Chương 31.
Những ngày sau đó, quan hệ giữa hai người trở nên có chút vi diệu.
Hoa Xuân tuy vẫn không ưa Lục Thừa Tự như trước, nhưng rốt cuộc cũng không còn treo cửa miệng hai chữ hòa ly hay góa phụ nữa.
Lục Thừa Tự thì lại có chút bất an.
Có lúc chàng mong nàng cho mình một lời hứa chắc chắn, để cả gia đình có thể yên tâm mà sống qua ngày.
Có lúc chàng lại thà rằng nàng mãi mãi không đáp lời, cứ như vậy mà mơ hồ lướt qua ngày tháng.
Trái tim vốn luôn điềm nhiên bình thản ấy cũng theo đó mà dao động không thôi.
Hai ngày sau, đại ca và đại tẩu của Hoa Xuân vào kinh trước để mua phủ đệ, chuẩn bị cho cả gia đình Cố phủ dời đến kinh thành. Nhà họ Cố vốn có cửa hàng ở kinh thành, phía sau cửa hàng có một ngôi nhà tứ hợp viện, phu thê hai người sắp xếp hành lý tùy thân ở hậu viện, rồi đích thân Hoa Xuân tháp tùng họ đi xem xét các căn nhà quanh đó.
Cố gia có đến ba chi, nhân khẩu xem như khá sung túc.
Ở Kim Lăng vốn đã quen lối sống xa hoa rộng rãi, nên họ không muốn ở những tiểu viện nhỏ mà phải chọn căn nào thật lớn. Phía Bắc Chính Dương Môn đương nhiên là không tìm được phủ đệ nào quá rộng, mà dù có đi chăng nữa thì cũng chẳng đến lượt Cố gia, nên họ chỉ có thể dời mắt sang khu vực phía Nam thành. May mắn là sau hai ngày thăm thú, cuối cùng họ cũng tìm được một tòa phủ đệ năm lớp sân gần khu vực Lô Vi Viên ở phía Đông Chính Dương Môn. Tuy Lễ bộ có quy định cụ thể về quy mô nhà ở, nhưng nếu gia quyến trong phủ đông đúc, chỉ cần làm sớ xin mua một dinh cơ lớn hơn thì triều đình cũng sẽ chuẩn y.
Đến khi mọi giấy tờ và địa khế được lo liệu xong xuôi thì đã là chuyện của mười ngày sau.
Hoa Xuân một mặt vừa thu xếp ổn thỏa các việc ở Giới Luật viện, mặt khác lại vừa bầu bạn cùng đại tẩu bên nhà đẻ đi mua sắm đồ đạc trong nhà, ngày tháng trôi qua quả thực rất nhanh.
Thấm thoát đã đến ngày hai mươi tháng Mười. Trong khoảng thời gian này Lục Thừa Tự cũng rất bận rộn, nhân lúc phe cánh của Thái hậu và Tương Vương đang yên vị, chàng bắt tay vào việc thu gom thuế phụ quyên nạp của hai kinh mười ba tỉnh năm nay để chuẩn bị cho ngân khố quốc gia vào mùa xuân tới.
Thấy chẳng mấy chốc đã sang tháng Chạp, trận tuyết đầu mùa ở kinh thành lả tả rơi xuống. Những sợi tơ tuyết trắng xóa phác họa lại đường nét cho những con tích thú trên mái hiên, được ánh đèn ấm áp chiếu rọi vào, trái lại còn hiện lên vài phần nhu hòa.
Lục Thừa Tự đạp lên bóng đêm trở về phủ, quản gia Lỗ vội vàng tiến lên hành lễ, đón chàng vào trong: “Gia đã dùng bữa chưa ạ?”
Lúc này là đầu giờ Tuất (khoảng 7 giờ tối), không sớm cũng chẳng muộn, lại không nghe nói hôm nay chàng có tiệc tùng xã giao gì, nên quản gia Lỗ cũng không nắm chắc.
“Ta dùng bữa ở Nội các rồi.” Lục Thừa Tự cởi chiếc áo choàng dính đầy tuyết đưa cho Lục Trân, rồi nhận lấy chiếc ô lụa xanh từ tay quản gia Lỗ. Chàng định bụng ra hậu viện thăm mẹ con Hoa Xuân nên thuận miệng hỏi: “Phu nhân hôm nay có sang Cố gia không?”
Quản gia Lỗ lo lắng đáp: “Không ạ? Nghe Tuệ ma ma nói, hôm nay phu nhân cảm thấy trong người không khỏe nên chẳng ra khỏi cửa.”
Lục Thừa Tự vừa nghe xong liền chau chặt chân mày, bước chân của chàng cũng nhanh hơn: “Sai người sang viện của lão phu nhân thưa một tiếng, tối nay có việc nên ta không qua thỉnh an được.”
“Dạ!”
Chẳng mấy chốc, Lục Thừa Tự đã đến Lưu Xuân Đường. Chàng đi dọc theo hành lang uốn khúc dẫn về phía Đông để tới trước hiên nhà chính, vừa vặn bắt gặp Tuệ ma ma từ trong phòng đi ra.
“Ma ma, phu nhân bị làm sao vậy?”
Tuệ ma ma ôm một chiếc lò sưởi nhỏ trong lòng, thần sắc không có gì bất thường, bà nhún người hành lễ với chàng: “Thưa Gia, cũng không có chuyện gì đại trọng đâu ạ, là phu nhân đến kỳ kinh nguyệt thôi.”
Trong mắt Lục Thừa Tự xẹt qua một tia ngỡ ngàng, chàng gật đầu rồi vén vạt áo bước vào trong: “Ta vào xem nàng ấy thế nào.”
Băng qua gian chính để vào gian thứ phía Đông, bước qua cửa nguyệt động là đến nội thất.
Bên trong chiếc giường bát bộ, ánh đèn sáng rực, rèm trướng đều được vén hết lên. Chỉ thấy Hoa Xuân mặc một bộ trung y trắng muốt đang tựa vào gối dẫn nghỉ ngơi, chăn đắp ngang ngực, tay ôm một chiếc lò sưởi khảm bạc pháp lam, sắc mặt của nàng lúc này xem ra còn trắng hơn mấy phần so với bộ trung y đang mặc trên người.
Lục Thừa Tự đã quen nhìn một Hoa Xuân lúc nào cũng tràn đầy thần thái, đây là lần đầu tiên chàng thấy nàng yếu ớt đến nhường này, trái tim lập tức thắt lại. Chàng rảo bước tiến lên phía trước: “Hoa Xuân, sao lại khó chịu đến mức này? Đã mời đại phu chưa?”
Nghe thấy giọng nói đột ngột vang lên, Hoa Xuân khẽ mở mắt, liếc nhìn chàng một cái rồi cũng chẳng buồn đáp lời, lại tiếp tục nhắm mắt dưỡng thần.
Lục Thừa Tự cứ ngỡ nàng đến sức để nói chuyện cũng không còn nữa, bèn ngồi phịch xuống bên cạnh giường: “Hoa Xuân, nàng thế này ta không yên tâm chút nào, ta đi mời người ở Thái y viện tới ngay đây.”
Hoa Xuân bị chàng làm cho nhức đầu, lại mở mắt ra, nhìn chàng một lượt từ trên xuống dưới rồi cười nhạt: “Sao nào, Thất gia chưa từng thấy qua tình cảnh này à?”
Lục Thừa Tự mặt đầy ngơ ngác: “Tình cảnh gì cơ?”
Hoa Xuân mệt mỏi đáp: “Phụ nữ khi đến kỳ kinh nguyệt, ngày đầu tiên vốn dĩ sẽ mệt mỏi rã rời như thế này, Thất gia không cần phải làm quá lên như vậy đâu.”
Lại thấy thần sắc chàng có chút ngơ ngác, chân tay lóng ngóng không biết làm sao, nàng không nhịn được mà bật cười: “Xem ra những năm qua ở bên ngoài, Thất gia thật sự không hề có người đàn bà nào khác sao?”
Bởi lẽ chỉ cần bên cạnh từng có một người phụ nữ hầu hạ, hẳn đã thấy nhiều đến mức chẳng còn lạ lẫm gì.
Lục Thừa Tự nhận ra ẩn ý trong lời nói của nàng, sắc mặt tối sầm lại: “Ta lừa nàng làm cái gì?”
Trong lòng giận thì giận thật, nhưng nghĩ đến nàng đang không khỏe nên chàng chẳng thèm chấp nhặt: “Chẳng lẽ cứ phải nhịn thế này sao? Có cách nào để đỡ hơn không?”
Hoa Xuân không đáp lời, trong lòng vẫn còn có chút chưa hả giận.
Đừng nhìn việc nàng và Lục Thừa Tự đã là phu thê năm năm, thực tế đây mới là lần đầu tiên Lục Thừa Tự tận mắt đụng phải những ngày ‘đến tháng’ của nàng.
Đứa trẻ có lẽ đã được hoài thai ngay từ đêm động phòng, vì thế suốt hai tháng đầu tân hôn, nàng đều không có kinh nguyệt. Sau này, vào vài lần hiếm hoi chàng trở về nhà, cũng đều không trùng vào kỳ kinh của nàng, quả thực là đã hời cho chàng rồi.
Lục Thừa Tự nhìn ra nàng lộ vẻ không vui, dù chẳng rõ mình lại chọc giận nàng ở chỗ nào, nhưng chàng đủ khôn ngoan để không tranh cãi vào lúc này.
Vừa hay lúc đó, Tùng Trúc bưng vào một bát cháo hồng sâm kỷ tử, khuấy cho nhiệt độ vừa ấm rồi đưa cho Hoa Xuân. Hoa Xuân vừa húp cháo, vừa hờ hững đáp lại chàng: “Đa tạ Thất gia đã đến thăm, ta không có gì đáng ngại đâu. Chỉ là tối nay thân thể không khỏe, phiền Thất gia đưa đứa nhỏ về tiền viện sắp xếp chỗ ngủ giúp ta.”
Lục Thừa Tự thấy khóe môi nàng còn dính chút cháo, bèn thuận tay cầm lấy chiếc khăn sạch trên tủ thấp đưa cho nàng: “Phái Nhi đang ở đông sương phòng đọc sách, thằng bé không nghịch ngợm ồn ào đâu, không ảnh hưởng gì cả.”
Thường ngày Lục Thừa Tự vốn cực kỳ kiên nhẫn với con trai, nghe chàng nói vậy, Hoa Xuân liền tưởng rằng đêm nay chàng đã có sắp xếp khác nên không hỏi thêm, mà nàng cũng chẳng còn hơi sức đâu để hỏi. Nàng thấy mệt rồi, đưa bát cháo lại cho Tùng Trúc, nhấp một ngụm nước rồi uể oải nằm xuống.
Lục Thừa Tự không làm phiền nàng nữa, chàng đứng dậy đi ra gian ngoài, rồi gọi Tuệ ma ma đến hỏi chuyện: “Phu nhân đến kỳ kinh nguyệt, bình thường các người hầu hạ như thế nào?”
Nhắc đến chuyện này, Tuệ ma ma được đà mở lời, nói năng liến thoắng như đổ đậu ra khỏi hũ: “Thiếu phu nhân cứ đến kỳ là ngày đầu tiên luôn phải nằm bẹp trên giường, không chỉ bụng đau khó nhịn, mà nếu tháng trước giữ gìn không khéo, e là còn kéo theo cả chứng đau nửa đầu. Đám nô tỳ chúng tôi không được để người đón gió, càng không được để nhiễm lạnh, lúc nào cũng phải dùng tủi sưởi để chườm ấm cho người, rồi nấu mấy thứ thông kinh hoạt huyết cho người uống. Đợi đến khi huyết ứ tan đi, thì trong người mới thấy dễ chịu hơn đôi chút.'”
“Khó nhất là ban đêm, phải chuẩn bị sẵn nước nóng, phải thay túi sưởi mấy lượt, tuyệt đối không được để vùng bụng dưới bị lạnh…”
Lục Thừa Tự ghi nhớ kỹ từng điều một trong lòng: “Bà cứ chuẩn bị sẵn những thứ này đi, đêm nay để ta chăm sóc nàng ấy.”
Tuệ ma ma nghe vậy thì mừng rỡ khôn xiết, bà ấy nhanh nhảu đáp lời: “Dạ được ạ!”
Nhân lúc Hoa Xuân đang nghỉ ngơi, chàng quay trở lại thư phòng tắm rửa thay y phục, xử lý thêm mấy bản tấu chương khẩn cấp rồi sai người gửi đi. Sau đó, chàng khoác lên mình chiếc áo choàng dày, rồi sải bước đi về phía Lưu Xuân Đường.
Lúc bấy giờ đã là đầu giờ Hợi (khoảng 9 giờ tối), tuyết rơi mỗi lúc một dày, sân vườn như được phủ lên một lớp voan trắng tinh khôi. Lục Thừa Tự trước tiên ghé qua đông sương phòng xem con trai, Phái Nhi lộ rõ vẻ nhớ mẹ, cứ nằm lì trên giường không chịu ngủ, nhất quyết đòi sang nhà chính cho bằng được.
Lục Thừa Tự bước vào trong, chàng khẽ trách con: “Mẫu thân con đang không khỏe, con không thương người thì chớ, sao còn giở thói hờn dỗi ra vậy?”
Phái Nhi nhìn thấy cha, bèn chui ra khỏi chăn rồi sà vào lòng chàng: “Thế thì cha ngủ với con đi.”
“Cha không rảnh để bồi con.” Chàng vỗ vỗ lưng con trai, rồi xách cậu nhóc lên nhét lại vào trong chăn.
Phái Nhi lớn chừng ấy mà ở trong tay chàng chẳng khác nào một chú ếch nhỏ, trông thật đáng thương: “Tại sao cha lại không rảnh? Chẳng lẽ cha định đi bồi vợ bé hay sao?”
Lục Thừa Tự bực mình véo má cậu nhóc một cái: “Là bồi mẫu thân con.”
“Vợ bé?”
“Mẫu thân con!”
Sau khi vất vả mới dỗ dành được con trai xong, Lục Thừa Tự vòng sang nhà chính. Từ trong nội thất truyền đến tiếng ho khẽ, chàng cau mày, cởi chiếc áo choàng quăng lên giường La Hán ở gian thứ phía Đông, lập tức rửa sạch tay rồi sải bước vào trong.
Hoa Xuân vừa chợp mắt tỉnh dậy và đang uống thuốc sắc, có vẻ vì uống hơi vội nên bị sặc một ngụm. Nàng xua tay liên hồi, nhất quyết không chịu uống thêm nữa mà trốn biệt vào trong chăn.
Tuệ ma ma giao lại bát thuốc cho Tùng Trúc, trừng mắt nhìn người đang trùm chăn kín mít: “Mới uống chưa được một nửa thì có tác dụng gì chứ? Nếu muốn sáng mai thức dậy được thoải mái thì giờ dậy ngay cho ta, uống cho hết bát thuốc này đi.”
Từ trong chăn truyền ra giọng nói nghẹt nghẹt: “Đắng quá, con không uống đâu!”
Tuệ ma ma còn đang định nói thêm gì đó thì thấy có người xua tay ra hiệu với bà, người đó đón lấy bát thuốc rồi bảo bọn họ ra ngoài.
Hoa Xuân đợi một hồi lâu mà không thấy động tĩnh gì, cứ ngỡ Tuệ ma ma đã chịu thua mình rồi, mới chậm chạp từ trong chăn chui ra.
Nàng chạm phải một đôi mắt sâu thẳm, đen sẫm đầy bình lặng.
Mí mắt Hoa Xuân giật giật, nàng vội vàng ngồi ngay ngắn lại cho đoan trang: “Sao chàng lại quay lại đây nữa rồi?”
Lục Thừa Tự chẳng buồn nói nhảm với nàng, chàng ngồi xuống chiếc ghế đôn thêu hoa, rồi đưa bát thuốc tới trước mặt nàng: “Lớn chừng nào rồi mà uống chén thuốc cũng vất vả thế này? Nếu để Phái Nhi sang đây, chẳng phải thằng bé sẽ cười nhạo nàng sao?”
Hoa Xuân chẳng qua chỉ là thói quen làm nũng trước mặt nhũ mẫu của mình mà thôi, chứ đối với Lục Thừa Tự, nàng đương nhiên chẳng nói chẳng rằng, đón lấy bát thuốc rồi im lặng uống cạn một hơi. Ngay cả khi trong cổ họng cảm thấy buồn nôn, thì nàng cũng cắn răng nuốt xuống, mặt không đổi sắc đặt bát lại lên tủ thấp.
Cứ như thể người vừa mới hờn dỗi lúc nãy không phải là nàng vậy.
Lục Thừa Tự vẫn là lần đầu tiên nhìn thấy một khía cạnh đáng yêu như thế ở Hoa Xuân, chàng lấy làm tò mò, ánh mắt lặng lẽ lướt qua hàng chân mày và đôi mắt xinh đẹp của nàng: “Nàng sợ uống thuốc đến thế sao?”
“Không có.” Hoa Xuân tựa lại vào gối tựa ngồi cho ngay ngắn, kéo chăn phủ kín lên trên, chỉ để lộ mỗi khuôn mặt nhỏ nhắn trắng bệch ra ngoài, nàng nhíu mày nhìn chàng: “Thất gia sao lại quay lại rồi, có chuyện gì sao?”
“Không có việc gì.” Thần sắc hắn ôn hòa bình thản, ngữ khí vô cùng thản nhiên.
Hoa Xuân bĩu môi hướng về phía cửa: “Vậy sao chàng còn chưa đi?”
Lục Thừa Tự vẫn thản nhiên như không, tự tìm cho mình một cái cớ: “Phái Nhi lúc nãy rất không yên tâm, dặn ta phải ở lại trông nom nàng.”
Thuốc uống vào bắt đầu phát huy tác dụng rất nhanh, bụng dưới của Hoa Xuân truyền đến những cơn đau nhói. Nàng chẳng còn tâm trí đâu mà đôi co với chàng, đành nhẹ giọng nói: “Trẻ con ngây ngô chẳng biết gì, Thất gia không cần phải để tâm quá đâu. Trong phòng ta đã có người hầu hạ, không dám làm phiền Thất gia phải bận lòng.”
Lục Thừa Tự vẫn ngồi vững như bàn thạch, thản nhiên đáp: “Ma ma tuổi tác đã cao, những năm qua đi theo nàng cũng đã chịu không ít khổ cực, giờ không thể thức đêm được nữa. Có ta ở đây thì bà ấy mới yên tâm.”
Chẳng biết câu nói nào đã chạm đến lòng Hoa Xuân, nàng ngẩn người ra một chốc. Nhưng cơn đau lúc này thật sự quá khó chịu, nàng chẳng còn hơi sức đâu mà để ý đến chàng nữa, nên đành quay mặt đi, im lặng không nói gì.
Huyết ứ trong bụng bắt đầu đẩy xuống làm Hoa Xuân trướng đau đến khổ sở, nàng dùng sức áp tay lên trán.
Lục Thừa Tự nhận thấy nàng có điểm không ổn, lập tức leo lên giường, giữ chặt lấy hai vai nàng, giọng nói có chút căng thẳng: “Hoa Xuân, nàng sao vậy? Ta phải làm gì giúp nàng đây?”
Đôi môi của Hoa Xuân trở nên nhợt nhạt, khắp người vã mồ hôi hột, nàng nắm chặt lấy ngón tay chàng một cách vô thức: “Ta muốn đi phòng tắm…”
Ánh mắt Lục Thừa Tự trở nên ngưng trọng, chàng vội vàng đứng dậy lấy chiếc áo bông dày đang treo trên bình phong cạnh giường, khoác lên vai Hoa Xuân rồi nắm lấy cổ tay nàng: “Đi!”
Hoa Xuân xỏ vội chiếc áo, lúc này chẳng còn tâm trí đâu mà giữ kẽ hay tỏ ra xa cách với chàng, nàng cứ thế vịnh lấy cánh tay chàng để đi về phía phòng tắm.
Ánh đèn lung linh chập chờn, ngoài cửa sổ những bông tuyết vẫn không ngừng nhảy múa. Trên trán Hoa Xuân rịn ra những giọt mồ hôi li ti, tầm mắt nàng hơi nhòe đi, khiến mọi vật xung quanh đều trở nên ảo diệu, nhưng duy chỉ có cánh tay bên cạnh là vô cùng mạnh mẽ, tựa như gọng kìm bằng sắt, vững chãi và đáng tin.
Cảm giác này hoàn toàn khác biệt với vô số đêm khuya trước đây, khi bên cạnh nàng chỉ có những cánh tay mảnh mai yếu ớt. Những người đó còn mong manh hơn cả nàng, họ đứng sau lưng nàng, chờ đợi nàng bảo vệ. Nàng thậm chí còn chẳng dám tựa vào quá mạnh, chỉ sợ sẽ làm họ ngã quỵ.
Còn với người đàn ông trước mắt này, thì nàng không cần phải làm thế.
Bước vào phòng tắm, Hoa Xuân vịn lấy tấm bình phong rồi buông tay chàng ra, để Tùng Trúc vào trong hầu hạ thay.
Lục Thừa Tự đứng lặng bên ngoài bình phong, nhìn bóng lưng mảnh mai thanh thoát của nàng khuất sau phòng tắm để vào gian vệ sinh.
Trong lòng chàng chợt dâng lên một cảm giác cực kỳ khó chịu.
Chuyện nguyệt sự của phụ nữ, mỗi tháng một lần, vậy nên mỗi tháng nàng đều phải chịu đựng nỗi khổ sở này một phen.
Phu thê năm năm, đây lại là lần đầu tiên chàng chăm sóc nàng. Chẳng trách nàng lại đòi hòa ly, ngay cả bản thân Lục Thừa Tự lúc này cũng không thể nào tha thứ cho chính mình được.
Lần này Hoa Xuân đi hơi lâu, khi trở lại nội thất, nàng kinh ngạc phát hiện trước chiếc giường bạt bộ đã có thêm một chiếc ghế nằm.
Hoa Xuân ngơ ngác nhìn người đàn ông đang trải nệm: “Lục Thừa Tự, chàng đang làm cái gì thế?”
Lục Thừa Tự xem như không nghe thấy, chàng trải nệm ngay ngắn xong xuôi mới đứng dậy nhìn nàng: “Trời lạnh, mau nằm vào trong đi, kẻo lại bị nhiễm lạnh.”
Hoa Xuân ngồi vào trong giường bạt bộ, ánh mắt đầy nghi hoặc nhìn chằm chằm vào chàng. Người đàn ông ấy đợi nàng vào giường xong, ngược lại còn kéo chiếc ghế nằm lại gần thêm chút nữa. Chàng đứng dậy dời chân đèn ở bàn trang điểm ra, giao cho Tùng Trúc mang xuống, rồi cứ thế thản nhiên nằm xuống ghế.
Động tác của chàng tự nhiên trôi chảy, dứt khoát như nước chảy mây trôi.
Căn phòng trong nháy mắt chìm vào bóng tối mờ ảo, chỉ còn lại duy nhất một ngọn đèn lưu ly tỏa sáng ở phía lối đi dẫn vào phòng tắm.
Hoa Xuân dời chiếc gối tựa sang một bên rồi nằm hẳn xuống. Nàng nhìn trân trân lên đỉnh màn một hồi lâu, dường như muốn sắp xếp lại những suy nghĩ hỗn độn trong đầu, nhưng đầu óc lại cứ mụ mị đi, cơn buồn ngủ ập đến khiến nàng dần dần thiếp đi lúc nào không hay.
Lục Thừa Tự sau một ngày mệt mỏi cũng nhanh chóng chìm vào giấc nồng. Mãi cho đến nửa đêm, trong cơn mơ màng nghe thấy một tiếng rên rỉ đau đớn, chàng giật mình tỉnh giấc, vội nhìn về phía giường thì thấy một bóng người đang cựa quậy, có vẻ như đang vô cùng khó chịu.
Chàng chẳng kịp khoác thêm áo, vén rèm bước vào trong màn, rồi ngồi xuống bên cạnh giường: “Hoa Xuân, nàng thấy không khỏe ở đâu?”
Bụng dưới của Hoa Xuân lạnh ngắt, nàng mê man quờ quạng tìm được chiếc túi sưởi rồi ném nó ra ngoài.
Lục Thừa Tự có khả năng nhìn trong đêm cực tốt, chàng nhanh chóng đón lấy chiếc túi sưởi rồi đi thay nước nóng mới. Chẳng bao lâu sau chàng đã quay trở lại, đang định đặt vào trong chăn cho nàng thì thấy nàng nằm quay mặt vào phía tường không hề nhúc nhích, hơi thở nặng nề, có lẽ đang trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê.
Lục Thừa Tự không nỡ đánh thức nàng, bèn nhẹ nhàng vén một góc chăn lên, đưa tay vào bên trong, lần mò xoay vóc dáng mảnh mai của nàng lại. Chàng thuận tay đưa chiếc túi sưởi vào, đặt ngay trên bụng dưới của nàng. Ngay khi chàng định rút tay về, chỉ nghe thấy nàng thốt lên một tiếng vì đau: “Nóng!”
Lục Thừa Tự tức khắc cuống quýt, chàng chưa từng hầu hạ phụ nữ bao giờ nên nào biết chừng mực ra sao, vội vàng đưa tay vào trong chăn lần nữa, giữ lấy chiếc túi sưởi rồi nhấc cách ra vài phân: “Ta cho nhiều nước nóng quá à?”
Hoa Xuân bị chàng làm cho nóng tỉnh, nàng lắc đầu: “Chiếc túi sưởi này lúc đầu nước còn đang nóng gắt, không được đặt sát người ngay, phải chờ một lát cho dịu bớt đã…”
“Vừa mới cho nước vào thì quá nóng, để lâu quá lại lạnh, phải tầm dở nóng dở lạnh mới vừa khéo.”
Lục Thừa Tự hiểu ý, chàng giữ khoảng cách một chút rồi đặt chiếc túi sưởi cho ngay ngắn. Lúc rút tay về, lòng bàn tay chàng lướt qua bụng dưới của nàng, cái lạnh thấu xương xông thẳng vào từng dây thần kinh cảm giác khiến chàng sững người lại ngay tức khắc.
Chàng không thể ngồi yên mặc kệ nàng như vậy, lòng bàn tay dần dần hạ xuống, cảm giác lạnh lẽo càng lúc càng rõ rệt. Lục Thừa Tự hạ quyết tâm, áp chặt tay lên đó không rời.
Ngón cái của chàng tì lên vòng eo mảnh mai, lòng bàn tay áp sát vừa khít, bao phủ lấy bụng dưới của nàng. Một đoạn xương cốt thanh mảnh mềm mại, tựa như đang chuyển động trong lòng bàn tay của chàng.
“Sao lại lạnh đến mức này?” Giọng chàng trầm ấm nhưng có chút khàn đặc.
Tiếc thay, câu hỏi ấy chẳng nhận được bất kỳ lời hồi đáp nào.
Hoa Xuân vẫn nằm quay lưng về phía chàng, không hề nhúc nhích.
Lòng bàn tay của chàng rộng và ấm nóng, vừa vặn che phủ hết cả vùng bụng dưới của nàng, nhiệt độ không nóng cũng không lạnh, thật sự rất dễ chịu.
Lý trí bảo nàng rằng mình nên đẩy chàng ra, nhưng hơi ấm cứ liên tục truyền đến đã xoa dịu cái bụng dưới lạnh ngắt một cách vô cùng êm ái, khiến tâm trí nàng nhất thời trở nên mông lung.
Nhưng cũng chỉ trong khoảnh khắc ấy thôi.
Nàng nhanh chóng lấy lại tinh thần, giọng nói đã khôi phục vẻ bình thản: “Ta không sao nữa rồi, chàng đi nghỉ đi.”
Lục Thừa Tự vẫn chẳng hề lay chuyển, vào lúc này mà rời đi thì chàng còn xứng đáng là trượng phu của nàng nữa không?
Chẳng những không đi, chàng trái lại còn kéo chăn qua, chèn thật kỹ các góc giường vì sợ gió lùa vào trong.
Hoa Xuân cứ ngỡ chàng không nghe thấy, nàng lại cất tiếng thúc giục thêm lần nữa.
Lục Thừa Tự bực mình nói: “Cũng đâu phải chưa từng chạm qua, phu nhân việc gì phải xấu hổ?”
Khuôn mặt của Hoa Xuân nóng bừng lên, cơn giận bốc ngùn ngụt: “Lục Thừa Tự, chàng có biết xấu hổ là gì không hả!”
Lục Thừa Tự chỉ sợ đêm hôm khuya khoắt lại chọc nàng nổi trận lôi đình, bèn vội vàng xuống nước, dịu giọng nói: “Ý của ta là phu nhân đang lúc không khỏe, không cần phải câu nệ tiểu tiết như vậy đâu. Nàng là mẫu thân của Phái Nhi, nàng còn ở đây ngày nào thì ta phải có trách nhiệm với nàng ngày đó. Đợi đến khi túi sưởi có nhiệt độ thích hợp, ta rút tay lại cũng chưa muộn.”
Lời hay lẽ phải đều bị chàng nói hết cả rồi, Hoa Xuân nhất thời không tìm được lời nào để vặn lại.
Sau một hồi giằng co đầy gượng gạo, Hoa Xuân cảm thấy nhiệt độ của túi sưởi đã vừa tầm, nàng bèn huých khuỷu tay một cái, đẩy cánh tay chàng ra.
Lục Thừa Tự giận quá hóa cười, chàng cẩn thận giúp nàng chèn lại góc chăn cho thật kín rồi mới quay trở lại ghế nằm.
Đêm ấy, chàng đã thay nước cho nàng ba lần, và cũng ba lần áp tay sưởi ấm bụng cho nàng.
Hoa Xuân đương nhiên là không cam tâm tình nguyện chút nào.
Thế nhưng người đàn ông vào những lúc này lại đặc biệt mạnh mẽ và độc đoán, hoàn toàn chẳng cho nàng cơ hội để kháng cự.
Bản thân lại đang bệnh, nàng thực sự chẳng còn sức đâu mà giằng co với chàng, làm vậy trông lại cứ như thể nàng còn để tâm đến chàng lắm không bằng, nên nàng đành nhắm nghiền mắt mặc kệ tất thảy.
Sáng sớm hôm sau, tuyết ngoài cửa sổ dày như tấm phủ. Những cành mai già khẳng khiu nơi góc tường không chịu nổi sức nặng của tuyết dày, thỉnh thoảng khẽ rung rinh là tuyết lại rơi xuống lả tả.
Hoa Xuân liếc nhìn chiếc ghế nằm trống trải, tựa như tất cả những chuyện đêm qua chỉ là một giấc chiêm bao.
Tùng Đào đã chờ sẵn bên ngoài chiếc giường bát bộ từ sớm, vừa thấy nàng thức dậy liền vội vàng hầu hạ nàng rửa mặt súc miệng.
Hoa Xuân vừa lau mặt, vừa hỏi: “Thất gia đi từ lúc nào vậy?”
Tùng Đào thưa: “Thất gia đi từ khi trời còn chưa sáng ạ.”
Hoa Xuân khẽ hừ một tiếng.
Nàng không nói thêm lời nào nữa.
Ngày hôm ấy Lục Thừa Tự phải trực đêm, nên không thể về phủ để hầu hạ Hoa Xuân.
Đến ngày thứ ba, chàng lại vội vã tìm tới Lưu Xuân Đường, nhưng lần này Hoa Xuân nhất quyết không cho chàng bước chân vào nội thất. Người đàn ông cao lớn đứng sừng sững bên ngoài cửa nguyệt động, nhìn cánh cửa gỗ có chấn song đang đóng chặt trước mặt mà suýt chút nữa thì tức đến mức ngất đi.
Thế nhưng chàng cũng chẳng để Hoa Xuân được yên, bèn cố ý dắt con trai ra ngồi dưới hành lang đọc sách.
“Phái Nhi, hôm nay cha dạy con một thành ngữ bốn chữ.”
“Thành ngữ gì ạ?”
“Qua cầu rút ván!”
Tiếng đọc sách lanh lảnh bên ngoài cửa sổ không sót một chữ nào lọt vào tai Hoa Xuân. Nàng đang ngồi sau án thư lật xem sổ sách từ Ích Châu gửi tới. Ngay sáng sớm nay, bốn gia đinh được phái đi Ích Châu điều tra đã quay về kinh thành, không chỉ mang theo toàn bộ sổ sách trong năm năm qua, mà còn đưa cả hai quản sự trực tiếp xử lý vụ việc về cùng. Nàng đã có thể bắt đầu hành động được rồi.
Đang lúc đối chiếu sổ sách thì nghe thấy lời kia, Hoa Xuân cũng chẳng vừa, nàng khẽ đẩy góc cửa sổ chống lên rồi nói: “Phái Nhi, mẹ cũng dạy con một thành ngữ bốn chữ nhé.”
Phái Nhi hớt hải chạy đến dưới cửa sổ: “Mẹ nói đi ạ!”
“Si tâm vọng tưởng!”
Chương 32.
Ngày hai mươi tư tháng Mười, tuyết tạnh trời quang.
Kỳ kinh nguyệt của Hoa Xuân đã qua, nàng lại tràn đầy sinh lực để đến Giới Luật Viện làm việc.
Nàng cầm sổ sách từ Ích Châu đối chiếu từng khoản một với hồ sơ lưu trữ tiền thưởng cuối năm của Giới Luật Viện, liệt kê ra toàn bộ các khoản niên lệ và tiền chia hoa hồng mà Tô Vận Hương đã biển thủ trong suốt năm năm qua. Hai tên quản sự từ Ích Châu được sắp xếp ở lại Giới Luật Viện, lời khai đều đã có đủ. Với những bằng chứng này, nàng có thể triệu tập thẩm vấn các quản sự dưới trướng Tô Vận Hương, phơi bày toàn bộ sự việc ra ánh sáng.
Chuyện này hệ trọng, liên quan đến danh tiếng của Tô gia cũng như tiền đồ sau này của Tô Vận Hương trong phủ, lại còn phải ép Tô Vận Hương nôn ra một khoản bạc lớn; hoàn toàn không thể đánh đồng với việc trừng phạt mấy tên quản sự lần trước được.
Lão thái thái nhất định sẽ tìm cách dập tắt chuyện này, và Đại lão gia cũng chưa chắc sẽ ngồi yên đứng nhìn mọi việc thoát khỏi tầm kiểm soát.
Chỉ dựa vào sức một mình nàng và Giới Luật Viện thì có thể phanh phui sự việc, nhưng náo loạn đến mức độ nào thì Hoa Xuân thực sự không có nắm chắc. Kế sách ổn thỏa nhất lúc này vẫn là phải kéo bằng được Lục Thừa Tự xuống nước cùng.
Chỉ là nếu làm theo cách này, Lục Thừa Tự sẽ hoàn toàn đắc tội với Lão thái thái. Hoa Xuân chẳng đến mức phải xót xa cho người đàn ông này, mà nàng chỉ lo sợ mai này mình rời khỏi Lục phủ, chuyện đó sẽ làm liên lụy đến Phái Nhi mà thôi.
Nàng vẫn cần phải tính toán một vẹn toàn đôi đường.
Nắng dần gay gắt, trong sân truyền đến tiếng cười đùa của Bái Nhi. Hôm nay học đường nghỉ học nên từ sớm đứa trẻ đã theo Hoa Xuân đến Giới Luật Viện chơi đùa. Đào thị đứng dưới hành lang viện chính nhìn Phái Nhi bắt dế, còn Hoa Xuân ngồi một mình trong phòng tây. Để tránh làm liên lụy đến Đào thị, nàng không hề để lộ một chút phong thanh nào về chuyện này cho tỷ ấy biết.
Vừa đến giờ Ngọ, Hoa Xuân liền từ biệt Đào thị, rồi dắt theo con trai về phòng dùng bữa.
Vừa đi đến đoạn hồ nước, từ đằng xa phía hành lang trên nước, nàng đã trông thấy Tùng Trúc đang hớn hở vẫy tay gọi: “Thiếu phu nhân, thiếu phu nhân, cả phủ Cố gia đã vào kinh rồi ạ!”
Hoa Xuân trợn tròn mắt: “Nhanh vậy sao? Chẳng phải nói ngày mai mới cập bến cơ mà?”
Nàng mới vừa rồi còn cáo lỗi với tẩu tâir Đào thị, định bụng ngày mai sẽ ra bến tàu đón tổ mẫu.
Tùng Trúc đi vòng qua hành lang trên nước, chạy lắt chắt đến trước mặt nàng, nhún người hành lễ, niềm vui hiện rõ trên nét mặt: “Nô tì cũng không rõ nữa, đây là tin tức bên chỗ môn phòng vừa mới gửi tới. Thiếu phu nhân xem xem, có cần phải đến Cố phủ một chuyến không ạ?”
“Đi ngay bây giờ!” Hoa Xuân đã nhiều năm không gặp tổ mẫu, trong lòng nhớ nhung khôn xiết, nàng dắt tay con nhỏ đi thẳng về phía Thùy Hoa Môn, “Tùng Trúc, mau đi lấy chiếc áo choàng bằng sa lông màu đỏ thẫm của ta, sẵn tiện mang luôn cả chiếc áo khoác lót lông chuột bạc của Phái Nhi tới đây, ta ra cổng phủ đợi em.”
“Dạ dạ, nô tì đi ngay đây ạ!”
Tùng Trúc bên này vội vàng chạy hớt hải về phía Lưu Xuân Đường, còn Tùng Đào thì hộ tống hai mẹ con nàng ra ngoài. Khi đi đến chỗ Thùy Hoa Môn thì gặp một bà tử quản việc ngoại vụ, Tùng Đào liền nhanh tay kéo người đó lại: “Hàng thẩm thẩm, Thiếu phu nhân nhà cháu cần ra ngoài, thẩm thẩm mau đi dặn người đánh xe ngựa đi ạ!”
Sau “trận chiến” vang danh lần trước của Hoa Xuân, giờ đây đám quản sự trong phủ thấy nàng là đều sinh lòng nể sợ. Vị thẩm thẩm họ Hàng vội vàng khom người hành lễ, rồi tức tốc quay mình chạy ra tiền viện để truyền lời.
Suốt quãng đường đi, Hoa Xuân không ngừng dặn dò Phái Nhi lát nữa gặp người nhà họ Cố thì phải xưng hô thế nào, dập đầu hành lễ ra sao, vân vân những điều khác nữa.
Vừa đi vòng qua dãy nhà chính năm gian rộng lớn, nàng chợt ngẩng đầu lên —
Phía trước ngay tại Nghi môn, có một người đang đứng sừng sững ở đó.
Chỉ thấy người đó khoác trên mình chiếc áo lông cáo màu nâu sẫm, tóc búi bằng trâm gỗ tử đàn. Đôi ống tay rộng thêu văn chìm lồng lộng gió lạnh, để lộ lớp đạo bào màu xanh đen bên trong. Thế nhưng người này trông chẳng giống đạo sĩ chút nào, trái lại còn có gương mặt hồng hào bóng bẩy, nhìn như kẻ đắm chìm trong rượu thịt; ánh mắt của người đó tùy tiện đánh giá xung quanh. Đứng dưới hành lang sáng sủa này, người ấy chẳng giống khách, mà cũng chẳng giống chủ.
Khắp người toát ra một vẻ thiếu nghiêm túc, lông bông.
“Chà chà, mấy năm không về kinh, cái phủ họ Lục này thay đổi nhiều quá, trông ngày càng oai vệ ra phết. Đã thế này thì sao tiền chi tiêu cấp cho lão tử lại cứ keo kiệt bủn xỉn thế hả!”
Toàn bộ Lục phủ đều tuân thủ quy củ nghiêm ngặt, bất kể là người hầu hay chủ tử, từ trước đến nay chưa một ai dám lớn tiếng ồn ào ngay tại chính sảnh như thế này.
Duy chỉ có người này là ngoại lệ.
Quản gia Hác hớt hải chạy tới đón, nhận ra người vừa đến liền nở nụ cười nịnh nọt, vừa làm bộ mời vào vừa nói: “Cung nghênh Tứ lão gia hồi phủ! Hôm nay ngài về thật đúng lúc quá, Thất gia đang ngày nghỉ, hiện đang xử lý công việc ở trong phủ đấy ạ!”
Trong lòng lão quản gia thầm nghĩ, vị tổ tông này sao lại im hơi lặng tiếng về kinh như thế, trong phủ chẳng có lấy một chút chuẩn bị nào cả.
“Xì!” Tứ lão gia không biết đang ôm khư khư vật gì trong lòng, lạnh lùng hừ một tiếng: “Ta cũng chẳng phải vì thằng nhóc đó mà về, gặp nó làm cái gì chứ!”
Thế nhưng đúng là “nhắc Tào Tháo, Tào Tháo đến ngay”, Lục Thừa Tự ở phía bên kia nghe tin đã rảo bước băng qua trung đình ra đón: “Phụ thân viễn du về phủ, nhi tử chưa thể ra đón từ xa, xin tạ lỗi với phụ thân!”
Cái giọng điệu đĩnh đạc và trầm ổn ấy, nghe chẳng giống con trai chút nào, trái lại cứ như là bậc làm cha vậy.
Tứ lão gia sụt sịt mũi, vẻ mặt đầy khó chịu lườm con trai, rồi chậm rãi rảo bước xuống bậc thềm, đi tới trước mặt con trai hừ một tiếng: “Thằng nhóc thối, làm quan lớn rồi nên lông cánh cứng cáp rồi hả, dám sai bảo cả cha ngươi cơ đấy? Ta cứ nhất quyết không đi Ích Châu đấy, nhạc phụ ngươi đã vào kinh rồi, ta mà không vào kinh tiếp đãi ông ấy thì ra thể thống gì!”
Theo dự tính của Lục Thừa Tự, chàng muốn phụ thân quay về Ích Châu ăn Tết, rồi đợi đến mùa xuân năm sau mới cùng mẫu thân lên kinh. Thế nhưng phụ thân chàng rõ ràng là người không đi theo lẽ thường, ông đã thoát khỏi sự giám sát của chàng, im hơi lặng tiếng “đột kích” về kinh thành.
Đối mặt với sự khiển trách của Tứ lão gia, vẻ mặt Lục Thừa Tự vẫn không mảy may lay chuyển: “Kinh thành không giống như Giang Nam, phụ thân hành sự nhất định phải nghĩ cho nhi tử.”
Tứ lão gia chẳng ưa gì mấy lời dặn dò của con trai, ông phất tay áo một cái: “Yên tâm đi, ta không gây chuyện đâu mà lo!”
Vừa dứt lời, ông ngước mắt nhìn lên phía trước, chỉ thấy một người đang đứng thanh tao ngay trước sảnh. Cốt cách của nữ tử đó đã chiếm đến bảy phần đoan trang, mắt hạnh má tuyết, lông mày và đôi mắt đẹp như tranh vẽ; chẳng cần trang điểm lộng lẫy cũng không giấu nổi một gương mặt nghiêng nước nghiêng thành. Đó chẳng phải là cô con dâu Cố Hoa Xuân sao.
“Xuân Nhi à, con cũng vào kinh rồi đấy ư!”
Tứ lão gia thay đổi hẳn thái độ lạnh nhạt vừa rồi, gạt Lục Thừa Tự sang một bên, hớn hở bước lên phía trước, chăm chú nhìn ngắm Hoa Xuân: “Bé con à, đã đến đây lâu chưa?”
Hoa Xuân đặt hai tay chắp trước bụng, mỉm cười hành lễ với ông: “Hoa Xuân thỉnh an cha chồng. Thưa cha, con vào kinh đến nay đã hơn hai tháng rồi ạ.”
“Ái chà chà, không cần đa lễ!” Tứ lão gia đưa tay ra vờ đỡ lấy nàng, rồi quan tâm hỏi han: “Cái bà già kia không làm khó dễ gì con chứ?”
Hoa Xuân mím môi cười rồi lắc đầu.
Tứ lão gia lúc này mới nở nụ cười: “Coi như thằng nhóc kia cũng còn chút năng lực.”
Trong lúc trò chuyện, ánh mắt ông tình cờ lướt qua phía sau Hoa Xuân, bắt gặp một nhóc tỳ đang túm chặt lấy gấu áo nàng, đôi mắt tròn xoe long lanh nhìn ông chằm chằm. Trái tim Tứ lão gia như tan chảy thành nước, ông cúi người định bế lấy đứa trẻ: “Cháu ngoan của ta, mau lại đây để tổ phụ bế cái nào!”
“Con không!”
Phái Nhi co giò chạy vòng quanh Hoa Xuân để né tránh.
Tứ lão gia thế là cứ lạch bạch đuổi theo sau để bắt lấy cậu bé.
Một già một trẻ, cứ thế chạy vòng quanh Hoa Xuân.
Hoa Xuân đứng ở giữa mà dở khóc dở cười.
Lục Thừa Tự ở phía bên kia bước tới, mắt thấy con trai càng chạy càng nhanh, sợ thằng bé ngã nên vội vàng nhắc nhở Tứ lão gia: “Phụ thân, cha chậm một chút, đừng làm đứa nhỏ sợ mà ngã đấy!”
Tứ lão gia chẳng thèm để tâm, ông tóm lấy eo của Phái Nhi bằng một tay, nhấc bổng thằng bé lên rồi ôm chặt vào lòng, hướng về phía đầu nó mà hôn lấy hôn để một cái rõ kêu: “Cái thằng nhãi ranh này, sao con lại dám quên mất tổ phụ rồi hả!”
“Hừ!” Phái Nhi nhăn nhó mặt mày, quay ngoắt mặt đi chỗ khác rồi hung dữ nói: “Sao tổ phụ không đón tổ mẫu về kinh cùng? Phái Nhi nhớ tổ mẫu lắm, hu hu hu!”
Tứ lão gia đã lâu không gặp đích tôn, trong lòng vui mừng khôn xiết, ông xoa xoa cái đầu nhỏ của cậu bé: “Gấp cái gì chứ, tổ mẫu con đến mùa xuân năm sau là về rồi. Đến lúc đó, tổ phụ và tổ mẫu sẽ đưa con sang nhà ngoại chơi, có được không nào!”
Phái Nhi hừ một tiếng, chẳng thèm nể mặt ông chút nào.
Tứ lão gia bèn lôi từ trong lòng ngực ra một chiếc lồng chỉ nhỏ bằng bàn tay, dịu giọng dỗ dành: “Bảo bối à, nhìn xem có thích không này?”
“Hì!” Đứa bé phát hiện bên trong giấu một chú chim nhỏ màu sắc sặc sỡ, lập tức giật lấy chiếc lồng, ôm vào lòng nghịch ngợm, nụ cười rạng rỡ thay cho những giọt nước mắt.
Tứ lão gia dỗ dành xong xuôi cháu trai, mới quay sang dặn dò Hoa Xuân: “Con à, chắc con chưa biết đâu nhỉ, chuyến này ta chính là đi nhờ thuyền của nhà họ Cố các con để cùng vào kinh đấy. Suốt dọc đường ta cùng nhị thúc và tam thúc của con thức đêm tâm tình, vô cùng sảng khoái. Người nhà họ Cố có nhờ ta nhắn với con một tiếng, bảo con hôm nay đừng sang đó vội, cứ để họ thu xếp ổn định phủ đệ đã, vài ngày tới họ sẽ gửi thiệp mời, lúc đó con hãy dẫn Phái Nhi đến thỉnh an.”
Hoa Xuân mỉm cười nói: “Nếu quả thật là vậy thì con dâu xin nghe lời cha, không chạy vất vả chuyến này nữa. Cha ơi, sức khỏe tổ mẫu con thế nào rồi ạ?”
Tứ lão gia bảo nàng cứ yên tâm: “Phong cảnh dọc đường rất khá, lão thái thái vẫn còn dẻo dai lắm. Lúc nãy vừa xuống thuyền, bà ấy còn ăn hết cả một bát bánh bột thố ở bến tàu nữa cơ.”
“Vậy thì tốt quá rồi.” Hoa Xuân nụ cười càng thêm rạng rỡ, “Thế thì con dâu xin phép xuống bếp ngay đây, sắp xếp người chuẩn bị chút thiện thực gửi sang Cố phủ để bày tỏ lòng thành.”
“Rất tốt, rất tốt! Con làm việc gì ta cũng yên tâm, lấy được con đúng là phúc phần của lão Thất mà!”
Nói xong, ông liếc mắt nhìn sang Lục Thừa Tự, giọng điệu đanh lại: “Con cũng đừng đứng ngây ra đó nữa, mau theo thê tử của con vào hậu viện chuẩn bị chút rượu ngon đi. Đêm nay ta còn phải tới quán dịch bái phỏng nhạc phụ con, cùng ông ấy uống một trận không say không về.”
Hai người bọn họ trò chuyện, Lục Thừa Tự căn bản không thể chen miệng vào được. Có thể thấy rõ rằng Hoa Xuân đối đãi với phụ thân còn thân thiết hơn chàng nhiều. Chàng thấp giọng đáp một tiếng “vâng”, rồi lẳng lặng bước theo sau Hoa Xuân rời đi.
Phái Nhi thấy cha mẹ đi xa, cũng định luồn lách như chạch để thoát khỏi vòng tay của tổ phụ, nhưng Tứ lão gia đã giữ chặt lấy cậu bé: “Cái thằng ranh con này, con đừng có đi đâu hết, đi theo tổ phụ dạo quanh một vòng, chọn lấy một cái viện thật đẹp mà ở!”
Hai ông cháu vừa ngân nga điệu hát nhỏ, vừa thong thả vòng qua gian chính sảnh rộng năm gian, chẳng bao lâu sau đã bắt gặp một cặp phu thê trẻ đang vội vã chạy đến phía trong thuỳ hoa môn.
Người đi đầu đã khóc đến mức nước mặt đầm đìa, nhìn thấy Tứ lão gia thì ánh mắt lộ rõ vẻ sùng kính lẫn tội lỗi, tiếng nghẹn ngào rồi quỳ sụp xuống đất: “Nhi tử đã lâu không được gặp phụ thân, trong lòng vô cùng mong nhớ. Lần này phụ thân nhất định phải ở lại kinh thành thật lâu, để nhi tử có cơ hội được hầu hạ bên người!”
Tô Vận Hương cũng vội vàng nhấc váy, quỳ lạy theo Lục Thừa Đức: “Con dâu thỉnh an cha!”
Phía sau hai người, một dàn bà vú đi theo, trong đó có một người đang dắt Du ca nhi bốn tuổi, một người khác bế Hoàn tỷ nhi, tất cả đều quỳ xuống khấu đầu theo phu thê Tô Vận Hương.
Du ca nhi chưa từng gặp tổ phụ bao giờ, cậu bé nhìn ông với vẻ sợ sệt, cứ thế nép mình trốn sau lưng vú nuôi.
Tứ lão gia vẫn ôm chặt Phái Nhi, lạnh lùng liếc nhìn Lục Thừa Đức một cái, rồi chỉ tay về phía Tô thị, hỏi: “Cô ta là ai?”
Câu hỏi này quả thực khiến bầu không khí trở nên vô cùng gượng gạo. Lục Thừa Đức lập tức đứng dậy tiến về phía trước, hạ thấp giọng nói: “Cha, nàng ấy là con dâu của cha, Vận Hương. Nàng ấy cứ luôn miệng nhắc về cha và mẹ, hết lần này đến lần khác thúc giục con mau chóng đến Ích Châu đón hai người về đây hưởng phúc đấy ạ”
“Ồ? Đón suốt năm năm trời mà ta chẳng thấy người đâu, có phải thế không?” Tứ lão gia cười lạnh một tiếng, ông dời tầm mắt đi không thèm nhìn phu thê nhà bọn họ nữa, chỉ chăm chú trêu đùa với Phái Nhi.
Lục Thừa Đức cảm thấy mất mặt, không biết giấu mặt vào đâu, đành hổ thẹn nhận lỗi.
Bên kia, Tô thị vốn là người thông tuệ, nàng ta lập tức đứng dậy hành lễ với Tứ lão gia một lần nữa: “Phụ thân, chẳng phải con dâu không muốn đến Ích Châu hầu hạ, mà bởi vì cha và mẹ chồng ở xa tận quê cũ, còn tổ mẫu lại cư ngụ lâu ngày nơi kinh đô. Con dâu ở lại kinh thành phụng dưỡng tổ mẫu, cũng coi như là thay hai người tận hiếu, kính mong cha chồng rộng lòng tha thứ cho con dâu ạ.”
Tứ lão gia vừa nghe xong thì cơn giận bốc lên đến đỉnh đầu, ông mắng xối xả vào mặt nàng ta: “Nói như vậy, ta còn phải cảm ơn cô cơ đấy? Hay là để ta khấu đầu lạy cô một cái nhé!”
Sắc mặt của Tô thị lập tức biến đổi, tức khắc rơi vào cảnh luống cuống chân tay. Nàng ta không ngờ vị Tứ lão gia này lại khó chiều đến thế, gương mặt lộ rõ vẻ túng quẫn xen lẫn uất ức rồi rơi lệ, lại quỳ sụp xuống: “Người trách phạt con dâu như thế, thực khiến con dâu không biết phải sống sao cho vừa lòng người?” Nói dứt lời, nàng ta bắt đầu khóc nức nở.
Lục Thừa Đức đương nhiên không thể giương mắt nhìn thê tử của mình chịu uất ức, hắn ra sức nháy mắt với Tứ lão gia: “Cha, sao cha vừa mới tới nơi đã trách mắng Vận Hương rồi? Cha hãy cẩn thận kẻo tổ mẫu hỏi tội cha đấy!”
“Hừ, ta còn đang muốn tính sổ với bà ấy đây!”
Tứ lão gia bỏ mặc phu thê Lục Thừa Đức ở đó, cứ thế bế Phái Nhi đi thẳng về hướng hậu viện.
Vừa đi qua khoảng sân trước thê hoa môn, mấy vị lão gia khác nghe tin đã vội vã ra đón tiếp.
Người đầu tiên đến nơi là Ngũ lão gia Lục Thâm.
“Huynh trưởng về phủ, ngu đệ vui mừng khôn xiết!”
“Ha ha ha!” Tứ lão gia đặt Phái Nhi xuống, giao cho vú nuôi dắt tay, rồi tiến đến trước mặt Ngũ lão gia, nắm lấy cổ tay ông ta: “Ngũ đệ, cứ ở mãi cái chốn kinh thành này thì có gì thú vị đâu. Hay là hôm nào đệ đi theo ta xuống Giang Nam một chuyến, ta dắt đệ đi quán xá nghe nhạc, bảo đảm đệ sẽ vui đến mức quên cả đường về.”
“Chẳng phải chính đệ mới là người vui đến quên cả đường về đó sao!” Đại lão gia cùng Tam lão gia sóng vai đi tới, một mặt cười mắng ông, một mặt kéo ông về phía Vinh Hoa đường: “Mau lên, mẫu thân đang đợi đệ đấy. Lần này đệ phải biết kiềm chế tính nết lại một chút, đừng có chọc mẫu thân tức giận!”
“Đại ca nói thế là sai rồi.” Tứ lão gia chưa bao giờ chịu để ai giáo huấn, ông chỉ tay về phía Vinh Hoa đường đã ở ngay trước mắt, giọng điệu đầy ngạo nghễ: “Đệ chọc giận bà ấy khi nào chứ, chẳng phải ngày nào cũng là bà ấy chọc đệ đó sao!”
Tam lão gia vội vàng ấn cái cổ tay đang giơ cao của ông xuống: “Tứ đệ, cái tính tình này của đệ bao giờ mới chịu sửa đổi đây? Mẫu thân đã cao tuổi rồi, những năm qua sức khỏe lại không tốt, không chịu nổi cơn giận đâu!”
“Ồ, sức khỏe không tốt chứ gì? Chắc chắn là do cứ thích quản chuyện bao đồng, lo hão lo huyền mà ra cả đấy!”
Đại lão gia và Tam lão gia nhìn nhau một cái, quả thực là chẳng còn cách nào trị nổi người đệ dệ này.
Phía bên Vinh Hoa đường, bà vú đã sớm bẩm báo với lão thái thái rằng Tứ lão gia đã về tới phủ.
Lão thái thái đang tựa người trên giường La Hán, bỗng ngẩn ngơ một hồi lâu, tâm trạng có phần phức tạp khó diễn tả bằng lời.
Tuy là cốt nhục thân sinh, nhưng giữa lão thái thái và Tứ lão gia quả thực chẳng khác nào kẻ thù. Đứa con trai này từ nhỏ đã luôn đối đầu với bà. Rõ ràng là một tài năng thiên bẩm về chuyện đèn sách, nhưng hắn lại chẳng chịu dốc lòng dùi mài kinh sử. Người khác khổ học mười năm chưa chắc đã đỗ nổi Cử nhân, vậy mà hắn chỉ lẹt đẹt vào Quốc Tử Giám học một năm, cuối cùng lại đỗ Tiến sĩ một cách kỳ tích. Lúc bấy giờ, cả kinh thành đều ngỡ rằng Lục phủ đã sinh ra một bậc thiên tài kiệt xuất. Lão thái thái đặt kỳ vọng rất lớn vào hắn, sai hẳn mười lăm gia đinh canh giữ nghiêm ngặt trước cửa viện, quyết không cho phép hắn ra ngoài uống rượu.
Thằng nhóc đó cũng hay thật, nó ngồi lỳ trong thư phòng tuyệt thực để phản kháng.
Lão thái thái bị ép đến mức chẳng còn cách nào khác, đành phải thả hắn ra.
Theo lý mà nói, sau khi trúng Tiến sĩ, hắn hoàn toàn có thể thừa thắng xông lên, thuận buồm xuôi gió mà làm quan cho thật tốt. Thế nhưng hắn lại không chịu, trái lại còn lén lút trốn khỏi nhà, sống bằng nghề bán tranh; hễ kiếm được bạc là lại đem đi uống rượu hưởng lạc, suýt chút nữa thì khiến lão thái thái tức chết đi sống lại.
Hai mẹ con bọn họ xưa nay vốn đã chẳng ưa gì nhau, cứ nhìn mặt là lại thấy ghét.
Chuyến này hắn trở về phủ, thái dương của lão thái thái cứ giật liên hồi, bà lo rằng hắn về lần này là không mang ý tốt.
Quả nhiên không sai, người nọ từ tận ngoài hành lang xuyên đường đã cất tiếng gọi oang oang vọng vào: “Mẹ, đứa con trai này bị mẹ đuổi khỏi cửa bao nhiêu năm nay, hôm nay trở về, chắc mẹ không trách tội con chứ?”
Chẳng bao lâu sau, mấy bóng người cao lớn lách mình vào trong noãn các. Diện mạo của người đi đầu cũng chẳng thay đổi là bao so với trước kia, chỉ là trên búi tóc đã lác đác vài sợi bạc. Lão thái thái thầm cảm thán thời gian trôi mau, mẹ con lại xa cách nhiều năm, trong lòng không khỏi dâng lên mấy phần cảm thương mà dịu giọng lại: “Về là tốt rồi, năm nay cứ ở lại kinh thành mà đón Tết.”
Tứ lão gia tiến lên hành lễ với lão thái thái trước, sau đó mới cùng mấy vị huynh trưởng ngồi xuống bên cạnh bà.
Vì sợ hai mẹ con lại nảy sinh tranh chấp, Đại lão gia và Tam lão gia phối hợp vô cùng ăn ý, liên tục tìm chủ đề nói chuyện, lựa ra những chuyện thú vị để kể, cuối cùng cũng coi như đối phó qua chuyện một cách tạm ổn. Thấy đã đến giờ Ngọ, Đại lão gia liền sai nhà bếp bày tiệc rượu, mấy huynh đệ lại chuyển sang sảnh Lưu Ly để làm tiệc tẩy trần cho Tứ lão gia.
Trong bữa tiệc, mọi người chén thù chén tạt, chuyện trò trên trời dưới đất, vui vẻ không sao tả xiết.
Sau bữa ăn, phu thê Lục Thừa Tự muốn nhường lại Lưu Xuân đường cho Tứ lão gia ở, nhưng ông đã khước từ: “Ta và mẹ con đều là những kẻ nhàn rỗi, cái Tứ phòng này là do các con đương gia làm chủ, Lưu Xuân đường cứ để phu thê các con ở đi. Lát nữa ta và mẹ con sang ở Hạc Vân đường là được.”
Dứt lời, ông liền ôm lấy một bầu rượu, sai tiểu sai xách hộp đồ ăn, rồi cứ thế nghênh ngang đi về phía quán dịch để tụ họp với Cố Chí Thành.
Đêm ấy mãi đến khuya ông mới trở về.
Ngày hôm sau, Tứ lão gia ngủ đến tận lúc mặt trời lên cao quá đầu mới thức dậy. Lục Thừa Tự đã đi làm ở phủ nha từ sớm, chỉ còn phu thê Lục Thừa Đức và Hoa Xuân dẫn theo mấy đứa nhỏ đứng đợi ngoài viện, nói là muốn vào thỉnh an lão nhân gia. Thế nhưng Tứ lão gia vốn có tính tình phóng khoáng, không thích gò bó, ông đã miễn luôn lễ nghi thỉnh an sáng tối và không cho ai làm phiền mình. Mọi người chẳng còn cách nào khác, đành phải lần lượt lui ra.
Thế nhưng đến buổi chiều, Hoa Xuân lại một lần nữa quay trở lại, thỉnh cầu được gặp mặt Tứ lão gia.
Tứ lão gia nghe tin nàng đi một mình đến gặp thì biết ngay là có chuyện. Ông lồm cồm ngồi dậy từ trên chiếc sập mềm, vươn vai một cái rồi bảo:
“Người đâu, thay y phục, ta muốn gặp Xuân nha đầu.”
Mặc dù thời gian Tứ lão gia ở Ích Châu không nhiều, nhưng dù sao mỗi năm ông cũng về vài lần, nên ông hiểu rõ vị dâu trưởng này đã phải vắt kiệt tâm trí để lo toan quán xuyến việc nhà. Trong lòng ông hài lòng về nàng vô cùng; nếu không có Hoa Xuân, ông đâu dám ở bên ngoài rong chơi tự tại như thế, chính vì vậy mà đối với nàng, ông còn có thêm vài phần cảm kích.
Sau khi sửa soạn xong xuôi, ông từ gian phòng phụ phía Đông bước ra gian chính, thấy Hoa Xuân đang ôm một chiếc hộp đứng đợi trước cửa, liền gọi: “Xuân nhi, con ôm cái gì trong lòng thế? Ta nói trước nhé, ngoài rượu ra thì ta chẳng nhận thứ gì khác đâu.”
Gương mặt Hoa Xuân lại chẳng có lấy một nụ cười, nàng trịnh trọng bước qua ngưỡng cửa, mở chiếc hộp ra đặt lên bàn, sau đó đi tới trước mặt ông rồi quỳ sụp xuống. Khi nàng ngước mắt lên, khuôn mặt đã đầm đìa nước mắt: “Cha ơi, cái nhà họ Lục này, Hoa Xuân thực sự không thể ở lại được nữa rồi…”
Tứ lão gia nghe vậy thì sắc mặt lập tức biến đổi, ông cúi người nhìn nàng: “Đã xảy ra chuyện gì? Đứa nào bắt nạt con, con nói đi, ta sẽ đi vặn cổ nó!”
Hoa Xuân chỉ tay về phía chiếc hộp: “Đó là những sổ sách mà con dâu vô tình phát hiện được sau khi vào kinh, xin cha xem qua một lượt ạ.”
Trong mắt Tứ lão gia thoáng hiện lên một tia hồ nghi, ông quay lại bên bàn, tùy ý lật mở trang đầu tiên của sổ sách, ánh mắt bỗng chốc đanh lại.
Hoa Xuân đã cố ý chép lại hai khoản sổ sách vào cùng một chỗ để tiện đối chiếu, mọi thứ đều rõ mười mươi. Tứ lão gia càng xem càng kinh hãi, đến trang cuối cùng thì ông đập mạnh xuống bàn, rồi gầm lên một tiếng: “Láo xược! Lũ hạ đẳng vô sỉ, ngay cả loại chuyện này mà cũng dám làm ra được!”
Tứ lão gia lửa giận ngút trời, “bộp” một tiếng đóng sầm chiếc hộp lại rồi kẹp chặt vào nách, hùng hổ bước ra ngoài: “Xuân nhi đừng cuống, xem ta đi tìm bà già kia tính sổ đây!”
Hoa Xuân lau nước mắt, định đi theo nhưng lại bị Tứ lão gia từ chối: “Con à, việc này không liên quan đến con, đừng có dính líu vào làm gì. Con cứ về Lưu Xuân đường mà ngồi, hễ có động tĩnh gì thì hẵng tới xem náo nhiệt.”
“Cứ chuẩn bị sẵn rượu ngon đi, rồi xem cha chồng con trổ tài đây!”