai tới lấy.” Ngừng lại một chút, Thanh Hòa nói tiếp: “Em đoán người đó là Tiêu Trấn.”
Minh Di không ngờ tình hình lại diễn biến thành ra thế này. Hoàng đế phỏng chế một cái giả với ý đồ tung mồi câu cá; Tiêu Trấn cầm cái đồ giả của hoàng đế lại đi rèn thêm một cái giả khác. Nếu nàng đoán không lầm, có lẽ ông ta định dùng đồ giả để lừa gạt sứ thần Bắc Yến, đáng tiếc là Đô Sát viện đã nhanh hơn một bước đến bắt người, khiến kế hoạch của ông ta chết yểu ngay từ trong trứng nước.
“Lỗ Ban tiên sinh mà còn sống, có lẽ cũng phải tức chết mất thôi.”
Thanh Hòa cười cười rồi nói tiếp: “Em sợ người của cô gia mang đôi vòng bạc của chúng ta qua đó đối chiếu, nên đã tiện tay lấy luôn đôi vòng mà tên thợ rèn làm sau này mang về. Em cũng dặn thợ rèn rằng, nếu có ai tra hỏi thì cứ mang chuyện của Tiêu phủ khai ra hết.”
Đến đêm ngày hôm đó, ám vệ trở về cũng mang chuyện này bẩm báo lại với Bùi Việt: “Thuộc hạ suy đoán rằng có lẽ sau khi Tiêu Trấn trộm được chiếc vòng bạc từ trong cung, ông ta đã tìm người làm một cái giả. Đôi vòng đó vừa làm xong vào ngày hôm qua và đã bị người ta lấy đi trong đêm. Đáng tiếc là chúng ta chậm một bước nên không bắt được người. Tên thợ rèn nói kẻ đó mặc một bộ hắc y, có vẻ võ công không hề thấp, sát khí đằng đằng nên hắn không dám hỏi nhiều. Thuộc hạ đã lấy một ít nguyên liệu mà hắn dùng để đúc vòng mang về đây ạ.”
Thị vệ ngay lập tức giao khối sắt và vài mảnh sắt vụn nhỏ mang về cho Bùi Việt.
Bùi Việt cầm chiếc vòng bạc giả lấy từ Phụng Thiên điện lên để đối chiếu, chàng đưa lại gần ngọn đèn và quan sát cực kỳ tỉ mỉ một lượt: ” Nhìn qua thì chất liệu có vẻ khá đồng nhất…”
Thị vệ nói tiếp: “Về việc này thuộc hạ cũng đã hỏi qua, hắn nói hầu hết các tiệm rèn trong thành đều đến Quân Khí Giám để thu mua sắt vụn. Đồ của Quân Khí Giám toàn là vật liệu tốt, bên ngoài không thể nào mua được. Họ thu mua mớ sắt vụn đó về, sau đó tôi luyện lại cẩn thận là có thể chế tạo ra những vũ khí vô cùng tinh xảo.”
Bùi Việt nhất thời cũng không chắc chắn liệu tên thợ rèn có đang che giấu điều gì hay không: “Theo như ngươi nói, cũng có khả năng là người trong quân đội đang âm thầm phỏng chế?”
Thị vệ lắc đầu: “Thuộc hạ không rõ ạ.”
Bùi Việt rơi vào trầm tư. Nếu chuyện này thực sự dính líu đến Quân Khí Giám, thì bàn tay của Tam Pháp Ty vẫn chưa thể vươn tới được. Trừ khi xin chỉ thị trực tiếp từ Hoàng đế, nhưng loại chỉ dụ này không thể tùy tiện thỉnh cầu được. Một khi điều tra ra mà không có kết quả, sẽ vấp phải sự bất mãn từ Đô Đốc phủ, khi đó cục diện sẽ rất khó cứu vãn.
Chàng giao trả chiếc vòng bạc cho thị vệ: “Tiếp tục tra, rà soát lại toàn bộ các tiệm rèn trong kinh thành, thậm chí là cả vùng ngoại ô, tuyệt đối không được để sót một nơi nào.”
“Rõ!”
Đáng tiếc là hai ngày sau, bên phía các tiệm rèn vẫn không tìm thêm được manh mối nào có giá trị. Bùi Việt buộc phải xâu chuỗi lại toàn bộ sự việc một lần nữa để điều chỉnh hướng điều tra.
Chàng tự nhủ rằng, kẻ có thể đột nhập vào Phụng Thiên điện để trộm vòng bạc phải hội tụ đủ ba điều kiện: Thứ nhất, có bối cảnh quân đội, có thể lấy được lệnh bài của các Đô đốc hoặc có cách để làm giả, từ đó mới có quyền ra vào Phụng Thiên điện. Thứ hai, đêm đó kẻ đó nhất định phải có mặt tại hiện trường buổi hoàng yến. Thứ ba, kẻ đó phải vô cùng am hiểu về “Song Thương Liên Hoa”, và chắc chắn đã từng tiếp xúc qua vòng bạc thật.
Những người hội tụ đủ cả ba điều kiện này thực sự không nhiều.
Ngày rằm tháng giêng, cũng chính là ngày diễn ra buổi triều lớn.
Sáng sớm khi trời còn chưa hửng sáng, Bùi Việt đã thức dậy lên xe khởi hành tiến về phía hoàng thành. Cỗ xe ngựa rời khỏi Bùi phủ hướng về phía Tây, đi qua cầu Ngọc Hà Bắc và dừng lại bên ngoài cửa Thừa Thiên. Vào các ngày mùng một và ngày rằm hàng tháng, trăm quan đều từ đây vào cung, đi bộ qua Ngọ Môn để vào Phụng Thiên điện tham gia buổi triều hội, và hôm nay cũng không ngoại lệ.
Trời còn chưa sáng hẳn, đèn đuốc ở khắp bốn phía cửa cung đã được thắp sáng rực rỡ, soi rọi dưới chân thành một khoảng huy hoàng. Các quan viên lục tục tiến vào cung, men theo hành lang sáu khoa tả hữu bước về phía Ngọ Môn. Khi Bùi Việt đi đến gần Thái Miếu, bỗng nhìn thấy mấy vị quan viên của Bộ Binh đang trò chuyện phía trước, mà người đứng bên phải chính là Sào Chính Quần: “Sào đại nhân.”
Bùi Việt bất ngờ cất tiếng gọi.
Sào Chính Quần ở phía trước đang cùng Thượng thư Bộ Binh nói về việc cứu trợ thiên tai ở Túc Châu, bỗng nhiên nghe thấy có người gọi mình, bèn dừng bước ngoảnh lại nhìn. Thấy người tới là Bùi Việt, ông ấy lập tức lộ vẻ vui mừng: “Bùi đại nhân, ngài gọi hạ quan sao?”
Bùi Việt từ từ bước lên phía trước, Sào Chính Quần lập tức cúi người hành lễ, Bùi Việt đáp lễ xong bèn chỉ tay về phía trước: “Chúng ta vừa đi vừa nói.”
“Được.”
“Sào đại nhân từ Túc Châu trở về khi nào vậy?”
Sào Chính Quần trả lời: “Sau ngày thọ yến của nương nương một ngày, hạ quan đã quay lại Túc Châu, mãi đến đêm qua mới về tới. Các lão yên tâm, trận thiên tai băng giá ở Túc Châu đã được xử lý kịp thời, hiện giờ không còn vấn đề gì lớn nữa. Áo ấm của tướng sĩ đã được phát tận tay, quân lương và lương thực trong doanh trại cũng đã được cung cấp kịp thời, hiện tại không xảy ra loạn lạc gì cả.”
Bùi Việt cười nói: “Cũng nhờ có đại nhân điều phối thỏa đáng.”
Sào Chính Quần vội vàng đáp: “Đâu có, tất cả đều nhờ Các lão suy tính tài tình.”
Bùi Việt không đến để khách sáo với ông ấy, chàng nhanh chóng đi thẳng vào chủ đề: “Đúng rồi Sào đại nhân, hôm nay ta tìm ông là có việc muốn hỏi. Năm đó khi ông nhặt được Song Thương Liên Hoa trên chiến trường, còn có những ai ở hiện trường? Khi mang trả về kinh thành, món vũ khí đó đã qua tay những ai?”
Mặc dù phía Lưu Trân đã từng đưa cho chàng một bản danh sách, nhưng Bùi Việt lo lắng có sai sót nên đặc biệt đích thân đi kiểm tra lại một lần.
Trong lòng Sào Chính Quần lập tức chùng xuống, biết ngay Bùi Việt đang điều tra tung tích của Song Thương Liên Hoa, ông ấy không biểu cảm gì mà chỉ trả lời: “Sau khi đại chiến Túc Châu kết thúc, ta là người đầu tiên dẫn theo tướng sĩ từ chiến trường phía Đông đến trung quân chủ trướng để dọn dẹp chiến trường. Ta đã gom tất cả di vật của Thiếu tướng quân vào riêng một chiếc tráp. Lúc đó, Viễn Sơn hầu Tiêu Trấn và Bình Xương hầu Vương Nghiêu phụng mệnh đến chi viện, sau khi họ đến nơi đều đã từng xem qua di vật của Thiếu tướng quân.”
“Hạ quan cũng không giấu gì ngài, lúc đó ta không hề biết vòng bạc chính là Song Thương Liên Hoa, chỉ là thấy Thiếu tướng quân thường mang theo bên mình nên đã giúp thu dọn lại. Còn việc Tiêu Trấn và Vương Nghiêu có biết hay không thì ta không rõ.”
“Bọn ta đã mất gần nửa tháng tại Túc Châu mới dọn dẹp xong chiến trường. Ngài biết đấy, thi thể của bao nhiêu tướng sĩ đều cần được an táng…” Nói đến đây, giọng Sào Chính Quần trở nên nghẹn ngào: “Mà Vương Nghiêu và Tiêu Trấn chỉ ở đối một thời gian ngắn rồi phải quay về doanh trại của mình để chỉnh đốn quân đội. Lúc đó chiến trường Túc Châu hỗn loạn vô cùng, ta lo sợ đồ đạc bị thất lạc nên đã khẩn cầu hai vị Hầu gia giúp ta mang di vật về thành… Cho đến nửa tháng sau, ta mới nhận lại đồ vật từ tay họ để phò tá linh cữu về kinh.”
“Sau khi về kinh, Chưởng ấn Tư Lễ Giám là Lưu Trân đã đón ta ở ngoại thành. Lúc đó Lý lão phu nhân cũng có mặt, ta đã bàn giao toàn bộ di vật của Thiếu tướng quân và Lý Hầu cho bà ấy. Còn việc tại sao sau này vòng bạc lại vào trong cung thì ta thực sự không biết, chuyện này phải hỏi Lưu Chưởng ấn thôi.”
“Ít nhất là trong thời gian ở trong tay ta, ngoại trừ ta ra thì chỉ có Tiêu Trấn và Vương Nghiêu là từng tiếp xúc với Song Thương Liên Hoa. Trong nửa tháng họ bảo quản đó, liệu có còn ai khác nhúng tay vào hay không thì ta không được rõ. Nếu sớm biết thứ này quý giá như vậy, lúc đầu ta đã chẳng để nó rời khỏi người…”
Trong lúc trò chuyện, bước chân của hai người đã đến dưới Phụng Thiên điện, quan viên tụ tập ở đây ngày một đông hơn, Bùi Việt dừng câu chuyện lại mà không hỏi thêm gì nữa.
Sau một hồi hỏi han, danh sách những người khả nghi nay lại có thêm một cái tên: Bình Xương hầu Vương Nghiêu.
Sau khi tan triều, Bùi Việt quay về Đô Sát Viện, gọi Đại Lý Thiếu khanh Liễu Như Minh và Thiêm đô Ngự sử Sào Ngộ vào phòng làm việc, nói ra những suy đoán của mình cho bọn họ nghe.
Liễu Như Minh và Sào Ngộ đều không khỏi giật mình kinh ngạc.
Liễu Như Minh không mấy đồng tình: “Đại nhân, chẳng phải đã xác nhận là Tiêu Trấn rồi sao? Nay chỉ cần tìm được vòng bạc, nắm giữ chứng cứ xác thực là được rồi mà.”
Sào Ngộ ngược lại phản ứng nhanh hơn Liễu Như Minh: “Lỡ như Tiêu Trấn cấu kết với Bắc Yến trộm được chỉ là vòng bạc giả, còn kẻ lấy đi vòng bạc thật lại là một người khác thì sao?’
Liễu Như Minh im lặng, sau một hồi trầm ngâm thì ông ấy nhìn về phía Bùi Việt đang ngồi ở vị trí chủ tọa: “Các lão, vậy theo ý của Sào tướng quân, thì Bình Xương hầu Vương Nghiêu cũng không loại trừ khả năng là kẻ tình nghi?”
Bùi Việt tay nắm chặt một chiếc ấn nhỏ mà không nói lời nào.
Sào Ngộ đứng bên cạnh vuốt râu phân tích: “Bình Xương hầu Vương Nghiêu là một trong tứ đại quân hầu, cũng là một trong năm vị Đô đốc nắm giữ kim bài. Ngày thọ yến hôm đó ông ta có mặt tại hiện trường, quả thực không loại trừ nghi vấn này.”
Nói xong, ông ta hướng về phía Bùi Việt hành lễ: “Đại nhân, ý của ngài là muốn hạ quan tra xét thêm Vương Nghiêu? Kiểm tra hành tung của ông ta vào đêm hôm đó?”
Bùi Việt ung dung tựa vào ghế bành, ánh mắt chậm rãi dời từ chiếc ấn nhỏ sang hai người, đôi mắt nheo lại đầy vẻ suy tư: “Ngoài Vương Nghiêu ra, còn phải tra thêm một người nữa.”
“Ai ạ?”
“Chính là bản thân Sào Chính Quần!”
Liễu Như Minh và Sào Ngộ đồng loạt hít vào một ngụm khí lạnh.
“Chuyện này không thể nào chứ?” Liễu Như Minh mở to mắt, tiến lên một bước vịn vào chiếc bàn dài của Bùi Việt, vẻ kinh hãi trong mắt vẫn chưa tan: “Sào đại nhân vốn là người hào sảng, một lòng trung quân ái quốc, bình thường làm việc luôn làm tròn bổn phận của mình, đi mây về gió một mình, không giống hạng người làm chuyện gian ác phạm pháp. Hơn nữa, ta nghe nói Sào phủ cũng không hề giàu có, y phục của ông ấy quanh năm suốt tháng đều là vết vá, phu nhân của ông ấy phải vá đi vá lại mới miễn cưỡng mặc được. Cả phủ cũng chẳng có lấy mấy người hầu hạ, ông ấy lấy đâu ra bản lĩnh để vạch ra một kế hoạch trộm cắp kinh thiên động địa như vậy?”
Sào Ngộ cũng cảm thấy điều này không khả thi cho lắm: “Hơn nữa, theo ta thấy thì ông ấy cũng không có gan đó, ông ấy không dám cược cả mạng sống của cả gia tộc để lẻn vào Phụng Thiên điện trộm bảo vật đâu.”
Bùi Việt bật cười: “Nếu xét về lý thì ta cũng thấy ông ấy không có khả năng. Nhưng xét về thực tế, ông ấy lại hội tụ đủ mọi điều kiện: Kim bài của năm vị Đô đốc đều do Bộ Binh đúc chế, Sào Chính Quần với tư cách là Tả thị lang Bộ Binh, hoàn toàn có khả năng làm giả. Thêm nữa, ông ấy là người đầu tiên tiếp xúc với Song Thương Liên Hoa, lại có tình cảm huynh đệ thân thiết với Lý Lận Chiêu, nên hoàn toàn có động cơ để đánh tráo.”
Liễu Như Minh hỏi vặn lại: “Ông ấy trộm cho ai? Trộm để làm gì? Nếu muốn trộm thì ngay từ đầu ở chiến trường Túc Châu ông ấy đã lấy đi rồi.”
“Đúng, nhưng lúc đầu ông ấy không hề biết vòng bạc chính là Song Thương Liên Hoa.” Bùi Việt nghiêm nghị nhìn ông ta: “Liễu đại nhân, phá án là phải giả định táo bạo, chứng thực cẩn trọng. Ta cũng hy vọng không phải là ông ấy, nhưng ba điều kiện trên ông ấy đều hội đủ, nên không thể loại trừ. Cho nên, hai người cần phải tìm ra bằng chứng để chứng minh rằng không phải là ông ấy.”
Liễu Như Minh và Sào Ngộ nhìn nhau, không còn gì để đối đáp, cả hai cùng cúi người hành lễ: “Hạ quan lĩnh mệnh.”
“Việc này…” Bùi Việt dặn dò bọn họ: “Hai người hãy đích thân đi tra xét, và phải tra xét thật cẩn thận, không được để lộ một chút tin tức nào ra bên ngoài. Vương Nghiêu và Sào Chính Quần đều là trọng thần trong triều, nếu truyền ra ngoài, e rằng lúc đó cả triều đình ai nấy đều sẽ cảm thấy bất an.”
“Hạ quan đã rõ.”
“Lời này ta chỉ nói với hai người các ngươi thôi, bước ra khỏi cửa này đừng để truyền tới tai người thứ tư.”
“Tuân lệnh…”
Bùi Việt dặn dò xong xuôi liền quay trở lại Nội các. Tại Nội các và Hộ Bộ vẫn còn một đống việc đang chờ, nên sức lực mà chàng có thể dành cho vụ án này cũng có hạn.
Sào Chính Quần sau khi bị Bùi Việt thẩm vấn trong ngày hôm ấy thì trong lòng luôn thấp thỏm không yên, chỉ sợ bị Bùi Việt để mắt tới. Chính vì vậy, sau khi bãi triều, ông ấy đã tìm cách nhờ Trường Tôn Lăng liên lạc với Minh Di.
Thông qua việc truyền tin của Trường Tôn Lăng, vào đầu giờ Thân chiều ngày rằm, Minh Di và Sào Chính Quần cuối cùng cũng gặp được nhau tại một quán trà nhỏ gần Cổ Lâu. Đây là lần đầu tiên Minh Di gặp ông ấy với thân phận này, Sào Chính Quần nhìn chằm chằm vào nàng hồi lâu mà vẫn chưa hoàn hồn lại được.
“Hiện tại… hạ quan nên xưng hô với người thế nào đây?”
“Thê tử của Bùi Việt, Lý Minh Di!”
Sào Chính Quần vừa nghe đến lai lịch này thì cuống quýt đến mức suýt nhảy dựng lên: “Gan của người cũng lớn thật đấy, sao người lại dám vào Bùi phủ? Đây chẳng khác nào dấn thân vào hang cọp, bàn mưu với hổ đâu!”
Minh Di bật cười: “Đại nhân không biết đạo lý ‘dưới chân đèn thường tối’ sao?”
Nói Bùi Việt là hổ cũng chẳng sai chút nào, đêm mười ba chàng “ăn” nàng những hai lần, suýt chút nữa là lột da nuốt sống nàng rồi.
“Mau nói cho ta biết, có chuyện gì xảy ra vậy?” Minh Di ngồi xuống hỏi.
Sào Chính Quần rót cho nàng một chén trà trước, sau đó mới mang chuyện Bùi Việt thẩm vấn sáng nay ở buổi bãi triều kể lại cho Minh Di nghe.
Minh Di cảm thấy đau đầu, nàng trầm ngâm một lát rồi nói: “Vụ án của Tiêu Trấn không thể kéo dài thêm nữa. Vòng bạc của Tiêu phủ sở dĩ tìm không thấy, ta đoán tám chín phần là đã bị Hằng Vương lấy đi rồi.”
“Tứ Phương Quán đã bị Hoàng đế cho quân bao vây tầng tầng lớp lớp, lũ gián điệp Bắc Yến cũng suýt chút nữa bị Hoàng đế tóm gọn một mẻ. Dù có còn sót lại tàn dư thì ngay lúc đầu sóng ngọn gió này, chúng cũng chẳng dám lộ diện hành động. Thế nên Tiêu Trấn chắc chắn không có cơ hội liên lạc với phía Bắc Yến, chỉ có khả năng là Hằng Vương thấy Tiêu Trấn bị đưa đi, đánh hơi thấy chuyển biến bất lợi nên đã lập tức bí mật tẩu tán vòng bạc đi rồi.”
Sào Chính Quần tiếp lời: “Vậy chúng ta hãy tìm cách tiết lộ tin này cho Bùi Việt. Chỉ cần hắn tra ra được tung tích vòng bạc của Tiêu Trấn, nắm chắc bằng chứng Tiêu Trấn và Hằng Vương có tham gia vào vụ trộm trên đảo Quỳnh Hoa, thì Tam Pháp Ty có thể định tội ngay. Lúc đó cả Tiêu Trấn và Hằng Vương đều không đường chạy thoát.”
Minh Di nở một nụ cười chua chát: “Ông tưởng Bùi Việt không đoán ra được chính Hằng Vương đã lấy đi chiếc vòng bạc sao? Chàng ấy là đang muốn bảo toàn bản thân, nhìn ra được Hoàng đế không muốn động vào Hằng Vương, nên mới không định dính líu vào, cứ thế mà giả ngốc thôi.”
“Vậy chúng ta phải làm sao đây? Không thể trố mắt ra nhìn Bùi Việt cứ túm lấy chúng ta mà điều tra được.”
Minh Di im lặng, ngón tay nhẹ nhàng gõ lên trán, suy tính hồi lâu rồi mới đưa ra quyết định: “Ta phải gặp Tiêu Trấn một chuyến, hạ một liều thuốc mạnh để ép con cáo già Hằng Vương kia phải lộ diện. Đến lúc đó, dù Hoàng đế có muốn hay không cũng buộc phải xử lý Hằng Vương.”
Sào Chính Quần lo lắng nói: “Tiêu Trấn hiện đang bị giam giữ trong địa lao của Đô Sát Viện, canh gác nghiêm ngặt năm bước một trạm gác, người làm sao vào được, rồi lại làm sao đi ra?”
Minh Di chẳng hề để tâm: “Hoàng cung Bắc Yến ta còn từng đột nhập, Thập Bát La Hán cũng đã từng giao thủ, chút Đô Sát Viện này có là gì.”
Chút Đô Sát Viện này có là gì…
Sào Chính Quần im lặng. Điều ông phục nhất chính là khí thế “coi trời bằng vung” ẩn sau vẻ ngoài bình lặng của nàng, chỉ một câu nói thôi đã gợi lại những năm tháng huy hoàng thét ra lửa tại Túc Châu năm nào. Ông ấy sững sờ trong giây lát, thấy ý nàng đã quyết nên không khuyên can nữa: “Người nói đi, cần ta làm gì?”
“Hiện giờ rất có thể ông đã bị Bùi Việt để mắt tới, nên không cần làm gì cả, cứ đúng phận sự mà lên nha môn làm việc thôi.”
“Thế sao được? Chuyện lớn như vậy, ta không giúp sức sao được? Ít nhất cũng để ta trợ chiến hỗ trợ che mắt phía sau chứ?” Sào Chính Quần cuống quýt đứng bật dậy.
Minh Di cũng đứng lên theo ông ấy, nàng đặt tay lên vai ông ấy rồi nhìn vào ông ấy với ánh mắt kiên định: “Ông có chiến trường của riêng mình, vụ án của cha ta vẫn cần đến ông.”
Sào Chính Quần sững người, ông ấy nghiến chặt răng rồi vỗ ngực cam đoan: “Ta dù có phải liều cái mạng này, cũng nhất định phải xé toạc một lỗ hổng trong triều đình.”
“Được, ta sẽ đánh hiệp một, hiệp hai giao lại cho ông.” Minh Di mỉm cười, buông tay rồi quay người đi về phía bình phong lấy áo choàng để chuẩn bị rời đi.
Sào Chính Quần đuổi theo hỏi: “Vậy khi nào người định ra tay?”
Minh Di vừa thắt dây áo vừa suy tính: “Việc này không thể để lâu được, ngay đêm nay ta sẽ ra tay.”
Ngày mai là mười sáu, cũng là ngày Bùi phủ mở tiệc tất niên cuối năm, nàng không thể đi được, mà đêm mai lại đến kỳ “chung phòng”, nàng còn phải đối phó với con sói ở nhà kia.
“Đêm nay sao? Có gấp gáp quá không?” Sào Chính Quần đổ mồ hôi hột thay nàng: “Hay là để tối mai đi, tối mai ta trực đêm, nếu có biến cố gì cũng dễ ứng phó hơn.”
“Không được.” Minh Di nhìn ông ấy rồi cười lém lỉnh: “Ngày mai ta không rảnh, ta còn phải ở nhà ‘bàn mưu với hổ’ đây.”
Sào Chính Quần nhớ đến cảnh ngộ của nàng mà không khỏi lo lắng thay: “Thế mà người vẫn còn cười được.”
Nhìn dáng vẻ mặt mày ủ dột của ông ấy, Minh Di vỗ vai an ủi: “Dẫu trời có sập xuống thì vẫn phải ăn no ngủ kỹ. Còn những chuyện khác, cứ tận sức mà làm thôi.”
Hốc mắt của Sào Chính Quần đỏ hoe: “Nhưng ta nhớ từ trước đến nay người lúc nào cũng là dốc hết toàn lực mà.”
Minh Di bước về phía cửa rồi thản nhiên đáp: “Dốc hết toàn lực cũng đâu có ngăn cản ta ăn cơm ngủ nghỉ,” nói xong, như nhớ ra việc gì nàng ngoảnh lại nhìn ông ấy: “Có điều ba năm nay, rượu thì đúng là uống ít đi thật.” Nàng nói với vẻ không giấu nổi sự tiếc nuối.
Sào Chính Quần không biết cơ thể nàng có bệnh trạng nên thắc mắc: “Không có Lý Hầu quản thúc, sao người lại uống ít đi được?”
Minh Di cười gượng một tiếng: “Không có Lý hầu, nhưng lại xuất hiện một Bùi khanh còn lợi hại hơn đấy.”
Sào Chính Quần nhớ đến một Bùi Việt luôn nghiêm túc và rập khuôn, thì chỉ còn biết dở khóc dở cười.
Nhìn theo bóng nàng xuống lầu, thấy thần thái của nàng rạng ngời bước lên xe ngựa đi xa, ông ấy không kìm được mà nghĩ: Nàng luôn là như vậy… dù ở bất cứ đâu cũng đều sống rất tốt, chưa từng tự oán tự trách bản thân.
Giống như vầng thái dương rực rỡ, tỏa sáng vạn trượng vậy.
Trên đường về, Minh Di cùng Thanh Hòa bàn bạc kế hoạch. Tính đi tính lại thì biến số duy nhất chính là Bùi Việt.
“Chỉ sợ cô gia ở phủ, đến lúc đó cô nương khó mà thoát thân. Hay là để em đi cho?” Thanh Hòa lo lắng nói.
Minh Di lắc đầu: “Ngươi thiếu sự từng trải, chuyện của Hằng Vương ngươi hoàn toàn không biết nên rất dễ để lộ sơ hở. Nhất định ta phải tự mình đi thì Tiêu Trấn mới có thể tin. Đêm nay ngươi ở lại Trường Xuân đường che chở giúp ta, đừng đi đâu cả.”
“Nếu cô gia mà vào hậu viện thì sao?”
Đó chính là điều khiến Minh Di đau đầu nhất: “Ta sẽ cố gắng trở về phủ trước khi chàng quay lại hậu viện.”
Khi trở về Bùi phủ, Minh Di đi thẳng đến thư phòng của Bùi Việt, muốn dò xét động tĩnh của chàng. Nào ngờ trước tiền sảnh lại chạm mặt với Thẩm Kỳ.
Trong lòng Thẩm Kỳ ôm một cái hộp, chuẩn bị ra ngoài.
Minh Di thấy vậy liền hỏi: “Đi đâu thế? Tối nay gia chủ có về dùng cơm không?”
Thẩm Kỳ ôm một hộp văn thư, vội cúi người hành lễ: “Bẩm thiếu phu nhân, ngày mai gia chủ phải chủ trì yến tiệc của gia tộc nên đêm nay sẽ ở lại khu quan sở, định sớm hoàn thành công vụ ngày mai. Vừa rồi gia chủ sai tiểu nhân trở về lấy sách vở văn thư, tối nay chắc chắn sẽ không về dùng cơm ạ.”
Minh Di hỏi: “Vậy tối nay gia chủ có về nghỉ không?”
Thẩm Kỳ nghĩ ngợi rồi đáp: “Gia chủ không nói, nhưng những năm trước vào ngày này đều không về. Đợi sau buổi triều nghị ngày mai kết thúc sẽ trực tiếp trở về phủ để chủ trì tiệc trưa.”
Trong lòng Minh Di vô cùng vui mừng.
Quả thật là cơ hội trời ban.
Chương 48
Vài ngày trước vừa có một trận tuyết lớn, đến tận hôm nay trời vẫn chưa hửng nắng. Hai ngày nay tiết trời âm u, tuyết vẫn chưa tan, chưa đến giờ Dậu mà trời đã sập tối, trên đường chân trời chỉ còn sót lại chút ánh sáng yếu ớt. Thanh Hòa đã sớm kêu đói, thế là Minh Di dặn dò Phó ma ma truyền thiện.
Tình cờ là bữa tối nay lại có vài con cua biển, mà Minh Di vốn dĩ thích nhất là món này. Một lồng cua nàng chỉ chia cho Thanh Hòa hai con, còn lại đều chui tọt vào bụng nàng hết. Kết quả là chưa đầy một khắc sau, nàng đã bị đau bụng và nôn mửa. Phó ma ma phải vội vàng nấu canh gừng thật nóng cho nàng uống để làm ấm bụng.
Thấy sắc mặt nàng trắng bệch, bà ấy cuống quýt nói: “Lão nô đi mời đại phu tới ngay đây.”
“Đừng.” Minh Di vừa nôn vừa giữ bà ấy lại: “Bình thường ta ăn cua cũng hay bị thế này, uống chút canh gừng là ổn thôi. Đêm hôm khuya khoắt đi gọi đại phu dễ làm kinh động đến khách khứa trong phủ, lát nữa ai cũng tưởng ta lâm bệnh nặng thì chẳng phải làm mất hứng của mọi người sao. Ngày mai là tiệc tất niên rồi, không được để xảy ra sai sót gì cả. Ma ma yên tâm, ta chắc chắn sẽ không sao đâu.”
Sau khi uống hết một bát canh gừng lớn, nàng có vẻ mệt lả đi, cứ thế tựa vào giường mà thiếp đi mất. Phó ma ma vẫn không yên tâm, thi thoảng lại ghé qua nhìn một cái, mãi đến khi nghe thấy tiếng thở đều đặn truyền đến thì bà ấy mới thực sự an tâm rời đi.
Đợi bà ấy vừa ra khỏi cửa, Thanh Hòa lập tức nhét một viên thuốc vào miệng Minh Di, sau đó ra đứng canh ở gian phòng phía Đông, không cho bất kỳ ai vào trong. Còn Minh Di, nàng băng bó kỹ phần ngực, khoác lên bộ thanh y của tiểu sai đã chuẩn bị sẵn, lẻn ra từ phía phòng tắm, rồi tung mình một cái nhảy vọt lên mái nhà, lặng lẽ biến mất vào màn đêm.
Nàng lắt léo băng qua con hẻm bên cạnh Thẩm gia, từ chuồng ngựa của bọn họ trộm đi một con ngựa, rồi nhanh chóng phi nước đại về phía khu quan thự.
Nàng đến bên ngoài Chính Dương Môn vào đúng giờ Dậu bốn khắc (khoảng 18:00), trước tiên ghé vào một tiệm đối diện mua ít đồ ăn đêm bỏ vào hộp đựng thức ăn. Sau đó, nàng cầm một tấm lệnh bài mà Trường Tôn Lăng đã đưa trước đó để tiến vào cung. Tấm lệnh bài này giống hệt với lệnh bài của Thẩm Kỳ, vốn là lệnh bài để tiểu sai của phủ Trường Tôn ra vào khu quan thự. Thị vệ giữ cổng cung chỉ nhận lệnh bài chứ không nhận mặt người, vừa thấy là người của phủ Trường Tôn thì ngay cả việc khám xét cũng miễn luôn, cứ thế cho phép người trực tiếp đi qua.
Chẳng có gì lạ, chỉ bởi vì có một lần hiệu úy cổng cung do khám xét thân thể mà làm chậm trễ bữa tối của đại công tử nhà họ Trường Tôn, kết quả là bị công tử mắng cho một trận té tát. Sau đó không biết Đại Trưởng công chúa đã làm loạn đến tai Thánh thượng thế nào, mà Lưu Trân sau này phải đặc biệt dặn dò hiệu úy cổng cung đừng quá khắt khe với Trường Tôn Lăng nữa. Chính vì thế, Minh Di đi lại thuận lợi trên con đường này mà không gặp bất kỳ trở ngại nào.
Trường Tôn Lăng vốn có ca trực vào ngày mai, nhưng lấy cớ ngày mai phải đến Bùi phủ dự tiệc tối nên đã đổi sang trực đêm nay. Thường ngày nếu không có việc gì, hắn sẽ ở trong phòng trực phía sau Đông Triều Phòng. Minh Di xách theo hộp đồ ăn đêm vội vã đi tới đây. Dãy phòng thị vệ sau đông triều phòng là một dãy nhà dài nằm theo hướng đông – tây, phía bắc giáp với phố Trường An, phía nam nằm sát Bộ Binh, còn nha thự của Đô Sát Viện thì nằm ở phía đông của Bộ Binh, thuộc khu vực góc đông bắc của khu quan thự.
Khu vực này có tổng cộng khoảng hai mươi gian phòng trực. Trường Tôn Lăng vì thân phận tôn quý nên được dành riêng một căn cố định, chính là gian thứ ba từ phía Đông đếm lại. Suốt dọc dãy hành lang đèn đuốc sáng trưng, không ít thị vệ đang ngồi xổm dưới mái hiên chia nhau đồ ăn. Đang lúc làm nhiệm vụ không được phép uống rượu, nên cấp trên cố ý mang chút thịt bò khô chia cho mọi người ăn cho đỡ thèm.
Xung quanh Trường Tôn Lăng luôn có tám tiểu sai hầu hạ, mỗi ngày người tới đều không giống nhau, nhưng nhìn trang phục là biết ngay người của phủ Trường Tôn nên không ai dám đắc tội. Minh Di cúi thấp mặt, bước chân nhanh nhẹn đi thẳng đến gian phòng thứ ba. Nàng gõ cửa một cái, chẳng đợi người bên trong kịp phản ứng đã đẩy cửa bước thẳng vào.
Trường Tôn Lăng đã đợi nàng từ sớm, vừa thấy nàng là hắn lộ vẻ sốt sắng đón lấy: “Tổ tông của ta ơi, sao giờ người mới tới? Muộn mất gần nửa khắc rồi đấy.”
Minh Di đặt hộp thức ăn lên bàn, không giải thích gì mà hỏi thẳng luôn: “Thứ ta cần đâu?”
Trường Tôn Lăng chỉ vào gian phòng nhỏ bên trong: “Ở trong đó.” Đó vốn là nơi hắn thường dùng để thay quần áo hàng ngày.
Minh Di vén rèm bước vào. Gian phòng nhỏ cực kỳ hẹp, dưới cửa sổ phía Nam đặt một chiếc sập dài nhỏ chỉ vừa đủ cho một người nằm, phía Bắc có một ô cửa sổ nhỏ, bên dưới là một chiếc tủ thấp cao bằng nửa người. Trên sập đặt một chiếc khăn vấn đầu màu xám và một bộ bào phục màu xám cổ chéo vạt phải, đây chính là võ phục của các tạp sĩ cấp thấp nhất trong khu quan thự.
Minh Di thay trang phục một cách thuần thục, còn Trường Tôn Lăng đứng bên ngoài bức rèm, hạ thấp giọng căn dặn nàng: “Hôm nay những người trực tại Đô Sát Viện chia làm hai nhóm. Một nhóm tuần tra bên ngoài là Hữu vệ của Vũ Lâm quân; nhóm còn lại trấn giữ địa lao là các vệ sĩ do triều đình đặc phái riêng cho Đô Sát Viện. Nhóm dưới hầm này có quân số cố định, mỗi ca gồm hai mươi người, một ngày chia làm ba ca. Ca trực hôm nay đã thay vào giờ Tuất, ca tiếp theo sẽ là vào giờ Tý đêm nay.”
“Nếu không có lệnh của ba vị Đường quan Đô Sát Viện, thì không ai được phép tự ý ra vào địa lao. Cơ hội duy nhất chính là những người đưa cơm, đám người này là tạp dịch của khu quan thự, mỗi lần vào địa lao đưa cơm sẽ tiện thể giúp đổ luôn chất thải.”
“Khắp cả khu quan thự này chỉ có Cẩm Y Vệ và Đô Sát Viện là có địa lao. Những phạm nhân bị giam giữ ở đây ngày thường đều ăn đồ thừa từ bếp ăn công, thế nên giờ đưa cơm mỗi ngày thường khá muộn, lúc nào cũng phải đợi quan viên văn võ trong nha môn ăn xong, phần còn dư lại mới bố thí cho bọn họ. Giờ đưa cơm mỗi ngày thường rơi vào khoảng từ đầu giờ Tuất đến giờ Tuất ba khắc, địa lao của Đô Sát Viện ít người nên ước tính sẽ sớm hơn một chút.”
(Đầu giờ Tuất đến giờ Tuất ba khắc: khoảng 19:00 – 19:45)
“Lộ trình đưa cơm là từ bếp công phía sau Thái Thường Tự ở góc Tây Bắc, băng qua ngự đạo ngay chính giữa khu quan thự, dọc theo con hẻm phía Nam Bộ Binh đi về hướng Đông là sẽ tới Đô Sát Viện. Địa lao của Đô Sát Viện nằm ở viện trong cùng, ta chưa từng đến đó, lối vào cụ thể ở đâu thì người phải tự mình tìm thôi.”
“Ta đã dò hỏi rồi, nhóm đưa cơm thường có ba người một tốp. Lát nữa người hãy chọn một nơi kín đáo để trà trộn vào giữa ba người đó. Còn về việc địa lao cụ thể có bao nhiêu phạm nhân thì ta không rõ lắm, tóm lại…” Trường Tôn Lăng lo lắng khôn nguôi: “Chuyến đi này rất nguy hiểm, người nhất định phải thận trọng hơn mức bình thường mới được.”
“Yên tâm đi.” Minh Di đáp bằng giọng điệu nhẹ nhàng, nàng từ từ vén rèm bước ra.
Trường Tôn Lăng nhìn trân trân vào người trước mặt giờ đây đã hoàn toàn lạ lẫm, nhất thời đứng hình tại chỗ.
Chỉ thấy nàng khoác trên mình bộ thanh bào cũ sờn đã bạc màu, vóc dáng thanh mảnh nhưng cương nghị, hoàn toàn không lộ ra vẻ lùng bùng của lớp áo. Đầu nàng quấn khăn vải, khuôn mặt chằng chịt những nếp nhăn sâu hoắm, làn da thô ráp nứt nẻ, đuôi mắt chảy xệ xuống mang theo vài phần khắc khổ, dưới cằm còn dán thêm một chòm râu đen xen lẫn sợi bạc. Trông nàng lúc này hệt như một lão già ngoài ngũ tuần đầy vẻ tiêu điều.
“Đây là… người dùng thuật mặt nạ da người đấy à?”
Minh Di gật đầu rồi dang rộng hai tay hỏi: “Không nhìn ra là ta đúng chứ?”
Trường Tôn Lăng cười khổ một tiếng rồi đánh giá nàng một lượt, ánh mắt hiện lên vẻ mịt mờ xen lẫn xót xa nói: “Sư phụ, nói thật lòng thì đôi khi ta không biết gương mặt thật của người rốt cuộc trông như thế nào. Ta đã thấy quá nhiều, quá nhiều ‘người’ rồi, chẳng rõ khuôn mặt nào mới thực sự là người nữa. Người mang theo bấy nhiêu thân phận hành tẩu giữa đất trời này, liệu có còn nhớ rõ bản thân mình rốt cuộc là ai không?”
Minh Di không ngờ hắn đột nhiên lại hỏi như vậy, nhất thời cũng ngẩn người ra.
“Ngày hôm đó ở sân mã cầu, lúc người gạt mũi tiễn từ tay áo của ta, ta thực sự không dám nghĩ đó là người. Không nói đến dung mạo đã thay đổi, ngay cả…” Trường Tôn Lăng nghẹn họng không nói tiếp được nữa, hắn vỗ trán rồi nhắm nghiền mắt lại: “Nhưng ngoài ta, thị vệ thân tín của ta và Lý hầu ra, thì chỉ có người mới biết vị trí đặt tiễn trong tay áo, hơn nữa món đồ này vốn là do người đưa cho ta mà. Có lẽ là trực giác chăng, ta đã muốn đánh cược một phen, thế nên mới mang theo một bình rượu để đuổi theo người…”
“Người trước đây nói ta bướng bỉnh, ta đúng là bướng thật, lúc nào cũng không cam lòng, cứ hết lần này đến lần khác thử lòng người. Cuối cùng, vào cái đêm Tạ Như Vận ám sát A Nhĩ Nạp thì người mới chịu nhận ta.”
“Nói thật lòng, cho đến tận hôm nay thì ta vẫn cảm thấy như đang nằm mơ vậy, không dám tin rằng người đang đứng trước mặt này thực sự là sư phụ…”
Trường Tôn Lăng vừa cười vừa thở dài, chợt mở mắt ra thì trước mặt nào còn bóng người nào nữa. Người ấy chẳng biết đã lặng lẽ rời đi từ lúc nào, chỉ còn lại ô cửa sổ phía Bắc đang mở toang hơn phân nửa, gió đêm lạnh lẽo lùa vào, cuốn sạch đi nỗi hoang mang trong đáy mắt hắn.
Chẳng phải nói là chỉ còn lại hai phần công lực sao?
Chỉ với hai phần công lực mà đã có thể biến mất thần không biết quỷ không hay ngay trước mặt hắn thế này?
Trường Tôn Lăng chẳng biết nên khóc hay nên cười, trong lòng thầm bái phục: e là cho dù nàng có “phế” đến mức này đi chăng nữa, thì trong đám Cấm vệ quân cũng chẳng có lấy một ai là đối thủ của nàng.