Lạc Hoa Xuân – 13 – 14

Chương 13.

Tiến hay lùi, tất cả đều chỉ phụ thuộc vào một suy nghĩ của Lục Thừa Tự.

Ánh thu đã nhuốm màu u ám, từng cơn gió lạnh tạt vào mặt. Sau một hồi cân nhắc ngắn ngủi, Lục Thừa Tự hạ quyết tâm, sải bước tiến về phía Ty Lễ giám.

Tiểu nội thị nhìn theo chàng bước qua hiên cửa, khẽ mỉm cười rồi quay người về cung Từ Ninh phục mệnh.

Sau khi bước vào trong, bước chân của Lục Thừa Tự lại chậm lại một lần nữa.

Trong lúc ngước mắt lên, một luồng gió dài chợt thổi qua, cuốn theo những cánh hoa rơi lả tả.

Trước mắt, dòng người đi lại nườm nượp như mắc cửi.

Ty Lễ giám là một tòa viện tam tiến rộng rãi, bốn phía đều là những căn phòng trực dạng hành lang dài. Các thái giám với đủ loại phẩm cấp đi lại như con thoi giữa sân viện, người bưng văn thư, kẻ bê hộp tráp, hoặc cầm theo từng đạo thánh chỉ, ai nấy đều trong trạng thái vội vã. Nơi đây là trung khu của Đại Tấn, sánh ngang với Nội các, vô số tấu chương từ nơi này phát ra để truyền đạt đến bốn phương, và số phận của vô vàn bách tính cũng được định đoạt chỉ bằng vài nét bút ít ỏi nơi đầu ngón tay này.

Lục Thừa Tự không nhanh không chậm bước vào trong, có người nhận ra chàng, khi đi ngang qua khẽ gọi một tiếng “Lục đại nhân”. Chàng cũng gật đầu đáp lễ, rồi ngược dòng người mà bước lên lối xuyên đường đầu tiên.

Nội triều và Ngoại triều của Đại Tấn vốn được phân chia rạch ròi như nước sông Kinh với sông Vị. Ty Lễ giám bình thường không cho phép ngoại thần tiến vào, Chưởng ấn Lưu Xuân Kỳ cũng không được tùy tiện xuất cung, để đề phòng nội thần và ngoại thần câu kết, lừa dối quân chủ. Hôm nay chàng có thể vào được đây cũng là nhờ Thái hậu đặc biệt cho phép.

Tuy nhiên, đây chẳng phải lần đầu chàng tới nơi này. Nhiều năm trước, khi còn đương chức Hàn lâm viện Biên tu, chàng đã có cơ duyên vào đây một lần. Từ xưa đến nay chàng vốn có tâm tư tỉ mỉ, lại có khả năng nhìn qua là không quên, nên mỗi khi đến bất cứ đâu, chàng luôn ghi nhớ rõ ràng phương hướng sân viện cũng như vị trí phòng trực của các ty.

Thế nên, sơ đồ bố trí của Ty Lễ giám cũng đã nằm trọn trong tâm trí chàng.

Chàng biết rõ một điều rằng, phía trong lối xuyên đường đầu tiên này có một căn phòng trực, và bên trong đó đang có một người đang ngồi.

Chính là Tiểu vương gia của phủ Tương Vương: Chu Tu Dịch.

Phòng trực quay mặt về hướng Tây, ở giữa đặt một chiếc án dài bằng gỗ sưa vàng, hai bên trái phải có vài chiếc bàn nhỏ, bên trên chất đầy văn thư.

Mỗi một bản tấu chương gửi đến từ Nội các, đều phải đưa qua cho Chu Tu Dịch xem trước, sau đó mới do hắn phân loại rồi gửi đến các nơi ở hậu viện cho quan Bỉnh bút. Nói một cách thẳng thắn, Chu Tu Dịch là người đứng đầu Văn thư phòng trực thuộc Ty Lễ giám, tuy không có quyền phê dấu hồng, nhưng lại có thể hiến kế và bày mưu tính kế cho Thái hậu.

Chu Tu Dịch đang chỉnh sửa lại một xấp tấu chương, chợt nhận ra ánh sáng trước mặt tối sầm lại. Hắn ngước mắt lên, liền thấy Lục Thừa Tự từ ngoại viện bước tới, bước chân tuy chậm rãi nhưng lại nặng tựa nghìn cân.

Việc Lục Thừa Tự xuất hiện ở đây, Chu Tu Dịch không hề cảm thấy bất ngờ. Chuyện Thái hậu muốn ép Hoàng đế dùng chức Tả Thị lang Bộ Lại để đổi lấy việc thực thi chính sách binh mã, hắn vốn đã hiểu rõ mười mươi. Và ngay trước khi Lục Thừa Tự vào kiến diện Thái hậu, hắn cũng vừa mới dâng lên một danh sách các ứng viên cho chức Tả Thị lang Bộ Lại để Thái hậu chọn lựa.

Nếu như hắn không đoán sai, thì Lục Thừa Tự chắc hẳn là đến để lo liệu việc này.

Căn phòng trực này được xây bên trong lối xuyên đường, nơi góc tường có trồng một cây nguyệt quế, lúc này những tán lá quế rậm rạp khẽ lay động theo gió, để lại những vệt nắng loang lổ đầy mặt đất.

Bước chân của Lục Thừa Tự dừng lại đúng ngay dưới gốc cây quế, cách hắn chỉ vỏn vẹn năm bước chân. Ánh mắt hai người chạm nhau một cách đầy kín đáo.

Lục Thừa Tự nâng tay áo thi lễ một vái, nhưng không hề thốt ra một lời nào.

Chu Tu Dịch nhận ra sắc mặt chàng có điểm bất thường, bèn chậm rãi đứng dậy từ sau án thư, chắp tay trong tay áo rồi ung dung đáp lễ: “Lục đại nhân đây là vừa từ cung Từ Ninh ra sao?”

Thấy dáng vẻ vô cùng nhàn nhã của Chu Tu Dịch, Lục Thừa Tự bỗng cảm thấy nực cười trong lòng. Xem ra vị tiểu vương gia này mới chỉ thấu hiểu được tầng ý nghĩa trên bề mặt của Thái hậu, chứ chưa hề nhìn thấu được chân lý cốt lõi mà Người đang thực sự hướng tới.

Chàng không có thời gian để hàn huyên với Chu Tu Dịch, liền hạ thấp giọng hỏi: “Tiểu vương gia có biết Thái hậu nương nương đã đưa cho ta một phong thư viết tay không?”

Chu Tu Dịch liếc nhìn ống tay áo của chàng một cái, gật đầu, giọng điệu vẫn bình thản như cũ: “Biết.”

Đó là thư tay của Thái hậu về việc bổ nhiệm chức Tả Thị lang Bộ Lại mới.

Lục Thừa Tự muốn có được bút phê đỏ cho tấu chương về chính sách binh mã, thì bắt buộc phải mang phong thư tay đó về Nội các để đóng dấu chính thức.

Đây chính là một cuộc trao đổi.

Lục Thừa Tự hơi ngước mắt lên, nhìn vào đôi mắt đào hoa của đối phương, khựng lại một nhịp rồi mặt không cảm xúc nói: “Người đó chính là ta.”

Sắc mặt của Chu Tu Dịch biến đổi ngay tức khắc, nụ cười trên môi tan biến trong nháy mắt.

Hắn rõ ràng đã dâng lên ba người để Thái hậu lựa chọn, vậy mà Thái hậu lại chẳng dùng bất cứ một ai, Người thế mà lại dùng Lục Thừa Tự?

Dẫu sao cũng đã sống lâu trong vòng xoáy quyền lực, vị tiểu vương gia này nhanh chóng lột trần được ý đồ thực sự của Thái hậu. Ngay khoảnh khắc ấy, cái lạnh lẽo đâm thấu dọc sống lưng, sắc môi hắn cũng bắt đầu tái nhợt.

Lục Thừa Tự thấy hắn cuối cùng cũng đánh hơi ra được huyền cơ bên trong, liền khẽ cười một tiếng đầy lạnh lùng. Thế nhưng nụ cười ấy cũng nhanh chóng thu lại, chàng nói một câu đâm trúng tim đen hắn: “Nếu Lục Thừa Tự ta đã gia nhập phe cánh của Thái hậu, thì còn việc gì đến lượt Tiểu vương gia ngài nữa?”

Đôi mắt phượng của Chu Tu Dịch nheo lại từng chút một.

Theo hầu bên cạnh Thái hậu bấy nhiêu năm, hắn sớm đã nhìn thấu dã tâm thực sự của Người. Vì sao Người lại buông lời hứa hẹn bồi dưỡng hắn? Chẳng qua chỉ là muốn lợi dụng hắn để tranh giành quyền lực với phe Hoàng đế mà thôi. Còn về việc vị trí đó rốt cuộc có trao cho hắn hay không, trong lòng Chu Tu Dịch thực sự chẳng có chút tin tưởng nào.

Tất cả bọn họ chẳng qua cũng chỉ là những quân cờ trong tay vị Thái hậu nắm quyền nhiếp chính này mà thôi.

Di huấn của Thánh Tổ đã định rõ, không cho phép tông thất can dự triều chính, những năm qua phủ Tương Vương lún sâu vào cuộc tranh đấu này, sớm đã chẳng thể nào rút lui vẹn toàn được nữa, cũng chính vì lẽ đó mà bị giới Hàn lâm khinh ghét ra mặt.

Luận về thanh danh, họ không cách nào đặt lên bàn cân so sánh với những tinh hoa của giới sĩ phu này.

Luận về năng lực chính trị, lại có mấy ai bì kịp một Lục Thừa Tự vốn xuất thân từ Hàn lâm viện, từng tôi luyện qua chức huyện lệnh rồi mới thăng dần lên hàng trung khu triều đình.

Cho dù những năm qua hắn có dùng thủ đoạn ngầm tàn độc đến đâu, thay Thái hậu dọn dẹp không ít mớ hỗn độn, vơ vét bao nhiêu tiền thuế, thì trong mắt Thái hậu, hắn rốt cuộc vẫn chẳng bằng một vị Trạng nguyên xuất thân từ chính lộ.

Hoặc giả, ngân khố riêng của Thái hậu đã đầy, các nha môn như Ty Muối cũng đã bén rễ sâu dày, Thái hậu không còn nhiều chỗ cần dùng đến hắn nữa. Giờ đây, Người đang cấp thiết cần những quan viên thanh liêm, những sĩ tử có danh tiếng như Lục Thừa Tự để lôi kéo lòng người.

Một núi không thể hổ hai hổ, có Lục Thừa Tự ở đây, Chu Tu Dịch hắn thật sự phải đứng sang một bên rồi.

Dựa vào cái gì chứ?

Hắn nỗ lực đi đến ngày hôm nay, tuyệt đối không phải để làm bàn đạp cho kẻ khác hưởng lợi.

Đã vậy, hắn nhất định phải ngăn chặn phong thư tay kia bằng mọi giá.

Có lẽ, lý do Lục Thừa Tự chấp nhận đứng lại kỳ kèo, đối đáp với hắn cũng chính là vì mục đích này.

Ngăn chặn ý chỉ của Thái hậu cũng tương đương với tội kháng chỉ.

Bất kể là hắn hay Lục Thừa Tự, không một ai có thể gánh vác nổi tội trạng tày đình này.

Mà trên thế gian này, người duy nhất đủ tư cách để chặn đứng phong thư tay kia, chỉ có thể là đương kim Thánh thượng.

Dẫu biết rõ Lục Thừa Tự đang lợi dụng mình, nhưng Chu Tu Dịch lại chẳng còn sự lựa chọn nào khác.

Lục Thừa Tự tĩnh lặng quan sát hắn, thu trọn vào tầm mắt những biến chuyển liên tục trên gương mặt ấy. Đôi mắt thâm trầm ẩn dưới bóng cây quế, khẽ gợn lên một chút sóng lăn tăn, chàng hỏi: “Tiểu vương gia chắc hẳn biết mình nên làm gì rồi chứ?”

Những năm qua, để thâu tóm trung khu và kiềm chế Ty Lễ Giám, Thái hậu đã dùng người một cách bừa bãi không kiêng dè, khiến phe phái dưới quyền trở nên thượng thượng vàng hạ cám. Những kẻ đó mỗi người một mặt, mỗi người một lòng, tuyệt đối không phải là một khối sắt kiên cố. Đây chính là quân bài để chàng lật ngược ván cờ ngày hôm nay.

Mà chàng và Chu Tu Dịch vốn dĩ lại có hiềm khích, Chu Tu Dịch tuyệt đối không muốn nhìn chàng đầu quân cho Thái hậu.

Chu Tu Dịch hầu hạ Thái hậu nhiều năm, trong cung này chắc chắn có không ít tai mắt; nếu hắn sai một người đi mật báo với Thánh thượng, chuyện đó nhất định sẽ diễn ra thần không biết quỷ không hay.

Đều là người thông minh với nhau nên chẳng cần phải nói nhiều, thời gian gấp rút, Chu Tu Dịch chỉ kịp bỏ lại một câu: “Kéo chân Lưu Xuân Kỳ!”

Dứt lời, hắn liền xoay người, lẩn nhanh vào lối nhỏ nằm giữa phòng trực và hành lang.

Đợi hắn rời đi, Lục Thừa Tự lập tức ổn định lại tâm trạng, rồi sải bước đi về phía chính phòng ở hậu viện.

Băng qua lớp hành lang thứ hai là đến dãy viện lạc cuối cùng của Ty Lễ Giám. Phía cuối khoảng sân rộng lớn trước mặt, là năm gian phòng trực xếp thành hàng; bốn gian hai bên là nơi mấy vị công công Bỉnh bút đang ngồi, ai nấy đều đang gấp rút xử lý công văn, còn gian chính giữa chính là phòng trực của Chưởng ấn Ty Lễ Giám.

Người ngồi sau án thư khoác trên mình bộ Phi Ngư tứ bào, tuổi chừng ngũ tuần. Có lẽ nhờ được chăm sóc cực tốt, mà gương mặt của vị Lưu Chưởng ấn này không thấy rõ nếp nhăn, thần sắc cũng chẳng chút sắc sảo lộ liễu. Từng cử chỉ, điệu bộ của ông ta đều toát lên vẻ đạm mạc, thâm trầm, mang theo vài phần thần thái tự tại của kẻ đã kinh qua nghìn trùng sóng gió, mà nay trở về với tĩnh lặng.

Có lẽ đã bận rộn suốt cả nửa ngày, nên lúc này tiểu nội sứ chờ trước bàn của Lưu Xuân Kỳ đã không còn nhiều, Lục Thừa Tự liền bước tới phía trước.

Lưu Xuân Kỳ tinh mắt, đã sớm phát hiện ra chàng. Thấy vẻ mặt chàng trầm trọng, ông ta liền cười tươi rói, đứng dậy chắp tay vái chào: “Chào Lục đại nhân.”

“Bái kiến Lưu Chưởng ấn.”

Lục Thừa Tự hành lễ xong liền đứng im giữa sảnh không nhúc nhích.

Thái hậu đã đánh tiếng từ trước, nên Lưu Xuân Kỳ thừa hiểu trong tay Lục Thừa Tự đang nắm giữ thứ gì. Ông ta xua tay định đuổi mấy người trước mặt đi chỗ khác, không ngờ Lục Thừa Tự lại ngăn lại và nói: “Cứ theo thứ tự trước sau đi, bản tấu trong tay Lục mỗ cũng không gấp lắm.”

Vừa hay Lưu Xuân Kỳ cũng có chuyện muốn nói với Lục Thừa Tự, chi bằng cứ xử lý cho xong mấy bản tấu còn lại trước đã.

“Vậy ta xin phép không khách sáo với Lục đại nhân nữa.”

Ông ta vừa bận rộn làm việc, vừa không quên dặn dò tiểu nội sứ: “Mau châm trà cho Lục đại nhân.”

Tiểu nội sứ vâng dạ đáp lời.

Khoảng sân trước mặt rộng chừng mười trượng vuông, trên cây hay dưới hành lang, đâu đâu cũng bố trí canh gác, có thể nói là mười bước một người, đủ thấy Thái hậu canh giữ con dấu này vô cùng nghiêm ngặt. Thiên tử tuy nắm trong tay lục quân, nhưng Thái hậu cũng sở hữu Tứ vệ quân, đây là lực lượng tinh nhuệ nhất trong cấm quân, cùng với Đông xưởng và Cẩm y vệ. Hiện tại, sân viện này do Đề kỵ của Đông xưởng trấn giữ, phòng thủ kiên cố, muốn cướp đoạt quốc tỷ e là khó. Hơn nữa, lúc này quốc khố đang trống rỗng, biên cương bốn phía bất ổn, một khi binh đao tương kiến thì hậu quả sẽ khôn lường.

Lục Thừa Tự vốn còn muốn nán lại thêm một lát để kéo dài thời gian.

Đáng tiếc là Lưu Xuân Kỳ dường như không muốn để chàng phải đợi lâu, ông ta nhanh chóng đuổi mấy người trước mặt đi, rồi vẫy tay ra hiệu cho chàng lại gần: “Lục đại nhân, mau lại đây ngồi đi.”

Trước án thư của Lưu Xuân Kỳ đặt một chiếc đôn gấm, Lục Thừa Tự chậm chạp nhích lại gần rồi ngồi xuống, trước tiên đưa lên tờ sớ về binh mã chính vụ. Thế nhưng Lưu Xuân Kỳ lại là kẻ cực kỳ cẩn trọng, ông ta lệnh cho chàng phải dâng cả hai bản cùng lúc.

Lục Thừa Tự cũng chẳng hề tin tưởng ông ta, bèn mở song song hai bản sớ đặt ngay trước mặt Lưu Xuân Kỳ. Ông ta nhìn thấu tâm tư của Lục Thừa Tự, rằng chàng đang lo ông ta chỉ đóng dấu lên bức thư tay mà lờ đi tờ sớ binh mã, ông ta lập tức thốt lên: “Lục đại nhân có vẻ không yên tâm về tạp gia cho lắm nhỉ!”

Lục Thừa Tự đè tay lên hai bản sớ, chàng cười nói: “Con dấu nằm trong tay ngài, giờ đây Lục mỗ chẳng khác nào cá nằm trên thớt, chẳng phải tất cả đều do Chưởng ấn ngài quyết định sao?”

Lưu Xuân Kỳ tuy là tâm phúc của Thái hậu, tuyệt đối không thể phản bội Người, nhưng thực chất ông ta cũng là kẻ có lòng với giang sơn xã tắc. Ông ta thở dài một tiếng: “Ngươi đặt ngay ngắn lại đi, ta sẽ đóng dấu một thể.”

Nói xong, ông ta ôm lấy bảo tỷ, chấm vào chu sa mực đỏ, nể mặt Lục Thừa Tự mà đóng dấu vào tờ sớ binh mã trước. Đến lúc định đóng bản thứ hai, chỉ thấy Lục Thừa Tự nhanh như cắt vươn tay ra, đè chặt cả hai bản sớ dưới lòng bàn tay mình.

Lưu Xuân Kỳ ngẩn người ra một chốc, nhận ra Lục Thừa Tự có vẻ cực kỳ miễn cưỡng, ông ta liền bật cười: “Sao thế, Lục đại nhân vẫn chưa suy nghĩ thông suốt à?”

Lục Thừa Tự tỏ vẻ nghiêm nghị: “Chưởng ấn cũng biết rõ rằng, một khi con dấu này hạ xuống thì Lục mỗ sẽ phải gánh chịu muôn vàn tiếng xấu. Lúc đó, ta còn mặt mũi nào để đối diện với Thánh thượng, đối diện với Thôi Thủ phụ đây?”

Lưu Xuân Kỳ dĩ nhiên hiểu rõ, bức thư tay này bất lợi cho Lục Thừa Tự đến nhường nào, nhưng ngoài mặt vẫn cực kỳ kiên nhẫn khuyên giải: “Lục đại nhân vì việc binh mã chính vụ mà nhận sai phái của Thái hậu, rõ ràng là mang trong mình tấm lòng lo cho nước cho dân. Bệ hạ và Thủ phụ vốn có lồng ngực bao la như biển cả, tự khắc sẽ thấu hiểu cho nỗi khổ tâm này của ngươi thôi.”

Lục Thừa Tự gặng hỏi đầy gay gắt: “Chẳng lẽ Thái hậu nương nương không thể hoàn trả quốc tỷ cho Thánh thượng, để thiên hạ được đồng lòng quy phục hay sao?”

Lưu Xuân Kỳ tỏ vẻ không hài lòng: “Lục đại nhân nói lời đó là ý gì? Thánh thượng là xã tắc, chẳng lẽ Thái hậu lại không phải là xã tắc sao? Tiên đế lúc lâm chung đã mệnh cho Thái hậu nương nương thăng triều nhiếp chính, Thái hậu cũng chỉ là tuân theo di mệnh của Tiên đế mà thôi! Vả lại Thiên tử hiện giờ không có người kế vị, lòng người trong triều ngoài nội đang dao động, Thái hậu càng nên giúp Bệ hạ ổn định triều cương. Lục đại nhân là bề tôi của xã tắc, chẳng lẽ lại không hiểu đạo lý này?”

“Di mệnh này, một lần tuân theo đã kéo dài suốt mười lăm năm sao?”

Lưu Xuân Kỳ tức thì nổi giận, đổi hẳn giọng điệu: “Lục đại nhân, nam tử hán đại trượng phu phải quyết đoán đúng lúc, ngươi việc gì phải mang thói đàn bà yếu đuối như thế?”

“Người đâu, kéo Lục đại nhân ra!”

Hai tiểu nội thị đứng bên cạnh nghe lệnh lập tức tiến lên, định tóm lấy cổ tay Lục Thừa Tự. Thế nhưng ngay lúc đó, từ phía hành lang xuyên đường có ba người đang rảo bước đi tới. Dẫn đầu là một người vận phi bào thêu bổ tử Cẩm Kê nhị phẩm, tuổi đã ngoài năm mươi. Những nếp nhăn sâu hoắm từ giữa chân mày hằn rõ ra xung quanh, hốc mắt sâu, ánh mắt lạnh lẽo như đá băng. Ông ta tay cầm chiếu thư màu vàng tươi, khí thế hừng hực lao về phía này, chính là Binh bộ Thượng thư Tiêu Cừ.

“Thủ thư của Thánh thượng, lệnh cho Lưu Xuân Kỳ ngừng việc đóng dấu!”

Vị Tiêu Các lão này tuy không thâm trầm mưu mô như những vị Các lão khác, nhưng lại hơn người ở cái tính nóng nảy như lửa, hễ cản đường là “gặp Phật giết Phật”. Lần nào đánh nhau mà chẳng phải ông ta là người xông pha lên trước; đám thị vệ trong sân đều bị uy thế của ông ta làm cho khiếp sợ, chẳng ai dám manh động.

Lưu Xuân Kỳ ngước mắt nhìn lên, thấy đi cùng ông ta là hai võ quan Vũ Lâm vệ, sắc mặt lập tức biến đổi khôn lường. Ông ta chẳng còn màng đến việc đóng dấu nữa, nhanh tay ôm chặt lấy bảo tỷ vào lòng, rồi nhanh chóng lùi về phía sau. Cùng lúc đó, đám Đề kỵ Đông xưởng đang trực cũng vội vàng lao tới, che chắn cho ông ta vào giữa vòng vây.

Lục Thừa Tự chớp lấy thời cơ, nhanh như cắt vồ lấy hai bản sớ rồi rảo bước lùi xa.

Tất cả những việc này đều diễn ra trong chớp mắt.

Đợi đến khi Tiêu Cừ bước lên bậc thềm, Lục Thừa Tự phía bên này đã kịp rút lui về cạnh ông ta. Trong khi đó, Lưu Xuân Kỳ cũng vội vàng giao bảo tỷ cho thị vệ đứng sau, rồi tiến lên nghênh đón Tiêu Cừ.

Tiêu Cừ liếc nhìn Lục Thừa Tự trước để xác nhận mọi chuyện đã ổn thỏa, sau đó mới dời tầm mắt sang Lưu Xuân Kỳ: “Lưu Xuân Kỳ tiếp chỉ!”

Lưu Xuân Kỳ nhìn chằm chằm vào Tiêu Cừ với thần sắc phức tạp, cuối cùng đành bất lực quỳ xuống: “Thần Lưu Xuân Kỳ tiếp chỉ.”

Thiên tử dù không có ấn tỷ trong tay, nhưng vẫn nắm giữ danh phận lễ pháp tối cao. Bức thư tay kia đã bị Lục Thừa Tự đoạt mất, tờ thánh chỉ này của Thiên tử tuy chỉ là một “tấm vải che mặt” để giữ chút thể diện, nhưng đồng thời cũng là lá bùa miễn tội cho bản thân ông ta, Lưu Xuân Kỳ không thể không nhận.

Tiêu Cừ đặt thẳng bản thánh chỉ vào tay ông ta, hừ lạnh một tiếng đầy phẫn nộ rồi cùng Lục Thừa Tự xoay người rời đi.

Lưu Xuân Kỳ nhìn theo bóng lưng hai người, mồ hôi lạnh chảy ròng ròng khắp người.

Sở dĩ vừa rồi ông ta không màng tới việc đóng dấu, chính là vì lo sợ Tiêu Cừ sẽ dẫn người thừa cơ cướp lấy ngọc tỷ. Một khi ngọc tỷ rời khỏi tay, thì con đường chết của ông ta coi như đã định.

Phía bên này, Lục Thừa Tự trở về cung Càn Thanh, trước tiên dâng sớ lên, sau đó mới bẩm báo đầu đuôi sự việc với Thánh thượng. Nghe xong, mọi người trong điện đều đồng loạt thở phào nhẹ nhõm.

Hứa Các lão thậm chí còn hướng về phía chàng mà trịnh trọng vái chào một cái: “Lục đại nhân lâm nguy không loạn, dám nhổ răng cọp, Hứa mỗ thật lòng khâm phục.”

Không một ai hay biết rằng, trong chưa đầy hai canh giờ ngắn ngủi ấy, bộ máy đầu não của Đại Tấn đã hoàn thành một cuộc giao phong không đổ máu.

Sau sự việc, Thái hậu dĩ nhiên nổi trận lôi đình, nhưng điều đó không còn quan trọng nữa. Lục Thừa Tự đã có được bản sớ này, bèn phối hợp cùng Bộ Binh liên kết ra văn bản, ban bố khắp các châu quận huyện, bắt tay vào thực hiện cuộc cải cách binh mã chính vụ.

Nếu nói lần chặn đứng thuế ngân của Ty Lễ giám trước đây, là trận chiến đầu tiên giúp Lục Thừa Tự bộc lộ tài năng, thì việc thúc đẩy chính sách binh mã lần này đã giúp chàng tỏa sáng rực rỡ. Trong nhất thời, danh tiếng của chàng đạt đến đỉnh điểm, phong thái lấn lướt khắp triều dã, được xem là người kế tục của Thôi Tuần.

Ròng rã hơn mười ngày trời, Lục Thừa Tự đều bận rộn với sự vụ này. Đến ngày hai mươi tháng Chín, Thánh thượng tuyên triệu chàng vào cung, để ban thưởng cho công lao hãn mã của chàng, Ngài đặc biệt mở kho riêng, thưởng cho Lục Thừa Tự mười xấp lụa là, một hộp Đông châu và một rương thư họa cổ ngoạn, tất cả đều có giá trị không hề nhỏ.

Chạng vạng tối, y mang theo mấy rương ban thưởng trở về phủ. Nghĩ đến việc đã mấy ngày nay chưa về thăm vợ con, chàng đến cả quan bào cũng chẳng kịp thay, cứ thế đi thẳng tới Hạ Sảng Trai.

Ngày hôm ấy trời lại đổ mưa, mưa khá nặng hạt, từng dòng nước tuôn xuống từ mái hiên như một bức rèm châu.

Phía sau bức ‘rèm châu’ ấy, một người đang kéo chiếc đôn gấm nhỏ, tựa lưng vào cột hành lang với dáng ngồi lười biếng.

Hôm nay nàng lại thay một bộ váy gấm thêu hoa màu xanh khổng tước, bên ngoài khoác áo chẽn ngắn lót lông chuột xám dệt kim tuyến, trên cổ tay trắng ngần như tuyết đeo một đôi vòng ngọc long phượng. Nàng đang chống cằm ngắm nhìn màn mưa, nhận ra tiếng bước chân truyền đến, liền hơi liếc mắt nhìn người đàn ông cao lớn kia, đôi môi nhỏ nhắn nhếch lên: “Chà, Lục đại nhân mà cũng biết đường về cơ đấy?”

Lục Thừa Tự mang theo mấy món ban thưởng về phủ, vốn định lấy lòng “vị tổ tông nhỏ” này một chút, nhưng rõ ràng là chàng không được như ý nguyện. Có điều, lần này chàng nhận lỗi rất dứt khoát, nâng tay áo lên hành lễ thật sâu: “Mấy ngày qua triều chính bận rộn, đã bỏ bê phu nhân rồi.”

“Đã bỏ bê suốt năm năm trời, mấy ngày này thì bõ bèn gì?” Hoa Xuân chống tay vào thắt lưng, nàng chậm chạp đứng dậy.

Lục Thừa Tự dạo gần đây toả sáng chốn triều đình, tâm trạng đang rất tốt, chàng sáng suốt không đấu khẩu với nàng mà ôn tồn nói: “Đúng rồi phu nhân, Bệ hạ có ban thưởng không ít thứ, tất cả đều dành cho nàng cả, nàng xem nên sắp đặt ở đâu thì ổn?”

Phía sau chàng, mấy tên sai vặt đi theo cũng đặt các rương hộp xuống, sau đó được bà tử dẫn đi ra khỏi lối hành lang.

Hoa Xuân liếc nhìn những rương hộp kia bằng ánh mắt lạnh lùng, rồi chỉ tay về phía dãy hành lang quanh sân: “Dám hỏi Lục đại nhân, cái sân này chật hẹp đến thế kia, ngài bảo có thể sắp xếp vào chỗ nào được chứ?”

Đợi chàng mấy ngày ròng không thấy về, lòng Hoa Xuân vẫn còn đang nghẹn ứ cục tức: “Nơi này mùa hè thì oi bức, mùa đông lại lạnh lẽo, vừa chật chội vừa tù túng, ta không ở nữa. Ngài mau chóng ký tên đi, để ta rời khỏi đây.”

Lục Thừa Tự giả vờ như không nghe thấy câu cuối cùng của nàng, chàng đưa tay day trán, gương mặt đầy vẻ hối lỗi: “Dạo này bận quá, ta lại quên bẵng mất chuyện viện tử. Phu nhân chớ vội, vi phu sẽ đi đổi cho nàng một cái viện khác ngay đây.”

Hoa Xuân đâu phải muốn chàng đổi viện tử, mắt thấy chàng xoay người định đi ra ngoài, nàng liền sốt sắng gọi giật lại: “Lục Thừa Tự, cái phủ này ta đã dạo khắp lượt rồi. Ngoại trừ một cái viện bốn gian đang sửa sang ra, thì mấy viện còn lại cái thì hẻo lánh, cái thì chỉ là viện phụ, còn chẳng bằng cái Hạ Sảng Trai này. Ta nói cho chàng hay, chàng không cần phải bày vẽ làm gì, cả đời này ta không thèm sống cùng chàng nữa!”

Lục Thừa Tự coi như không nghe thấy gì, một mực đi thẳng không hề ngoảnh đầu lại.

Hoa Xuân thấy chàng chẳng chút mảy may lay chuyển, bèn bước dồn theo mấy bước, vì quá tức giận nên càng bồi thêm lời khích bác: “Chẳng phải ngày ngày chàng đều treo cái danh phu nhân của Thị lang tam phẩm trên cửa miệng đó sao? Một vị Thị lang tam phẩm thì nên ở phủ đệ quy cách thế nào, chắc không cần tới lượt ta phải dạy ngài đâu nhỉ.”

“Đúng, không sai, Thị lang tam phẩm phải ở viện chính năm gian. Cả cái Lục gia này chỉ có đúng ba viện là đúng quy cách, một cái là phòng chính của lão thái thái, một cái đại bá phụ và đại bá mẫu đang ở, cái còn lại thì bị nhà đệ đệ ruột của chàng chiếm rồi. Ta nói cho chàng hay, không có viện năm gian thì không chứa nổi cái phong thái của phu nhân Thị lang tam phẩm này đâu. Dám hỏi Lục đại nhân, chàng tính đi động vào vị ‘thần tiên’ nào đây?”

Các cấp quan lại trong triều được phép ở phủ đệ quy cách thế nào, Lục Thừa Tự dĩ nhiên là người hiểu rõ nhất. Trước đây chàng dồn hết tâm trí vào chuyện triều đường, mọi việc trong Lục phủ đều không màng tới, nhưng nay đã đón Hoa Xuân vào kinh, lẽ đương nhiên là không thể để nàng phải chịu uất ức rồi.

Nghe một tràng nói năng sắc lẹm như súng liên thanh của nàng, chàng cũng đã hiểu ra vấn đề, nhưng gương mặt vẫn không hề dao động: “Nàng không cần lo lắng, việc này cứ để ta lo.” Chàng trấn an một câu rồi tiếp tục rảo bước đi ra ngoài.

Hoa Xuân thấy chàng có vẻ định làm thật, thì chớp chớp mắt đầy ngạc nhiên.

Chuyện này đương nhiên không thể động đến chỗ của lão thái thái; Đại lão gia giữ chức Quang lộc tự khanh hàm tòng tam phẩm, nên Đại thái thái ở đó cũng là danh chính ngôn thuận. Thấy chàng cứ thế hùng hổ đi ra ngoài với vẻ đầy quả quyết, chẳng lẽ chàng định “chọc vào ổ” của chính đệ đệ ruột mình hay sao?

Tuy ý định ban đầu của Hoa Xuân là muốn hoà ly với chàng, nhưng lúc này cũng không nén nổi trí tò mò muốn hóng chuyện, thế là cũng nhấc chân đi theo.

Lục Thừa Tự đi tới lối hành lang, nghe thấy tiếng bước chân bèn dừng lại ngoái đầu nhìn. Thấy nàng bám theo, chàng liền ôn tồn ngăn lại: “Giữa chị em dâu các nàng với nhau, sớm tối chạm mặt, nàng đừng đi thì hơn. Vai ác này cứ để ta làm.” Nói xong, chàng xách vạt áo tế bào bước khỏi hành lang, rồi dọc theo đường mòn đi về phía Thùy Hoa môn.

Hoa Xuân nghe xong những lời này, trước tiên là ngẩn người ra, nhưng ngay sau đó lại nở một nụ cười lạnh lùng.

Quả nhiên, một kẻ lăn lộn trong chốn triều đình đầy rẫy những mưu hèn kế bẩn như chàng, làm sao có thể không thông thạo chuyện nhân tình thế thái cho được. Nhìn xem, chẳng phải là chàng hiểu rõ mười mươi đó sao?

Chẳng qua trước đây chàng không hề coi trọng nàng mà thôi.

Hoa Xuân nghiến răng quay bước trở về, nhưng mới đi được vài bước, nàng bỗng khựng lại vì nhận ra có điều gì đó không đúng.

Đằng nào nàng cũng chẳng ở lại đây nữa, còn sợ đắc tội với ai cơ chứ?

Chuyện ồn ào thế này, không xem thì phí.

Nàng kéo tay Tùng Đào: “Đi, đến thượng phòng!”

Lục Thừa Tự ở bên này vừa lấy bản đồ bố trí sân vườn của toàn phủ từ chỗ quản gia, đang chuẩn bị đi tới thượng phòng của lão thái thái, thì thấy Hoa Xuân đã khoác áo choàng, dáng vẻ đầy khí thế bám theo sau.

Chương 14.

Băng qua thùy hoa môn là một khoảng sân rộng, phía bên phải có một lối nhỏ dẫn ra cửa hông phía Đông, thường ngày để cho nữ quyến ra vào; bên trái là hoa sảnh, hành lang của hoa sảnh nối liền với một dãy hành lang cuốn, dẫn thẳng đến phòng khách năm gian ở phía trước, đi tiếp ra sau nữa chính là vinh hoa đường của lão thái thái.

Lục Thừa Tự đi tới dưới hành lang của phòng khách, thấy Hoa Xuân từ hành lang sau của hoa sảnh vòng lại, chàng bèn đứng lại định đợi nàng một chút. Nào ngờ Hoa Xuân vừa thoáng thấy chàng, nàng liền rẽ ngay sang phải theo dãy hành lang cuốn, đi vòng qua con đường nhỏ men theo hành lang ngoài, chỉ để lại cho chàng một bóng lưng điệu đà mà thanh thoát.

Lục Thừa Tự bị làm cho tức đến bật cười.

Chàng cầm tờ bản vẽ bước vào chính sảnh, lúc này hai vị quản gia phía sau cũng vội vã chạy tới, hầu hạ chàng rửa tay rửa mặt rồi thay một bộ thường phục, sau đó chàng mới khởi hành đi về phía Vinh Hoa đường.

Mưa đập vào lá chuối, đêm cuối thu se lạnh, trong phủ ít người qua lại, nhưng Vinh Hoa đường của lão thái thái lại đèn hoa rực rỡ, nhân khí hưng vượng.

Lão thái thái tuổi tác đã cao nên giấc ngủ không còn được ngon giấc, bà thà thức muộn một chút rồi mới đi nghỉ. Chính vì thế, mỗi ngày đều có con dâu các phòng đến bầu bạn trò chuyện cùng bà. Lục phủ vốn đông người, từ dâu con, cô nương các phòng cho đến những người khách đang tá túc trong phủ, ai mà chẳng muốn nhận được sự sủng ái của lão thái thái, đương nhiên là đều vắt óc tìm đủ mọi cách để chen chân vào đây.

Người đông, chính phòng không chứa hết, thế là người ta dọn dẹp hai gian bên tây sương phòng, bày thêm lò sưởi, hoa quả cùng bàn ghế cho các nàng dâu đánh bài cười nói. Lão thái thái nghe tiếng ồn ào rộn ràng ấy, trong lòng cũng thấy thư thái hơn nhiều.

Hoa Xuân cắt đuôi được Lục Thừa Tự, đi trước một bước đến hành lang dẫn vào Vinh Hoa đường. Bà tử gác cửa nhìn thấy nàng, tức thì vừa kinh ngạc vừa vui mừng: “Thỉnh an Thất thiếu phu nhân.”

Hoa Xuân vào kinh đã bao lâu nay, có bao giờ thấy nàng đến viện của lão thái thái vào ban đêm đâu, hôm nay đúng là mặt trời mọc đằng Tây rồi.

Hoa Xuân khẽ gật đầu với bà ấy, liếc mắt nhìn quanh viện chính; bảy gian chính phòng đều thắp đèn sáng trưng, nhưng lại vô cùng yên tĩnh, ngược lại phía sương phòng bên phải mới truyền đến tiếng cười nói. Nàng hỏi bà tử gác cửa: “Lão thái thái đã đi nghỉ chưa?”

“Bẩm thiếu phu nhân, vẫn chưa ạ, lão phu nhân đang ở trong phòng trò chuyện cùng Đại lão gia.”

Thảo nào phía nhà chính không nghe thấy tiếng động gì.

“Vậy lát nữa ta hãy vào thỉnh an lão thái thái, giờ ta sang sương phòng ngồi trước đã.”

Bà tử gác cửa ra hiệu mời nàng đi trước, dẫn nàng tiến về phía tây sương phòng: “Thiếu phu nhân đến đúng lúc lắm, Nhị cô nương và Ngũ thiếu phu nhân cũng đang ở bên trong đấy ạ.”

Hoa Xuân nghe nói Giang thị có mặt ở bên trong, bước chân hơi khựng lại một nhịp.

Dạo gần đây Ngũ tẩu Giang thị thực sự đối xử với nàng cực kỳ tốt, Hoa Xuân cũng hiểu rõ lý do, là vì phu quân của tẩu ấy đang trông mong Lục Thừa Tự giúp mưu cầu một chức quan. Ngặt nỗi hiện giờ chính Hoa Xuân còn đang định bỏ đi, đương nhiên không thể đi giúp Giang thị thuyết phục phu quân của mình được, thế nên đối mặt với Giang thị, nàng cảm thấy có chút khó lòng đáp lại thịnh tình.

Trong lúc Hoa Xuân còn đang lưỡng lự, thì bà tử gác cửa đã nhiệt tình vào trong thông báo. Ngũ thiếu phu nhân Giang thị nghe tin nàng tới cũng rất kinh ngạc, thậm chí còn đứng dậy niềm nở đón ra tận cửa: “Hoa Xuân, thật sự là muội sao?”

Nàng ấy chìa tay về phía Hoa Xuân, Hoa Xuân cũng thuận thế nắm lấy tay của nàng ấy, rồi cả hai cùng bước vào phòng.

Trong phòng đặt hai chiếc lò sưởi: một chiếc lò vây hình vuông và một chiếc lò than chạm rỗng. Lò than được đặt dưới một chiếc bàn dài, bên cạnh bàn là một cô nương trẻ tuổi ngồi đó. Nàng ta có làn da cực kỳ trắng, gò má hơi cao, thần sắc vô cùng thanh lạnh, dường như chẳng bao giờ nở nụ cười với bất kỳ ai, đó chính là Nhị cô nương Lục Tư An.

Dẫu vậy, lễ tiết của nàng ta vẫn rất chu toàn; vừa thấy Hoa Xuân, nàng ta lập tức đứng dậy rồi chắp tay thi lễ.

“Thỉnh an Thất tẩu tẩu.”

“Nhị muội muội bình an.”

Hoa Xuân khẽ gật đầu, rồi cùng Giang thị ngồi xuống bên lò sưởi. Hai đứa con của Giang thị cũng được mang theo, đang được vú nuôi trông nom chơi tú cầu trong phòng. Giang thị gọi các con lại thỉnh an Hoa Xuân, sau đó mới để chúng tiếp tục chơi đùa, rồi hỏi: “Sao muội không mang theo Phái ca nhi sang đây?”

Hoa Xuân đắp chiếc chăn mỏng lên đầu gối, nhìn hai đứa trẻ đang nô đùa mà bật cười: “Thằng bé ấy à, gần đây chẳng biết chịu sự thúc ép của ai, mà tối nào cũng đòi ở lỳ trong thư phòng của Đại ca nhi để luyện chữ rồi ạ.”

Giang thị nghe vậy thì vừa hâm mộ vừa bật cười: “Thật là một đứa nhỏ đáng yêu biết bao. Muội xem cái đứa nhà ta này, rõ ràng lớn hơn Phái nhi nhà muội tận hai tuổi, vậy mà chẳng chịu học hành gì cả.”

Cậu bé Chiếu ca nhi nghe thấy thế thì không bằng lòng, cu cậu đang ngồi xổm ở đó liền sa sầm nét mặt, hùng hồn biện bạch cho mình: “Mẹ, rõ ràng là con đã ôn tập xong hai trang bài vở rồi, mới theo mẹ sang thượng phòng đấy chứ!”

“Được rồi, được rồi, là mẫu thân trách nhầm con, con là đứa trẻ ngoan nhất trên đời.”

Chiếu ca nhi lúc này mới nhoẻn miệng cười tươi.

Giang thị vẫn chưa dứt nụ cười, quay sang hỏi Hoa Xuân: “Sao hôm nay muội lại tới đây?”

Hoa Xuân từ sau lần nghe được lời kia của Lục Thừa Tự, thì rất hiếm khi lộ diện trước mặt lão thái thái.

Hoa Xuân tùy tiện đáp: “Chẳng phải hôm nay Thất gia nhà muội định tới thỉnh an lão thái thái sao, nên muội mới thuận đường qua đây ngồi một lát.”

Giang thị cũng không nghĩ ngợi nhiều, ghé sát vào tai nàng nói khẽ: “Ta cũng vậy thôi. Muội vốn biết ngày thường ta chẳng mặn mà gì với việc đến đây nịnh nọt lấy lòng. Chẳng qua nghe tin hôm nay vị thê thiếp nhà lão bát bị trẹo chân, đã lui về phòng nghỉ ngơi rồi; ả không có mặt ở đây nên ta mới tới.” Cũng không thể để lão thái thái nghĩ rằng nàng ta là kẻ bất hiếu.

Hoa Xuân khẽ gật đầu, ánh mắt lướt qua Nhị cô nương ở phía bên kia. Nhị cô nương vẫn đang chuyên tâm vẽ tranh, đối với lời của bọn họ thì vờ như không nghe thấy, cũng chẳng mảy may xen vào một câu.

Trong lúc ấy, bên ngoài cuối cùng cũng có động tĩnh. Nghe thấy tiếng chào hỏi cung kính của đám bà tử, Hoa Xuân liền biết là Lục Thừa Tự đã tới rồi.

Lục Thừa Tự vốn chẳng bao giờ thích chen chân vào chỗ đông người, chàng chọn đi lối hành lang uốn lượn phía Đông sương phòng để tiến vào chính đường. Đã có bà tử bẩm báo từ trước, nên khi chàng bước vào, ma ma đã đặt một chiếc lò than chạm rỗng cầm tay trước mặt lão thái thái. Đại lão gia ngồi ở chiếc ghế bành phía dưới bên trái, sát cạnh lão thái thái; còn chiếc ghế bên phải cũng đã được kê lại gần hơn, rõ ràng là vị trí dành riêng cho chàng.

Lục Thừa Tự vội vàng tiến lên thỉnh an. Đại lão gia vừa trông thấy chàng thì gương mặt đã rạng rỡ ý cười, chỉ tay về phía chàng mà thưa với lão thái thái rằng: “Tự ca nhi dạo gần đây có danh tiếng lẫy lừng nơi triều đình, thật sự đã làm rạng danh Lục phủ chúng ta. Bất luận nhi tử có đi đến đâu, cũng không thấy ai là không hết lời khen ngợi nó với nhi tử cả.”

Con cháu trong nhà có chí khí, lão thái thái dương nhiên cũng cảm thấy vô cùng an lòng. Bà vẫy tay ra hiệu cho Lục Thừa Tự ngồi lại gần, nhìn chàng mà nói rằng: “Cũng không uổng công năm đó, ta và tổ phụ con đã dốc lòng vun trồng.”

Đại lão gia lập tức cười nói phụ họa: “Đúng là như thế ạ. Lão tứ vốn có tính phóng túng không đáng tin, lại chẳng mấy khi ở nhà, tứ đệ muội thì quanh năm bệnh tật ốm yếu, đây chẳng phải đều là nhờ công lao dạy dỗ của mẫu thân và phụ thân đó sao.”

Lục Thừa Tự đương nhiên thấu hiểu ẩn ý trong những lời này, chàng im lặng lắng nghe, thần sắc trên mặt vẫn bình thản, chẳng để lộ ra chút manh mối nào.

Chàng mở lời: “Vừa nãy nhi tôn có hỏi qua ma ma, được biết hôm nay tổ mẫu lại mời thái y đến phủ, phải chăng trong người lại thấy không được khỏe ạ?”

Lão thái thái tay khẽ xoa thái dương, lắc đầu nói: “Cũng không có gì, chỉ là ngày hôm qua thấy trong người hơi mệt mỏi, định bụng mời Liễu thái y kê cho mấy viên thuốc an thần mà thôi, không có gì đáng ngại cả.”

Lục Thừa Tự nghe xong liền gật đầu, tỏ ý đã yên tâm.

Đại lão gia trông thấy trong tay chàng đang nắm một vật, lấy làm hiếu kỳ bèn hỏi: “Tự ca nhi cầm vật gì trên tay thế kia?”

Lục Thừa Tự thuận thế đẩy đưa câu chuyện, đưa tờ bản vẽ kia qua, nói: “Đại bá phụ có mặt ở đây thật đúng lúc, điểu nhi vừa hay có chuyện muốn thỉnh giáo. Hiện nay ở trong phủ, là ai đang nắm quyền đương gia vậy ạ?”

Giọng điệu của chàng trầm ổn vững vàng, ngữ khí không nhanh không chậm, nhưng lại tựa như làn nước nơi vực thẳm, không chút gợn sóng mà lại tỏa ra hơi lạnh thấu xương.

Đại lão gia nhận thấy sự khác lạ trong lời nói của Lục Thừa Tự, ban đầu thần sắc hơi khựng lại, sau đó mới chậm rãi đón lấy tờ bản vẽ. Ông liếc nhìn một lượt, vẫn chưa thể đoán định được ý đồ của chàng là gì.

“Chuyện nội trạch trong phủ vốn do Đại bá mẫu của con làm chủ… Tự nhi, con…”

Đại lão gia còn đang định nói thêm gì đó, nhưng lại nghe thấy Lục Thừa Tự cười nhạt mà ngắt lời: “Phiền Đại bá phụ, hãy mời Đại bá mẫu sang đây một chuyến.”

Đại lão gia nghe vậy thì chân mày khẽ nhíu lại, liếc nhìn Lục Thừa Tự một cái, rồi mới dời tầm mắt sang phía lão thái thái.

Lão thái thái cảm nhận được, tôn nhi của mình lần này tới đây là có ý chẳng lành, bà trầm giọng hỏi: “Tự ca nhi, rốt cuộc là có chuyện gì? Có lời gì con cứ việc nói thẳng ra xem nào.”

Lục Thừa Tự thưa: “Tổ mẫu, tôn nhi sai người đón mẫu tử Hoa Xuân vào kinh, trong phủ lại sắp xếp cho nàng ấy ở tại Hạ Sảng Trai. Viện lạc đó vừa chật hẹp lại cũ kỹ, đến nỗi rương hòm hồi môn của nàng cũng chẳng có chỗ mà bày ra. Khổ nỗi tính tình nàng vốn yếu đuối lại khờ khạo, chịu uất ức cũng chẳng hé răng nửa lời. Mãi đến hôm nay, khi tôn nhi mang theo thưởng ban của Thánh thượng về phủ, thấy không có nơi nào để đặt lễ vật thì mới sực nghĩ đến chuyện này. Chính vì thế, tôn nhi mới muốn tới phòng của tổ mẫu hỏi cho rõ, năm đó tư thất này đã được phân chia và sắp xếp như thế nào.”

Gương mặt tuấn tú nhã nhặn ấy vẫn treo một nụ cười nhàn nhạt, ngữ khí cũng vô cùng ôn hòa, không chút gắt gao.

“Chuyện này… rốt cuộc là ai đương gia, là ai làm chủ vậy ạ?”

Câu hỏi này của chàng lại khiến lão thái thái rơi vào trầm mặc.

Trước nay vốn vì bà không mấy có thiện cảm với Hoa Xuân, nên mọi chuyện liên quan đến nàng bà đều chẳng buồn nhúng tay, cũng chưa từng để mắt tới.

Thế nhưng trung quỹ của Tứ phòng xưa nay vốn nằm trong tay Tô thị, chuyện này Tô thị khó lòng thoái thác trách nhiệm.

Lời chất vấn này của Lục Thừa Tự, thực chất chính là đang hỏi tội Tô thị.

Lão thái thái lẽ tất nhiên là muốn bảo lãnh cho Tô thị, nhưng ngoài mặt lại nghiêm giọng: “Phủ đệ này là do tổ mẫu của con quản lý, Tự nhi lẽ nào lại muốn hỏi tội tổ mẫu hay sao?”

“Tôn nhi sao dám ạ.” Lục Thừa Tự khẽ cười, chậm rãi tựa lưng vào ghế bành rồi nói tiếp: “Tôn nhi sớm đã nghe danh tổ mẫu vốn thành tâm hướng Phật, không còn mặn mà quản thúc tạp vụ trong phủ nữa, việc này hẳn là do đám quản sự tức phụ phía dưới tự ý làm càn rồi.”

Lão thái thái nghe xong thì từ từ thở hắt ra một hơi, bà chau mày nói: “Chuyện con vừa nói, tổ mẫu đã rõ rồi. Ngày mai tổ mẫu nhất định sẽ tra xét cho minh bạch, trả lại cho con một lời giải thích thỏa đáng.”

Thế nhưng Lục Thừa Tự lại đáp: “Tổ mẫu, tôn nhi không đợi được đến ngày mai đâu ạ.”

Sắc mặt lão thái thái đã bắt đầu có chút khó coi.

Đại lão gia nghe xong những lời này của Lục Thừa Tự, rất nhanh đã hiểu ra chỗ mấu chốt bên trong. Ông vốn chẳng phải kẻ hồ đồ, nếu sự việc đúng như lời Lục Thừa Tự nói, thì cách sắp xếp này quả thật không thỏa đáng. Sắc mặt ông tức thì sa sầm xuống, trầm giọng nói: “Việc trong nhà là do Đại bá mẫu con quán xuyến, chuyện này nàng ấy cũng có lỗi, ta sẽ lập rức cho gọi nàng ấy tới đây ngay.”

Dứt lời, ông ra hiệu cho ma ma đang đứng ngoài cửa. Ma ma nhìn lão thái thái một lượt, thấy bà vẫn giữ vẻ trầm mặc, chẳng hề lên tiếng phản đối, nên chỉ đành lui ra khỏi noãn các để đi gọi người.

Nhất thời, không gian trong noãn các trở nên tĩnh lặng như tờ, bầu không khí chẳng còn được hài hòa như lúc ban đầu nữa.

Một ma ma lớn tuổi đứng bên cạnh lão thái thái thấy vậy, liền tự tay đón lấy chén trà đã châm đầy từ trong tay tiểu nha hoàn, cung kính dâng lên trước mặt Lục Thừa Tự: “Thất gia, mời ngài nếm thử loại Quân Sơn Ngân Châm đến từ Động Đình này. Ngày thường lão thái thái vốn không chuộng loại trà này, chẳng qua là nghe danh Thất gia ngài yêu thích, nên mới dặn đi dặn lại quản sự trong phủ phải chọn mua loại thượng hạng nhất, để sẵn đó chờ Thất gia tới dùng.”

Đại lão gia thuận theo lời ấy, hơi nghiêng người về phía lão thái thái mà đùa rằng: “Cũng chỉ có Tự ca nhi mới được mẫu thân để tâm ghi nhớ đến nhường này, nhi tử thật không có cái phúc phận đó.”

Lão thái thái liếc nhìn ông một cái, rồi mắng yêu: “Ngươi bớt cái miệng dẻo nhẹt ấy đi. Ngươi là con trai trưởng ta dứt ruột đẻ ra đầu tiên, ta đối đãi với ngươi còn chưa đủ tốt hay sao?”

Lục Thừa Tự dẫu sao cũng là đích thân lão thái thái dạy dỗ nuôi nấng từ nhỏ, vốn chẳng thể thực sự sinh lòng oán giận với bà. Chàng đón lấy chén trà từ tay lão ma ma, ngữ khí đã dịu đi đôi phần: “Dưới gối tổ mẫu có bao nhiêu là tôn nhi, người nào người nấy đều muốn được ở bên cạnh thừa sủng, đại bá phụ còn muốn tranh giành nữa, thật khiến điểu nhi phải chê cười đấy ạ.”

“Ha ha ha!”

Chẳng bao lâu sau, Đại thái thái đã tới. Trước khi vào phòng, bà đã kịp dò hỏi nguyên do từ miệng ma ma, nên vừa bước chân vào noãn các, bà đã lập tức giải thích rõ ràng ngọn ngành: “Tự ca nhi, chuyện này ta thật sự không hề hay biết. Việc bên Tứ phòng các con xưa nay đều do Bát đệ muội của con quản lý cả đấy.”

Chẳng đợi bà nói hết câu, Đại lão gia đứng bên cạnh đã vô cùng bất mãn mà quát lên một tiếng: “Sao có thể nói là không liên quan đến bà? Bà là đương gia thái thái, bất luận một sự việc lớn nhỏ nào trong phủ này đều có can hệ tới bà. Hoặc là do bà đốc thúc không nghiêm, hoặc là do bà dùng người chẳng hiền đức, tóm lại không cần phải tìm cớ thoái thác. Mau chóng lo liệu cho xong chuyện này, đổi cho thê tử của Tự ca nhi một viện lạc khác đi!”

Đại thái thái bị trượng phu mắng một trận, nỗi uất ức tức thì dâng đầy lên tận cõi lòng.

Nói nghe thì hay lắm, bảo bà là đương gia thái thái, nhưng cái hậu trạch này thực sự có phải do bà làm chủ hay không?

Lão thái thái thuở xuân thì vốn là người cực kỳ tháo vát, nội trạch ngoại vụ một tay thâu tóm, quản thúc Lão thái gia vô cùng nghiêm ngặt. Mấy vị đại quản gia trong phủ có ai mà không phải tâm phúc của bà? Đừng nhìn những năm nay là Đại thái thái nắm giữ trung quỹ, thực chất mỗi một việc lớn nhỏ trong phủ đều là do Lão thái thái định đoạt.

Khổ nỗi, Lão thái thái cảm thấy bản thân đã để cho, cháu gái họ bên nhà ngoại chịu thiệt thòi trong chuyện hôn sự, nên từ ngày Tô thị gả vào cửa, bà liền ra sức nâng đỡ vị tôn tức này, phân chia không ít quyền quản gia cho nàng ta. Đại thái thái dẫu sao cũng là bậc bá mẫu, không chấp nhặt đến mức đi so bì cao thấp với cháu dâu, nhưng Thôi thị, con dâu cả dưới quyền bà thì thật sự chịu không ít uất ức. Rõ ràng là chuyện một người có thể toàn quyền quyết định, nay lại cứ bị Tô thị khắp nơi gây khó dễ, cản trở đủ đường.

Đáng tiếc là trong lòng dẫu có bất mãn đến nhường nào, thì khi đối diện với Lão thái thái và Lục Thừa Tự, bà cũng chẳng thể lớn tiếng thanh minh, đành phải ngậm đắng nuốt cay mà tiếp tục phân trần: “Lão gia xin chớ vội trách mắng thiếp thân, chuyện này thực sự không liên quan đến thiếp. Bốn năm trước, Lục gia ta mua lại tòa trạch đệ sát vách, gộp chung vào để tu sửa. Đến khi xây xong và phân chia viện lạc, Tứ phòng được bao nhiêu viện, Tam phòng có mấy gian, tất cả đều đã được định đoạt thỏa đáng. Mỗi phòng tự quản lý việc riêng của mình, người ngoài tuyệt đối không can dự vào.”

“Đệ đệ và đệ muội ở Tứ phòng thường xuyên không ở kinh thành, khi ấy Tự ca nhi cũng đang tại Giang Nam, nên mọi chuyện của Tứ phòng đều giao cho Đức ca nhi tức phụ quán xuyến. Sau khi Hoa Xuân vào kinh, việc phân phó viện lạc là nội vụ riêng của Tứ phòng bọn họ, thiếp thân làm sao có thể nhúng tay vào cho được? Chuyện này, e là phải hỏi lại Đức ca nhi tức phụ mới rõ!”

Chuyện này rốt cuộc đã trực tiếp liên lụy đến Tô thị rồi.

Đại lão gia sau khi nghe rõ đầu đuôi nội tình, ông trầm ngâm một lát rồi định đoạt: “Nếu đã như vậy, hãy truyền Đức ca nhi tức phụ tới đây để vấn tội.”

Lão thái thái lộ vẻ mệt mỏi, lên tiếng ngắt lời ông: “Đức ca nhi tức phụ hôm nay vừa bị trẹo chân, vả lại đêm hôm khuya khoắt lại đang mưa gió thế này. Tự nhi, hay là cứ để ngày mai rồi xử lý đi.”

“Chẳng qua cũng chỉ là cái viện lạc thôi mà, ngày mai tìm cho Hoa Xuân một chỗ rộng rãi là được. Nếu bên Tứ phòng không còn chỗ, thì sang các phòng khác mà điều động, thật chẳng đáng để phải điều động rình rang thế này.”

Lão thái thái khăng khăng giữ ý, nhưng Lục Thừa Tự cũng chẳng chịu lùi bước nửa bước.

Trước khi tới đây, Lục Thừa Tự vốn đã từ miệng quản gia mà biết rõ chân tướng. Nếu chỉ đơn thuần vì chuyện cái viện lạc, chàng chỉ cần sai người gọi Bát đệ qua phân phó một tiếng là xong, căn bản chẳng cần phải đích thân tới thượng phòng này. Thế nhưng, suy nghĩ của chàng lần này không chỉ dừng lại ở đó.

Chàng hồi kinh cũng chỉ mới vỏn vẹn vài tháng, ngoại trừ chính viện của Lão thái thái thì chưa từng đặt chân tới các viện lạc khác, nên chẳng rõ những người khác sinh hoạt ra sao. Lại thêm phần triều chính bận rộn, chàng cũng không có thời gian để tâm đến mấy việc vặt vãnh nơi nội trạch. Mãi cho tới hôm nay, sau khi tận mắt xem qua bản đồ quy hoạch kia, chàng mới biết bọn họ đã sơ suất và khinh thường Hoa Xuân đến nhường nào. Điều này khiến chàng vô cùng tức giận. Chàng ở bên ngoài dầm mưa dãi nắng, gánh vác cả môn hộ nhà họ Lục, không phải là để kẻ khác có cơ hội ức hiếp nữ nhân của chàng.

Hôm nay, chàng nhất định phải lập uy làm gương.

Chàng nâng chén trà lên, làn khói sương mờ ảo phả lên làm nhòa đi đôi lông mày lãnh đạm, chàng trầm giọng ra lệnh: “Dẫu có phải dùng cáng khiêng, thì cũng phải khiêng người tới đây cho ta!”

>>

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *